Rủi ro trong gian lận thuế thu nhập cá nhân đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: không tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật thuế, sự hiểu biết của người dân về chính sách thuế còn hạn chế,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2Hà Nội - 2021 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm những lời cam đoan này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hồng Anh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của các thầy cô tại trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN Trước tiên,tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Quý thầy cô trường Đại học Kinh tế
- ĐHQGHN, những người đã truyền đạt cho tôi kiến thức về lý thuyết kiểm toán - kế toán, làm nền tảng cho tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trần Thế Nữ, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban Lãnh đạo Tổng cục Thuế, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong học tập và nghiên cứu trong thời gian qua, nhưng do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế nên đề tài này khôngtránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô, bạn bè để luận văn này được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cám ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hồng Anh
MỤC LỤ
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT GIAN LẬN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 7
1.2.Cơ sở lý luận về kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân 9
1.2.1 Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân 9
1.2.2 Tổng quan về gian lận thuế thu nhập cá nhân 15
1.2.3 Tổng quan công tác kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân 18
1.3 Những yếu tố tác động đến gian lận thuế thu nhập cá nhân 25
1.3.1 Yếu tố chính sách thuế 25
1.3.2 Yếu tố quản lý thuế 25
1.3.3 Yếu tố người nộp thuế 28
1.3.4 Cơ chế xử phạt vi phạm 30
1.4 Kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân và kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân trên thế giới 30
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân trên thế giới 30
1.4.2 Kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân của một số quốc gia 31
1.4.3 Bài học kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân cho Việt Nam 33
Kết luận chương 1 34
Trang 7CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Quy trình nghiên cứu 35
2.1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 35
2.1.2 Cách tiếp cận 35
2.1.3 Thiết kế nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp mô tả, thu thập dữ liệu 38
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 39
Kết luận chương 2 41
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT GIAN LẬN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN GIAI ĐOẠN 2015-2020 Ở VIỆT NAM 42
3.1 Bộ máy tổ chức quản lý thuế thu nhập cá nhân 42
3.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thu thuế 42
3.1.2 Hệ thống quản lý thuế thu nhập cá nhân 44
3.2 Thực trạng kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân 45
3.2.1 Các hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân 45
3.2.2 Công tác kiểm soát gian lận thuế TNCN 54
3.3 Đánh giá chung công tác kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân 68
3.3.1 Ưu điểm 68
3.3.2 Hạn chế 69
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong công tác kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân 70
Kết luận chương 3 73
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ GIAN LẬN THUẾ 74
THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 74
4.1 Xu hướng phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 74
Trang 84.2 Quan điểm, đường lối, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về kiểm soát
gian lận thuế thu nhập cá nhân 76
4.3 Một số giải pháp tăng cường công tác kiểm soát gian lận thuế 78
4.3.1 Hoàn thiện về chính sách thuế 78
4.3.2 Tăng cường công tác quản lý thuế TNCN 79
4.3.3 Cơ chế xử phạt vi phạm 83
4.4 Kiến nghị 84
Kết luận chương 4 85
KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 10STT Bảng Nội dung Trang
1 Bảng 1.1 Biểu thuế TNCN lũy tiến từng phần 13
4 Bảng 3.2 Số lượng cá nhân đến ngưỡng nộp
5 Bảng 3.3 Tình hình thực hiện nhiệm vụ quản
lý thuế TNCN giai đoạn 2015 – 2020 58
6 Bảng 3.4 Kết quả thanh tra kiểm tra thuế giai
Trang 122 Sơ đồ 3.1 Hệ thống bộ máy quản lý thuế hiện hành 43
3 Sơ đồ 3.2 Hệ thống quản lý thuế TNCN từ trung ương
4 Sơ đồ 3.3 Sơ đồ quy trình Kiểm soát gian lận thuế
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, nước ta thực hiện đẩy mạnh đổi mới nền kinh
tế từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và ngân sách nhà nước chính là một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy quá trình này Như chúng ta đã biết, khi nói đến ngân sách nhà nước cũng chính là nói đến thuế, bởi lẽ đây chính là một trong những nguồn thu chủ yếu tạo nên sự ổn định và bền vững của ngân sách Chính vì
lẽ đó, Nhà nước luôn chú trọng và ban hành các chính sách về thuế nhằm đảm bảo cho việc thu nộp thuế được thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả Điều này không chỉ nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách mà còn thông qua đó khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế theo
kế hoạch của Nhà nước Bên cạnh đó, vai trò của thuế trong việc góp phần đảm bảo cho một xã hội công bằng thông qua việc những đối tượng đủ điều kiện phải thu nộp thuế, điều này góp phần điều tiết chênh lệch giàu nghèo Đóng thuế là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân vì thuế là nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước để đảm bảo các phúc lợi xã hội cho người dân Hiểu đầy đủ về thuế là tiền đề
để mỗi cá nhân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
Thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế mang lại nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước Đây là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân nhằm góp phần cho sự phát triển của đất nước Công bằng và khả năng nộp thuế chính là hai nguyên tắc xây dựng thuế thu nhập cá nhân Đó là lý do mà thuếthu nhập cá nhân không đánh vào những cá nhân có thu nhập thấp, vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết Chính nhờ việc đánh thuế này mà góp một phần nhỏ vào việc làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư
Trang 14Gian lận thuế là hành vi xâm phạm chính sách thuế của Nhà nước thông qua việc chủ thể không hoàn thành hoặc hoàn thành không đầy đủ nghĩa
vụ nộp thuế Trốn thuế là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lí kinh tế của Nhà nước Nó được thể hiện qua lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người nộp thuế Thực tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn với nhau, Nhà nước luôn đẩy mạnh tăng thu ngân sách nhà nước từ nguồn thu thuế, trong khi đó người nộp thuế luôn mong muốn số tiền nộp thuế là ít nhất Rủi ro trong gian lận thuế thu nhập cá nhân đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: không tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật thuế, sự hiểu biết của người dân về chính sách thuế còn hạn chế, kê khai sai thu nhập chịu thuế, …
Gian lận thuế nói chung và gian lận thuế thu nhập cá nhân nói riêng ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi ngày càng rộng, quy mô ngày càng lớn và thủ đoạn ngày càng tinh vi Bên cạnh đó, hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân là những hành vi gian lận khó quản lý, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước Việc nhận diện các tổ chức, cá nhân có nguy cơ, nắm bắt các hành vi, cách thức gian lận thuế thu nhập cá nhân nhằm đề ra các giải pháp phát hiện, xử lý và ngăn chặn các hành vi, cách thức vi phạm là vô cùng cần thiết
Để hạn chế, ngăn chặn tình trạng trốn thuế, gian lận thuế thu nhập cá nhân, vai trò kiểm soát gian lận thuế của cơ quan thuế là vô cùng quan trọng
Em lựa chọn nghiên cứu đề tài “Kiểm soát gian lận Thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam” làm luận văn bảo vệ học vị thạc sĩ với mục đích để xác định rõ
hơn vai trò quan trọng của cơ quan thuế đối với công tác kiểm soát gian lận thuế, đảm bảo công bằng xã hội và tạo nguồn để duy trì bộ máy Nhà nước thựchiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Trang 152 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát thuế TNCN ở Việt Nam giai đoạn 2015-2020, đề xuất một số giải pháp hạn chế gian lận thuế TNCN ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về gian lận và kiểm soát gian lận thuế TNCN
- Đánh giá thực trạng kiểm soát gian lận thuế TNCN Việt Nam giai đoạn 2015-2020, chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng, những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát gian lận thuế TNCN ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kiểm soát gian lận thuế TNCN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Việt Nam
- Về thời gian: dữ liệu thứ cấp thu thập được giai đoạn 2015-2020
- Về nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu, phân tích kiểm soát gian lận thuế TNCN Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp tăng cường kiểm soát gian lận thuế TNCN ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Câu hỏi nghiên cứu.
Xuất phát mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ phải làm rõ và trả lời được các câu hỏi sau:
Thuế TNCN là gì? Gian lận thuế TNCN là gì? Xác định những yếu tố tác động đến gian lận thuế TNCN ở Việt Nam?
Trang 16Phân tích thực trạng kiểm soát gian lận thuế TNCN ở Việt Nam giai đoạn 2015-2020?
Đề xuất một số giải pháp tăng cường kiểm soát gian lận thuế TNCN
ở Việt Nam?
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn
về thuế thu nhập cá nhân và kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam
Chương 4: Một số giải pháp tăng cường kiểm soát gian lận thuế thu
nhập cá nhân
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT GIAN LẬN THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các học thuyết về quản lý thuế kinh điển của các nhà kinh tế như Adam Smith, John Maynard Keynes, Paul Samuelson, Arthur Laffer xem xét quản lý thuế trong mối quan hệ với các vấn đề mang tính quyền lực nhà nước, tạo sự công bằng và thuận tiện cho NNT Adam Smith được coi là một trong những người đặt nền móng cho các lý thuyết về quản lý thuế Mặc dù, Adam Smith tập trung giải thích tính quyền lực nhà nước trong việc thu thuế, nhưng ông vẫn coi trọng tính công bằng, thuận tiện và hiệu quả trong quản lý thuế [39] Đề cập đến nội dung về tính công bằng khi đánh thuế TNCN, John
Maynard Keynes cho rằng cần đánh thuế TNCN đối với người có thu nhập caotheo biểu thuế lũy tiến để đạt “cầu hiệu quả” và cũng đề xuất cần thực thi chính sách thuế để thu hút phần tiết kiệm của người dân để đưa vào đầu tư phát triển kinh doanh [1] Trong khi, học thuyết trọng cung không cho rằng hiệu quả thu thuế phụ thuộc vào mức thuế cao hay thấp Đại diện cho trường phái này nhà kinh tế học Arthur Laffer đã đưa ra đường cong lý thuyết phản ánh sự phụ thuộc giữa thuế suất và tổng số thuế thu được, gọi là đường cong Laffer Arthur Laffer đã chứng minh rằng mức thuế suất được xác định hợp lý thì tổng số thu thuế là lớn nhất, từ đó đề nghị cắt giảm mức lũy tiến của thuế TNCN, giảm thuế thu nhập DN trên cơ sở tăng thuế và tăng số thuế nộp cho nhà nước [1]
Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng NNT có thu nhập thấp sẵn sàng đóng thuế hơn NNT có thu nhập cao Cụ thể, nghiên cứu tại Hà Lan của Ross
Trang 18và McGee năm 2012, và nghiên cứu tại Mỹ của Torgler năm 2012 McGee tiếnhành nghiên cứu so sánh giữa nhiều quốc gia và cũng đưa ra kết luận chung là NNT có thu nhập thấp thì sẵn sàng tuân thủ luật thuế hơn NNT có thu nhập cao tại các quốc gia phát triển [35].
Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển lại đưa ra những kết quả khác nhau Một số nghiên cứu tìm ra rằng NNT có thu nhập cao thì có thái độ tuân thủ thuế cao hơn những NNT có thu nhập thấp, như nghiên cứu tại Malaysia của Al-Mamun và cộng sự năm 2014 [32], nghiên cứu tại Macedonia của Ristovska vàcộng sự năm 2013 [37] Tuy nhiên, nghiên cứu của McGee năm 2012 lại chỉ ra rằng NNT có thu nhập thấp lại sẵn sàng tuân thủ luật thuế hơn NNT có thu nhập cao tại một số quốc gia như Trung Quốc, Philipine, Puerto Rico, Malta, Moldova
và Nga
Lý giải cho những kết quả khác nhau này, các nhà nghiên cứu cho rằngcần xem xét mức thu nhập của NNT với sự thỏa mãn về tài chính của NNT Chứng minh cho điều này, Torgler đã nghiên cứu và thấy rằng NNT có sự thỏa mãn về tài chính sẽ có thái độ tuân thủ thuế tốt hơn [40] NNT nếu không có
sự thỏa mãn về tài chính sẽ có tình trạng trốn tránh, đặc biệt là nếu họ phải đóng thuế Đối với NNT có thu nhập thấp, việc đóng thuế có thể làm giảm chấtlượng cuộc sống của họ Do đó, khi NNT xem việc đóng thuế là một gánh nặng, họ sẽ có xu hướng không tuân thủ thuế
Nghiên cứu tại Zimbabwe của Nyamwanza và cộng sự năm 2014 [36], niềm tin vào chính phủ đóng vai trò quan trọng đối với thái độ tuân thủ thuế của NNT ở các quốc gia trên toàn thế giới Niềm tin càng cao thì thái độ tuân thủ thuế TNCN và hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT càng cao
Trên cơ sở các học thuyết quản lý thuế và thực tiễn quản lý thuế tại cácquốc gia, các nghiên cứu sau này tập trung vào vấn đề cải cách chính sách thuế, cụ thể:
Trang 19Nghiên cứu của Brys và Heady đã tổng kết những xu hướng cải cách thuế TNCN tại các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, từ đó đề xuất hệ thống thuế cân bằng [34].
Các nghiên cứu về quản lý thuế giai đoạn này hầu hết đứng trên quan điểm của Nhà nước, đều cho rằng nghĩa vụ thuế của NNT là đương nhiên Do
đó, Nhà nước sẽ thông qua các biện pháp tuyên truyền để NNT thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế Nếu NNT không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sẽ bị xử phạt Tuy nhiên, Braithwaite và Braithwaite giới thiệu mô hình quản lý tuân thủ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế [33] Tác phẩm này đã đưa đến sự tranh luận trong giới nghiên cứu cũng như việc quản lý thuế trong thực tiễn Nhiều học giả nghiên cứu về quản lý thuế không cho rằng nghĩa vụ thuế của NNT với Nhà nước là đương nhiên Để giải thích cho vấn đề này, các học giả đã đi sâu nghiên cứu hành vi của NNT tại nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó xây dựng những luận điểm quan trọng cho việc quản lý thuế theo lý thuyết hành vi tuân thủ Đây là lý thuyết đứng trên góc nhìn của NNT Một NNT có lý trí sẽ đánh giá chi phí và lợi ích của trốn thuế Nếu lợi ích kỳ vọng lớn hơn chi phí thì NNT sẽ trốn thuế NNT sẽ đưa ra quyết định lý trí khi xem xét các lựa chọn liên quan đến thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước Biện pháp răn đe của CQT là công cụ hữu hiệu để quản lý thuế vì khả năng NNT bị phạt sẽ làm tăngchi phí của họ khi trốn thuế
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu về thuế TNCN ở Việt Nam từ trước năm 2015 chủ yếu tập trung vào phân tích các góc độ quản lý Nhà nước, hoặc về chính sách, hoặc
về cơ chế quản lý thu từ khi Luật thuế TNCN có hiệu lực, đánh giá thành công vàthất bại của chính sách thuế TNCN trong giai đoạn cải cách thuế hiện nay của Việt Nam Các công trình nghiên cứu này đã đi sâu phân tích trước và sau khi chính sách thuế ban hành, nghiên cứu những biện pháp và định hướng hoàn thiện
Trang 20chính sách thuế TNCN ở Việt Nam nhằm nâng cao vai trò của thuế TNCN Các nghiên cứu về tổ chức hành thu tập trung tìm hiểu về cơ chế quản lý thu hiện hành, đi sâu xem xét một vài nội dung của quản lý thuế TNCN như tổ chức bộ máy quản lý thuế, thanh tra, kiểm tra thuế… và phân tích những biến đổi của quản lý thuế TNCN ở Việt Nam để đánh giá hiệu quả quản lý thuế.
Khi việc tuân thủ của NNT được cải thiện theo hướng tăng cường tuân thủ tự nguyện, công tác quản lý thuế sẽ hiệu quả hơn Kết luận này rút ra từ nghiên cứu của Đặng Thị Bạch Vân về “Xoay quanh vấn đề người nộp thuế vàtuân thủ thuế” Kết luận này đã khẳng định một số yếu tố có tác động đến dự định tuân thủ thuế của NNT, đó là nhận thức về tính công bằng và ý thức thuế [30] Khi hệ thống thuế đảm bảo công bằng trong việc thực thi nghĩa vụ thuế, NNT sẽ tuân thủ thuế hơn Tính công bằng thể hiện thông qua những người có cùng thu nhập sẽ đóng một khoản thuế bằng nhau và người có khả năng đóng góp thuế nhiều hơn sẽ nộp thuế nhiều hơn Tính công bằng có thể tiếp cận từ phía NNT thể hiện thông qua mức đóng góp công bằng, thủ tục công bằng và
xử phạt công bằng
Ở mức độ toàn xã hội, tuân thủ thuế sẽ giảm nếu NNT cảm thấy hệ thống thuế không công bằng [17] Ý thức thuế liên quan chặt chẽ với đạo đức NNT, ý thức thuế càng cao thì tính tự giác tuân thủ tăng, như vậy việc quản lý thuế sẽ đơn giản và hiệu quả hơn Một vài yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ của NNT như chuẩn mực xã hội, dư luận xã hội…
Tác giả Đào Mộng Long trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN tại Tp.HCM [15] có đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ của NNT, tuy nhiên tác giả bác bỏ hai giả thuyết quan trọng là nhân tố hệ thống thuế và nhân tố nhận thức tâm lý có ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT, trong khi hai giả thuyết này về mặt
lý thuyết lại có thể tác động rất mạnh
Trang 21Năm 2017, Lèng Hoàng Minh sau khi tổng kết các công trình nghiên cứu về tính tuân thủ của NNT tại Việt Nam Lèng Hoàng Minh đề xuất 5 nhómnhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ của NNT, đó là: nhóm các yếu tố chủ quan (tính phức tạp của hệ thống thuế, sự liêm chính của cán bộ thuế, tính hiệuquả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát của CQT), nhóm các yếu tố khách quan (trình độ dân trí, trách nhiệm giải trình chi tiêu công của chính phủ, quy mô của nền kinh tế phi chính thức), nhóm yếu tố liên quan đến NNT, kinh tế, xã hội (đặc điểm DN, ngành nghề kinh doanh của DN), nhóm yếu tố liên quan CQT (chất lượng dịch vụ thuế, chất lượng quản trị công, cấu trúc hệ thống thuế), nhóm yếu tố kinh tế (lãi suất, lạm phát, hội nhập kinh tế quốc tế, chi phí tuân thủ), nhóm yếu tố xã hội (chuẩn mực xã hội, tính công bằng đối với nghĩa
vụ thuế, tính công bằng đối với mức thuế phải chịu) Tuy nhiên, Lèng Hoàng Minh không làm rõ cũng như không phân biệt sự khác nhau giữa đối tượng NNT là cá nhân hay tổ chức trong nghiên cứu [18]
Trong phạm vi hiểu biết của tác giả, chưa có nhiều các nghiên cứu tại Việt Nam nghiên cứu các hành vi gian lận thuế TNCN Đặc biệt trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế, việc CQT nắm bắt và hiểu NNT ngày càng trở nên quan trọng Trên cơ sở đó, đề tài luận văn tác giả đang nghiên cứu sẽ kế thừa
và vận dụng linh hoạt những kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan để xác định cụ thể hơn quá trình kiểm soát gian lận thuế TNCN nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát gian lận thuế
TNCN
1.2.Cơ sở lý luận về kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân
1.2.1.1 Giới thiệu chung thuế thu nhập cá nhân
Thuế là một khoản nộp NSNN bắt buộc của tổ chức, DN, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của pháp luật thuế Khi Nhà nước ra đời, để đảm
Trang 22bảo các nhu cầu chi tiêu, nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình ban hành các luật thuế bắt buộc người dân và các tổ chức phải đóng góp cho Nhà nước Một trong các hình thức thu đó là thu thuế.
Nhà nước ban hành các chính sách thuế nhằm mục đích đảm bảo việc thu nộp thuế của các chủ thể được thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, đảm bảo nguồn thu cho NSNN Thuế được xác định là khoản nghĩa vụ mà các chủ thể bắt buộc phải thực hiện, bên cạnh các quy định về cách thức, mức nộp thuế, pháp luật còn quy định về các chế tài đối với những trường hợp không nộp hoặc nộp không đầy đủ về khoản thuế mà mình đang có nghĩa vụ nhằm răn đe, đảm bảo công tác thu nộp thuế được thực hiện một cách nghiêm minh Nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân vì thuế là nguồn thu lớn cho NSNN để đảm bảo các phúc lợi xã hội cho người dân Hiểu đầy đủ về thuế là tiền đề để mỗi cá nhân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó thuế TNCN là một loại thuế được thể hiện rõ nét nhất quyền và nghĩa vụ của tổchức, DN, cá nhân trong xã hội
Về nguyên tắc, tổng các giá trị mà một chủ thể nào đó nhận được trongnền kinh tế xã hội thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời hạn nhất định, không phân biệt nguồn gốc hình thành từ lao động, tài sản hay đầu tư… đều phải trích một phần từ thu nhập để nộp cho nhà nước dưới hình thức thuế TNCN
Dựa trên các quy định của pháp luật được ghi nhận tại Luật thuế
TNCN, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về thuế TNCN, có thể hiểu: Thuế TNCN là thuế trực thu, tính trên thu nhập của người nộp thuế sau khi đã trừ
các thu nhập miễn thuế và các khoản được giảm trừ gia cảnh.
1.2.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN là thuế trực thu: thuế TNCN đánh trực tiếp vào thu nhập
nhận được của NNT sau chu kỳ kinh doanh, vì thế tại thời điểm đánh thuế,
Trang 23người chịu thuế TNCN không thể chuyển nghĩa vụ nộp thuế của mình cho người khác Vì vậy, thuế TNCN ảnh hưởng khá đậm nét đến tâm lý và hành
vi NNT
Thuế TNCN đánh vào thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế phải là
thu nhập hợp pháp, phản ánh đúng khả năng nộp thuế và khả năng tiêu dùng cánhân của NNT Vì thế, đánh thuế TNCN vào thu nhập chịu thuế sẽ đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập
Thuế TNCN mang tính chất lũy tiến: Thuế TNCN mang tính lũy tiến so
với thu nhập chịu thuế Điều đó có nghĩa là thu nhập của cá nhân càng cao thì mức nộp thuế càng nhiều Trong một số trường hợp, thuế lũy tiến phải đảm bảo tốc độ tăng của thuế luôn cao hơn tốc độ tăng của thu nhập
1.2.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Nền kinh tế nước
ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế TNCN sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước
Góp phần thực hiện công bằng xã hội Thuế TNCN chỉ đánh vào thu
nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế; không đánh thuế vào những
cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết Có nhiều nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau Số đông dân cư có thu nhập còn thấp; nhưng cũng có một số
cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Mặc dù thuế TNCN chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên phương diện công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nước thì thuế TNCN có vị trí rất quan trọng Do đó, việc điều tiết
Trang 24thuế TNCN đối với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội.
1.2.1.4 Những nội dung cơ bản của chính sách thuế thu nhập cá nhân
a Lịch sử hình thành sắc thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Thuế TNCN là một trong những sắc thuế được triển khai áp dụng ở Việt Nam khá sớm, ngay từ giai đoạn đầu của đổi mới Năm 1990, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, có hiệu lực từ ngày 01/4/1991 Trong quá trình thực hiện, Pháp lệnh này
đã được sửa đổi, bổ sung 7 lần, trong đó đáng chú ý nhất là 2 lần thực hiện điều chỉnh vào năm 2004 (mức thuế suất cao nhất giảm từ 50% xuống còn 40%, bãi bỏ quy định thuế bổ sung 30%) Tiếp đến, việc ban hành Luật Thuế TNCN năm 2007 đưa sắc thuế này trở nên hiện đại và toàn diện hơn, với việc
mở rộng phạm vi điều chỉnh, thực hiện giảm thuế suất, xóa bỏ sự phân biệt đối
xử giữa cá nhân trong và ngoài nước, đồng thời cho phép áp dụng giảm trừ gia cảnh cho bản thân NNT và người phụ thuộc mà NNT phải nuôi dưỡng
Việc thực hiện Luật Thuế TNCN năm 2007 (được sửa đổi, bổ sung bằng Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 [20], Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 [21]) đã góp phần phát huy tích cực vai trò của sắc thuế này trong nền kinh tế và động viên được một nguồn lực quan trọng cho NSNN Đến nay, xét từ góc độ số thu NSNN, thuế TNCN đã trở thành một trong
ba sắc thuế quan trọng nhất trong hệ thống thuế của Việt Nam
Thuế TNCN áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2019 trở về trước có mức giảm trừ gia cảnh đối với NNT là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm); mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc mà NNT có nghĩa vụ nuôi dưỡng là 3,6 triệu đồng/tháng kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng
Trang 25Bảng 1.1: Biểu thuế TNCN lũy tiến từng phần
Bậc
thuế
Phần thu nhập tínhthuế/năm (triệu đồng)
Phần thu nhập tínhthuế/tháng (triệu đồng)
Thuếsuất (%)
(Nguồn: Luật thuế TNCN)
Bảng 1.2: Biểu thuế TNCN toàn phần
(%)
b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
200,1e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại
khoản 1 Điều 14 của Luật này
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 2
Điều 14 của Luật này
252
(Nguồn: Luật thuế TNCN)
Từ ngày 01/7/2020, khi Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 có hiệu lực thì mức giảm trừ gia cảnh được điều chỉnh và áp dụng từ kỳ tính thuế năm
2020 như sau:
Khoản giảm trừ Mức giảm trừ cũ Mức giảm trừ mới
Trang 26Mức giảm trừ đối với
đối tượng nộp thuế
09 triệu đồng/tháng(108 triệu đồng/năm)
11 triệu đồng/tháng(132 triệu đồng/năm)Mức giảm trừ đối với
mỗi người phụ thuộc 3.6 triệu đồng/tháng 4.4 triệu đồng/tháng
b Một số nội dung chính của thuế thu nhập cá nhân
(1) Đối tượng nộp thuế
Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp Gồm hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”
Theo tiêu thức “nơi cư trú”, đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế
là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phátsinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập quy định”: một cá nhân phải nộp thuế TNCN ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó
Theo Luật thuế TNCN của Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
(2) Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là tổng số các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập chịu thuế khác có tính chất tiền lương, tiền công mà cơ quan chi trả đã trả cho cá nhân Bao gồm cả các khoản tiền lương, tiền công nhận được do làm việc tại khu kinh tế
Theo quy định của Luật Thuế TNCN, các khoản thu nhập chịu thuế TNCN sẽ bao gồm các khoản thu: Thu nhập từ kinh doanh; Thu nhập từ tiền
Trang 27lương, tiền công; Thu nhập từ đầu tư vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn; Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; Thu nhập từ trúng thưởng; Thu nhập từ bản quyền; Thu nhập từ nhượng quyền thương mại; Thu nhập từ nhận thừa kế; Thu nhập từ nhận quà tặng.
có phân biệt thuế suất với các loại thu nhập khác nhau Như vậy, mức đóng góp về thuế sẽ tùy theo nguồn gốc thu nhập, có sự phù hợp giữa phương pháp tính thuế với đặc điểm của mỗi loại thu nhập
Thuế TNCN đối với thu nhập tổng hợp theo năm: đó là loại thuế được tính trên tổng thu nhập tương ứng với tổng số các khoản thu nhập cộng lại
Để xác định thuế TNCN phải nộp, căn cứ vào thu nhập tính thuế và thuế suất Thuế suất thuế TNCN có thể tính theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần, biểu thuế suất toàn phần hoặc theo một tỷ lệ phần trăm nhất định được quy định tại thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013
1.2.2 Tổng quan về gian lận thuế thu nhập cá nhân
1.2.2.1 Khái niệm gian lận
Gian lận là một thuật ngữ pháp lý rộng, dùng để chỉ các hành vi không trung thực, cố ý sử dụng sự lừa dối để tước đoạt tiền, tài sản hoặc các quyền hợp pháp của người khác một cách bất hợp pháp Có rất nhiều trường hợp gianlận, nếu gian lận vi phạm luật dân sự thì người gian lận sẽ phải chịu hình phạt
là tiền hoặc cũng có thể thu hồi và phải bồi thường theo đúng quy định của luậtdân sự Nếu gian lận vi phạm luật hình sự, dẫn đến việc phạm tội nghiêm trọng
Trang 28thì người gian lận có thể sẽ phải chịu phạt tù hoặc truy tố hình sự theo đúng quy định pháp luật với khung hình phạt mà người gian lận gây ra.
Một trong những nghề mà có nhiều đối tượng gian lận và bị điều tra lĩnh mức phạt cao đó chính là gian lận kế toán Hành vi gian lận được gắn liền với tính vụ lợi (tham ô, biển thủ tài sản, xuyên tạc thông tin, làm sai lệch báo cáo tài chính với mục đích đem lại ích lợi cho cá nhân hay một bộ phận…) Việc phát hiện và nhận biết về gian lận thường khó khăn vì nó được che giấu bằng hành vi cố ý, tinh vi
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 240: “Gian lận là hành vi cố
ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp” [2].
1.2.2.2.Đặc trưng gian lận thuế thu nhập cá nhân
Gian lận là một khái niệm pháp lý khá rộng nhưng để phục vụ cho mụctiêu của các chuẩn mực kế toán, của quy định pháp luật thuế; cán bộ thuế cần đánh giá sự tuân thủ luật pháp trên tất cả các khía cạnh của thuế như đăng ký,
kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và kiểm tra thuế Đồng thời, cần triển khai và đi sâu đánh giá tác động của các sắc thuế đến đời sống kinh tế xã hội, ảnh hưởng
và tác động của từng sắc thuế đến tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế
Gian lận thuế TNCN là hành vi thiếu trung thực, cố ý làm sai lệch thông tin liên quan đến tính thuế TNCN, kê khai sai thu nhập chịu thuế, kê khai khống số lượng người phụ thuộc… để thực hiện không đúng nghĩa vụ nộpthuế TNCN, làm giảm số thuế TNCN phải nộp Đối với cá nhân nộp thuế, họ
có thể không kê khai, kê khai không đủ hoặc tìm cách khai báo không chính xác số thu nhập thực tế mà họ nhận được Đối với tổ chức chi trả thu nhập có nghĩa vụ nộp thuế cho người lao động của mình, họ có thể kê khai mức tiền
Trang 29lương, tiền công của người lao động thấp hơn so với thực tế, hoặc cũng có thể chi trả thêm tiền thưởng bên cạnh thu nhập chính thức, và không kê khai khoảntiền này nhằm trốn thuế hoặc làm giảm nghĩa vụ nộp thuế của mình.
Gian lận thuế là hành vi vi phạm chính sách thuế của nhà nước thông qua việc chủ thể không hoàn thành hoặc hoàn thành không đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế, được quy định tại Thông tư 166/2013/TT-BTC (được thay thế bởi Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 có hiệu lực từ 05/12/2020) bao gồm:
“…
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13 Nghị định này.
b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16 Nghị định này.
c) Không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp
người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng; lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.
d) Sử dụng hóa đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được
hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.
đ) Sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế
Trang 30được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm.
e) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế) Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh
nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Nghị định này.” (trích khoản 1 Điều 17 Nghị định
125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020)
1.2.3 Tổng quan công tác kiểm soát gian lận thuế thu nhập cá nhân
Kiểm soát gian lận thuế TNCN được thực hiện theo các quy trình quản
lý thuế: Quy trình Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế số 745/QĐ-TCT ngày 20/4/2015; Quy trình Quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế số 879/QĐ-TCT ngày 15/5/2015; Quy trình kiểm tra thuế số 746/QĐ-TCT ngày 20/4/2015
và số 1215/QĐ-TCT ngày 03/9/2020 sửa đổi, bổ sung quyết định số 746; Quy trình thanh tra thuế số 1404/QĐ-TCT ngày 28/7/2015 và số 2605/QĐ-TCT ngày 30/12/2016 sửa đổi, bổ sung quyết định số 1404
1.2.3.1 Quy trình Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
Tuyên truyền các chủ trương, chính sách pháp luật về thuế là trách nhiệm của CQT Đẩy mạnh việc tuyên truyền chính sách thuế giúp cho NNT nói riêng và tầng lớp nhân dân nói chung nắm bắt được các chủ trương đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, để mọi người dân ý thức được
rõ hơn quyền lợi và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước
Tăng cường phối hợp với cơ quan truyền thông, đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về thuế bằng nhiều hình thức với nội dung
Trang 31cụ thể, phù hợp trong việc triển khai nhiệm vụ của ngành Phát động, khuyến khích đội ngũ cộng tác viên cơ sở cung cấp những tin, bài phản ánh hoạt động của ngành và các gương người tốt, việc tốt trong chấp hành pháp luật thuế, công khai đầy đủ, kịp thời danh sách các đơn vị nợ thuế Tiến hành phân loại NNT để đề ra hình thức, biện pháp tuyên truyền, phục vụ hỗ trợ NNT một cáchthiết thực, hiệu quả; lấy sự hài lòng của NNT để đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền hỗ trợ.
1.2.3.2 Quy trình kê khai, nộp thuế
a Quản lý NNT
Đây là bước đặc biệt quan trọng trong công tác kiểm soát gian lận thuế TNCN Quản lý tốt NNT sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác kiểm soátgian lận thuế TNCN, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động,
từ đó, có thể xác định được ai phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu
Để quản lý NNT thì cơ quan quản lý thuế cần phải cấp mã số thuế cho NNT và cơ quan chi trả thu nhập có nghĩa vụ khấu trừ và nộp thuế thay cho NNT Mỗi NNT được gắn với một mã số duy nhất, mọi thông tin cần thiết về NNT được đưa vào hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý thuế tập trung của ngành thuế trên toàn quốc Khi cần kiểm tra một NNT, CQT chỉ cần tra cứu theo mã
số thuế của NNT, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót NNT, đồng thời đảm bảo chính xác, hiệu quả cho CQT trong công tác quản lý thu thuế
b Kê khai, nộp thuế
Công tác quản lý thuế TNCN được áp dụng cơ chế khấu trừ tại nguồn
và cơ chế tự khai, tự nộp Hiện tại, phương pháp được sử dụng chủ yếu là khấutrừ tại nguồn và áp dụng cho các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công, đó lànhững khoản thu nhập phát sinh có tính chất ổn định Theo đó, cá nhân hoặc đơn vị chi trả thu nhập phải tiến hành khấu trừ trước số thuế phải nộp của cá
Trang 32nhân để nộp cho Cục thuế hoặc Chi cục thuế các quận, huyện, thành phố sau
đó mới tiến hành chi trả phần còn lại cho cá nhân được hưởng
Đối với NNT ủy quyền cho tổ chức, cơ quan chi trả thu nhập cho mình quyết toán thuế TNCN, cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ số thuế TNCN phải nộp của NNT và thực hiện kê khai thuế, quyết toán thuế, nộp thuế TNCN theo quy định
Đối với NNT trực tiếp kê khai thu nhập của mình sẽ đến nộp tờ khai tại CQT và tiến hành nộp thuế cho CQT hay cơ quan có chức năng thu thuế CQT
sẽ cập nhật vào hệ thống quản lý thuế tình hình khai, nộp thuế TNCN mà NNT phải nộp, để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết, đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp thuế cho NNT, CQT và cơ quan ủy nhiệm thu thuế
Đối với thu nhập thường xuyên (thu nhập từ tiền lương tiền công, thu
nhập từ kinh doanh): kê khai và nộp thuế thông qua cơ quan chi trả Việc kê khai, tạm nộp thuế hàng tháng được thực hiện như sau:
Thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần đối với khoản chi trả thu nhập cho cá nhân thuộc sự quản lý của cơ quan chi trả thu nhập
Thực hiện khấu trừ 10% trên tổng thu nhập đối với các khoản chi trả cho người lao động là cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng; người lao động có tổng mức trả thu nhập từ 2.000.000đồng/; người lao động không có văn bản cam kết về việc trong năm người lao động chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN
Quyết toán thuế đối với thu nhập thường xuyên được thực hiện theo năm dương lịch Cuối năm hoặc sau khi hết hạn hợp đồng, cơ quan chi trả thu
Trang 33nhập, cá nhân tổng hợp tất cả các nguồn thu nhập chịu thuế trong năm thực hiện kê khai thuế TNCN và nộp tờ khai quyết toán Quyết toán thuế tại CQT
áp dụng đối với cá nhân trong năm có thu nhập từ hai nơi trở lên, cá nhân đăng
ký nộp thuế tại CQT
Đối với thu nhập không thường xuyên (thu nhập từ quà biếu, quà
tặng; thu nhập từ chuyển giao công nghệ; thu nhập từ bản quyền; trúng thưởng
xổ số; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản,
chuyển nhượng vốn): kê khai và nộp cho từng lần phát sinh thu nhập, cơ quan chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ tiền thuế và cấp biên lai thuế cho người có thu nhập Cơ quan quản lý bất động sản chỉ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản khi đã có chứng từ nộp thuế TNCN hoặc xác nhậncủa CQT về khoản thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản thuộc đối tượng được miễn thuế hoặc tạm thời chưa thu thuế
CQT khẳng định trách nhiệm đăng ký, kê khai là của cá nhân và tổ chức Mục tiêu của CQT là tuyên truyền về mặt chính sách và thực hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật thuế của NNT
Công tác kê khai nộp thuế TNCN được thực hiện theo quy định tại Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN
1.2.3.3 Quy trình Kiểm tra, thanh tra thuế
Kiểm tra, thanh tra thuế là một quy trình quan trọng và tất yếu của
CQT để thực hiện quản lý việc chấp hành và thực thi pháp luật thuế “Việc kiểm tra thuế, thanh tra thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, thông tin, hồ sơ mà người nộp thuế đã khai, nộp xuất trình với cơ quan quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật
về thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan của người nộp thuế để
Trang 34xử lý về thuế theo quy định của pháp luật” (Trích Luật Quản lý thuế số 38/2019).
a Quy trình kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên mang tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế hoặc đánh giá việc tuân thủ pháp luật của NNT
Chủ thể có thẩm quyền kiểm tra thuế: Chi cục Thuế
Hình thức kiểm tra: kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và kiểm tra thuế tại trụ sở NNT
Kiểm tra tại trụ sở cơ quan quản lý thuế: được thực hiện trên cơ sở hồ
sơ khai thuế của NNT nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT
Kiểm tra thuế tại trụ sở NNT: NNT không giải trình, khai bổ sung hồ
sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế hoặc giải trình, khai bổ sung không đúng, không chứng minh được số thuế phải nộp, số thuế miễn, giảm, hoàn đúng; Các trường hợp kiểm tra sau thông quan gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu, kiểm tra đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; Kiểm trađối với các đối tượng kiểm tra theo tiêu chí đánh giá rủi ro về thuế
Phạm vi kiểm tra: kiểm tra hồ sơ khai thuế; kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm; kiểm tra theo kế hoạch, chuyên đề; kiểm tra đột xuất, theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền
Thời hạn kiểm tra thuế: thời hạn kiểm tra tại trụ sở của NNT không quá
5 ngày làm việc thực tế, kể từ ngày bắt đầu công bố quyết định kiểm tra
Trường hợp xét thấy cần phải kéo dài thời gian để xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ thì chậm nhất là trước một ngày kết thúc thời hạn kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra phải báo cáo trưởng bộ phận kiểm tra trình Thủ trưởng CQT để
có quyết định bổ sung thời hạn kiểm tra Mỗi cuộc kiểm tra chỉ được bổ sung
Trang 35thêm thời hạn kiểm tra một lần Thời gian bổ sung không quá 5 ngày làm việc thực tế.
Địa điểm thực hiện: thực hiện tại trụ sở CQT hoặc tại trụ sở của NNT.Mục đích kiểm tra: công tác kiểm tra thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn
và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế, chống thất thu thuế và nâng cao tính
tự giác tuân thủ pháp luật thuế của NNT
b Quy trình thanh tra thuế
Thanh tra thuế là một dạng thanh tra chuyên ngành Khoản 3 Điều 3
Luật Thanh tra 2010 quy định: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực
đó” Như vậy, thanh tra thuế là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến
hành những hoạt động mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ đối với các đối tượng nộp thuế và các chủ thể có liên quan trong lĩnh vực thuế nhằm phát hiện,
xử lý vi phạm trong việc tuân thủ pháp luật về thuế của các đối tượng đó
Chủ thể có thẩm quyền thanh tra thuế: Tổng cục Thuế, Cục Thuế
Hình thức thanh tra: thanh tra thuế là công việc được tiến hành theo kế hoạch hoặc đột xuất của cơ quan quản lý thuế
Thanh tra theo kế hoạch áp dụng đối với các DN có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng Thanh tra định kỳ một năm không quá một lần và được thực hiện căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm đã được phê duyệt Việc lập kế hoạch thanh tra phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin về NNT, từ đó phát hiện và lập danh sách NNT có dấu hiệu bất
thường trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế để lựa chọn đối tượng kế hoạch thanh tra
Trang 36Các trường hợp thanh tra đột xuất: khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế; để giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế; chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hóa theo qui địnhcủa pháp luật; thanh tra NNT theo yêu cầu của thủ trưởng CQT các cấp hoặc
Bộ trưởng Bộ Tài chính; các trường hợp thanh tra đột xuất thực hiện theo sự phân công của Lãnh đạo CQT
Phạm vi: thanh tra thuế được áp dụng khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế; để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc thực hiện các biện pháp phòng chống tham nhũng; theo yêu cầu của công tác quản lý thuế trên cơ sở kết quả phân loại rủi ro trong quản lý thuế; theo kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, kết luận của Thanh tra nhà nước, và cơ quan khác có thẩm quyền
Thời hạn thanh tra thuế: thời hạn thanh tra thuế được thực hiện theo quyết định của Luật Thanh tra Thời hạn của cuộc thanh tra được tính là thời gian thực hiện thanh tra tại trụ sở NNT kể từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại trụ sở của NNT Trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra thuế gia hạn thời gian thanh tra thuế theo quy định của Luật Thanh tra Việc gia hạn thời gian thanh tra thuế do người ra quyết định thanh tra quyết định
Địa điểm thực hiện: thực hiện tại trụ sở của NNT
Mục tiêu thanh tra: đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan của NNT để xử lý về thuế theo quy định, đảm bảo việc thực thi pháp luật thuế có hiệu quả; ngăn chặn các hành vi sai sót, gian lận thuế của NNT; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý và chính sách pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biện pháp khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước nhằm bảo vệlợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của NNT
1.3 Những yếu tố tác động đến gian lận thuế thu nhập cá nhân
Trang 371.3.1 Yếu tố chính sách thuế
Biểu thuế của luật thuế TNCN hiện hành quy định gồm 7 bậc thu nhập tính thuế, tương ứng với tỷ lệ bậc sau cao hơn bậc trước 5%, mức thấp nhất là 5%, cao nhất 35% Đây là ngưỡng thuế rất cao so với một số nước ở Châu Á như Singapore (thuế suất cao nhất là 22%), Malaysia (thuế suất cao nhất là 28%), Hồng Kong (Trung Quốc – thuế suất cao nhất là 17%)
Singapore hiện có 10 bậc thuế từ mức 0 – 22% với mức thu nhập từ dưới 20.000 đô la Singapore (SGD)/năm tương đương 1.666 SGD/tháng (quy đổi khoảng 28,3 triệu đồng/tháng) áp dụng thuế suất 0%; từ 20.001 – 30.000 SGD/năm (tương đương khoảng 28,3 – 42,5 triệu đồng/tháng) áp dụng thuế suất 2%,… Với quy định này, trường hợp cùng mức thu nhập chịu thuế 60.000 SGD/năm, tương đương 1,02 tỷ đồng/năm, tức 85 triệu đồng/tháng, người ViệtNam sẽ đóng thuế TNCN 19,9 triệu đồng/tháng (tỷ lệ thuế trên thu nhập chịu thuế chiếm 23,4%), trong khi người Singapore chỉ đóng 2,76 triệu đồng/tháng (tỷ lệ thuế trên thu nhập chịu thuế chiếm 3,25%)
Thuế suất càng cao càng tạo ra tâm lý né tránh kê khai thu nhập chịu thuế Các tổ chức, cá nhân sẽ không tự giác kê khai các khoản thu nhập không
có chứng từ rõ ràng hoặc chỉ tạm khấu trừ thuế tại nguồn
1.3.2 Yếu tố quản lý thuế
1.3.2.1 Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý thuế Thông qua tuyên truyền mà NNT hiểu rõ nội dung pháp luật thuế TNCN, các khoản thu nhập phải nộp thuế, mứcthuế phải nộp, thời điểm nộp thuế, đồng thời hiểu rõ nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý về nộp thuế TNCN để tự giác thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật thuế TNCN Nếu công tác tuyên truyền pháp luật thuế TNCN không hiệu quả sẽ làm tăng các hành vi gian lận thuế, trốn thuế của NNT
Trang 38Sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng internet toàn cầu cũng đã làm phát sinh hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, tạo ra những khoản thu nhập phá vỡ khái niệm về thu nhập truyền thống và ngày càng khó kiểm soát hơn.
1.3.2.2 Công tác quản lý kê khai thuế
Thuế TNCN được quản lý theo cơ chế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm Đây là một hình thức tạo sự chủ động cho NNT, tuy nhiên cũng là lỗ hổng để các cá nhân, DN trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế Ý thức tự giác, tự nguyện của các DN trong việc kê khai, nộp thuế mặc dù được nâng lên nhưng nhiều DN vẫn cố tìm mọi cách để trốn thuế Tình trạng các DN không nộp tờ khai hoặc nộp chậm tờ khai vẫn còn, tình trạng dây dưa, chây ì nợ đọng tiền thuế còn khá phổ biến Khó bắt buộc các tổ chức, cá nhân kinh doanh loại hìnhbán hàng qua mạng, quảng cáo trực tuyến thông qua Google, Facebook,
Zalo… thực hiện kê khai thuế vì khó quản lý các giao dịch hàng hóa
Bên cạnh đó, thói quen sử dụng tiền mặt thanh toán của người Việt Nam được coi là một trở ngại đáng kể trong công tác kiểm soát gian lận thuế TNCN Việc sử dụng tiền mặt phổ biến tạo cơ hội cho các chủ thể che dấu nguồn thu nhập, từ đó không kê khai nộp thuế theo quy định, làm ảnh hưởng đến công tác giám sát thu nhập của cơ quan chức năng bị hạn chế
1.3.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Tác động của công tác kiểm tra, thanh tra thuế đến hành vi tuân thủ thuế của NNT có thể xem xét ở nhiều góc độ: tỷ lệ kiểm tra, năng lực của cán
bộ kiểm tra và vòng lặp kiểm tra; kiểm tra thuế và tuân thủ tự nguyện có mối quan hệ tỷ lệ thuận Một số nghiên cứu cho rằng kiểm tra thuế có tác động tíchcực đến hành vi trốn thuế, NNT thường xuyên được CQT kiểm tra có tác dụng tăng mức độ tuân thủ thuế của NNT lên cao hơn
Việc quản lý thuế TNCN mang tính răn đe cao, nặng về xử phạt mà chưa hướng tới thúc đẩy NNT tự nguyện tuân thủ thuế TNCN để hình thành
Trang 39tâm lý tuân thủ bền vững Mặc dù trong công tác quản lý thuế, các công cụ thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế nợ thuế TNCN được tăng cường, song mức
độ tuân thủ của NNT vẫn chưa được cải thiện Số vụ việc vi phạm vẫn tăng cao; hoạt động thanh tra, kiểm tra luôn phải nỗ lực vượt bậc, nhưng cũng không hạn chế được các hành vi trốn, tránh nghĩa vụ nộp thuế TNCN
Trình độ năng lực của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra mặc dù được nâng cao; tuy nhiên kinh nghiệm tác nghiệp thực tế còn hạn chế, một số nhỏ công chức nghiệp vụ chưa sâu, chưa tìm hiểu và nắm bắt được các thông tin ngoài ngành về đối tượng được thanh tra nên kết quả thanh kiểm tra chưa hiệu quả; vẫn còn tình trạng thỏa hiệp với NNT để bỏ qua các hành vi gian lận
1.3.2.4 Yếu tố phân tích rủi ro thuế
CQT đã đưa ứng dụng phần mềm phân tích rủi ro NNT vào phục vụ công tác lập kế hoạch thanh tra thuế (TPR) nhằm đánh giá rủi ro của DN do các Cục, Chi cục thuế quản lý Quản lý rủi ro dựa trên những tài liệu do NNT cung cấp và CQT thu thập được, như: tài liệu từ bên thứ ba; các thông tin trên mạng internet; các cơ sở dữ liệu kinh tế (tăng trưởng kinh tế, chỉ số kinh tế trung bình ngành hoặc của một số DN từng ngành, thu nhập lao động bình quân theo ngành ); cơ sở dữ liệu ngành thuế (lịch sử tuân thủ, số lần kê khai nộp chậm, số lần bị phạt vi phạm hành chính…)
Tuy nhiên, phương tiện hỗ trợ phân tích rủi ro trong thuế TNCN còn hạn chế Trình độ và lực lượng quản lý, đánh giá, phân tích của cán bộ thuế đốivới rủi ro trong thuế TNCN còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được tình hình gian lận thuế TNCN thực tế
1.3.2.5 Thiếu phối hợp trong quản lý thuế
Thực tế chỉ ra rằng, nếu thiếu phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như: CQT, Hải quan, Công an, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Thông tin và truyền thông… trong quản lý DN, quản lý thuế thì tình trạng gian lận thuế
Trang 40ngày càng phức tạp Vì các cơ quan này giám sát các hoạt động của DN, nếu thiếu phối hợp thì dễ dẫn đến thiếu thông tin trong quản lý NNT, gian lận thuế ngày càng nhiều và mức độ nghiêm trọng.
CQT đã phát hiện và chuyển cho cơ quan công an rất nhiều hồ sơ có hành vi vi phạm pháp luật thuế Tuy nhiên, kết quả xử lý còn hạn chế, nghiệp
vụ còn khá lúng túng và mất nhiều thời gian trong công tác phối hợp
1.3.3 Yếu tố người nộp thuế
1.3.3.1 Lợi ích từ gian lận thuế
Gian lận thuế TNCN giúp NNT không phải nộp thuế, làm thất thoát lớntiền NSNN Trong thời gian qua, nhiều DN, cá nhân lợi dụng kẽ hở của chính sách pháp luật thuế để tiến hành gian lận hàng trăm tỷ đồng tiền thuế TNCN của Nhà nước Trên thực tế, do lợi ích quá lớn nên DN tìm nhiều cách để gian lận thuế nhằm chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước
Hiện nay, việc xác định thuế TNCN chủ yếu dựa vào việc tự kê khai của cá nhân và tổ chức chi trả thu nhập Như vậy có thể nói, phần lớn Nhà nước dựa vào sự tự giác của người dân trong việc thu thuế TNCN, mà sự tự giác này lại không có gì đảm bảo, do đó, việc gian lận trong kê khai thuế TNCN là một điều tất yếu Một số người dân chưa hiểu biết đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ của NNT, sự tự giác chưa cao, còn có nhiều biểu hiện trốn tránh, thoái thác việc thực hiện pháp luật thuế Bản thân những người hiểu biếtcũng cố tính không tuân thủ, không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, tìm mọi cách
để trốn thuế, gian lận thuế Bên cạnh đó, việc tuyên truyền chính sách thuế củaNhà nước vẫn chưa đến được đủ với mọi tầng lớp dân cư, nên người dân
không nhận thức rõ nghĩa vụ và quyền lợi khi đóng góp vào NSNN
1.3.3.2 Kiến thức và nhận thức về tính công bằng của người nộp thuế
Công bằng là đòi hỏi khách quan từ phía NNT vì đây chính là giá mà
họ phải trả có tính chất bắt buộc cho những hàng hoá và dịch vụ công cộng