Bài viết nghiên cứu sử dụng phương pháp quay pha phụ tối ưu sóng mang thu đề giảm ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến gây bởi các bộ khuếch đại công suất trên hệ thống MIMO STBC 2 × nR. Từ đó, mối quan hệ giữa góc quay pha phụ tối ưu (OAPS: Optimum Additional Phase Shift) của sóng mang thu và tham số lượng thiệt hại khoảng cách (dd: distance degradation) do méo phi tuyến gây bởi bộ khuếch đại công suất (HPA: High Power Amplifier) cũng được đưa ra đối với hệ thống. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Sử dụng quay pha phụ tối ưu sóng mang thu để giảm ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến trên
Nguyễn Tất Nam∗, Nguyễn Quốc Bình†.
∗ Khoa Vô tuyến Điện tử, Học viện Kỹ thuật Quân sự;
†Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng yên
Email: namnguyentat@gmail.com; nqbinhdi@yahoo.com
Tóm tắt—Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu sử
dụng phương pháp quay pha phụ tối ưu sóng mang thu
đề giảm ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến gây bởi các
bộ khuếch đại công suất trên hệ thống MIMO STBC 2 ×
n R Từ đó, mối quan hệ giữa góc quay pha phụ tối ưu
(OAPS: Optimum Additional Phase Shift) của sóng mang
thu và tham số lượng thiệt hại khoảng cách (dd: distance
degradation) do méo phi tuyến gây bởi bộ khuếch đại công
suất (HPA: High Power Amplifier) cũng được đưa ra đối
với hệ thống Kết quả mô phỏng bằng phần mềm Matlab
cho thấy, nếu tăng số lượng ăng-ten thu của hệ thống thì
giá trị OAPS thay đổi không đáng kể so với giá trị OAPS
của hệ thống sử dụng một ăng-ten thu Ngoài ra, hiệu quả
của biện pháp hạn chế méo phi tuyến bằng OAPS còn
được đánh giá thông qua việc xác định mối quan hệ giữa
tham số lượng thiệt hại tỉ số công suất tín hiệu/tạp âm
(SNRD: Signal-to-Noise Degradation) và tham số dd.
Từ khóa—Méo phi tuyến, MIMO, mã khối không
gian-thời gian, quay pha phụ tối ưu sóng mang thu.
I GIỚI THIỆU Gần đây, một số bài báo đã nghiên cứu việc bù tác
động của méo phi tuyến gây bởi HPA cũng như các
ảnh hưởng khác như mất cân bằng I/Q (I/Q Imbalance)
và crosstalk trên hệ thống MIMO STBC Cụ thể trong
[1], Aissa và các cộng sự đã đề xuất phương pháp bù
ảnh hưởng của méo phi tuyến trong trường hợp biết và
không biết các tham số của HPA trên hệ thống MIMO
mã hóa khối không gian-thời gian trực giao (OSTBC:
Orthogonal Space–Time Block Coding) Tiếp theo [2],
phương pháp bù ảnh hưởng đồng thời của méo phi tuyến,
mất cân bằng I/Q và crosstalk đã được đề xuất trên hệ
thống MIMO OSTBC Kết quả đạt được của các công
trình này đã đưa ra được giới hạn trên của xác suất
lỗi symbol trung bình và giới hạn dưới của dung lượng
hệ thống Ngoài ra, giải pháp bù tác động đồng thời
của méo phi tuyến, mất cân bằng I/Q và crosstalk cũng
được đề xuất trên hệ thống MIMO tạo búp sóng [3]
Tuy nhiên, các kết quả đạt được của nhóm này chỉ với giả thiết HPA kết hợp với bộ méo trước lý tưởng vì vậy HPA trở thành bộ hạn biên đường bao mềm (SEL: Soft-Envelope Limiter) hoặc chỉ xét HPA với mô hình của bộ khuếch đại công suất bán dẫn (SSPA: Solid-State Power Amplifier), tức là các công trình nghiên cứu đã không tính đến tác động AM/PM Trong khi đó, giải pháp bù tác động của méo phi tuyến gây bởi bộ khuếch đại công suất dạng đèn sóng chạy (TWTA: Travelling-Wave Tube Amplifier) được sử dụng nhiều trong hệ thống thông tin
vệ tinh hoặc trạm gốc, với đầy đủ biến điệu AM/AM và AM/PM vẫn chưa được nghiên cứu Ngoài ra, trong mô hình hệ thống khảo sát, Aissa và cộng sự cũng chưa đề cập đến thành phần thường thấy trên hệ thống thực tế
là bộ lọc căn bậc hai côsin nâng (S-RRC: Square-Root Raised Cosine) ở phía phát và thu Chúng đóng vai trò quan trọng trong hạn băng tín hiệu nhưng đồng thời cũng gây ra các tác động có nhớ làm cho bài toán trở lên rất phức tạp Hiện nay, việc tìm biểu thức giải tích
ở dạng tường minh để đánh giá ảnh hưởng của méo phi tuyến gây bởi HPA dạng TWT đến phẩm chất hệ thống hoặc biểu thức giải tích về mối quan hệ giữa tham số giảm méo phi tuyến (OAPS chẳng hạn) và tham số phi tuyến của HPA rất khó thực hiện Cho nên việc nghiên cứu xác định công thức ở dạng kinh nghiệm của các mối quan hệ trên là một công việc có ý nghĩa
Trong hệ thống đơn ăng-ten, đơn sóng mang sử dụng điều chế biên độ cầu phương QAM, việc bù ảnh hưởng phi tuyến của HPA dạng TWTA và SPPA bằng biện pháp
sử dụng OAPS đã được nghiên cứu và đưa ra được các biểu thức kinh nghiệm xác định mối quan hệ giữa OAPS
và dd [4] Vấn đề được đặt ra là có thể sử dụng OAPS
để bù ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến gây bởi HPA
dạng TWT trên hệ thống MIMO STBC 2 × n R nữa hay không? Nếu có thì biểu thức kinh nghiệm xác định mối
quan hệ giữa OAPS và dd là gì?
Trang 2
Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)
Từ những kết quả nghiên cứu đã đạt được về OAPS
trên hệ thống đơn sóng mang và những hạn chế của các
công trình nghiên cứu do nhóm Aissa thực hiện, chúng
tôi đề xuất việc sử dụng OAPS để giảm ảnh hưởng riêng
của méo phi tuyến gây bởi HPA dạng TWT trên hệ thống
MIMO STBC 2 × n R
Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau Trong
phần II và phần III, chúng tôi lần lượt trình bày mô hình
hệ thống, mô hình bộ khuếch đại công suất và đề xuất
sử dụng OAPS để giảm ảnh hưởng riêng của méo phi
tuyến Phần IV đưa ra kết quả xây dựng công thức kinh
nghiệm về mối quan hệ giữa OAPS và dd trên hệ thống
MISO STBC 2 × 1 và MIMO STBC 2 × 2 Ngoài ra,
mối quan hệ giữa SNRD và dd đạt được khi hệ thống sử
dụng OAPS cũng được trình bày trong phần này Từ đó,
chúng tôi rút ra mối quan hệ giữa OAPS và dd, SNRD
và dd trong trường hợp với số ăng-ten thu bất kì Cuối
cùng, kết luận bài báo được trình bày trong phần V
II MÔ HÌNH HỆ THỐNG
Để giảm tác động riêng của méo phi tuyến gây bởi
HPA dạng TWT, chúng tôi đề xuất xây dựng mô hình
hệ thống phi tuyến MIMO STBC 2 × n Rnhư trên Hình
1, với số ăng-ten phát n T = 2 và số ăng-ten thu n R
(n R ≥ 1), chỉ có tác động của tạp âm Gauss trắng chuẩn
cộng tính (AWGN: Additive White Gaussian Noise), bộ
lọc ở phía phát và thu là các bộ lọc căn bậc hai côsin
nâng đã được bổ sung ở hai phía thu phát có tác dụng
hạn băng tín hiệu và giúp hệ thống tiệm cận với hệ thống
thực tế hơn Tín hiệu thu được theo mô hình trên khi
không có HPA và khối quay pha phụ tối ưu sóng mang
thu với một khung dữ liệu có thể biểu diễn như sau:
với Y là ma trận tín hiệu thu được n R × T , T là chu
kì của ma trận truyền dẫn STBC S biểu diễn ma trận
symbol tín hiệu phát n T ×T , N là ma trận nhiễu n R ×T
gồm các phần tử có phân bố Gauss phức độc lập, đồng
nhất với nhau và không tương quan với các symbol phát
H = [h m,n]n R ,n T
n R × n T , trong đó h m,nlà hệ số của kênh giữa ăng-ten
phát thứ n và ăng-ten thu thứ m Trường hợp, hệ thống
chỉ có tác động của AWGN thì các hệ số h m,n= 1
A Mô hình bộ khuếch đại công suất HPA
Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng HPA được mô
hình hóa như một kênh phi tuyến không nhớ và mô tả
bằng các đường đặc tính AM/AM và AM/PM [5] Theo
mô hình này, biểu diễn symbol tín hiệu đầu vào theo
tọa độ cực như sau:
Bảng I
Tên HPA HPA267 HPA1371 HPA1373 Tham số [6] [5] [5]
α p π/3 2.5293 4.0033
Với r và θ lần lượt là biên độ và pha tín hiệu đi vào HPA, j2 = −1 thì symbol ở đầu ra HPA có thể biểu
diễn:
ˆ
s = A(r)e jϕ(r) e jθ , (3)
A(r) và ϕ(r) là các biến điệu AM/AM và AM/PM tương
ứng được xác định theo mô hình Saleh [5]
Bảng I liệt kê các tham số theo mô hình Saleh của các bộ khuếch đại công suất thực tế ứng với các bài báo
đã sử dụng Để cho đơn giản trong việc tính toán và
mô phỏng, giả sử các HPA trên các nhánh phát có cùng đặc tính phi tuyến Khi đó, dạng tín hiệu MIMO STBC
2× n R trong điều kiện có HPA phi tuyến có thể được biểu diễn lại như sau:
với ˆSbiểu diễn ma trận tín hiệu phát khi đã đi qua HPA
B Khối APS
Tín hiệu thu trên mỗi ăng-ten được đưa qua khối quay pha dao động nội thu hay khối quay pha phụ (APS: Additional Phase Shift) Khối APS có nhiệm vụ thêm vào một góc pha cố ý Góc pha bất kỳ được thêm cố
ý có thể làm tăng hoặc giảm tỉ lệ lỗi Khi đó, tín hiệu thu trước khi đi vào bộ ước lượng và kết hợp tín hiệu
có dạng:
˜
trong đó, ˜Y là ma trận tín hiệu thu được khi qua khối
APS, p giá trị góc quay pha phụ cố ý thêm vào.
Phía thu sử dụng bộ kết hợp Alamouti [7] và bộ tách tín hiệu hợp lẽ cực đại (MLD: Maximum Likelihood Detector):
¯
S = argsmin
˜Y− HS (6)
III ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG GÓC QUAY PHA PHỤ TỐI
ƯU SÓNG MANG THU CHO HỆ THỐNG MIMO
STBC 2 × n R
Tương tự như cách định nghĩa và xác định OAPS trên hệ thống đơn sóng mang sử dụng điều chế QAM tại công trình [4]:
Trang 3S-RRC Tx1
S-RRC Tx2
STE
HPA1
HPA2
1
2
s k
s k+1
Estimator
MLD
1
S-RRC Rx1
APS1 ˆ
s k
ˆ
s k+1
˜
s k
˜
s k+1
¯
s k
¯
s k+1
n 1k
Combiner
n R
S-RRC
Rx nR
n n R k
y n R k y˜n R k
Estimator APS
n R
Hình 1 Mô hình sử dụng OAPS trên hệ thống MIMO 2 × n RSTBC.
Tác động cơ bản của biến điệu AM/PM gây bởi bộ
khuếch đại công suất dạng TWT trong làm móp dạng
chòm sao tín hiệu thu là làm quay pha các tín hiệu thu
trên mặt phẳng pha Mức quay pha không đồng đều đối
với các tín hiệu có công suất khác nhau dẫn đến là các
cụm điểm thể hiện ISI phi tuyến trên không gian tín
hiệu có các trọng tâm bị quay đi các góc khác nhau
tùy vào biên độ của từng tín hiệu đã phát Ở phía thu,
khi mạch khôi phục sóng mang hoạt động tốt, một góc
quay pha trung bình bởi biến điệu AM/PM tính trên toàn
bộ tập tín hiệu sẽ được tự động bù trên mỗi nhánh, bộ
khôi phục sóng mang trên hệ thống nghiên cứu được
điều khiển bám pha sóng mang thu theo trung bình các
góc pha của tín hiệu tới Góc quay pha tự động do bộ
khôi phục sóng mang thực hiện như thế vẫn chưa phải
là tốt nhất và do vậy giá trị SNRD của hệ thống vẫn
còn có thể giảm tiếp được bằng cách quay cố ý một góc
pha sóng mang thu thêm một góc nào đó Tuy nhiên,
việc quay pha này không thể tiến hành tùy tiện do thoạt
đầu việc tăng APS sẽ dẫn đến SNRD giảm dần vì việc
quay của hệ đường biên quyết định ban đầu sẽ cải thiện
khoảng cách từ các điểm tín hiệu tới biên quyết định
gần nhất xét theo ngược chiều kim đồng hồ Mặt khác,
nếu cứ tăng mãi APS thì đến giá trị nào đó của APS,
các biên quyết định mới lại bị quay đi quá mức, dẫn
đến các điểm tín hiệu thu lại tiến lại gần hơn các biên
quyết định khác xét theo chiều kim quay đồng hồ và do
vậy SNRD lại tăng Điều đó có nghĩa là tồn tại một giá
trị APS tốt nhất ứng với từng BOP của HPA khảo sát
Giá trị góc quay phụ làm cực tiểu SNRD gây bởi méo
phi tuyến của HPA trên hệ thống MIMO STBC 2 × n R
được gọi là quay pha phụ tối ưu (OAPS)
Hiệu quả của việc quay pha phụ tối ưu sóng mang
thu trên hệ thống MIMO STBC 2 × n R có thể đánh
giá thông qua tăng ích quay pha phụ tối ưu, ký hiệu
SNRD gây bởi méo phi tuyến của HPA khi hệ thống sử dụng và không sử dụng OAPS, tính tại một mức BER
quan tâm nào đó T OAP S được xác định theo (7):
trong đó: SNRDAP S=OAP S, SNRDAP S=0 tương ứng
là SNRD của hệ thống khi sử dụng và không sử dụng OAPS
IV KẾT QUẢ MÔ PHỎNG
Để xác định mối quan hệ giữa OAPS và dd hoặc SNRD và dd tại BER = 10 −3 và BER = 10−6, chúng tôi tiến hành mô phỏng với cấu hình hệ thống như trên Hình 1 sử dụng tín hiệu điều chế 16-QAM, số symbol
mô phỏng: 3×107 Bộ lọc căn bậc hai côsin nâng ở phía phát và thu: trễ nhóm (Delay Group = 10), hệ số uốn lọc (Rolloff = 0.5), tần số lấy mẫu đầu vào (Fd= 1), tần
số lấy mẫu đầu ra (FS = 8) Giá trị mỗi bước lặp trong vòng lặp xác định OAPS thô và OAPS tinh lần lượt là 1.0 độ và 0.1 độ nhằm đảm bảo độ chính xác của giá trị OAPS tìm được là 0.1 độ Vì chỉ bù ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến nên chúng tôi phải chọn kênh khảo sát là AWGN Các bộ khuếch đại công suất với các tham
số của mô hình Saleh trong Bảng I
A Hệ thống MISO STBC 2 × 1 1) Mối quan hệ giữa OAPS và dd: Dựa vào kết quả
mô phỏng đạt được khi hệ thống sử dụng các HPA như trong Bảng I ứng với từng giá trị BOP xác định được một giá trị OAPS, chúng tôi sử dụng thuật toán bình phương tối thiểu (LS: Least square) để xác định được
mối quan hệ chung duy nhất giữa OAPS và dd cho cả
03 HPA trong Bảng I Mối quan hệ này là một đa thức
Trang 4
Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)
0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7
0
2
4
6
8
10
12
dd
(dd,OAPS)HPA267 tai BER=10 −3 (dd,OAPS)HPA1371 tai BER=10 −3 (dd,OAPS)HPA1373 tai BER=10 −3 Moi quan he gan dung giua OAPS va dd (dd,OAPS)HPA267 tai BER=10 −6 (dd,OAPS)HPA1371 tai BER=10 −6 (dd,OAPS)HPA1373 tai BER=10 −6 Moi quan he gan dung giua OAPS va dd
Hình 2 Mối quan hệ giữa OAPS và dd trên hệ thống MISO 2 × 1
STBC.
bậc 4 nhưng khuyết hệ số tự do tại BER = 10−3và BER
= 10−6 như trên Hình 2 Cụ thể:
Tại BER = 10−3:
OAPSBER=10−3 = 171.42dd4−153.98dd3+9.70dd2
Sai số ước lượng: 0.16 [độ]
Tại BER = 10−6:
OAPSBER=10−6 = 168.41dd4
−142.74dd3
−1.98dd2
Sai số ước lượng: 0.17 [độ]
Từ kết quả mô phỏng, chúng ta dễ dàng nhận thấy
khi hệ thống MISO STBC 2 ×1 sử dụng các HPA trong
Bảng I với cùng một giá trị dd khảo sát thì giá trị OAPS
đạt được tại BER = 10−3luôn có xu hướng nhỏ hơn giá
trị OAPS tại BER = 10−6 Điều này có thể giải thích như
sau: méo phi tuyến ảnh hưởng lên hệ thống càng tăng
tại giá trị E b /N0càng cao Do vậy, cùng điểm làm việc
của HPA hay cùng giá trị dd khảo sát, giá trị E b /N0 tại
BER = 10−6 luôn lớn hơn nhiều so với E b /N0 ở BER
= 10−3 Điều này có nghĩa là lượng méo phi tuyến của
hệ thống ở BER = 10−6luôn nhiều hơn so với méo phi
tuyến tại BER = 10−3 Cho nên, góc quay pha phụ tối
ưu sóng mang thu để giảm méo phi tuyến có thể đạt
được tại BER = 10−6 luôn lớn hơn so với giá trị OAPS
ở BER = 10−3
2) Mối quan hệ giữa SNRD và dd: Bằng các giá trị
OAPS tìm được ở phần trước, chúng tôi tiến hành mô phỏng và sử dụng thuật toán bình phương tối thiểu để
tìm mối quan hệ giữa SNRD và dd của hệ thống khi sử
dụng và không sử dụng OAPS để thấy được hiệu quả của phương pháp quay pha phục tối ưu sóng mang thu
Cụ thể, các công thức kinh nghiệm chung cho hệ thống
sử dụng OAPS để giảm méo phi tuyến đạt được tại BER
= 10−3 và BER = 10−6 lần lượt là (10), (11)
Tại BER = 10−3: SNRDOAPS =− 60.15dd4+ 64.89d3− 6.58dd2
Sai số ước lượng: 0.27 [dB]
Tại BER = 10−6: SNRDOAPS= 45.99dd4− 21.85dd3+ 27.28dd2
Sai số ước lượng: 0.42 [dB]
Khi hệ thống khảo sát tại Hình 1 với một ăng-ten thu
(n R = 1) không sử dụng khối APS để giảm méo phi
tuyến, mối quan hệ giữa SNRD và dd được thể hiện ở
Hình 3 và các công thức kinh nghiệm đạt được là:
Tại BER = 10−3:
SNRD = 820.26dd4−356.67dd3+111.77dd2+ 4.47dd.
(12)
Sai số ước lượng: 0.10 [dB].
Tại BER = 10−6:
SNRD = 17917dd4
−8569dd3+1448dd2
− 52dd.
(13)
Sai số ước lượng: 0.39 [dB].
Từ kết quả so sánh tại Hình 3, chúng ta dễ dàng nhận
thấy, khi dd càng lớn, hệ thống chịu tác động càng mạnh
bởi méo phi tuyến hay điểm làm việc của HPA tại vị trí
có giá trị AM/PM lớn nên hiệu quả của việc sử dụng
OAPS càng được khẳng định Cụ thể, tại dd = 0.2661,
hệ thống đạt được tăng ích quay pha phụ tối ưu lớn
nhất là: {T OAP S } max = 4.12 [dB] tại BER = 10−3 và
Giá trị dd càng nhỏ tức là hệ thống khảo sát càng gần
vùng tuyến tính hay điểm làm việc của HPA tại ví trí
có giá trị AM/PM nhỏ nên hiệu quả của việc sử dụng OAPS cũng giảm dần
Ngoài ra, sử dụng OAPS cũng giúp tăng hiệu quả về mặt công suất của bộ khuếch đại công suất Thật vậy, không sử dụng OAPS thì hệ thống có thể hoạt động
được với dd lớn nhất chỉ là 0.2661 nhưng khi sử dụng OAPS, hệ thống có thể làm việc với HPA có giá trị dd
lên đến 0.6567
Trang 5Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)
0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
20
22
dd
M�SO 2�1 S�B� �u dung OAPS tai BER=10 −3
M�SO 2�1 S�B� �u dung OAPS tai BER=10 −6
M�SO 2�1 S�B� �hong �u dung OAPS tai BER=10 −3
M�SO 2�1 S�B� �hong �u dung OAPS tai BER=10 −6
Hình 3 Mối quan hệ giữa SNRD và dd khi hệ thống MISO 2 × 1
STBC sử dụng và không sử dụng OAPS.
B Hệ thống MIMO STBC 2 × 2
1) Mối quan hệ giữa OAPS và dd: Tương tự cách
làm như trên hệ thống MISO STBC 2 × 1, chúng tôi
tiến hành mô phỏng hệ thống và sử dụng thuật toán
bình phương tối thiểu nhằm xác định mối quan hệ giữa
OAPS và tham số dd tại BER = 10 −3 và BER = 10−3
Mối quan hệ giữa OAPS và dd cũng là một đa thức bậc
4 khuyết hệ số tự do như trên Hình 4 Cụ thể:
Tại BER = 10−3:
OAPSBER=10−3 = 201.01dd4−197.39dd3+29.69dd2
Sai số ước lượng: 0.17 [độ]
Tại BER = 10−6:
OAPSBER=10−6 = 162.12dd4
−129.73dd3
−9.33dd2
Sai số ước lượng: 0.21 [độ]
2) Mối quan hệ giữa SNRD và dd: Tương tự như hệ
thống MISO STBC 2 × 1, nhóm tác giả xác định mối
quan hệ giữa SNRD và dd trong trường hợp hệ thống
MIMO STBC 2 × 2 sử dụng OAPS và không sử dụng
OAPS Từ đó, hiệu quả của phương pháp dùng OAPS
được xác định một cách cụ thể thông qua biểu thức (7)
Tại BER = 10−3:
SNRDOAPS=− 50.06dd4+ 48.41dd3+ 2.38dd2
Sai số ước lượng: 0.20 [dB]
Tại BER = 10−6:
0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0
2 4 6 8 10 12
dd
(dd,OAPS)HPA267 tai BER=10 −3 (dd,OAPS)HPA1371 tai BER=10 −3 (dd,OAPS)HPA1373 tai BER=10 −3 Moi quan he gan dung giua OAPS va dd (dd,OAPS)HPA267 tai BER=10 −6 (dd,OAPS)HPA1371 tai BER=10 −6 (dd,OAPS)HPA1373 tai BER=10 −6 Moi quan he gan dung giua OAPS va dd
Hình 4 Mối quan hệ giữa OAPS và dd trên hệ thống MIMO 2 × 2
STBC.
SNRDOAPS = 45.77dd4
− 19.24dd3+ 24.63dd2
Sai số ước lượng: 0.41 [dB]
Khi hệ thống khảo sát tại Hình 1 với hai ăng-ten thu
(n R= 2) không sử dụng OAPS để giảm méo phi tuyến,
mối quan hệ giữa SNRD và dd được thể hiện ở Hình 5
và các công thức kinh nghiệm đạt được là:
Tại BER = 10−3:
SNRD = 2253.30dd4−1201dd3+276.50dd2− 6.80dd.
(18) Sai số ước lượng: 0.12 [dB]
Tại BER = 10−6:
SNRD = 17683dd4−8428dd3+1419dd2+ 50dd.
(19) Sai số ước lượng: 0.40 [dB]
Từ Hình 5, chúng ta dễ dàng tính được tăng ích quay pha phụ tối ưu lớn nhất của hệ thống MIMO STBC
2 × 2 Cụ thể tại dd = 0.2661, chúng tôi xác định được {T OAP S } max = 4.29 [dB] tại BER = 10−3 và
biện pháp quay pha phụ tối ưu sóng mang thu trên hệ thống cũng giảm dần như trên hệ thống MISO STBC
2× 1 khi giá trị dd nhỏ hay méo phi tuyến giảm dần.
So sánh tương ứng các biểu thức (8)-(13) và (14)-(19) xác định tại BER = 10−3, BER = 10−6, chúng ta
dễ dàng nhận thấy giá trị OAPS và SNRD trên cả hai
hệ thống không có thay đổi nhiều trong cùng điều kiện khảo sát như bỏ qua sự tương quan giữa kênh phía phát, HPA trên hai kênh phía phát giống nhau hoàn hảo Hình
Trang 6
Hội Thảo Quốc Gia 2015 về Điện Tử, Truyền Thông và Công Nghệ Thông Tin (ECIT 2015)
0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7
2
4
6
8
10
12
14
dd
�uan he giua OAPS va dd t�en M�SO S�B� 2�1 tai BER=10 −3
�uan he giua OAPS va dd t�en M�SO S�B� 2�1 tai BER=10 −6
�uan he giua OAPS va dd t�en M�MO S�B� 2�2 tai BER=10 −3
�uan he giua OAPS va dd t�en M�MO S�B� 2�2 tai BER=10 −6
Hình 6 So sánh mối quan hệ giữa OAPS, dd trên hệ thống MISO
STBC 2 × 1 và MIMO STBC 2 × 2.
0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
20
22
dd
M�MO 2�2 S�B� �hong �u dung OAPS tai BER=10 −3
M�MO 2�2 S�B� �hong �u dung OAPS tai BER=10 −6
M�MO 2�2 S�B� �u dung OAPS tai BER=10 −3
M�MO 2�2 S�B� �u dung OAPS tai BER=10 −6
Hình 5 Mối quan hệ giữa SNRD và dd khi hệ thống MIMO 2 × 2
STBC sử dụng và không sử dụng OAPS.
6 minh họa sự khác nhau không đáng kể về giá trị OAPS
tại BER = 10−3, BER = 10−6 trên hai hệ thống MISO
STBC 2 × 1 và MIMO STBC 2 × 2 Ngoài ra, tăng ích
lớn nhất và nhỏ nhất của hệ thống trong điều kiện sử
dụng một ăng-ten thu hoặc hai ăng-ten thu có sự sai
khác không đáng kể Cho nên, khi tăng số ăng-ten thu
lên ba hay bốn hoặc với n R ≥ 4 thì kết quả đạt được
về mối quan hệ giữa OAPS và dd hoặc SNRD và dd
cũng không có sự sai khác nhiều so với trường hợp sử
dụng một ăng-ten thu Do vậy, trong quá trình thiết kế hệ
thống hoặc ước lượng phẩm chất hệ thống MIMO STBC
2× n R với số ăng-ten thu bất kì dưới tác động riêng của méo phi tuyến, chúng ta có thể sử dụng biểu thức (8) hoặc (9) để tính giá trị OAPS cho hệ thống MIMO
STBC 2 × n R có số ăng-ten thu bất kì và sử dụng HPA bất kì mà không phải mất thời gian mô phỏng hệ thống
V KẾT LUẬN
Từ kết quả bài báo cho thấy, đối với hệ thống phi tuyến
MIMO STBC 2×n Rvẫn có thể dụng phương pháp quay pha phụ tối ưu sóng mang thu để giảm ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến, đồng thời cải thiện đáng kể hiệu quả về mặt công suất của HPA dạng TWT Ngoài ra, bài báo xác định được công thức kinh nghiệm duy nhất
về mối quan hệ giữa OAPS và dd tại BER = 10 −3 và BER = 10−6 cho nhiều HPA Biểu thức quan hệ giữa
OAPS và dd là một đa thức bậc bốn khuyết hệ số tự do.
Từ đó, bài báo còn đưa ra được công thức kinh nghiệm
chung duy nhất về mối quan hệ giữa SNRD và dd của
HPA bất kì của hệ thống khi sử dụng và không sử dụng OAPS Công thức kinh nghiệm về mối quan hệ giữa
SNRD, OAPS và dd hỗ trợ người thiết kế hệ thống ước
lượng nhanh SNRD gây bởi ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến, ước lượng nhanh giá trị OAPS cần thiết để giảm ảnh hưởng riêng của méo phi tuyến
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Q Jian and S Aissa, “Analysis and Compensation of Power Amplifier Nonlinearity in MIMO Transmit Diversity Systems,”
IEEE Trans Veh Technol, vol 59, no 6, pp 2921-2931, Jul.
2010.
[2] Q Jian and S Aissa, “Joint compensation of multiple RF
impair-ments in MIMO STBC systems,” in Proc IEEE 22nd Int Symp.
on PIMRC, Toronto, Italy, pp 1500-1505, Sep 2011.
[3] Q Jian and S Aissa, “Analysis and compensation for the joint effects of HPA nonlinearity, I/Q imbalance and crosstalk in MIMO
beamforming systems,” in Proc IEEE Wireless Communications and Networking Conference, Quintana Roo, Mexico, pp
1562-1567, Mar 2011.
[4] N Q Binh, N T Bien, and N T Thang, “The Usability of Distance Degradation in Estimation of Signal to Noise Ratio Degradation Caused by the Effect of Nonlinear Transmit Ampli-fiers and Optimum Additional Phase Shift in 256-QAM Systems,”
in Proc Int Conf on ATC, Ha Noi, Viet Nam, pp 258-261, Oct.
2008.
[5] A A M Saleh, “Independent and
Frequency-Dependent Nonlinear Models of TWT Amplifiers,” IEEE Trans.
on Commun., vol 29, no 11, pp 1715-1720, Nov 1981.
[6] W Sung, S Kang, P Kim, D.-I Chang, and D.-J Shin, “Per-formance analysis of APSK modulation for DVB-S2 transmission
over nonlinear channels,” International Journal of Satellite Com-munications and Networking, vol 27, issue.6, pp 295-311, Dec.
2009.
[7] S Alamouti, “A Simple Transmit Diversity Technique for Wireless
Communications,” IEEE J Select Areas Commun., vol 16, no.
8, pp 1451-1458, Oct 1998.