1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping

6 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 692,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết mô hình nhận dạng mẫu từ đơn tiếng Việt được trình bày. Tiếng nói được trích đặc trưng bằng giải thuật MFCC (Mel-Frequency Cepstral Coefficients). Giải thuật thời gian động DTW (Dynamic Time Warping) được sử dụng để so sánh tiếng nói đầu vào với các mẫu thu sẵn, từ đó sẽ chọn ra được kết quả nhận dạng phù hợp nhất với tiếng nói phát ra. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Hệ Thống Nhúng Nhận Dạng Tiếng Nói Tiếng Việt

Sử Dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients Và

Dynamic Time Warping

Lê Đức Lộc, Trần Văn Hoàng và Hoàng Trang

Khoa Điện – Điện Tử Trường Đại Học Bách Khoa – ĐHQG TP Hồ Chí Minh Email: ducloc0506@gmail.com,tvhoang@hcmut.edu.vn,hoangtrang@hcmut.edu.vn

Abstract — Trong bài báo này, mô hình nhận dạng mẫu từ đơn

tiếng Việt được trình bày Tiếng nói được trích đặc trưng bằng giải

thuật MFCC (Mel-Frequency Cepstral Coefficients) Giải thuật

thời gian động DTW (Dynamic Time Warping) được sử dụng để so

sánh tiếng nói đầu vào với các mẫu thu sẵn, từ đó sẽ chọn ra được

kết quả nhận dạng phù hợp nhất với tiếng nói phát ra Hệ thống

nhận dạng được thực hiện và chạy trên board nhúng BeagleBone

Black do Texas Instruments sản xuất Kết quả nhận dạng cao phù

hợp với lý thuyết.

Keywords — Nhận dạng từ đơn tiếng Việt, MFCC, DTW

I GIỚI THIỆU Nhận dạng tiếng nói là một kỹ thuật có nhiều ứng dụng

trong cuộc sống, trong việc điều khiển bởi ưu điểm lớn nhất

của nó là tốc độ cao, tương tác cao và trực quan với con

người Ở Việt Nam, nhận dạng tiếng nói đã được nghiên cứu

trong những năm gần đây và đạt được nhiều thành quả [1-2]

Bài báo trình bày một mô hình nhận dạng mẫu tiếng Việt đọc

rời rạc với độ chính xác cao: sử dụng phương pháp trích đặc

trưng hiện đại MFCC kết hợp với phương pháp so sánh mẫu

DTW đơn giản, không yêu cầu bộ nhớ cao và cho tốc độ nhận

dạng nhanh

Hệ thống nhận dạng tiếng nói đã được thực hiện trong

những năm gần đây Trong bài báo [3], phương pháp trích đăc

trưng được sử dụng là phương pháp LPC (Linear Predictive

Coding) Do đó, độ chính xác nhận dạng của hệ thống không

cao bằng việc sử dụng phương pháp MFCC Trong các bài báo

[3-6], hệ thống nhận dạng được thực hiện dựa trên mô hình

Markov ẩn (Hidden Markov Model – HMM) Ưu điểm của

các hệ thống nhận dạng sử dụng HMM là cho độ chính xác

nhận dạng cao, tuy nhiên, đi kèm với nó là sự phức tạp, khó

khăn trong thực hiện hệ thống và tốc độ thực thi hệ thống

chậm hơn so với phương pháp DTW Trong các bài báo

[9-11], hệ thống nhận dạng thực hiện dựa trên mô hình DTW và

được thực nghiệm trên ngôn ngữ tiếng Anh, độ chính xác nhận

dạng của hệ thống khi thực nghiệm đối với bộ từ vựng 4 từ là 90.1% [9], và 90.5% đối với bộ từ vựng gồm 10 từ [10] Trong bài báo của chúng tôi, hệ thống nhận dạng tiếng nói

sử dụng phương pháp nhận dạng DTW được áp dụng với ngôn ngữ tiếng Việt với ưu điểm là tốc độ nhận dạng nhanh, đơn giản, không yêu cầu bộ nhớ lớn với độ chính xác cao (cao hơn

so với hệ thống thực hiện bằng ngôn ngữ tiếng anh [9-10]) phù hợp trong các hệ thống điều khiển yêu cầu tốc độ đáp ứng nhanh và tài nguyên phần cứng hạn chế Đặc biệt, việc huấn luyện mẫu cho một từ chỉ yêu cầu một lần đọc, làm cho tính linh động của hệ thống rất cao Đồng thời, trong bài báo này, chúng tôi cũng tiến hành thực nghiệm với một người khác (không phải người huấn luyện) cho kết quả khả quan, chứng tỏ

sự linh hoạt và tiện dụng của hệ thống khi áp dụng với ngôn ngữ tiếng Việt mà không cần phải huấn luyện với tất cả người dùng như trong bài báo [11]

Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau: trong phần

II, chúng tôi trình bày tổng quan về hệ thống nhận dạng tiếng nói Quá trình các bước thực hiện hệ thống nhận dạng sẽ được

mô tả trong phần III Phần IV sẽ cung cấp kết quả đánh giá thực nghiệm và phân tích các kết quả đạt được Cuối cùng, các kết luận bài báo sẽ được trình bày trong phần V

II TỔNG QUAN HỆ THỐNG NHẬN DẠNG TIẾNG NÓI

A Mô hình nhận dạng tiếng nói

Sau khi tiếng nói được thu từ một microphone, quá trình phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc của từ diễn ra trước khi tiếng nói được xử lý

Giải thuật nhận dạng tiếng nói bao gồm 2 phần chính Phần 1 là huấn luyện mẫu, phần 2 là quá trình chính nhận dạng tiếng nói Sơ đồ khối của mô hình nhận dạng tiếng nói được mô tả trong Hình 1

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Bộ Khoa Học và Công Nghệ qua đề tài

có mã số KC.01.23/11-15

Trang 2

Hình 1 Mô hình nhận dạng tiếng nói

B Phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc

Phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc của tiếng nói (tách tiếng

nói ra khỏi khoảng lặng) thường dựa trên hàm năng lượng thời

gian ngắn [7] Trong xử lý tiếng nói việc xác định khi nào bắt

đầu xuất hiện tín hiệu tiếng nói và khi nào kết thúc quá trình

nói rất cần thiết và quan trọng Nó tăng độ chính xác và làm

cho hệ thống tập trung vào việc phân tích và so sánh chính xác

mẫu tiếng nói, đồng thời nó cũng hạn chế đi nhiễu của môi

trường và các khoảng lặng làm ảnh hưởng đến hệ thống [7-8]

Mô hình phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc tín hiệu tiếng nói

được mô tả trong Hình 2

Hình 2 Mô hình phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc

Hàm năng lượng thời gian ngắn của tín hiệu tiếng nói được

tính bằng cách chia tín hiệu tiếng nói thành các khung, mỗi

khung dài N mẫu Nếu hàm cửa sổ bắt đầu xét ở mẫu thứ m thì

hàm năng lượng thời gian ngắn E mđược xác định như sau:

1 2 [ ( )]

m N m

n m

E   x n

C Thuật toán trích đặc trưng MFCC

Thuật toán MFCC là thuật toán trích đặc trưng tiếng nói

hiện đại, đang được sử dụng rộng rãi bởi tính hiệu quả của nó

thông qua phân tích các hệ số cepstral theo thang đo Mel [7]

Giải thuật MFCC được xây dựng trên mô hình mô phỏng

lại quá trình cảm nhận âm thanh của tai người, dựa trên những

nghiên cứu về sự cảm nhận âm thanh ở những dải tần số khác

nhau Với các tần số thấp (dưới 1000Hz), độ cảm nhận của tai

người là tuyến tính Đối với các tần số cao hơn, độ cảm nhận

biến thiên theo hàm logarit Do đó, để thu được những đặc

trưng của tiếng nói, ta sử dụng các bộ lọc tuyến tính với dải

tần thấp và các bộ lọc có đặc tính logarit với dải tần số cao

Mô hình tính toán các hệ số MFCC được mô tả như Hình 3

Hình 3 Mô hình trích đặc trưng bằng MFCC 1) Tiền nhấn tín hiệu

Tiếng nói sau khi được số hóa sẽ được tiền nhấn (pre-emphasized) với bộ lọc đáp ứng xung hữu hạn (finite impulse response – FIR) bậc một vì pha của nó tuyến tính và thực thi đơn giản Việc sử dụng các bộ lọc pha tuyến tính rất quan trọng, vì pha của của tín hiệu sẽ không bị thay đổi, chỉ có cường độ của tín hiệu bị thay đổi, do đó những đặc điểm theo thời gian của tín hiệu sẽ được bảo tồn Do trong tiếng nói, các thành tố thấp hơn thường chứa đựng nhiều năng lượng hơn, vì vậy nó được xem xét hơn khi mô hình hóa so với các thành tố cao hơn Do đó, một bộ lọc pre-emphasis được dùng để

khuếch đại tín hiệu ở các tần số cao hơn Hàm truyền H(z) của

bộ lọc được cho bởi:

1

Để tạo được bộ lọc thông thấp a > 0 Thông thường, a được chọn trong khoảng 0.9 đến 1

2) Tách các khung

Bởi vì tín hiệu tiếng nói là tín hiệu biến đổi chậm theo thời gian, trong một hệ thống nhận dạng tiếng nói thì tiếng nói sau khi được lấy mẫu sẽ được nhóm thành những khoảng thời gian ngắn trong khoảng từ 20 đến 40 ms được gọi là các khung Để cho các thông số của khung ít thay đổi, thông thường sẽ có sự chồng lấp giữa các khung kế cận nhau

3) Bộ lọc cửa sổ

Một cửa sổ thường được ứng dụng để gia tăng tính liên tục giữa các khung kế cận nhau Những cửa sổ thường gặp như:

cửa sổ hình chữ nhật, cửa sổ Hamming, cửa sổ Hanning, cửa

sổ Kaiser, … Cả hai cửa sổ Hanning và Hamming đều có sự suy giảm cao hơn rất nhiều so với cửa sổ hình chữ nhật Ở cửa

sổ Hanning, đỉnh thứ 2 suy giảm 31dB so với đỉnh chính, và giảm 44dB ở cửa sổ Hamming Mặt khác, ở cửa sổ Hanning, các đỉnh phụ suy giảm khá nhanh, nhưng ở cửa sổ Hamming thì không, các đỉnh phụ gần như không đổi ở mọi tần số [7]

Do đó chúng ta thường sử dụng cửa sổ Hamming trong các

ứng dụng nhận diện giọng nói Các hệ số h(n) của cửa số

Hamming được tính như sau:

  0.54 0.46* 2

0

n cos



(3)

Trang 3

4) Fast Fourier Transform (FFT)

Biến đổi Fourier nhanh (FFT) được dùng để chuyển tín

hiệu tiếng nói từ miền thời gian qua miền tần số Đó chính là

sự thực thi phép biến đổi Fourier rời rạc (DFT) đạt hiệu suất

cao với điều kiện ràng buộc là phổ được đánh giá tại những

tần số rời rạc Thuật toán FFT chỉ yêu cầu khối lượng tính

toán tỷ lệ với NlogN, trong khi đó DFT yêu cầu khối lượng

tính toán tỷ lệ với N2 Do đó, khi chiều dài mẫu N càng lớn, ưu

thế của FFT so với DFT càng thể hiện rõ

Độ phân giải tần số của FFT bị giới hạn bởi 2 yếu tố: chiều

dài của tín hiệu và chiều dài của FFT Nếu tín hiệu được tạo ra

bởi việc cộng hai tín hiệu sin mà tần số của hai tín hiệu này rất

gần với nhau, khi đó để phân biệt hai tần số này chúng ta phải

quan sát tín hiệu với phân đoạn đủ dài Đối với chiều dài của

FFT, phổ tần số được tạo ra bởi N điểm FFT bao gồm N/2

điểm cách đều nhau phân bố giữa 0 đến phân nửa tần số lấy

mẫu Vì vậy để tách rời hai tần số có khoảng cách gần nhau thì

khoảng cách giữa các điểm phải nhỏ hơn khoảng cách giữa hai

đỉnh

5) Bộ lọc Mel

Bộ lọc Mel mô hình hóa lại đáp ứng tần số của ốc tai

người Đáp ứng này tuyến tính với những tần số dưới 1kHz và

tỉ lệ với logarit đối với các tần số cao hơn Phương trình (4)

được dùng để biến đổi từ thang tần số thường sang thang tần

số Mel và phương trình (5) biến đổi từ thang tần số Mel về

thang tần số thường

  1125log 1

700f Mel f    

 

Mel m  e  

(5)

Băng thông bộ lọc thang đo Mel bao gồm các bộ lọc hình

tam giác được phân bố bên trong băng thông tín hiệu Chúng

được cách đều nhau trên thang Mel và băng thông của chúng

được thiết kế sao cho điểm 3dB nằm ở khoảng giữa hai bộ lọc

kế cận nhau (Hình 4) Trong nhận dạng tiếng nói, số bộ lọc là

một trong những thông số mà ảnh hưởng đến độ chính xác

nhận dạng của hệ thống [7]

Hình 4 Băng bộ lọc Mel, theo thang tần số Mel (a)

6) Cepstrum

Tín hiệu tiếng nói có thể được mô tả như là kết quả của phép tích chập giữa tín hiệu kích thích của thanh quản với đáp ứng xung của bó thanh âm Đáp ứng của bó thanh âm quyết định đường bao của phổ, trong khi đó phổ của tín hiệu kích thích biểu diễn các thành phần phổ của tiếng nói Đối với nhận dạng tiếng nói, đường bao của phổ hữu ích hơn các thành phần phổ [7]

Cepstrum được định nghĩa là phép biến đổi cosin rời rạc (DCT), được dùng để chuyển các hệ số Mel sau khi lấy logarithm trở về miền thời gian Kết quả của phép biến đổi này cho ta các hệ số đường bao phổ tín hiệu tiếng nói

1

log cos 0.5

K

k

p

k

Trong (6), C np là các hệ số cepstrum bậc p của khung n và S’ nk là giá trị tần số Mel thứ k của khung n Các hệ số

cepstrum bậc thấp tượng trưng cho đường bao của bó âm thanh, và các hệ số bậc cao tượng trưng cho các thành phần kích thích Do đó, trong các ứng dụng nhận dạng tiếng nói, chỉ

sử dụng từ 8 đến 16 hệ số cepstrum bậc thấp

7) Đạo hàm bậc 1 và bậc 2 Các hệ số cepstrum C np mô tả đường bao của bó âm thanh theo từng khung tín hiệu p riêng biệt nhưng không mô tả được tốc độ biến đổi của âm thanh theo thời gian Trong thực tế, tốc

độ biến thiên của các hệ số theo thời gian chứa một phần thông tin mà ta muốn truyền đạt [7] Để đặc trưng cho sự biến thiên đó, ta sử dụng các hệ số đạo hàm bậc 1 dn và đạo hàm bậc 2 d d( )n

2

10

n

2 ( )

10

n

D Giải thuật thời gian động DTW

Giải thuật DTW được xây dựng dựa trên cơ sở của kỹ thuật lập trình động (Dynamic Programming Techniques)

Giải thuật này thực hiện việc so trùng hai mẫu tín hiệu tiếng nói có đường bao tín hiệu khác nhau phi tuyến tính theo trục thời gian do hiện tượng kéo dãn hay co rút [1]

Hình 5 Biến dạng thời gian giữa 2 mẫu tín hiệu

Ở Hình 5, mỗi đường thẳng nối một điểm từ chuỗi tín hiệu

Trang 4

chuỗi tín hiệu là giống hệt nhau, thì các đường nối sẽ song

song nhau Sự biến dạng về thời gian, làm cho các tổng

khoảng cách giữa các điểm tương ứng lớn lên và làm cho việc

nhận dạng bị sai lệch

Giả sử chúng ta có hai chuỗi tín hiệu Q và C với chiều dài

lần lượt là n và m:

1 2 3

1 2 3

, , , , , , , ,

n m

Để so sánh hai chuỗi tín hiệu, một ma trận n x m được hình

thành với các phần tử là khoảng cách cục bộ d(i,j) giữa hai

điểm q i và c j Khoảng cách cục bộ d(i,j) giữa hai điểm được

tính bằng đơn vị theo hệ Euclidean theo phương trình (9)

Việc sử dụng hệ đơn vị Euclidean có ưu điểm là dễ hiểu, dễ

tính toán, cho thấy rõ sự sai biệt lớn giữa chuỗi tín hiệu, nhưng

lại có khuyết điểm sẽ làm cho việc tính toán tăng độ phức tạp

so với các hệ đo lường khác, đồng thời cũng làm cho hệ thống

nhạy cảm với nhiễu [1]

  , ( i j)2

Sau đó, ta sẽ tính sai biệt toàn cục của hai chuỗi tín hiệu

Để tính toán được sai biệt toàn cục nhỏ nhất giữa hai tín hiệu,

ta cần ước lượng tất cả khoảng cách có thể có, nhưng cách này

không hiệu quả khi số lượng khoảng cách có dạng hàm mũ

theo chiều dài của tín hiệu ngõ vào Thay vào đó, ta xem xét

những ràng buộc tồn tại trong quá trình so trùng và dùng

những ràng buộc này để có được giải thuật hiệu quả hơn [1]

Các ràng buộc được thiết lập phải không phức tạp và cũng

không hạn chế nhiều, như sau:

− Các khoảng cách so trùng không thể thực hiện

việc đi lui

− Mọi khung của tín hiệu cần so trùng phải được

dùng trong quá trình so trùng

− Các giá trị sai biệt cục bộ được kết hợp bằng

phương pháp cộng dồn vào giá trị sai biệt toàn

cục

Gọi D(i,j), d(i,j) là độ sai biệt toàn cục và sai biệt cục bộ

tại vị trí (i,j) D(i,j) được tính như sau:

 , min  1, 1 ,  1, , , 1  ,

D i j  D ijD ij D i j d i j (10)

Với D(1,1) = d(1,1) là giá trị khởi tạo ban đầu, giải thuật

ứng dụng đệ qui vào việc tính toán các độ sai biệt tại D(i, j).

Giá trị cuối D(n,m) chính là giá trị chênh lệch giữa tín hiệu

mẫu và tín hiệu cần so sánh

Hình 6 Giải thuật tính DTW

Phương trình (10) có thể được thực hiện bằng phương pháp đệ quy Tuy nhiên, phương pháp này tốn nhiều thời gian thực hiện và gây lãng phí bộ nhớ Để cải tiến những nhược điểm trên, một phương pháp khác sử dụng hai vòng lặp và hai mảng để lưu trữ các cột của ma trận thời gian – thời gian và cột của ma trận trước đó (Hình 6)

III THỰC HIỆN HỆ THỐNG Mặc dù tai người có thể nghe được âm thanh với tần số từ 20Hz tới 20KHz, nhưng tai người chỉ nhạy với các tần số nhỏ hơn 5kHz và với chất lượng của âm thanh thoại thì sẽ có băng thông giới hạn là 4kHz Với lí do này, chúng tôi sử dụng băng thông 4KHz trong đề tài này và tần số lấy mẫu ở đây là 8KHz

A Phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc

Bước 1: Sau khi thu mẫu tín hiệu tiếng nói, ta chia chúng

thành các khung nhỏ hơn để tiện cho việc tính toán Chúng tôi

sử dụng 80 mẫu trong mỗi khung và chống lấp 50% giữa các khung với nhau, tương đương với 5ms cho mỗi khung tín hiệu

Bước 2: Ta tính năng lượng của một khung tín hiệu theo

(1)

Bước 3: Ta sẽ thu một tín hiệu nền và tính giá trị ngưỡng

so sánh sử dụng phương trình (11)

 

 

N

N

Giá trị ngưỡng được chọn cao hơn so với giá trị trung bình của tín hiệu nền Trong đề tài này, chúng tôi chọn µ = 0.1

Bước 4: Sau khi đã có tín hiệu nền, ta bắt đầu thu và phân

tách tín hiệu Tất cả những khung có mức năng lượng cao hơn mức ngưỡng chính là tiếng nói, những khung có mức năng lượng thấp hơn là nhiễu hoặc các khoảng lặng Việc sử dụng các hệ số năng lượng làm ngưỡng để xác định điểm bắt đầu có thể giảm nhiễu ngẫu nhiên trong thời gian ngắn, bởi một từ tiếng nói thông thường dài hơn 200ms, do đó chúng tôi sử dụng thêm số lượng khung để làm ngưỡng loại bỏ các nhiễu trong thời gian ngắn

Trang 5

B Trích đặc trưng bằng thuật toán MFCC

Bước 1: Tiền nhấn tín hiệu theo phương trình (2) Trong

đề tài này, chúng tôi sử dụng hệ số a = 0.97

Bước 2: Chúng tôi nhóm tín hiệu vào các khung có chiều

dài 25ms với 10ms chống lấn Với tốc độ mẫu 8kHz, ta sẽ có

200 mẫu trong một khung với 80 mẫu chống lấn giữa các

khung

Bước 3: Áp dụng cửa sổ Hamming 200 điểm lên tín hiệu

tiếng nói

trong đó f n (l) là khung được pre-emphasis thứ n, ham(l) thay

cho cửa sổ Hamming, và wf n (l) là khung thứ n sau khi qua cửa

sổ Hamming

Bước 4: Khi các frame được cửa sổ hóa với chiều dài là

200 điểm, chiều dài FFT được thiết lập là 256 điểm để đạt

được độ phân giải tần số tốt với khối lượng tính toán có thể

chấp nhận được khi thực thi thực tế Sau khi biến đổi FFT 256

điểm, chỉ có biên độ (căn bậc 2) của 128 điểm đầu tiên được

dùng cho bước tính toán tiếp theo bởi tính chất đối xứng của

phép biến đổi FFT

Bước 5: Chúng ta xác định các hệ số H n của bộ lọc bằng

phương trình (13) với f[n] được tính từ phương trình (4) và

(5)

 

( [ 1] [ 1])*( [ ] [ 1])

2*( [ 1] )

0

[

( [ 1] [ 1])*( [ 1] [ ])

0

]

m

k f m

f m

H k

  ,k f m 1



Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng Mel cho thang tần số

từ 300Hz – 4000Hz để loại bỏ nhiễu tần số thấp dưới 300Hz

cho thiết bị thu âm gây ra

Bước 6: Tính các hệ số cepstrum theo phương trình (6),

trong đề tài này chúng tôi sử dụng 13 hệ số cepstrum bậc thấp

Bước 7: Tính đạo hàm bậc 1 và bậc 2 theo phương trình

(7) và phương trình (8)

Tín hiệu tiếng nói được trích đặc trưng bằng giải thuật

MFCC Đối với nhận dạng từ đơn, do mỗi từ phát âm dài

không quá 500ms sẽ tạo thành tối đa 24 khung tín hiệu, mỗi

khung tín hiệu có 39 hệ số gồm 13 hệ số cepstrum, 13 hệ số

đạo hàm bậc 1 và 13 hệ số đạo hàm bậc 2 Do đó vec-tơ đặc

trưng của mỗi từ có tối đa 936 hệ số, những hệ số này sẽ được

lưu lại làm mẫu hoặc dùng làm ngõ vào tín hiệu so sánh với

các mẫu đã thu

C So sánh mẫu bằng giải thuật DTW

Bước 1: Tính toán các phần tử của ma trận DTW cũng là

các sai biệt cục bộ giữa các điểm của chuỗi cepstrum tín hiệu tiếng nói và tín hiệu mẫu theo phương trình (9)

Bước 2: Tính tại cột 0, bắt đầu từ đáy của mảng Giá trị sai

biệt toàn cục của ô đáy mảng 0 bằng chính sai biệt cục bộ của

nó Sau đó, tính các giá trị toàn cục của các ô khác trong mảng bằng cách lấy giá trị cục bộ của ô đó cộng với sai biệt toàn cục của ô ngay dưới nó Mảng này đươc gọi là cột trước

Bước 3: Tính sai biệt toàn cục của ô đầu tiên của cột hiện

tại Sai biệt toàn cục của ô này chính là sai biệt cục bộ của nó cộng với sai biệt toàn cục của ô đầu tiên của cột trước nó

Bước 4: Tính sai biệt toàn cục cho các ô còn lại.

Bước 5: Cột hiện tài trở thành cột trước và lặp lại từ bước

3 cho đến khi tất cả các cột được tính toán xong Giá trị cuối của cột hiện tại cuối cùng chính là giá trị chênh lệch giữa tín hiệu mẫu và tín hiệu cần so sánh

IV KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BÌNH LUẬN Các thí nghiệm được thực hiện với hệ thống nhận dạng tiếng nói có bộ từ vựng lần lượt là 4 từ, 6 từ, 8 từ và 10 từ gồm các từ “một”, “hai”, “ba”, “bốn”, “năm”, “sáu”, “bảy”, “tám”,

“chín”, “mười” Mỗi từ được thử nghiệm 100 lần đọc Các kết quả thí nghiệm bao gồm tỉ lệ nhận dạng đúng của người đọc cũng là người huấn luyện và một người khác (nam, không phải người huấn luyện) thực hiện trong cùng một môi trường yên tĩnh, có tiếng gió nhẹ từ quạt máy được trình bày ở Hình 7, Hình 8, Hình 9, Hình 10 và thời gian nhận dạng được trình bày ở Bảng 1

Hệ thống nhận dạng tiếng nói được chạy trên Kit BeagleBone Black dựa trên vi xử lý lõi đơn AM335x 1GHz ARM Cortex-A8, 512 MB DDR3 RAM Các kết quả đánh giá

độ chính xác và tốc độ nhận dạng được thực hiện hoàn toàn trên kit này

80 85 90 95 100

"một" "hai" "ba" "bốn"

Người huấn luyện (Trung bình 96.25%) Người khác (Trung bình 91.25%)

Hình 7 Độ chính xác nhận dạng đối với hệ thống có bộ từ vựng 4 từ

Hình 7 biểu diễn độ chính xác nhận dạng của hệ thống nhận dạng tiếng nói có bộ từ vựng gồm 4 từ: “một”, “hai”,

“ba”, “bốn” Có thể nhận thấy rằng, độ chính xác nhận dạng của hệ thống là rất cao Đối với người thử nghiệm cũng là người huấn luyện, hệ thống đạt độ chính xác trung bình là 96.25%, trong khi người thử nghiệm là người khác (không

Trang 6

huấn luyện mô hình) hệ thống đạt độ chính xác trung bình là

91.25%

82

84

86

88

90

92

94

96

98

100

"một" "hai" "ba" "bốn" "năm" "sáu"

Người huấn luyện (Trung bình 95.83%)

Người khác (Trung bình 91.83%)

Hình 8 Độ chính xác nhận dạng đối với hệ thống có bộ từ vựng 6 từ

70

75

80

85

90

95

100

"một" "hai" "ba" "bốn" "năm" "sáu" "bảy" "tám"

Người huấn luyện (Trung bình 90.875%)

Người khác (Trung bình 85.375%)

Hình 9 Độ chính xác nhận dạng đối với hệ thống có bộ từ vựng 8 từ

Hình 10Độ chính xác nhận dạng đối với hệ thống có bộ từ vựng 10 từ

Bảng 1 Thời gian nhận dạng của người huấn luyện và người khác

Số lượng mẫu dạng trung bình củaThời gian nhận

người huấn luyện

Thời gian nhận dạng trung bình của người khác

4 mẫu 0.384s 0.445s

6 mẫu 0.47s 0.521s

8 mẫu 0.593s 0.746s

10 mẫu 0.648s 0.842s

Như các kết quả được đưa ra trong Hình 7, Hình 8, Hình 9,

Hình 10, ta có thể nhận thấy rằng khi bộ từ vựng được tăng

dần lên thì độ chính xác nhận dạng của hệ thống càng giảm

dần Do đó, hệ thống nhận dạng sử dụng phương pháp DTW

chỉ thích hợp trong các ứng dụng với bộ từ vựng nhỏ, điều

khiển đơn giản với đáp ứng nhanh Ngoài ra, kết quả nhận

dạng của hệ thống với một người khác (không phải là người

huấn luyện) cho tỉ lệ khá cao Với kết quả này, cộng với việc

hệ thống chỉ cần huấn luyện mỗi từ với một lần đọc duy nhất làm cho tính linh động của hệ thống rất cao, dễ sử dụng và linh hoạt, rất phù hợp với các thiết bị điều khiển cầm tay với các giới hạn về tài nguyên phần cứng

Bảng 1 cho thấy thời gian nhận dạng của một từ tăng dần khi bộ từ vựng của hệ thống tăng lên Điều này là do khi bộ từ vựng tăng, số mẫu cần so sánh, tham chiếu cũng tăng lên, làm cho số lượng tính toán tăng Tốc độ nhận dạng còn phụ thuộc vào cách phát âm của người đọc Đọc chậm và kéo dài sẽ dẫn đến thời gian nhận dạng lâu hơn

V KẾT LUẬN Bài báo này trình bày một mô hình nhận dạng từ đơn đơn giản, dễ thực hiện bằng phương pháp trích đặc trưng MFCC

và so sánh mẫu DTW Các kết quả thí nghiệm với bộ thư viện nhỏ từ 10 từ trở xuống đã chứng minh được mô hình đem lại kết quả nhận dạng cao với ưu điểm nổi bật là thời gian nhận dạng nhanh Tuy nhiên, mô hình nhận dạng bị phụ thuộc vào cách phát âm của người nói, nên khi cần mở rộng bộ thư viện,

sự tương đồng giữa các từ làm hiệu suất nhận dạng bị giảm xuống Do đó, đối với các bộ thư viện lớn hơn, cần các kết hợp với các phương pháp so sánh mẫu khác như Mô hình chuỗi Markov ẩn, phương pháp Mạng Nơtron để tăng hiệu suất nhận dạng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thanh Bình, Võ Nguyễn Quốc Bảo, "Xử Lý Âm Thanh Và Hình

Ảnh", Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông, 2007

[2] Lê Tiến Thường, Hoàng Đình Chiến, "Vietnamese Speech Recognition

Applied to Robot Communications", Au Journal of Technology, Volume

7 No 3 January 2004.

[3] V Amudha, B.Venkataramani, R Vinoth kumar, S Ravishankar:

“Software/Hardware Co-Design of HMM based Isolated Digit Recognition System.” In: Journal of Computers, VOL 4, No 2, pp

154-159, (2009).

[4] Haitao Zhou, Xiaojun Han: “Design and Implementation of Speech

Recognition System Based on Field Programmable Gate Array” In:

Modern Applied Science, Vol 3, No 8, pp 106-111, August 2009 [5] Wei Han, Cheong-Fat Chan, Chiu-Sing Choy, Kong-Pang Pun: “An

Efficient MFCC Extraction Method in Speech Recognition.” In: the 2006

IEEE International Symposium on Circuits and Systems (ISCAS), pp

145-148, Greece (2006).

[6] Wei Han: “A Speech Recognition IC with an Efficient MFCC Extraction

Algorithm and Multi-mixture Models”, the Chinese University of Hong

Kong, Doctor of philosophy thesis, September 2006.

[7] Xuedong Huang, Alex Acero, Hsiao-Wuen Hon, “Spoken language

processing: A guide to theory, algorithm, and system development”,

Prentice Hall PTR Upper Saddle River, NJ, USA ©2001

[8] Qi Li, Jinsong Zheng, Augustine Tsai, & Qiru Zhou, "Robust Endpoint

Detection and Energy Normalization for Real-Time Speech and Speaker Recognition", IEEE Transactions On Speech And Audio Processing,

Vol 10, No 3, March 2002.

[9] Rajesh Makhijani, Ravindra Gupta, “Isolated Word Speech Recognition

System Using Dynamic Time Warping” In: International Journal of

Engineering Sciences & Emerging Technologies, VOL 6, Issue 3, pp: 352-367, (2013).

[10] MarutiLimkar, RamaRao, VidyaSagvekar: “Isolated Digit Recognition

Using MFCC and DTW” In: International Journal on Advanced

Electrical and Electronics Engineering, Vol 1, Issue 3, pp 59-64, (2012) [11] Shivanker Dev Dhingra, Geeta Nijhawan, Poonam Pandit: “Isolated

Speech Recognition Using MFCC And DTW”, In: International Journal

of Advanced Research in Electrical, Electronics and Instrumentation Engineering, Vol 2, Issue 8, pp 4085-4092, (2013).

Ngày đăng: 27/04/2022, 10:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Mô hình phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
Hình 2. Mô hình phát hiện điểm bắt đầu và kết thúc (Trang 2)
Hình 1. Mô hình nhận dạng tiếng nói B. Phát hiện điểm bắt đầu và kế t thúc  - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
Hình 1. Mô hình nhận dạng tiếng nói B. Phát hiện điểm bắt đầu và kế t thúc (Trang 2)
Giải thuật MFCC được xây dựng trên mô hình mô phỏng lại quá trình cảm nhận âm thanh của tai người, dựa trên những  nghiên cứu về sự cảm nhận âm thanh ở những dải tần số khác  nhau - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
i ải thuật MFCC được xây dựng trên mô hình mô phỏng lại quá trình cảm nhận âm thanh của tai người, dựa trên những nghiên cứu về sự cảm nhận âm thanh ở những dải tần số khác nhau (Trang 2)
Hình 4. Băng bộ lọc Mel, theo thang tần số Mel (a) - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
Hình 4. Băng bộ lọc Mel, theo thang tần số Mel (a) (Trang 3)
Bộ lọc Mel mô hình hóa lại đáp ứng tần số của ốc tai người. Đáp ứng này tuyến tính với những tần số dưới 1kHz và  tỉ lệ với logarit đối với các tần số cao hơn - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
l ọc Mel mô hình hóa lại đáp ứng tần số của ốc tai người. Đáp ứng này tuyến tính với những tần số dưới 1kHz và tỉ lệ với logarit đối với các tần số cao hơn (Trang 3)
Để so sánh hai chuỗi tín hiệu, một ma trận xm được hình thành với các phần tử là khoảng cách cục bộd(i,j)giữ a hai  - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
so sánh hai chuỗi tín hiệu, một ma trận xm được hình thành với các phần tử là khoảng cách cục bộd(i,j)giữ a hai (Trang 4)
Hình 7 biểu diễn độ chính xác nhận dạng của hệ thống nhận dạng tiếng nói có bộ từ vựng gồm 4 t ừ:  “một”,  “hai”,  “ba”, “bốn” - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
Hình 7 biểu diễn độ chính xác nhận dạng của hệ thống nhận dạng tiếng nói có bộ từ vựng gồm 4 t ừ: “một”, “hai”, “ba”, “bốn” (Trang 5)
Hình 7 Độ chính xác nhận dạng đối với hệ thống có bộ từ vựng 4 từ - Hệ thống nhúng nhận dạng tiếng nói tiếng Việt sử dụng Mel-Frequency Cepstral Coefficients và Dynamic Time Warping
Hình 7 Độ chính xác nhận dạng đối với hệ thống có bộ từ vựng 4 từ (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm