ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2014 MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN Lớp môn học BSL2002 3 Giảng viên TS Hồ Ngọc Hiển, ThS Nguyễn Đăng Duy Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên HÀ NỘI – 2022 I ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam, pháp luật phá sản đã có từ thời Thực dân Pháp đô hộ, được ghi nhận trong Luật Thương mại Trung phần tại miền Trung Việt Nam ngày 0261942 và Luật Thương mại miền Nam Việt Nam.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
-TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
LUẬT THƯƠNG MẠI 2
LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2014:
MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VÀ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Lớp môn học: BSL2002 3 Giảng viên: TS Hồ Ngọc Hiển, ThS Nguyễn Đăng Duy
Sinh viên thực hiện:
Mã số sinh viên:
HÀ NỘI – 2022
Trang 2I Đ T V N Đ ẶT VẤN ĐỀ ẤN ĐỀ Ề
Ở Việt Nam, pháp luật phá sản đã có từ thời Thực dân Pháp đô hộ, được ghi nhận trong Luật Thương mại Trung phần tại miền Trung Việt Nam ngày 02/6/1942
và Luật Thương mại miền Nam Việt Nam năm 1973 [1] Tuy nhiên, pháp luật phá sản này phần lớn được áp dụng ở miền Nam và trên thực tế rất ít được áp dụng 1 Thời kỳ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không khuyến khích cạnh tranh nên khái niệm phá sản hầu như không có và Luật Phá sản chưa được hướng tới Pháp luật phá sản chỉ thực sự trở nên cần thiết khi Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Những vấn đề mới trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là hiện tượng cạnh tranh, đào thải, chọn lọc tự nhiên những doanh nghiệp đã xuất hiện, đòi hỏi sự có mặt của những khung pháp lý mới, trong đó có Luật Phá sản Trước yêu cầu của thực tiễn, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 ra đời - đây cũng là văn bản đầu tiên có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn diện các vấn đề về phá sản của nước CHXHCN Việt Nam Tiếp sau đó, để khắc phục những hạn chế trong thực tiễn thi hành và để phù hợp với yêu cầu thực tiễn của kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, Luật Phá sản năm 2004 được ban hành, thay thế luật năm 1993 và được ban hành gần đây nhất là Luật Phá sản năm 2014
Với vai trò chính là bảo vệ lợi ích của chủ nợ, cung cấp cho chủ nợ một công
cụ đòi nợ hiệu quả và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp, hợp tác xã, đem lại cơ hội phục hồi hoặc rút khỏi thương trường một cách có trật tự, Luật Phá sản năm 2014
đã giúp đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội, góp phần tổ chức, cơ cấu nền kinh tế Tuy nhiên, những quy định hiện hành của Luật Phá sản vẫn còn nhiều hạn chế, bất
1PGS.TS Dương Đăng Huệ, Báo cáo phúc trình đề tài: “Đánh giá thực trạng, thực hiện nghiên cứu, phân tích khuyến nghị hoàn thiện Luật Phá sản doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan”, năm 2002.
Trang 3cập, tạo ra nhiều quan điểm trái chiều và gây khó khăn trong thực tiễn thực hiện Bài tiểu luận này đề cập và phân tích một số bất cập trong các quy định của Luật Phá sản năm 2014 ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những nhận định gợi mở, khuyến nghị cho việc bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định của pháp luật
II M T S B T C P TRONG QUY Đ NH PHÁP LU T PHÁ S N HI N ỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN Ố BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN ẤN ĐỀ ẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN ỊNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN ẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN ẢN HIỆN ỆN
HÀNH VÀ KHUY N NGH HOÀN THI N ẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ỊNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN ỆN
2.1 Quy đ nh tên Lu t ịnh tên Luật ật
Điều 2 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật” Như vậy, đối tượng áp dụng của Luật Phá sản năm 2014 chỉ bao gồm doanh nghiệp và hợp tác xã, không áp dụng cho hộ gia đình, cá nhân Do đó, việc đặt tên theo hướng bao quát cho mọi đối tượng như Luật hiện hành là không phù hợp Bên cạnh đó, cũng không nên đặt tên là “Luật Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã” vì việc đặt tên văn bản quy phạm pháp luật nói chung, các đạo luật nói riêng cần phải hết sức ngắn gọn, cô đọng, chứ không cần phải thể hiện tất cả các nội dung trong phạm vi điều chỉnh và đối tượng
áp dụng của văn bản [2] Thực tế, việc đặt tên theo hướng rút gọn cũng đã xuất hiện
ở nhiều đạo luật, chẳng hạn như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi năm 2012, 2020) ngoài việc quy định về thuế đối với doanh nghiệp thì còn áp dụng cả đối với hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập 2 Mặt khác, đối với hợp tác xã, tuy có một số đặc điểm riêng do tính dân chủ, tương trợ và cộng đồng, song về bản chất vẫn là một loại hình doanh nghiệp, một pháp nhân có thể
2Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2020.
Trang 4phá sản[3] Vì vậy, với đối tượng áp dụng của Luật Phá sản hiện hành, đổi tên thành “Luật phá sản doanh nghiệp” sẽ hợp lý hơn
Bên cạnh đó, xu hướng chính của Luật Phá sản hiện đại là tái tổ chức, phục hồi doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán thay vì tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích tối đa của các chủ nợ Đứng ở góc độ các chủ nợ, mở thủ tục phá sản vẫn giữ nguyên giá trị là một thủ tục đòi nợ đặc biệt Tuy nhiên để đòi được nợ, tối đa hóa khả năng thu hồi, không nhất thiết phải thanh lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ Trái lại trong nhiều trường hợp, việc phục hồi doanh nghiệp
sẽ đạt được hiệu quả đòi nợ tối ưu hơn cho các chủ nợ Chính vì thế, luật phá sản, đứng ở góc độ của doanh nghiệp mắc nợ đã phát triển theo hướng là luật giải quyết
tình trạng mất khả năng thanh toán cho doanh nghiệp mắc nợ [4] Vì lý do đó,
nhiều quốc gia đã đổi tên Luật Phá sản thành “Luật Mất khả năng thanh toán” hoặc
“Luật Giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán” Tóm lại, với những lập luận trên, khuyến nghị đổi tên gọi của đạo luật thành “Luật phá sản doanh nghiệp” hoặc
“Luật mất khả năng thanh toán”
2.2 Quy đ nh v doanh nghi p, h p tác xã m t kh năng thanh toán ịnh tên Luật ề doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ợp tác xã mất khả năng thanh toán ất khả năng thanh toán ả năng thanh toán
Mất khả năng thanh toán là dấu hiệu đầu tiên cần được làm rõ bởi pháp luật phá sản bởi chỉ khi lâm vào tình trạng này, các thiết chế phục hồi hoặc thanh lý tư pháp mới được áp dụng Việc xác định yếu tố “mất khả năng thanh toán” vì vậy có
ý nghĩa rất quan trọng Tuy nhiên, pháp luật các quốc gia lại có sự khác biệt trong cách xác định tình trạng mất khả năng thanh toán Về mặt lý thuyết, có thể sử dụng một hoặc một vài tiêu chí khác nhau để xác định
Thứ nhất, xác định theo tiêu chí định lượng Theo tiêu chí này, một doanh
nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán khi không thanh toán được một món nợ đến hạn có giá trị tối thiểu được luật phá sản ấn định Ví dụ Luật Mất khả năng thanh toán năm 2002 của Liên bang Nga quy định con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá
Trang 5sản khi không trả được số nợ đến hạn không dưới 100.000 rúp đối với pháp nhân và không dưới 10.000 rúp đối với cá nhân Việc sử dụng tiêu chí định lượng có tác dụng làm giảm các đối tượng cần áp dụng các quy định của luật phá sản Tuy nhiên, yếu tố định lượng sẽ bộc lộ hạn chế khi không đánh giá được chính xác tình trạng tài chính của doanh nghiệp mắc nợ vì doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán nhất thời do những nguyên nhân khác nhau Việc bị mở thủ tục phá sản có thể tạo ra sức ép khiến doanh nghiệp buộc phải bán tài sản của mình với mức giá thấp hơn giá thị trường hoặc phải thỏa hiệp với những yêu cầu có tính chất bất bình đẳng với chủ nợ
Thứ hai, xác định tình trạng mất khả năng thanh toán theo tiêu chí kế toán Theo tiêu chí này, việc xác định một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được thực hiện thông qua sổ sách kế toán của doanh nghiệp mắc nợ với tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có Để xác định theo tiêu chí này, đòi hỏi trước khi mở thủ tục phá sản, tòa án phải có kết quả kiểm toán và thực hiện phép thử về khả năng thanh toán Lý do là trên thực tế có những doanh nghiệp bị mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản cố định và tài sản lưu động nên xét về mặt kế toán thì tài sản còn lại đủ, thậm chí thừa để trả nợ, nhưng xét về mặt thực tế doanh nghiệp lại khó có thể thanh toán nợ do những tài sản cố định thiếu tính thanh khoản
Thứ ba, xác định tình trạng mất khả năng thanh toán theo tiêu chí “dòng tiền” – định tính Tiêu chí này quan tâm đến tính tức thời của việc trả nợ và dòng tiền của doanh nghiệp, không quan tâm đến việc tài sản hiện có của doanh nghiệp có đủ
để trả nợ hay không Việc doanh nghiệp ngưng trả nợ có thể bị suy đoán là rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Dựa vào tiêu chí này, luật phá sản có thể áp dụng cho cả các doanh nghiệp còn nhiều tài sản có nhưng không thể trả nợ do chưa thể “hiện kim” số tài sản của mình [4] Nó cũng cho phép một thủ tục phá sản có
Trang 6thể được mở ra sớm hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp được phục hồi thay vì tuyên bố phá sản
Luật Phá sản năm 2014 đã áp dụng kết hợp cả tiêu chí định tính và định lượng
Cụ thể khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” Tiêu chí định lượng trong quy định này chỉ dừng lại ở thời gian trễ hạn thanh toán mà không đề cập đến giá trị của các khoản nợ Có thể nói, Luật Phá sản năm 2014 đã quan tâm đến bản chất của tình trạng mất khả năng thanh toán - là việc con nợ không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình Về cơ bản, việc con
nợ ngừng trả nợ khi đến hạn có thể coi là căn cứ của việc rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Do đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lý để yêu cầu tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc phá sản
Tuy nhiên, quy định về căn cứ xác định tình trạng mất khả năng thanh toán trong Luật Phá sản năm 2014 còn cứng nhắc, chưa bao quát được hết các khả năng xảy ra Thực tế, có nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
do mất cân đối về tài chính (tài sản có ít hơn tổng số nợ) Pháp luật nhiều nước đã đưa ra các trường hợp khác nhau để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán, trong đó có quy định đến vấn đề cân đối tài chính Luật Phá sản Trung Quốc xác định tình trạng phá sản khi thuộc vào một trong các trường hợp: (1) doanh nghiệp không trả hết nợ và tài sản sản còn lại không đủ để trả nợ, (2) doanh nghiệp không trả hết nợ và doanh nghiệp rõ ràng không trả được nợ 3 Luật Mất khả năng thanh toán năm 1986 của Anh cũng quy định một trong những trường hợp xác định một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là chứng minh được với tòa án rằng giá trị
3 Điều 2 Luật phá sản Trung Quốc năm 2007.
Trang 7tài sản của công ty ít hơn tổng số nợ của công ty có tính đến các khoản nợ chưa đến hạn 4
Việc quy định các trường hợp bao quát trong căn cứ xác định tình trạng mất khả năng thanh toán giúp một thủ tục phá sản có thể được mở ra sớm hơn, phù hợp với quan niệm của Luật Phá sản hiện đại là tạo điều kiện cho doanh nghiệp được phục hồi Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia, khuyến nghị bổ sung thêm quy định “doanh nghiệp, hợp tác xã có giá trị tài sản nhỏ hơn tổng số nợ đến hạn” tại khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014
2.3 Quy đ nh v báo cáo tài chính c a doanh nghi p ịnh tên Luật ề doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ủa doanh nghiệp ệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
Luật Phá sản năm 2014 quy định đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải đính kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong 03 năm gần nhất Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong toàn bộ thời gian hoạt động 5 Báo cáo tài chính là tài liệu bắt buộc và có vai trò quan trọng, nhờ đó tòa án có thể nắm bắt các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp, hợp tác xã Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 lại không quy định cụ thể báo cáo tài chính có phải kiểm toán hay không Điều này sẽ đặt ra câu hỏi về tính trung thực, khách quan của báo cáo tài chính được cung cấp kèm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Bên cạnh đó, việc không yêu cầu báo cáo tài chính được kiểm toán cũng gián tiếp tạo “cơ hội” cho các doanh nghiệp, hợp tác xã cố tình thực hiện việc phá sản một cách giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với chủ nợ và người lao động
4
Điều 123 luật mất khả năng thanh toán năm 1986, Insolvency Act 1986, thông tin truy cập http://www.legislation.gov.uk/ ukpga/1986/45/pdfs/ukpga_19860045_en.pdf, truy cập ngày 07/01/2022.
5Điểm a, khoản 3, Điều 28 Luật Phá sản năm 2014.
Trang 8Tuy nhiên cũng phải thừa nhận, nhiều doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản thì thường cũng không có đủ điều kiện tài chính để thuê kiểm toán độc lập Nếu quy định báo cáo tài chính bắt buộc phải được kiểm toán thì nó sẽ là một trong những trở ngại rất lớn, dẫn đến không bảo đảm hồ sơ hợp lệ để có thể tiến hành thủ tục phá sản Vì vậy khuyến nghị Luật Phá sản năm 2014 bổ sung các quy định nhằm khắc phục những hạn chế của việc doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính không được kiểm toán Có thể xem xét đến quy định các chủ nợ có trách nhiệm tạm ứng tiền để thuê kiểm toán độc lập trước thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản [2]
2.4 Quy đ nh v th i h n ra quy t đ nh thi hành án và quy đ nh v đ nh ịnh tên Luật ề doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ời hạn ra quyết định thi hành án và quy định về định ạn ra quyết định thi hành án và quy định về định ết định thi hành án và quy định về định ịnh tên Luật ịnh tên Luật ề doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ịnh tên Luật giá l i tài s n ạn ra quyết định thi hành án và quy định về định ả năng thanh toán
Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm
2015 quy định một trong những nguyên tắc trong việc xây dựng và ban hành VBQPPL là phải bảo đảm tính tính thống nhất của VBQPPL trong hệ thống pháp luật Tính thống nhất giúp các VBQPPL trong cùng một lĩnh vực hoặc trong những lĩnh vực khác nhau có sự nhất quán trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định, hạn chế tình trạng cùng một vấn đề nhưng các văn bản lại quy định khác nhau Tuy nhiên hiện nay Luật Phá sản năm 2014 vẫn tồn tại một số quy định chưa thống nhất với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ( sửa đổi năm 2014), cụ thể là quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án và quy định về định giá lại tài sản Thứ nhất, Khoản 1 Điều 17 Luật Phá sản năm 2014 và điểm g khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi năm 2014) đều quy định cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan được giao nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án Tuy nhiên, quy định về thời hạn để cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố phá sản ở hai luật này lại chưa có sự thống nhất với nhau Cụ thể, khoản 1 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014 quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên
Trang 9bố phá sản, cơ quan THADS có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành, phân công Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản Trong khi đó, khoản 2 Điều 36 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi năm 2014) lại quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành Sự không thống nhất này khiến cơ quan THADS gặp khó khăn trong việc ban hành quyết định thi hành án, đồng thời
là nguyên nhân làm phát sinh các khiếu nại liên quan đến việc tuân thủ quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án [5]
Thứ hai, Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi năm 2014) cũng quy định chưa thống nhất với nhau về trường hợp định giá lại tài sản
Cụ thể, khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản năm 2014 quy định định giá lại tài sản chỉ được thực hiện trong một trường hợp duy nhất là “khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản” Trong khi
đó, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi năm 2014) tại khoản 1 Điều 99 lại quy định hai trường hợp có thể định giá lại tài sản kê biên gồm: (1) chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; (2) đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai
về việc bán đấu giá tài sản Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại Việc các đương sự không có quyền yêu cầu định giá lại tài sản trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá có thể gây ra bất lợi đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
Từ các lập luận trên, khuyến nghị Luật Phá sản năm 2014 sửa đổi theo hướng thống nhất và kế thừa quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi năm 2014) Cụ thể, quy định lại thời hạn ban hành quyết định tuyên bố phá sản là
Trang 1003 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, và bổ sung thêm trường hợp định giá lại tài sản tại Điều 123: Việc định giá lại tài sản được thực hiện khi đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản
III K T LU N ẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN
Tóm lại, Luật Phá sản năm 2014 ở Việt Nam hiện nay còn nhiều điểm bất cập Điều này đã làm hạn chế khả năng giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã rút khỏi thị trường một cách có trật tự, gây khó khăn trong quá trình giải quyết, thi hành án đối với các vụ việc phá sản Trong nền kinh tế thị trường phát triển với bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, pháp luật phá sản cần được xây dựng chặt chẽ và hoàn thiện hơn để không chỉ góp phần tạo dựng một môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, có trật tự mà còn đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong các điều ước quốc tế nói chung và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nói riêng mà Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia ký kết
DANH M C TÀI LI U THAM KH O ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ỆN ẢN HIỆN
[1] Khuất Thị Thu Hiền, Phá sản và pháp luật phá sản ở Việt Nam, Chuyên đề khoa học xét xử, Viện khoa học xét xử, Hà Nội, tháng 4/2010
[2] Trương Thanh Đức, Bình luận Dự thảo 3 Luật Phá sản, Hội thảo VCCI “Góp ý
Dự thảo 3 Luật phá sản”, 8/2013
[3] Phạm Duy Nghĩa, Đi tìm triết lý của Luật Phá sản, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 01/11/2003
[4] Dương Kim Thế Nguyên, Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật Phá sản năm 2014, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 24(328), tháng
12/2016