ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIKHOA LUẬT PHẠM THỊ ANH VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG VỤ ÁN NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRÊN CƠ SỞ TH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ ANH
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI VIỆC
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG VỤ ÁN NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI (TRÊN CƠ SỞ THỰC
TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ ANH
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI VIỆC
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG VỤ ÁN NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI (TRÊN CƠ SỞ THỰC
TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NINH)
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM MẠNH HÙNG
Trang 3HÀ NỘI - 2021
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết luận khoa học của Luận văn chưa được công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu và trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Anh
Trang 5KIỂM SÁT ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG VỤ ÁN NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 8 1.1 Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng
biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 8
1.1.1 Khái niệm biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội
là người dưới 18 tuổi 8 1.1.2 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện
pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 17
1.1.3 Đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động thể hiện vai trò của Viện
kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 20 1.2 Quá trình hình thành và phát triển những quy định của pháp
luật về hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người
bị buộc tội là người dưới 18 tuổi từ khi thành lập Viện kiểm sát đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự 2015 24
Trang 61.2.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988 24
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 26
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2015 28
Kết luận Chương 1 35
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG VỤ ÁN NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NINH 36
2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 36
2.1.1 Vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 36
2.1.2 Vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi42 2.2 Thực tiễn hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi tại tỉnh Quảng Ninh 52
2.2.1 Thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ người dưới 18 tuổi 54
2.2.2 Thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giam người dưới 18 tuổi 56
2.3 Đánh giá tổng quát về những kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi58 2.3.1 Những kết quả đạt được 58
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 61
Kết luận Chương 2 65
Trang 7Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG VỤ ÁN NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 66
3.1 Những yêu cầu của việc bảo đảm vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc là người dưới 18 tuổi 66
3.1.1 Yêu cầu của cải cách tư pháp 66
3.1.2 Yêu cầu của công tác phòng, chống tội phạm và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự 67
3.2 Các giải pháp cụ thể 68
3.2.1 Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 68
3.2.2 Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên 78
3.2.3 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với các cơ quan liên quan 81
3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là người dưới 18 tuổi 82
3.2.5 Tăng cường về cơ sở vật chất 83
Kết luận Chương 3 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
g
Bảng 2.1 Bảng thống kê số người dưới 18 tuổi bị áp dụng biện
pháp tạm giữ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tạiĐiều 37 ghi nhận “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội chăm sóc vàgiáo dục” Thể chế hóa điều đó: Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụnghình sự 2015 đã được ban hành Đảng và Nhà nước ta đã và đang luôn dànhnhiều sự quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục trẻ em, tạo dựng một môitrường xã hội trong sạch, lành mạnh Tuy nhiên, trong phạm vi cả nước nóichung cũng như trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng vẫn tồn tại một thựctrạng rất đáng lo ngại, là tình hình vi phạm pháp luật, đặc biệt là tình hìnhphạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện, với tính chất, mức độ nguy hiểmngày càng phức tạp, trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Việc quyđịnh và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi
là sự đảm bảo cho quá trình phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý nghiêmminh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không cho người phạm tội tiếp tục thựchiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến quá trình điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hình sự Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặntrong đó có biện pháp tạm giữ, tạm giam tác động đến quyền con người,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thực tế những năm qua, việc ápdụng các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn còn hạn chếnhất định, dẫn đến oan sai, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa,xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Trong những năm qua, ngành Kiểm sát nhân dân đã có nhiều cố gắngthực hiện vai trò của mình trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung
và biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18tuổi nói riêng và đã đạt được nhiều kết quả, góp phần đảm bảo cho hoạt độngđiều tra, truy tố được tuân thủ theo quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả
Trang 11công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt trong các vụ án có người bị buộc tội làngười dưới 18 tuổi Tuy nhiên, hoạt động của Viện kiểm sát đối với việc ápdụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới
18 tuổi vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót: cán bộ, kiểm sát viên còn chưa nhậnthức đúng đắn, đầy đủ về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biệnpháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi Điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thể hiện vai trò của Viện kiểm sátđối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộctội là người dưới 18 tuổi
Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàndiện, có hệ thống về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháptạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi Dovậy, đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc đầy đủ cả về phương diện
lý luận và thực tiễn, làm cơ sở để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, đưa ranhững giải pháp phù hợp để công tác này ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi (trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh)” làm luận văn cao học chuyên ngành Luật tố tụng
hình sự là cần thiết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạmgiam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là một trong nhữnghoạt động thể hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Đề tài này đã đượcmột số tác giả nghiên cứu và các công trình khoa học đó đã công bố, có thể kểđến các công trình sau:
Trang 12(i) Nhóm các tài liệu là giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảogồm có:
* Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2016), Giáo trình luật tố tụng
hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
* Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), Giáo trình luật tố tụng hình
sự Việt Nam, Nxb Chính trị- Sự thật.
* Phạm Mạnh Hùng (Chủ biên) (2018), Bình luận khoa học bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015, Nxb Lao động.
* Nguyễn Trọng Phúc (Chủ biên) (2015), Chế định các biện pháp ngăn
chặn theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị Quốc gia
(ii) Nhóm tài liệu là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luật tốtnghiệp, đề tài khoa học các cấp:
* Luận án tiến sĩ Luật học, “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”,
Nguyễn Văn Điệp, Đại học Luật Hà Nội, 2005
* Luận án tiến sĩ Luật học, “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Trần Hưng
Bình, Học viện Khoa học xã hội, 2013
* Luận văn thạc sĩ Luật học, “Vai trò của Viện kiểm sát trong áp dụng
các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố (thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội)”, Nguyễn Thị Kiều Diễm, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.
* Luận văn thạc sĩ Luật học, “Biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với
người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Nam)”, Bùi Long Hưng, Đại học quốc gia Hà Nội, 2015.
* Luận văn thạc sĩ Luật học, “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt,
tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố
Hồ Chí Minh”, Nguyễn Thị Ninh Bình, Học viện khoa học xã hội, 2017.
Trang 13* Đề tài khoa học cấp Bộ: “Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị”, Viện khoa học kiểm sát - VKSND tối
cao, 2005
Ngoài ra, còn có một số bài viết của các tác giả đăng trên Tạp chí Tòa
án, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học…, có đề cập đến hoạt động của Việnkiểm sát trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, trong đó có biện pháptạm giữ, tạm giam
Nhìn chung, các công trình khoa học nói trên mặc dù có đề cập đếnviệc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhưngchưa có nhiều chuyên khảo về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụngbiện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18tuổi Hơn nữa, hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được ban hành đã cónhiều quy định mới về vấn đề này nên vẫn cần nghiên cứu để tiếp tục thựchiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạmgiam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, quy định củapháp luật tố tụng hình sự và hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đốivới việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong các vụ án hình sự màngười bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc
áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là ngườidưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Đối với việc ápdụng biện pháp tạm giữ, luận văn nghiên cứu hoạt động này cả trước khi khởi
tố vụ án, từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
Trang 14+ Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
+ Phạm vi về thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2020
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sátđối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộctội là người dưới 18 tuổi của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh QuảngNinh Tìm ra những khó khăn, bất cập trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp bảođảm vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạmgiam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, cần triển khai thực hiện các nhiệm vụ
cơ bản sau đây:
+ Phân tích làm rõ lý luận về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc
áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội làngười dưới 18 tuổi
+ Phân tích, nhận xét, đánh giá về thực trạng hoạt động thể hiện vai tròcủa Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ
án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi của Viện kiểm sát nhân dân tỉnhQuảng Ninh; những kết quả và hạn chế, thiếu sót cũng như nguyên nhân củanhững hạn chế, thiếu sót đó
+ Đề xuất những giải pháp bảo đảm vai trò của Viện kiểm sát đối vớiviệc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội làngười dưới 18 tuổi
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa
Trang 15duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm, đường lối, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác đấu tranh phòng, chống tộiphạm do người dưới 18 tuổi thực hiện; vai trò của Viện kiểm sát nhân dântrong việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với nhóm đối tượng này.
- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phươngpháp phân tích- tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu điển hình
6 Điểm mới đóng góp của luận văn
Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai tròcủa Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ
án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Luận văn cũng đánh giá, phân tích những hạn chế trong hoạt độngthể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi; qua đó, đềxuất các giải pháp góp phần bảo đảm vai trò của Viện kiểm sát đối với việc
áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội làngười dưới 18 tuổi
7 Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo trong thực tiễn
áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội là người dưới 18tuổi của các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có Viện kiểm sát và có thể được
Trang 16sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy và họctập tại các cơ sở giáo dục và đào tạo chuyên ngành Luật.
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về vai trò của Viện kiểm sát đối với
việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội làngười dưới 18 tuổi
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò
của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ
án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi và thực tiễn trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm vai trò của Viện kiểm sát đối với
việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội làngười dưới 18 tuổi
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG VỤ ÁN NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI
1.1 Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
1.1.1 Khái niệm biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
* Biện pháp tạm giữ
Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự, do cơ quan cóthẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bịbắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặcđối với người bị bắt theo quyết định truy nã Tạm giữ có tác dụng ngăn chặnviệc tiếp tục thực hiện tội phạm, gây khó khăn cho hoạt động xác minh, điềutra vụ việc, vụ án
Tạm giữ trong tố tụng hình sự có sự khác biệt với tạm giữ theo thủ tụchành chính Đối tượng tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự là áp dụng đối vớingười bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạmtội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theoquyết định truy nã Còn đối tượng tạm giữ theo thủ tục hành chính là nhữngngười thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hành chính Mục đích tạm giữ theothủ tục tố tụng hình sự là để xác định căn cứ khởi tố bị can đối với người bịbắt hoặc giao người bị truy nã cho cơ quan đã ra lệnh truy nã Còn mục đíchtạm giữ người theo thủ tục hành chính là ngăn chặn, đình chỉ ngay nhữnghành vi vi phạm hoặc để thu thập xác minh những tình tiết quan trọng làm căn
Trang 18sự và tạm giữ người theo thủ tục hành chính đều phải có quyết định tạm giữcủa người có thẩm quyền, nhưng sau khi ra quyết định tạm giữ theo thủ tục tốtụng hình sự thì người có thẩm quyền phải gửi quyết định tạm giữ cho Việnkiểm sát (VKS) cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền trong thời hạn 12 giờ, kể
từ khi ra quyết định tạm giữ VKS có quyền xem xét và nếu xét thấy việc tạmgiữ là không có căn cứ thì VKS hủy bỏ quyết định tạm giữ; khi đó người raquyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Còn đối vớiquyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì không phải gửi cho VKScùng cấp Người bị tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự bị giam giữ ở nhà tạmgiữ hoặc buồng giam giữ của trại tạm giam Còn người bị tạm giữ theo thủ tụchành chính không bị giữ ở nhà tạm giữ hoặc buồng tạm giữ của trại tạm giam.Thời gian tạm giữ người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ,trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng khôngquá 24 giờ kể từ thời điểm giữ người vi phạm; đối với người vi phạm quy chếbiên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảothì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từthời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; đối với người bị tạm giữ trên tàu bay,tàu biển thì phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sânbay, tàu biển cập cảng Thời hạn tạm giữ trong tố tụng hình sự là 03 ngày kể
từ thời điểm bắt đầu tạm giữ, trường hợp cần thiết có thể gia hạn thêm 02 lần,mỗi lần 03 ngày, nhưng phải được VKS cùng cấp phê chuẩn Tạm giữ trong
tố tụng hình sự và tạm giữ theo thủ tục hành chính có tính chất phòng ngừanhững hành vi vi phạm và đảm bảo cho việc xác minh, xử lý người vi phạm
Như vậy, Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với với người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã, với nội dung là cách ly họ với xã hội trong một thời
Trang 19gian nhất định nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, hoặc gây cản trở việc xác minh, điều tra về các tình tiết liên quan đến việc xác định tội phạm và người phạm tội.
* Biện pháp tạm giam
Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất đối với ngườiphạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Tính nghiêm khắc thể hiện ởviệc bị can, bị cáo vừa bị hạn chế về quyền tự do thân thể, tự do đi lại, tự do
cư trú, vừa có thời hạn dài hơn các biện pháp ngăn chặn khác Đối với cácbiện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do đi lại, tự do cư trú khác, thường cóthời hạn ngắn, ví dụ: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thời gian giữ tối
đa là 24 giờ kể từ thời điểm giữ; đối với biện pháp ngăn chặn tạm giữ, thờihạn tối đa là 09 ngày kể từ ngày giữ Đối với tạm giam, thời hạn tạm giam cóthể kéo dài nhiều tháng, có thể bằng thời hạn điều tra vụ án Đối với nhữngbiện pháp ngăn chặn có thời gian dài khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảolĩnh, đặt tiền để đảm bảo, bị can, bị cáo không bị hạn chế quyền tự do thânthể, tự do đi lại như biện pháp tạm giam Do vậy, khi xem xét áp dụng biệnpháp ngăn chặn tạm giam, các cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ chặt chẽcác quy định của pháp luật và tính cần thiết áp dụng hay không
Chỉ người đã bị khởi tố hình sự mới có thể bị áp dụng biện pháp ngănchặn tạm giam Điều này có nghĩa là không thể tạm giam đối với người chưa
bị khởi tố hình sự Tại Điều 119 BLTTHS quy định:
1 Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệtnghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng
2 Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêmtrọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt
tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trongcác trường hợp:
Trang 203 Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêmtrọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họtiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã
4 Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới
36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cưtrú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện phápngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
….;
d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứxác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến anninh quốc gia [35]
Tuy nhiên, không phải tất cả những người bị khởi tố hình sự đều bị tạmgiam, mặc dù người đó có đầy đủ điều kiện để áp dụng, nhưng xét thấy khôngcần thiết thì cơ quan có thẩm quyền có thể không áp dụng biện pháp tạm giamhoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Tạm giam là một biện pháp ngănchặn nghiêm khắc, có tính hiệu quả cao trong việc giải quyết vụ án hình sự,đấu tranh phòng, chống tội phạm
Theo Từ điển luật học năm 2006 thì khái niệm tạm giam được địnhnghĩa như sau:
Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trựctiếp đến quyền tự do thân thể của công dân Đây là biện pháp ngănchặn, cách ly bị can, bị cáo trong thời gian nhất định nhằm ngănchặn các hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra, truy tố, xét
xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội mới của bị can, bị cáo, đảm bảocho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi [7,tr.324]
Trang 21Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại họcKiểm sát Hà Nội, tạm giam là:
Biện pháp ngăn chặn do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
áp dụng, hạn chế tự do thân thể trong một thời hạn nhất định đốivới bị can, bị cáo khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quyđịnh nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việcđiều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảmbảo thi hành án [42, tr 221]
Cũng có những quan điểm khác về tạm giam như sau:
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụnghình sự do những người có thẩm quyền thuộc cơ quan điều tra, Việnkiểm sát hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm cách ly họ
ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để ngănchặn tội phạm hoặc ngăn ngừa người thực hiện hành vi phạm tộitrốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án [1,tr.10]
Theo quan điểm của tác giả, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm
khắc nhất trong tố tụng hình sự, có thể áp dụng với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng họ có thể trốn; gây cản trở cho việc giải quyết vụ án hình sự, thi hành án hình sự hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ, tạm giam nóiriêng được thường được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc có dấuhiệu tội phạm và giải quyết vụ án hình sự Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cácbiện pháp ngăn chặn được áp dụng nhằm đảm bảo việc các cơ quan tiến hành
tố tụng xác định sự thật vụ án, phát hiện, xử lý kịp thời tội phạm, ngăn chặn
và phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, các biện pháp ngăn chặn đều hạn chế
Trang 22một phần nào đó quyền của người bị buộc tội, vì vậy, đòi hỏi quy định phápluật phải chặt chẽ trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, trong đó có biệnpháp tạm giữ, tạm giam; đồng thời phải có cơ chế kiểm tra, giám sát trong quátrình thực hiện.
*Khái niệm người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “người bị buộc
tội”: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [33, Điều 31] Để cụ thể hóa quy định về người bị buộc tội trong Hiến
pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 đã có nhiều quy định cụ thể liên quantrực tiếp đến người bị buộc tội, trong đó có việc giải thích thuật ngữ “người bị
buộc tội” Theo đó, người bị buộc tội bao gồm: người bị bắt, người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo (điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015).
Người bị bắt là những người thuộc trường hợp: bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã,bắt bị can, bị cáo để tạm giam và bắt người bị yêu cầu dẫn độ (Điều 109BLTTHS năm 2015)
Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt
trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ngườiphạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (Điều 59BLTTHS năm 2015)
Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự Quyền và nghĩa vụ
của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luậtcủa pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (Điều 60 BLTTHS năm 2015)
Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua ngườiđại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (Điều 61BLTTHS năm 2015)
Trang 23Tác giả cho rằng, phạm vi những người được xác định là người bị buộctội như vậy là chưa đầy đủ; theo đó, cần bổ sung thêm cả người bị giữ trongtrường hợp khẩn cấp cũng là người bị buộc tội [19, tr.110] Bởi lẽ:
Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm
2015, thì việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện khi thuộcmột trong các trường hợp sau:
- Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạmrất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơixảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiệntội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
- Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việchoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cầnngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ [35]
Như vậy, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người bị nghi phạmtội bởi có đủ căn cứ xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rấtnghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, đã thực hiện hành vi có dấuhiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được BLHS quy định
Thứ hai, Điều 58 BLTTHS năm 2015 có quy định quyền và nghĩa vụpháp lý của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt là nhưnhau Trong đó, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có quyền “Trình bàylời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chínhmình hoặc buộc phải nhận mình có tội”; quyền “Tự bào chữa, nhờ người bàochữa” Những người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bịcáo) đều có các quyền này Qua nghiên cứu các quy định khác của BLTTHSnăm 2015, ngoài người bị buộc tội thì chỉ có người bị giữ trong trường hợpkhẩn cấp mới có những quyền này Hơn nữa, theo khoản 1 Điều 72 BLTTHS
Trang 24năm 2015: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữahoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa” Rõràng, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không phải là người bị buộctội thì quy định về quyền “Tự bào chữa, nhờ người bào chữa” mâu thuẫn vớiquy định về người bào chữa nêu trên [54] Quy định này là cần thiết và có ýnghĩa đối với việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân của người bịgiữ trong tố tụng hình sự.
Do đó, tác giả cho rằng, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng
là người bị buộc tội Như vậy, theo quan điểm tác giả: Người bị buộc tội gồm
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Pháp luật nước ta cơ bản có sự thống nhất về thuật ngữ “người chưa
thành niên” Các văn bản pháp luật đều quy định tuổi của người chưa thành
niên là dưới 18 tuổi và trong từng lĩnh vực cụ thể đều có những chế định phápluật hoặc các quy định riêng cho người chưa thành niên [8]
Với mục đích, yêu cầu nhằm hoàn thiện cơ chế tố tụng để bảo vệ tốtnhất quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên; khắc phục nhữngbất cập hạn chế trong thực tiễn xử lý các vụ án có người chưa thành niêntham gia tố tụng; bảo đảm sự tương thích với Công ước quốc tế về Quyền trẻ
em, đồng bộ với Luật bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em; pháp điển hóaThông tư liên tịch số 01 ngày 12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy địnhcủa BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, bảođảm tính cụ thể hóa của Bộ luật và tăng cường vai trò giáo dục, phòng ngừacủa gia đình, nhà trường và xã hội BLTTHS năm 2015 đã sử dụng thuật ngữpháp lý “người dưới 18 tuổi” để thay thế cho thuật ngữ “người chưa thành
Trang 25niên” nhằm xác định rõ độ tuổi, cần được chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đặcbiệt Như vậy, việc sửa đổi tên gọi này phù hợp hơn trong thời điểm hiệnnay, tránh có những cách hiểu khác nhau và không thống nhất trong quátrình áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng như xử lý các đối tượng nàytrong tương lai.
Điều 90 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015)
quy định: “Người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm
hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này” [38].
Không phải bất kỳ người dưới 18 tuổi nào khi thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội cũng đều bị xem là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình
sự Bên cạnh việc giới hạn về độ tuổi, BLHS nước ta còn căn cứ vào loại tội
và hình thức lỗi để xác định trách nhiệm hình sự đối với một người khi thựchiện hành vi phạm tội Việc quy định vấn đề người dưới 18 tuổi phạm tộitrong luật hình sự trước hết mang ý nghĩa xác định ranh giới giữa tội phạmvới không phải là tội phạm Điều 12 BLHS năm 2015 quy định:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọitội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọngquy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150,
151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265,
266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này [38].Trên cơ sở các quy định, có thể đưa ra khái niệm về người bị buộc tội
là người dưới 18 tuổi như sau: Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Trang 26Qua việc phân tích các lý luận trên về người bị buộc tội là người dưới
18 tuổi và khái niệm các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, tác giả rút
ra khái niệm về áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối vớingười dưới 18 tuổi như sau:
Biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình
có thể áp dụng đối với người bị buộc tội bao gồm (người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) có độ tuổi từ đủ
14 tuổi đến dưới 18 tuổi khi có căn cứ do Bộ luật này quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
1.1.2 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2013, vai trò là “Tác dụng, chức năng
trong sự hoạt động, phát triển của cái gì đó” [45,tr 974].
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có vai trò quan trọng trong hoạtđộng tố tụng hình sự VKSND thực hiện vai trò thông qua chức năng củamình Theo quy định tại Điều 117 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân: Viện
kiểm sát nhân dân là cơ quan có chức năng thực hiện quyền công tố và kiểmsát hoạt động tư pháp
Hai chức năng này gắn bó chặt chẽ với nhau và xuyên suốt toàn bộ quátrình của Tố tụng hình sự Kết quả của hoạt động kiểm sát là cơ sở cho hoạtđộng thực hành quyền công tố có hiệu quả và ngược lại kết quả của thực hànhquyền công tố cũng là tiền đề cho hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Trang 27Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong TTHS nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịpthời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oanngười vô tội [41].
Viện kiểm sát nhân dân không chỉ thực hành quyền công tố trong giaiđoạn truy tố, mà còn thực hành quyền công tố ngay từ giai đoạn giải quyết tinbáo, tố giác tội phạm đến khi xét xử vụ án và kiểm sát việc giải quyết của Cơquan điều tra (CQĐT), Tòa án nhân dân (TAND) từ giai đoạn giải quyết tinbáo, tố giác tội phạm đến khi thi hành xong bản án, xóa án tích Như vậy, vaitrò và trách nhiệm của VKS gắn liền và theo suốt quá trình giải giải quyết vụ
án hình sự Trong giai đoạn điều tra, VKS có vai trò rất quan trọng, là cơ quan
đề ra yêu cầu điều tra, để CQĐT dựa vào đó định hướng hoạt động điều tra.Hơn nữa, mục đích của quá trình điều tra để VKS xem xét, đánh giá chứng
cứ, quyết định việc truy tố bị can trước Tòa án
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong quá trình
vụ án hình sự luôn được thực hiện song hành, có tác dụng bổ trợ cho nhau.Thực hành quyền công tố là chứng minh tội phạm và xác định người phạmtội; kiểm sát hoạt động tư pháp là đảm bảo cho các hoạt động điều tra đượcđầy đủ, khách quan, toàn diện, đúng pháp luật [25, tr.30] Công tác kiểm sátđiều tra có hiệu quả sẽ là điều kiện để đảm bảo cho hoạt động thực hànhquyền công tố của VKS được đúng đắn; công tác thực hành quyền công tố cóhiệu quả sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kiểm sát điều tra phát hiện kịp thờinhững vi phạm pháp luật khi tiến hành điều tra
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS thực hành quyềncông tố và kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động của những ngườitham dự phiên tòa Thực hành quyền công tố trong giai đoạn này, là sử dụng
Trang 28những chứng cứ đã thu thập, đánh giá trong quá trình điều tra, để buộc tội bịcáo tại phiên tòa Kiểm sát hoạt động xét xử là đảm bảo Tòa án khi tiến hànhgiải quyết vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp luật.
Chính vì vậy, thông qua việc thực hiện các chức năng luật định, VKSNDthể hiện vai trò của mình trong tố tụng hình sự đảm bảo: không để người nào
bị khởi tố, bị hạn chế quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự
do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật, không để lọt tội phạm vàkhông làm oan người vô tội, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội phải đúng pháp luật và có căn cứ; việc điều tra được tiến hành mộtcách khách quan, toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; những vi phạm phápluật trong quá trình điều tra được phát hiện và khắc phục kịp thời [48]
Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng có thể tác động tới quyền conngười, quyền công dân nhất là việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối vớingười bị buộc tội, trong đó có biện pháp tạm giữ và tạm giam Trong tố tụnghình sự, VKSND có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm việc áp dụng cácbiện pháp tạm giữ, tạm giam tuân thủ đúng quy định của pháp luật, đảm bảokhông có bất kỳ người nào bị tạm giữ, tạm giam trái pháp luật
Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, khi một người bị tạmgiữ, cơ quan ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo cáctài liệu làm căn cứ cho VKS để xem xét Nếu thấy việc tạm giữ là không cócăn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết địnhtạm giữ Trong giai đoạn điều tra, người có thẩm quyền áp dụng biện pháptạm giam là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng, Phó Việntrưởng VKSND; giai đoạn truy tố là Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND.Khi người có thẩm quyền áp dụng tạm giam là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởngCQĐT thì VKSND có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành VKS cũng
có thể thay đổi, hủy bỏ hoặc yêu cầu áp dụng tạm giam
Trong giai đoạn xét xử, vai trò của VKS thể hiện ở hoạt động kiểm sát
Trang 29việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các việc áp dụng tạm giam của Tòa án KhiTòa án áp dụng tạm giam trái pháp luật hoặc không cần thiết, VKS không thểthay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Tòa án đã áp dụng, mà chỉ có quyềnkiến nghị, kháng nghị để Tòa án khắc phục vi phạm.
Từ những phân tích trên rút ra khái niệm về vai trò của VKS đối với việc
áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
như sau: Vai trò của Viện kiểm sát đối với việc tạm giữ, tạm giam người bị
buộc tội là người dưới 18 tuổi là việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong các hoạt động áp dụng, thay đổi, hủy bỏ tạm giữ, tạm giam của mình và của các cơ quan, người có thẩm quyền trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, đảm bảo tính có căn cứ đúng pháp luật của việc áp dụng các biện pháp này đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, nhằm bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
1.1.3 Đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
1.1.3.1 Đặc điểm hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng viện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Thứ nhất, hoạt động của VKS đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là một trongnhững hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố kiểm sát vàviệc tuân theo pháp luật trong TTHS, có phạm vi xác định từ khi có người bịtạm giữ, tạm giam và kết thúc khi chấm dứt việc tạm giữ, tạm giam theo quyđịnh của pháp luật
Thứ hai, hoạt động của VKS đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam đối với người dưới 18 tuổi đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp;
Trang 30việc tạm giữ, tạm giam phải có lệnh, đúng thẩm quyền và đúng thời hạn; đúngchế độ giam giữ và quy định nơi giam giữ; việc tạm giữ, tạm giam người dưới
18 tuổi đúng quy định của pháp luật, không bị bức cung, nhục hình, đảm bảocác quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi
Thứ ba, mục đích của hoạt động của VKS trong việc áp dụng biện pháptạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là nhằmgiải quyết đúng đắn vụ án hình sự, phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luậtcủa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc áp dụngbiện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.Trên cơ sở đó để có những biện pháp loại trừ, hạn chế, khắc phục hành vi viphạm pháp luật trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với ngườidưới 18 tuổi một cách kịp thời và có hiệu quả
Thứ tư, hoạt động của VKS đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thể hiện các quyềnnăng và trách nhiệm của VKS trong tố tụng hình sự Theo đó, VKS có quyềnhủy bỏ quyết định tạm giữ khi xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặckhông cần thiết, có quyền phê chuẩn mọi trường hợp gia hạn tạm giữ; áp dụngquyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm giam của Cơ quan điềutra Khi việc tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật, VKS raquyết định và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam; kháng nghị, kiếnnghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền chấm dứt hành vi vi phạm phápluật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật nếu có dấu hiệu tội phạm trongtạm giữ, tạm giam người dưới 18 tuổi thì VKS có quyền khởi tố hoặc yêu cầuCQĐT khởi tố vụ án hình sự
1.1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng viện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Hoạt động của VKS trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong
Trang 31vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có ý nghĩa quan trọng, cụ thể:
Thứ nhất: Hoạt động của VKS trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo việcgiải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người đã thực hiện hành vi phạmtội thường có xu hướng sợ hãi, sợ trừng phạt nên sẽ tìm mọi cách trốn tránhhoặc gây cản trở cho hoạt động tố tụng Do đó, việc áp dụng biện pháp tạmgiữ, tạm giam sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình xác định sự thật khách quan,làm sáng tỏ vụ án, đảm bảo cho hoạt động tố tụng được diễn ra kịp thời theoquy định của pháp luật
Thứ hai: Hoạt động của VKS trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo sựtuân thủ pháp luật trong tố tụng hình sự
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, VKSND phải dựa trên cáccăn cứ pháp luật: Hiến pháp, BLHS, BLTTHS, Luật tổ chức VKSND và cácvăn bản pháp luật khác Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát trongtạm giữ, tạm giam nhằm đảm bảo người bị buộc tội khi bị áp dụng biện phápngăn chặn này phải có Lệnh hoặc Quyết định hợp pháp của người có thẩmquyền VKS thực hiện hoạt động kiểm sát đối với cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng, phát hiện những vi phạm pháp luật trong việc ápdụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; qua đó xử lý nghiêm những trường hợp viphạm và yêu cầu thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả Chính vì vậy,khi VKS thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ đảm bảo cho hoạtđộng tạm giữ, tạm giam diễn ra theo đúng quy định của pháp luật; tính mạng,tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền khác của người bị buộc tội đượctôn trọng vào đảm bảo, góp phần đảm bảo được pháp chế xã hội chủ nghĩacủa Nhà nước ta
Trang 32Thứ ba: Hoạt động của VKS trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạmgiam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo quyền vàlợi ích hợp pháp của nhóm người cần được bảo vệ đặc biệt, mặc dù họ làngười phạm tội.
Tại Hiến pháp 2013 đã ghi nhận:
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội đượccông nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quyđịnh của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, anninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe củacộng đồng [33, Điều 14]
Đây là cơ sở pháp lý cao nhất đảm bảo để mọi người thực hiệnquyền con người, quyền công dân của mình Trong tố tụng hình sự, khicần phải áp dụng biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân thìphải đáp ứng đầy đủ căn cứ luật định Theo đó, đối với các biện pháp cótính chất hạn chế quyền tự do của con người phải được VKS quyết địnhhoặc phê chuẩn [18]
Người bị tạm giữ, tạm giam bị hạn chế một số quyền và lợi ích nhấtđịnh, đặc biệt là quyền tự do đi lại Song những quyền và lợi ích hợp phápkhác của họ vẫn cần được tôn trọng và bảo vệ Đặc biệt, đối với đối tượngngười bị buộc tội là người dưới 18 tuổi Họ là những người thuộc nhóm chủthể cần được quan tâm đặc biệt, với những đặc điểm tâm lý, sinh lý đặc thù,
dễ bị tác động, tổn thương; do vậy, chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ,tạm giam với họ khi đó là phương án cuối cùng Chính vì vậy, vai trò củaVKS trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộctội là người dưới 18 tuổi là rất lớn, tránh việc các quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 33của họ bị xâm phạm.
Như vậy, hoạt động của VKS đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ,tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi góp phần giảiquyết đúng đắn vụ án hình sự và bảo đảm cho việc tạm giữ, tạm giam đượcthực hiện nghiêm chỉnh và đúng pháp luật, ngăn chặn người phạm tội tiếp tụcphạm tội hoặc trốn tránh pháp luật Đồng thời, góp phần hạn chế những saiphạm của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụngtrong quá trình giải quyết vụ án Việc tạm giữ, tạm giam người bị buộc tội làngười dưới 18 tuổi đúng pháp luật là bảo đảm quyền công dân, quyền conngười; thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định, đảm bảopháp chế xã hội chủ nghĩa
1.2 Quá trình hình thành và phát triển những quy định của pháp luật về hoạt động thể hiện vai trò của Viện kiểm sát đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong vụ án người bị buộc tội là người dưới
18 tuổi từ khi thành lập Viện kiểm sát đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự 2015
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988
Các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội đã sớm được đề cậptrong hệ thống pháp luật Việt Nam Ngày 20/5/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký ban bố Luật số 103 – SL.005 về “đảm bảo quyền tự do thân thể và quyềnbất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân” Tại chương IIIcủa Sắc lệnh này quy định cụ thể các biện pháp bắt người phạm pháp và tạmgiữ, tạm giam, tạm tha Bổ sung vào chế định áp dụng biện pháp ngăn chặnngười phạm tội còn có các quy định tại Sắc luật 002 ngày 18/6/1957 quy địnhnhững trường hợp phạm pháp quả tang, những trường hợp khẩn cấp, vànhững trường hợp khám người phạm pháp quả tang, Sắc luật 02 ngày15/3/1976 của Hội đồng Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền NamViệt Nam quy định những trường hợp phạm pháp quả tang, những trường hợp
Trang 34khẩn cấp, và những trường hợp khám người phạm pháp quả tang.
Chế định về VKSND lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm
1959 Trên cơ sở đó, Luật tổ chức VKSND được ban hành năm 1960 làm cơ
sở pháp lý cho hoạt động của VKSND [11, tr 21]
Trước khi có BLTTHS 1988, sự tham gia của VKSND trong hoạt động
tố tụng hình sự chủ yếu được tiến hành trên cơ sở Luật tổ chức VKSND năm
1960 và năm 1981 [11, tr 21]
Vai trò của VKSND trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giamthể hiện ở một số quy định cụ thể đối với từng biện pháp nhất định Về biệnpháp tạm giữ, ngoài cơ quan Công an thì Viện kiểm sát huyện hay khu phốđược giữ can phạm trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được can phạm đểxét và hỏi cung rồi quyết định tha hẳn, tạm tha hay giải lên cấp trên Cơquan Công an hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên chỉ được tạm giữ
03 ngày từ lúc nhận được can phạm rồi quyết định tha hẳn, tạm tha hoặc tạmgiam [40, tr 68]
Theo Điều 6 Luật 103-SL.005 ngày 20/5/1957 quy định về đảm bảoquyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tíncủa nhân dân; Điều 6 Nghị định số 301-TTg ngày 10/7/1957 của Thủ tướngchính quy định chi tiết thi hành Luật số 103/SL-L.005 ngày 20/5/1957 bảođảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật,thư tín của nhân dân; Thông tư liên tịch 427/TTg ngày 28/6/1963 của Bộ công
an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định tạm thời một số nguyên tắc vềquan hệ công tác giữa viện kiểm sát nhân dân tối cao và bộ công an thì saukhi hết hạn tạm giữ, xét thấy không thể tạm tha, tha kẻ phạm pháp thì cơ quanCông an phải ra lệnh tạm giam Nếu bắt trong trường hợp bình thường thì khilàm thủ tục về lệnh bắt có thể kết hợp luôn lệnh tạm giam Lệnh của cơ quanCông an phải do Trưởng, Phó Ty ký và được VKS phê chuẩn [40, tr 69]
Trang 35Từ năm 1960, hệ thống VKSND đã được hình thành với nhiều chứcnăng trong đó có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm Tuynhiên, giai đoạn này nước ta chưa có BLTTHS, hoạt động tố tụng được thựchiện trên cơ sở các luật tổ chức và văn bản hướng dẫn đơn lẻ của cơ quan cóthẩm quyền Thời kỳ này, hệ thống pháp luật chưa quan tâm đến đối tượngngười bị buộc tội dưới 18 tuổi, nên không có sự khác biệt với người bị buộctội từ đủ 18 tuổi trở lên.
Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII, ngày 28/6/1988 Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTHS, có hiệu lực thihành từ ngày 01/01/1989 Đây là một bước tiến quan trọng trong lịch sử hìnhthành tố tụng hình sự của Việt Nam
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, qua ba lần sửa đổi, bổ sung,
đã dành toàn bộ chương XXXI – Thủ tục đặc biệt, phần thứ VII để quy định
về những bị can, bị cáo là người chưa thành niên (từ Điều 271 đến Điều 280).Đây là sự kế thừa và phát triển luật tố tụng hình sự cho người dưới 18 tuổi củaNhà nước ta Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét
xử các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản dưới luật đơnngành, liên ngành hướng dẫn thi hành Chương XXXI BLTTHS năm 1988.Khi áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thànhniên phải thực hiện theo đúng những quy định về căn cứ, điều kiện, thẩmquyền và thủ tục được quy định tại các Điều 62, 63, 64, 68, 70, 73, 74, 75, 76.Ngoài ra, khi áp dụng biện pháp ngăn chặn còn phải thực hiện theo quy địnhtại Điều 273 của Bộ luật đối với người chưa thành niên
- Về căn cứ áp dụng: biện pháp tạm giữ, tạm giam người chưa thành
niên chỉ được áp dụng trong trường hợp sau:
Trang 36+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại
Điều 68 và Điều 71 nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêmtrọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có căn cứ quy định tại Điều
68 và Điều 71, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do
cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Đối với biện pháp tạm giữ, tạm giam, VKS có quyền quyết định hủy bỏlệnh tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ nếu xét thấy việc tạm giữkhông cần thiết và có quyền phê chuẩn việc gia hạn tạm giữ Viện trưởng,Phó Viện trưởng VKSND có quyền áp dụng tạm giam đối với bị cáo; lệnhtạm giam của Trưởng Công an, Phó trưởng Công an cấp huyện, Thủ trưởng,Phó thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khithi hành; việc gia hạn tạm giam trong những trường hợp luật định do VKSNDquyết định [29, Điều 68, 69, 70, 71]
Những quy định nêu trên về thẩm quyền áp dụng tạm giữ, tạm giamđược áp dụng cho tất cả những người bị buộc tội Tuy nhiên, đối với ngườichưa thành niên luật còn có những quy định riêng mà khi áp dụng các chủ thểnày cần phải tuân thủ Điều 272 quy định về điều tra, truy tố, xét xử: Điều traviên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng về những vụ án có ngườichưa thành niên phạm tội phải có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, vềkhoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh và phòng chống tội phạmcủa người chưa thành niên
Việc tạm giữ, tạm giam phải có lệnh, có người chứng kiến; khi tạm giữ,tạm giam người chưa thành niên bị buộc tội phải giam, giữ riêng họ, tách khỏicác đối tượng khác
Ngoài ra, trong trường hợp người chưa thành niên không bị áp dụng
Trang 37các biện pháp ngăn chặn thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể giao cha mẹhoặc người đỡ đầu của họ giám sát để đảm bảo sự có mặt của họ khi có giấytriệu tập Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽngười chưa thành niên, theo dõi tư cách đạo đức và giáo dục họ.
Tuy nhiên, ở giai đoạn này, pháp luật tố tụng hình sự không có nhữngquy định riêng về việc áp dụng tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi
bị buộc tội mà chỉ quy định chung Bên cạnh đó, trong các quy định củapháp luật tố tụng hình sự nói chung vẫn còn những bất cập Bởi thế, việc banhành BLTTHS để khắc phục những bất cập, thiếu sót trên là yêu cầu cấpbách và cần thiết
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2015
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 được Quốc hội thông qua ngày26/11/2003, thay thế BLTTHS 1988 Tại Chương VI của BLTTHS năm
2003 quy định về “Những biện pháp ngăn chặn” gồm 16 điều (từ Điều 79đến Điều 94), Chương XXXII “Thủ tục đối với người chưa thành niên” gồm
10 điều (từ Điều 301 đến Điều 310) So với BLTTHS năm 1988, BLTTHSnăm 2003 quy định về thủ tục đối với người chưa thành niên đã mở rộng đốitượng áp dụng không chỉ bị can, bị cáo mà còn có cả người bị bắt người bịtạm giữ (Chương XXXI BLTTHS năm 1988), phạm vi cũng xác định rõ, đốivới người chưa thành niên ngoài việc áp dụng những quy định tại ChươngXXXII BLTTHS năm 2003, khi tiến hành tố tụng, cơ quan tố tụng có thẩmquyền còn phải chú ý áp dụng những quy định khác của bộ luật không đượctrái với quy định tại chương này Tuy nhiên, nhìn chung không có sự thayđổi nhiều về thủ tục đối với đối tượng này bởi nguyên tắc xuyên suốt củapháp luật hình sự nước ta về xử lý người chưa thành niên phạm tội vẫn chủyếu là giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh vàtrở thành công dân có ích cho xã hội
Trang 38Việc tạm giữ, tạm giam ngoài việc dựa vào các căn cứ quy định chungthì còn phải dựa vào căn cứ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi theo độ tuổi
và tính chất của hành vi phạm tội quy định tại Điều 303 BLTTHS, cụ thể:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giamnếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 củaBLTTHS, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giamnếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 củaBLTTHS, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý,phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Ngoài ra, những người tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án có người
bị buộc tội là người dưới 18 tuổi phải theo quy định tại khoản 1 Điều 302
BLTTHS năm 2003: “Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố
tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên” Quy định này cơ bản
giống với quy định của BLTTHS năm 1988
Vai trò của VKS đối với việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giamtrong vụ án người bị buộc tội là dưới 18 tuổi được thể hiện ở các quy địnhnhư sau:
- Đối với biện pháp tạm giữ
Thứ nhất, VKSND có nhiệm vụ kiểm sát việc ra quyết định tạm giữ.Khoản 3 Điều 86 BLTTHS đã quy định: trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi raquyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS cùng cấp Khinhận được quyết định tạm giữ, VKS sẽ kiểm tra tính có căn cứ, hợp pháp củaquyết định tạm giữ; thời hạn ra quyết định tạm giữ; thời hạn gửi quyết định tạm
Trang 39giữ Qua hoạt động kiểm sát của mình, nếu VKSND phát hiện việc tạm giữkhông có căn cứ và không hợp pháp thì có quyền yêu cầu CQĐT trả tự do ngaycho người bị tạm giữ Nếu VKSND thực hiện đúng đắn chức năng kiểm sát này
sẽ đảm bảo việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ có căn cứ và đúngpháp luật, kịp thời khắc phục các vi phạm trong hoạt động của CQĐT
Thứ hai, VKSND có quyền phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ.Việc gia hạn tạm giữ tạo điều kiện cho hoạt động điều tra, xác minh củaCQĐT Mọi trường hợp gia hạn này đều phải được VKS cùng cấp phêchuẩn Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu
có liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩnhay không phê chuẩn (khoản 2 Điều 87 BLTTHS) Để quyết định việc phêchuẩn hay không phê chuẩn, VKS sẽ kiểm tra, nghiên cứu hồ sơ để xem việcgia hạn tạm giữ có đúng quy định pháp luật, có cần thiết hay không, như:thẩm quyền gia hạn tạm giữ, thời hạn gia hạn tạm giữ, việc gia hạn tạm giữ
là cần thiết Trường hợp không đủ căn cứ để gia hạn tạm giữ hoặc không cầnthiết gia hạn tạm giữ thì VKS không phê chuẩn và có quyền yêu cầu CQĐTtrả tự do cho người bị tạm giữ
- Đối với Biện pháp tạm giam
Biện pháp tạm giam là biện pháp được áp dụng nhiều trong hoạt độngTTHS Đó là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất chỉ áp dụng đối với bịcan, bị cáo Đối với biện pháp ngăn chặn này, VKS có vai trò rất quan trọng,không những đảm bảo cho việc áp dụng biện pháp một cách đúng đắn, phục
vụ có hiệu quả cho hoạt động điều tra mà còn đảm bảo quyền, lợi ích của bịcan, thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, VKSND là một trong những chủ thể có quyền ra lệnh tạmgiam Khoản 3 Điều 88 BLTTHS quy định: những người có thầm quyền ralệnh bắt được quy định tại Điều 80 BLTTHS có quyền ra lệnh tạm giam,
Trang 40trong đó có VKSND Khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can thì phảituân thủ các quy định về đối tượng cũng như điều kiện tại Điều 88 BLTTHS
để được áp dụng biện pháp này Cũng ở giai đoạn này, VKS sẽ kiểm tra thờihạn tạm giam của bị can thì quyết định có ra lệnh tạm giam mới hay không.Nếu thời hạn còn bằng hoặc dài hơn thời hạn truy tố đối với từng tội phạmtheo quy định BLTTHS và xét thấy cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì VKS
sử dụng lệnh tạm giam của CQĐT Trường hợp thời hạn tạm giam còn nhưngkhông đủ để hoàn thành việc truy tố thì VKS ra lệnh tạm giam mới Thời hạntạm giam mới tính tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng và không quá thời giantruy tố theo quy định pháp luật (trừ đi thời hạn đã tạm giam kể từ ngày VKSnhận được hồ sơ vụ án)
Nếu thời hạn tạm giam bị can hết vào ngày VKS nhận được hồ sơ vụ án
và xét thấy cần thiết phải tiếp tục áp dụng biện pháp này thì ra lệnh tạm giammới, thời hạn không quá thời hạn truy tố theo từng tội: đối với tội ít nghiêmtrọng và nghiêm trọng thì không quá 20 ngày, tội rất nghiêm trọng và đặc biệtnghiêm trọng thì không quá 30 ngày Trong trường hợp cần thiết VKS có thểgia hạn nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tộiphạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng vàđặc biệt nghiêm trọng [32, Điều 121]
Thứ hai, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn phê chuẩn lệnh tạm giam củaThủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT trước khi thi hành và kiểm sát việc ápdụng biện pháp tạm giam đối với bị can Việc phê chuẩn nhằm đảm bảo việc
áp dụng biện pháp này của CQĐT có căn cứ, hợp pháp, hạn chế việc xâmphạm đến quyền, lợi ích của bị can Khi xét phê chuẩn lệnh tạm giam cũngđồng thời với việc kiểm sát việc tạm giam bị can của CQĐT, Kiểm sát viênphải kiểm tra căn cứ, tính hợp pháp của lệnh tạm giam, nếu không đủ căn cứthì VKS không phê chuẩn [32, Điều 120]