1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh lai châu

103 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Pháp Luật Về Trợ Giúp Xã Hội Đối Với Người Cao Tuổi Trên Địa Bàn Tỉnh Lai Châu
Tác giả Trần Quốc Khanh
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Hoài Thu
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 742,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đánh giá thựctrạng thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với NCT để từ đó đề xuất nhữnggiải pháp tạo ra sự chuyển biến rõ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN QUỐC KHANH

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ TRî GIóP X· HéI

§èI VíI NG¦êI CAO TUæI TR£N §ÞA BµN TØNH

LAI CH¢U

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

(Định hướng ứng dụng)

Trang 2

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN QUỐC KHANH

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ TRî GIóP X· HéI

§èI VíI NG¦êI CAO TUæI TR£N §ÞA BµN TØNH LAI

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để cho tôi có thể bảo vệ luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Quốc Khanh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Luật, Đại học Quốc gia HàNội và các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ tôi trang bị kiến thức, tạo môitrường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập, rèn luyện,nghiên cứu và xây dựng Luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới nhàgiáo - PGS TS Lê Hoài Thu, người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốtthời gian thực hiện việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, công chức:

Sở Lao động Thương binh xã hội tỉnh Lai Châu, Phòng bảo trợ xã hội người

có công; Hội Người cao tuổi tỉnh Lai Châu, Ban Đại diện Người cao tuổihuyện Nậm Nhùn, huyện Mường Tè, thành phố Lai Châu; UBND huyện NậmNhùn, Phòng Lao động Thương binh xã hội huyện Nậm Nhùn, UBND các xã,thị trấn huyện Nậm Nhùn; Cục thống kê tỉnh Lai Châu, Chi cục thống kêhuyện Nậm Nhùn; Bảo hiểm xã hội tỉnh Lai Châu, Bảo hiểm xã hội huyệnNậm Nhùn đã chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu hữu íchphục vụ cho đề tài nghiên cứu cũng như tạo điều kiện cho tôi trong suốt quátrình nghiên cứu, xây dựng luận văn

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn, ngườiđồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu, làm việc và hoàn thiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn./.

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 8

e notfoundBảng 2.2 Số lượng người cao tuổi tỉnh Lai Châu và các huyện, thị

(2016 - 2020)

Error:Referencesourc

e notfoundBảng 2.3 Tình hình người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu Error:

Referencesourc

e notfoundBảng 2.4 Tình hình chi trả trợ cấp xã hội thường xuyên cho các

đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Error:Referencesourc

e notfoundBảng 2.5 Tình hình chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng cho người

cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Error:Refer

Trang 9

e notfoundBảng 2.6 Tình hình cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người cao tuổi trên

địa bàn tỉnh Lai Châu

Error:Referencesourc

e notfoundBảng 2.7 Tình hình trợ giúp xã hội đột xuất (khẩn cấp) cho người

dân trên địa bàn tỉnh Lai Châu (2016-2020)

Error:Referencesourc

e notfoundBảng 2.8 Tình hình hỗ trợ mai táng phí cho người cao tuổi Error:

Referencesourc

e notfoundBảng 3.1 Tuổi thọ trung bình của dân số tỉnh Lai Châu (2016 - 2020) Error:

Referencesourc

e notfound

Referencesourc

Trang 10

e notfound

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi năm 2009: NCT là những người

có độ tuổi từ 60 trở lên [32, Điều 2] Đến hết năm 2020, cả nước có gần 13triệu NCT - chiếm 12% dân số, trong đó có 1,98 triệu người từ 80 tuổi trở lên,khoảng 8,2 triệu NCT nữ, 7,7 triệu NCT đang sống ở khu vực nông thôn -chiếm 59,2%; 3,1 triệu NCT hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng,1,8 triệu NCT nhận trợ cấp hằng tháng và hơn 1,4 triệu NCT hưởng trợ cấpngười có công với cách mạng; trên 20% NCT thuộc diện hộ nghèo đa chiều,

tỷ lệ NCT thuộc hộ nghèo cao (báo cáo của Tổng cục thống kê) [62] Đếnnăm 2050, 30% dân số Việt Nam sẽ là NCT (thông tin của Ủy ban Quốc giaNCT Việt Nam) [63] Với số lượng ngày càng đông đảo, thì NCT đã, đang

và sẽ khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng, ảnh hưởng của mình trongcác hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Bảo vệ và chăm sóc nhómdân số này là một trong những việc làm cần thiết để hướng tới tương lai bềnvững của quốc gia

“Kính trên, nhường dưới”, “kính lão, đắc thọ” là truyền thống văn hóa

tốt đẹp của dân tộc ta Trong xã hội Việt Nam, NCT luôn được coi trọng, tônkính; họ có vai trò to lớn trong việc gìn giữ, truyền thụ các giá trị văn hóatruyền thống dân tộc, là lớp người có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấutranh bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Nhìn chung, NCT đã tích lũyđược học vấn, kiến thức khoa học, kinh nghiệm hoạt động, công tác, kinhnghiệm xã hội Đây là tài sản quý, là nguồn lực không nhỏ cho sự phát triểncủa xã hội Tuy nhiên, tuổi cao, sức khỏe suy giảm, NCT rất cần sự quan tâm,chăm sóc của gia đình và xã hội về vật chất, tinh thần, dịch vụ y tế , đòi hỏicác cấp, các ngành, các địa phương và từng gia đình phải nỗ lực nhiều hơn để

Trang 12

Hiến pháp, Luật Người cao tuổi và các văn bản pháp luật liên quan đếnNCT là cơ sở pháp lý quan trọng, cụ thể hóa quan điểm, đường lối chủ trươngđúng đắn của Đảng, Nhà nước về chăm sóc, phát huy vai trò NCT; là căn cứ

để các cấp chính quyền, các ngành, các cấp Hội NCT đẩy mạnh công tácchăm sóc NCT Trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1992, 1980, 2013thì quyền của NCT dần được xác lập hoàn chỉnh, có nội dung TGXH đối vớiNCT Luật Người cao tuổi năm 2009 đã dành toàn bộ Chương II quy định vềphụng dưỡng, chăm sóc NCT; Luật chăm sóc sức khỏe Nhân dân năm 1989,Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ Luật Hình sự năm 2015… đã cónhững điều khoản cụ thể về TGXH, trách nhiệm phụng dưỡng và việc ápdụng hình phạt đối với NCT phạm tội Từ năm 1992 đến nay, Chính phủ, Thủtướng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương đã ban hành nhiều nghị định, chỉthị, quyết định, thông tư… có các nội dung liên quan đến TGXH cho NCT,điển hình như: Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ

về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH; Thông tư số BLĐTBXH ngày 19/5/2011 của Bộ LĐ-TB&XH quy định hồ sơ, thủ tục thựchiện trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận NCT vào

17/2011/TT-cơ sở BTXH; Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 phê duyệtChương trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn 2012-2020,Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ về chính sáchTGXH đối với đối tượng BTXH, và mới đây nhất là Nghị định số20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách TGXHđối với đối tượng BTXH (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021)

Lai Châu là tỉnh miền núi, biên giới Tây Bắc Việt Nam, có 7 huyện, 1thành phố, 106 xã, phường, thị trấn (4 huyện nghèo, 65 xã đặc biệt khó khăn),thu ngân sách trên địa bàn năm 2020 mới đạt 2.328 tỷ đồng Tỉnh có diện tích

9.068,8 km² (lớn thứ 10/63 tỉnh, thành phố), dân số 470.341 người (xếp thứ

Trang 13

62/63 tỉnh, thành phố, mật độ dân số 50 người/km2), gồm 20 dân tộc (trong đó

có những dân tộc chỉ có ở Lai Châu: Si La, Mảng, Cống); trong đó 29.031NCT (chiếm 6,2% dân số), có 4.996 NCT trên 80 tuổi (chiếm 17,2% NCTtoàn tỉnh) [53] Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vềcông tác chăm sóc NCT trong những năm qua, nhận thức và trách nhiệm củacác cấp uỷ đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể đã có chuyển biến tíchcực Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân các dân tộc đã có nhiều cố gắng trongviệc quan tâm, chăm lo mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần đối với NCT vàthực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với NCT Tổ chức Hội NCT ngàycàng phát triển, tập hợp khá đông đảo NCT vào sinh hoạt, đóng góp thiết thựcvào việc giữ vững ổn định chính trị, KT-XH ở cơ sở, thực hiện các chươngtrình phát triển KT-XH của các địa phương, được các cấp uỷ đảng, chínhquyền và Nhân dân tin cậy, đánh giá cao

Tuy nhiên, do các điều kiện kinh tế, xã hội của tỉnh còn khó khăn nêncông tác chăm sóc, giúp đỡ NCT nói chung và thực hiện pháp luật về TGXHđối với NCT vẫn còn nhiều hạn chế Ở một số nơi, cấp ủy, chính quyền địaphương chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách,pháp luật đối với NCT; thiếu quan tâm chỉ đạo, chưa xây dựng kế hoạch hànhđộng để thực hiện hoặc chưa triển khai thực hiện tốt Chương trình hành độngquốc gia về NCT giai đoạn 2012-2020 Nhận thức trong cộng đồng có nơi còncoi việc chăm sóc, phụng dưỡng NCT là gánh nặng chứ chưa phải trách nhiệm

Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với NCT ở cấp cơ sở, xã,phường, thị trấn và một số cơ quan, đơn vị chưa hiệu quả, có nơi làm chưa tốt,còn yếu Hệ thống chính sách, pháp luật về NCT vẫn còn nhiều nội dung chưabắt kịp các yêu cầu thực tế của NCT nhưng chậm được rà soát, sửa đổi, bổsung, hoàn thiện Độ tuổi quy định NCT được hưởng trợ cấp xã hội còn cao(80 tuổi trở lên) Mức trợ cấp xã hội còn thấp so với giá cả thị trường hiện nay

Trang 14

và nhu cầu tiêu dùng của NCT, thấp hơn mức sống tối thiểu (270.000 đ/thángtheo Nghị định 136/2013/NĐ-CP đang có hiệu lực; 360.000 đ/tháng theoNghị định 20/2021/NĐ-CP thực hiện từ 01/7/2021), chuẩn nghèo tăng nhưngmức trợ cấp xã hội chậm tăng và tăng không đáng kể (sau 8 năm chỉ tăngthêm 90.000 đ/tháng) Chưa thực sự mở rộng đối tượng NCT được hưởng trợcấp xã hội: NCT dưới 80 tuổi là người có công, NCT là thân nhân liệt sỹ, thânnhân người có công, NCT là cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu trí (cólương hưu) … thì lại không được hưởng chính sách này.

Tỷ lệ NCT đang tham gia hệ thống hưu trí (đang hưởng lương hưu) vàtrợ cấp xã hội còn thấp so với tổng số NCT; mức trợ cấp còn thấp và chưa đápứng nhu cầu so với nhu cầu của hộ gia đình cao tuổi Trong khi đó, hệ thống

an sinh xã hội cho NCT hiện nay chưa đảm bảo hỗ trợ đối với phần lớn NCT,đặc biệt là nhóm NCT dễ tổn thương vì họ không thể tham gia hệ thống hưutrí bắt buộc Về lao động, việc làm, thu nhập, khoảng 43% NCT đang làm cáccông việc khác nhau, nhưng hầu hết là hoạt động nông nghiệp với mức thunhập thấp và không ổn định Chính sách hỗ trợ cho NCT có trình độ cao, hỗtrợ vốn phát triển sản xuất cho NCT còn bất cập, thiếu chính sách tổng quát.Việc hướng dẫn thực hiện quy định về quyền của NCT được miễn các khoảnđóng góp cho các hoạt động xã hội còn hạn chế, chưa cụ thể

Từ những lý do trên, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đánh giá thựctrạng thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với NCT để từ đó đề xuất nhữnggiải pháp tạo ra sự chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong công tác NCT đáp ứng yêucầu phát triển của mỗi địa phương là rất cần thiết Với mong muốn được đónggóp công sức vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác NCT và việcchăm sóc, phụng dưỡng NCT trên địa bàn tỉnh Lai Châu, học viên mạnh dạn lựa

chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với NCT trên

địa bàn tỉnh Lai Châu” để làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.

Trang 15

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Làm rõ những vấn đề cơ bản về thực hiện pháp luật về TGXH đối vớiNCT Đánh giá thực trạng thực hiện công tác này ở Lai Châu; những hạn chế,bất cập, yếu tố tác động, những đặc thù riêng, nguyên nhân, những vấn đề đặt

ra Đề xuất giải pháp đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện phápluật về TGXH đối với NCT

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Khái quát, làm rõ cơ sở lý luận, những vấn đề cơ bản về thực hiệnpháp luật TGXH đối với NCT và việc thực hiện pháp luật TGXH đối với NCTtrên địa bàn tỉnh Lai Châu

- Khảo sát, đánh giá về thực trạng TGXH cho NCT và nhu cầu TGXHđối với NCT tại Lai Châu trong giai đoạn 2016 - 2020 Những vấn đề đặt racần phải giải quyết, khắc phục

- Đưa ra một số giải pháp đảm bảo việc thực hiện pháp luật tốt hơn nữatrong công tác TGXH đối với NCT nói chung, NCT từ 80 tuổi trở lên trên địabàn tỉnh Lai Châu (trước mắt, trung hạn, lâu dài)

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Đề tài góp phần bổ sung, hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về thựchiện pháp luật TGXH đối với NCT và thực tiễn thi hành pháp luật về TGXHđối với NCT một cách đầy đủ, khoa học; các đặc điểm và nhu cầu của NCT

về trợ giúp xã hội; qua đó góp phần bổ sung và làm phong phú thêm các kiếnthức về trợ giúp xã hội đối với NCT

- Đề tài khái quát bức tranh tổng thể, đầy đủ về thực trạng NCT trên địabàn tỉnh Lai Châu (giai đoạn 2016 - 2020), thực tiễn áp dụng pháp luật TGXHcho NCT trên địa bàn tỉnh Lai Châu, tìm kiếm những nguyên nhân, yếu tố tácđộng, dự báo tình hình và đề xuất, khuyến nghị những giải pháp thiết thực,

Trang 16

phù hợp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả chăm sóc, trợ giúp NCT, làmtốt hơn việc thực hiện pháp luật về TGXH cho NCT trên địa bàn tỉnh LaiChâu trong thời gian tới.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hiến pháp, Luật Người cao tuổi, các luật, bộ luật, các văn bản dướiluật, văn bản quy phạm pháp luật, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, đề án,chương trình hành động… của quốc gia và của tỉnh Lai Châu có liên quan đếnNCT; có liên quan đến thực hiện pháp luật, TGXH nói chung và thực hiệnpháp luật về TGXH đối với NCT nói riêng

- NCT, trong đó có NCT từ 80 tuổi trở lên ở tỉnh Lai Châu, cụ thể ở một

số địa phương trong tỉnh

- Nhóm các nhà quản lý (cấp ủy, chính quyền, các cấp hội NCT trên địabàn tỉnh Lai Châu và một số địa phương trong tỉnh)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu được giới hạn trên địa bàn tỉnh Lai Châu

- Thời gian giới hạn từ năm 2016- 2020

5 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, ở Việt Nam, cũng có nhiều bài viết, tiểu luận vàmột số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, hội thảo khoa học, luận vănthạc sĩ… về NCT, tiếp cận theo hướng coi họ là nhóm yếu thế hoặc nhóm xãhội phụ thuộc Các đề tài khoa học, luận văn, công trình nghiên cứu, sáchchuyên khảo chủ yếu tập trung nghiên cứu về thực trạng và giải pháp về chínhsách cho NCT, công tác ASXH, công tác y tế, chăm sóc, phụng dưỡng, côngtác xã hội, công tác xã hội cá nhân, dịch vụ hỗ trợ NCT, số ít có nghiên cứu vềTGXH cho NCT… Phạm vi nghiên cứu tổng thể, vĩ mô, khái quát rộng (quốcgia) hoặc hẹp ở một địa phương cấp huyện, cấp xã như:

Trang 17

- Luận văn thạc sĩ: “Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng

đồng” của tác giả Đồng Thị Minh Phúc - Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc

gia Hà Nội, năm 2014 (nghiên cứu tại địa bàn xã Trực Tuấn, huyện TrựcNinh, tỉnh Nam Định)

- Luận văn thạc sĩ: “Công tác xã hội đối với người cao tuổi bị bạo lực

gia đình” nghiên cứu tại xã An Tường, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên

Quang của tác giả Phùng Thanh Thảo, năm 2014

- Luận văn thạc sĩ: “Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông

thôn Việt Nam hiện nay và hoạt động của công tác xã hội” nghiên cứu tại xã

Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An của tác giả Trương Thị Điểm,năm 2014

- Luận văn thạc sĩ: “Công tác xã hội đối với việc phát huy tính tích cực

của nhóm cán bộ cao tuổi hưu trí tại Câu lạc bộ Thăng Long, thành phố Hà Nội” của tác giả Cao Thị Hoàng Vân - Trường Đại học Thăng Long, năm 2016.

- Luận văn thạc sĩ: “Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại

Trung tâm công tác xã hội và bảo trợ xã hội tỉnh Thái Bình” của tác giả Phạm

Thị Thúy Mùi - Trường Đại học Lao động - xã hội, năm 2017

- Luận văn thạc sĩ: “Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người

cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” của tác giả

Nguyễn Thị Thương Huyền - Trường Đại học Lao động - xã hội, năm 2017

- Luận văn thạc sĩ: “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe

người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang”

của tác giả Đặng Phương Liên - Học viện KHXH, Viện hàn lâm KHXH ViệtNam, năm 2018…

Ngoài ra, còn có khá nhiều bài viết, bài nghiên cứu (đăng tải trên cácbáo, tạp chí, trang thông tin điện tử, website của các bộ, ngành…) các báo cáo,nghị quyết, chỉ thị, đề án của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và một số sở, ngành có

Trang 18

liên quan và Hội NCT, Ban Đại diện Hội NCT tỉnh Lai Châu cũng có nộidung phản ánh về những vấn đề này Đó là những thành quả nghiên cứu về lýluận chung và thực tiễn, đóng góp ở những mức độ khác nhau vào việc thựchiện Luật Người cao tuổi 2009 và Chương trình hành động quốc gia về NCTViệt Nam giai đoạn 2012-2020 nói chung và ở một vài địa phương nói riêng.

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chính thức vềviệc thực hiện pháp luật về TGXH đối với NCT, nhất là trên địa bàn tỉnh LaiChâu - địa bàn một tỉnh miền núi, nhiều dân tộc khó khăn nhất cả nước

6 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu, rà soát, hệ thống hóa làm rõ những nội dung cơ bản vềthực hiện pháp luật, về TGXH, về NCT, những vấn đề lý luận về thực hiệnpháp luật về TGXH đối với NCT

- Khảo sát, điều tra xã hội học, phân tích, tổng kết, đánh giá về thựctrạng, đặc điểm của NCT, thực trạng công tác chăm sóc, phụng dưỡng, TGXHcho NCT và nhu cầu trợ giúp xã hội NCT tại địa bàn nghiên cứu trong giaiđoạn 2016-2020 Làm rõ những hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc, yếu

tố tác động, nguyên nhân (chủ quan, khách quan, bên trong, bên ngoài),những vấn đề phát sinh, những đặc thù riêng có liên quan trên địa bàn của mộttỉnh khó khăn, miền núi, biên giới, đa dân tộc

- Đề xuất, khuyến nghị những giải pháp thiết thực, phù hợp đảm bảoviệc thực hiện pháp luật tốt hơn, có chất lượng, hiệu quả hơn trong công tácTGXH đối với NCT trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn 2021-2025

6.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa bàn tỉnh Lai Châu và thực tế ở một số địa phương trong tỉnh

6.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiếp cận nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luậnduy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 19

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổnghợp như: Hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê và nhận xét cánhân Ngoài ra, Đề tài sử dụng linh hoạt và hợp lý các phương pháp nghiêncứu như: Phương pháp phân tích tài liệu, quan sát, khảo sát thực tế, điều tra xãhội học; phương pháp phỏng vấn, tọa đàm, thảo luận, trao đổi, lấy ý kiến.

Phương pháp thu thập tài liệu: Có 02 nguồn tài liệu cần thu thập (tàiliệu đã công bố - tài liệu thứ cấp; tài liệu mới - tài liệu sơ cấp)

Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý trên máy vi tính bằngphần mềm ứng dụng Excel của Microsoft Office

Phương pháp phân tích: Phương pháp phân tích thống kê, phương phápphân tích logic, phương pháp phân tích suy diễn, suy luận …

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với

người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp

luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Trang 20

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI

NGƯỜI CAO TUỔI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1.1 Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.1.1 Quan niệm về người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT Trước đây, người ta thườngdùng thuật ngữ "người già", để chỉ "người có tuổi", "người có nhiều tuổi"hay "người cao niên" trong xã hội Hai thuật ngữ NCT và "người già" tuykhông khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, NCT là thuật ngữ mangtính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng Thuật ngữ NCT chính thức được

sử dụng trong các Nghị quyết 47/5 và 48/98 của Đại Hội đồng Liên hiệpquốc [47], và trở thành phổ biến trong các văn kiện của các tổ chức quốc tếcũng như các quốc gia

- Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với

việc suy giảm các chức năng của cơ thể Khi đó, con người xuất hiện các biểuhiện suy giảm các chức năng tâm lý, sinh lý và các chức năng lao động Quá trìnhđồng hóa giảm đi, quá trình dị hóa tăng lên theo tuổi tác, quá trình trao đổi chấtgiảm Theo Tổ chức y tế thế giới - WHO: NCT là người từ 65 tuổi trở lên [57]

- Dưới góc độ KT-XH: NCT là người cơ bản đã hết khả năng lao động

và cần được nghỉ ngơi Đây là nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương donhững thay đổi, suy giảm về lao động - thu nhập, quan hệ xã hội và nhữngkhó khăn trong đời sống, cần sự trợ giúp của công tác xã hội

- Về mặt pháp luật: NCT là người trong độ tuổi mà pháp luật của mỗi

quốc gia về NCT xác định Một số nước như Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ… quyđịnh NCT là những người từ đủ 65 tuổi trở lên; các nước như Bỉ, Na Uy,Ailen quy định NCT là người trên 67 tuổi Ở một số nước Châu Á như Trung

Trang 21

nước có sự khác biệt là do khác nhau về quan niệm và mức độ phát triển XH; mặt khác sự khác nhau về lứa tuổi, chủng tộc có các biểu hiện về già củangười dân ở các nước cũng khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chămsóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao,

KT-do đó các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định vềtuổi của các nước đó cũng khác nhau Tuy nhiên, Liên Hiệp quốc đã đồng ýmốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên [13]

Ở nước ta, khái niệm có liên quan đến NCT được quy định, sử dụng vàcách hiểu có sự khác nhau giữa một số ngành luật Hiện đang tồn tại các khái

niệm “Người lao động cao tuổi”, “Người già", "Người già yếu", "Người quá

già yếu" Theo Bộ Luật lao động năm 2012 [34, Điều 166, 187] có sử dụng

thuật ngữ "người lao động cao tuổi" là người tiếp tục lao động sau độ tuổi 60 đối

với nam và sau 55 tuổi đối với nữ Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung

2009, thì thuật ngữ "người già" được nhắc đến trong tình tiết giảm nhẹ, tăng

nặng trách nhiệm hình sự đối với “người phạm tội là người già” và trường hợp

“phạm tội đối với người già”; và theo Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP hướng

dẫn “người già” được xác định là người từ đủ 70 tuổi trở lên [24] Tuy nhiên,

đến Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 đã không còn thuật ngữ

"người già" mà chỉ còn "người đủ 70 tuổi trở lên" [38, Điều 51].

Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009 quy định: NCT được hiểu là

"công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên" [32, Điều 2] Việc sử dụng thuật ngữ

và xác định mốc tuổi như vậy cơ bản phù hợp với quy định chung của LiênHiệp quốc và đặc điểm văn hóa, sinh học, quá trình lão hóa, tuổi thọ trung bình

và đời sống của người Việt Nam hiện nay, đây là cơ sở quan trọng về mặt lýluận để Nhà nước hoạch định chính sách pháp luật TGXH đối với NCT, đảmbảo các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và tham giacác hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giải trí của NCT

Trang 22

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.1.2.1 Khái niệm

Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của TGXH, hầu hết các quốcgia trên thế giới đều tổ chức thực hiện TGXH thông qua việc xây dựng luậtpháp và tổ chức thực hiện phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội,phong tục, tập quán, của quốc gia mình Theo thống kê của ILO trong cáctài liệu về ASXH, trong số 172 nước thiết lập hệ thống ASXH thì chế độTGXH đều được quan tâm thực hiện ngay từ ban đầu

Ở Việt Nam, mặc dù TGXH đã sớm được thực hiện từ lâu với vai trò chủthể quan trọng của Nhà nước và sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng, các đoàn thể,nhưng cho đến nay vẫn chưa có khái niệm hay định nghĩa chính thức về TGXHtrong các văn bản pháp luật Theo cách hiểu thông thường thì đó là "sự giúp đỡcho qua khỏi cơn nguy khốn" hoặc "giúp cho qua khỏi cơn nghèo ngặt", về mặtngữ nghĩa, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cụm từ này gồm 2 nhóm từ ghép là

"cứu trợ xã hội" và "TGXH" Tuy vậy, từ thực tế thực hiện chính sách này cóthể khái quát: TGXH là sự giúp đỡ, trợ giúp của cộng đồng, của Nhà nước chocác đối tượng yếu thế trong xã hội thông qua hình thức hỗ trợ về điều kiện sinhsống, về vật chất để các đối tượng trong diện được trợ giúp vượt qua khó khăn,

ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng và phát triển

Như vậy, từ khái niệm TGXH có thể hiểu: TGXH đối với NCT là sựgiúp đỡ, trợ giúp của cộng đồng, của Nhà nước cho NCT trong xã hội thôngqua sự hỗ trợ về điều kiện sinh sống, về vật chất và tinh thần góp phần đảmbảo quyền của NCT được hưởng những chế độ chăm sóc, bảo vệ nhất địnhnhằm đáp ứng những nhu cầu sống thiết yếu do tuổi già mà họ khó có thể tự

lo liệu được cuộc sống của bản thân, giúp NCT vượt qua khó khăn của tuổigià, nghèo đói, bệnh tật, ổn định cuộc sống hằng ngày, hòa nhập cộng đồng

Trang 23

1.1.2.2 Đặc điểm trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Trong xã hội hiện nay, NCT là một trong những nhóm đối tượng yếuthế đặc thù thực sự cần đến sự giúp đỡ để ổn định cuộc sống Họ cần đượcquan tâm, chăm sóc và giúp đỡ từ phía cộng đồng và Nhà nước với mục đíchđảm bảo các quyền lợi cơ bản của mình, cũng như tránh việc phân hóa giàunghèo trong xã hội Theo đó Nhà nước có các quy định về chế độ TGXHriêng cho nhóm đối tượng này

Chủ thể của TGXH cho NCT là cộng đồng và Nhà nước Tuy nhiên,pháp luật về ASXH chủ yếu điều chỉnh nhiều đối với những quan hệ TGXHđối với chủ thể Nhà nước, nguồn kinh phí đến từ nguồn TGXH được ngânsách Nhà nước đảm bảo theo quy định

Đối tượng được TGXH là NCT - những người được gọi là “yếu thế”, cókhó khăn trong đời sống kinh tế (thu nhập giảm sút, không có thu nhập), vềsức khỏe (giảm sút về sức khỏe: cơ thể biến đổi theo chiều hướng xấu; bị lãohóa; phản xạ chậm hơn; hệ miễn dịch giảm), có những biến đổi về tâm lý (hayhướng về quá khứ; cảm giác hụt hẫng; mất tự chủ; bị phụ thuộc; sợ cô đơn vàmong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn; hay lo lắng và bất lực; dễ bị rốiloạn về sức khỏe tâm thần)

Nội dung chế độ TGXH cho NCT cụ thể bao gồm 4 chế độ chủ yếu làTGXH thường xuyên; TGXH đột xuất; chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng;chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở BTXH/cơ sở TGXH Trong đó chế độ TGXHthường xuyên được hiểu là hình thức trợ giúp về vật chất và các điều kiện sinhsống khác của xã hội một cách thường xuyên cho các thành viên của mình khi

họ đến độ tuổi nhất định (như 80 tuổi), gặp phải những rủi ro, bất hạnh, rơi vàotình cảnh khó khăn, cuộc sống thường nhật luôn bị đe dọa Đây là chế độ trợgiúp mang tính định kỳ, lặp đi lặp lại theo quy định, hình thức này thể hiện tínhchất nhân đạo và chính sách ASXH của Nhà nước một cách rõ nét, chân thực

Trang 24

nhất Ngoài ra, các yếu tố về điều kiện, hoàn cảnh cá nhân, tình trạng tài sảncũng như những nhu cầu thực tế của đối tượng tại các thời điểm phát sinh nhucầu trợ cấp được xem là yếu tố cơ bản để quy định về những chế độ hưởng trợcấp và hình thức cứu trợ xã hội mà không cần thiết phải gắn với bất kỳ khoảnđóng góp về yếu tố vật chất, hay yếu tố tinh thần nào.

1.1.3 Ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.1.3.1 Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi thể hiện quyền con người

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan củacon người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuậnpháp lý quốc tế Quyền con người có ngay từ khi sinh ra, không thể xóa bỏ vàcũng không thể chuyển dời Quyền con người được thể hiện thông qua quyềnđược sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền được ăn, mặc,

đi lại… Và TGXH đối với NCT đã góp phần thể hiện được quyền con ngườitrong đó Xuất phát từ nội hàm khái niệm TGXH đã nói lên mục đích của nó làbảo đảm cuộc sống của con người, tất yếu bao gồm cả NCT Nhà nước xâydựng những chế độ TGXH, thậm chí là ban hành các văn bản quy phạm phápluật nhằm bảo vệ, hỗ trợ NCT trước biến cố tuổi già, suy giảm sức lao độnghay mất sức lao động; đảm bảo NCT không trở thành gánh nặng cho gia đình

và xã hội, có thu nhập, được hưởng mức sống tối thiểu, đáp ứng nhu cầu cả vềvật chất lẫn tinh thần Suy cho cùng, đó cũng chính là mục đích của TGXH

1.1.3.2 Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp

Mỗi người trong xã hội với những chủng tộc, tôn giáo, địa vị, địa bànvùng miền khác nhau đều góp phần tạo nên giá trị xã hội Nhưng vượt lên tất

cả, với tư cách là một công dân, không phân biệt, họ cần phải được đảm bảomọi mặt để phát huy những khả năng của mình NCT có sự suy giảm về tâmsinh lý và hơn ai hết, họ là nhóm đối tượng cần được bảo vệ TGXH đối với

Trang 25

NCT đã thể hiện được sự bao bọc của xã hội với họ TGXH là yếu tố tạo nên

sự hòa đồng giữa các tầng lớp con người trong xã hội, giúp con người hướngtới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng và vănminh Đó chính là tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp

Không chỉ vậy, vượt qua những rào cản về chính trị, địa lý, TGXH đốivới NCT còn là vấn đề mang tính toàn cầu vì những giá trị nhân văn của conngười Khi những rủi ro về thu nhập, sức khoẻ phát sinh từ tuổi già được mọitầng lớp trong xã hội chia sẻ không chỉ giúp NCT vượt qua khó khăn trướcmắt, mà còn tạo sự gắn kết lâu bền giữa thế hệ sau đối với thế hệ đi trước Sựchia sẻ của cả Nhà nước và cộng đồng xã hội phần nào giúp NCT thấy mình

có giá trị, chứ không phải vô dụng hay bị tách biệt khỏi cuộc sống cộng đồng

1.1.3.3 Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Việt Nam là đất nước giàu truyền thống văn hóa cùng với bề dày lịch

sử Đây là hai yếu tố cốt lõi hình thành nên cách sống của người Việt Nam

Đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, "kính trên, nhường dưới", “kính lão, đắc

thọ” là những đạo lý tốt đẹp đã đi sâu vào trong tư tưởng, thấm nhuần vào

tâm hồn mỗi người Việt Nam Suốt chiều dài lịch sử cùng với sự phát triểnvăn hóa dân tộc, đạo lý ấy vẫn luôn được trân trọng gìn giữ với nhiều cáchthức Đó là sự kính trọng, lễ phép của người trẻ với người lớn tuổi trong cộngđồng; đạo lý được lưu giữ trong hàng ngàn câu ca dao, tục ngữ, chuyện kể, lờithơ, câu hát… Trong xã hội Việt Nam, NCT luôn được coi trọng, tôn kính; họ

có vai trò to lớn trong việc gìn giữ, truyền thụ các giá trị văn hóa truyền thốngdân tộc, là lớp người có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ, xâydựng và phát triển đất nước

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vai trò của NCT đối

với xã hội Người in đậm sâu sắc dấu ấn sự kiện “Hội nghị Diên Hồng” từ thời

Trang 26

nhà Trần, luôn nêu cao truyền thống “kính già, yêu trẻ”,động viên NCT cống

hiến tài trí, sức lực của mình cho đất nước và con cháu, chủ trương thúc đẩyviệc chăm sóc và phát huy vai trò của NCT cũng như xây dựng các tổ chứcđoàn thể nhằm hỗ trợ, chăm lo cho NCT, đảm bảo các quyền của NCT Trong

“Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão”(tháng 6/1941) Người thể hiện

sự kính trọng sâu sắc đối với NCT, coi NCT là vốn quý báu nhất của nước nhà,đánh giá cao vai trò của NCT trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước,khẳng định vị thế của NCT trong gia đình, cộng đồng, xã hội Ngay sau Cách

mạng Tháng Tám 1945, Bác đã viết “Thư gửi các vị phụ lão”, trong đó chống quan niệm cổ xưa “lão lai tài tận, lão giả an chi” Thấm nhuần đạo lý dân tộc

cùng với lời dạy của Bác, tại Báo cáo chính trị Đại hội XI và nhiều kỳ họp

trước đó, Đảng đã xác định: “Quan tâm chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để

NCT sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc; phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống trong xã hội và gia đình” Trên cơ sở đó, thực hiện TGXH đối với NCT là

một trong những cách thức hiện thực hóa tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng vàNhà nước ta

1.1.3.4 Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi góp phần bảo vệ và thúc đẩy những giá trị văn hóa quý báu cùng kho tàng kiến thức sâu sắc

Văn hóa là cội nguồn, là gốc rễ của mỗi con người, mỗi gia đình, cộngđồng, quốc gia và nhân loại NCT như những người lưu giữ văn hóa, kinhnghiệm của gia đình, cộng đồng, xã hội rồi truyền lại những giá trị quý báu ấycho các thế hệ kế cận, từ đó những giá trị này tiếp tục được giữ gìn và pháttriển Trải qua những năm tháng của cuộc đời, NCT đã đúc kết được kinhnghiệm sống và tích lũy được kho tàng kiến thức sâu sắc, đó là nền tảng cho sựphát triển của mỗi con người TGXH, với vai trò góp phần đảm bảo cuộc sốngcho NCT, giúp NCT ổn định về sức khỏe, trí tuệ để có thể truyền tải những giátrị văn hóa và kiến thức đó cho thế hệ sau Có thể thấy rằng, TGXH đối với

Trang 27

NCT có ý nghĩa rất quan trọng Đây là sự hỗ trợ của Nhà nước, của xã hội vềthu nhập, về điều kiện sống tối thiểu bằng những biện pháp kinh tế và các biệnpháp khác để hạn chế, phòng ngừa, khắc phục rủi ro cho đối tượng này.

1.1.3.5 Trợ giúp xã hội góp phần giúp cân bằng giữa các nhóm người cao tuổi được hưởng bảo hiểm xã hội và không được hưởng bảo hiểm xã hội

Thực tế hiện nay, không phải NCT nào cũng được hưởng bảo hiểm hưutrí Tỷ lệ hưởng bảo hiểm hưu trí chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị ViệtNam là nước nông nghiệp với trên 70% dân số đang sống ở nông thôn Trongkhi đó, số người tham gia BHXH chỉ chiếm 10-20% tổng lực lượng lao động

và chủ yếu ở khu vực thành thị Đa số người lao động nông thôn khi trở thànhNCT sẽ không được hưởng lương hưu từ hệ thống BHXH Với đặc thù nềnkinh tế Việt Nam khi thu nhập của người lao động thấp, chỉ đủ trang trải chonhững chi tiêu trước mắt, không có và không thể có cho tích lũy trong tươnglai Để tiếp tục cuộc sống, những NCT này buộc phải tự lao động kiếm sốnghoặc nhờ sự hỗ trợ của con cháu hoặc nhờ sự trợ giúp của cộng đồng

TGXH là một hệ thống phân phối, điều chỉnh thu nhập, nó ảnh hưởng đếntổng số lượng và cấu trúc nhu cầu của xã hội, trở thành một công cụ để Nhànước điều chỉnh các hoạt động kinh tế, các khoản lương hưu, trợ cấp đối vớiNCT còn có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợicho các thành viên yếu thế, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống trong xã hội.Việc hỗ trợ BHYT và các dịch vụ cơ bản khác từ nguồn tài chính công không vìmục đích lợi nhuận mà nhằm mục đích an sinh, bảo đảm tốt nhất việc chăm sócsức khỏe và đời sống, bảo đảm công bằng, lợi ích xã hội đối với NCT

1.2 Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.2.1 Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí

Trang 28

của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triểnphù hợp với lợi ích của giai cấp mình Pháp luật là tổng thể các quy phạmpháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống Theo đó,pháp luật về TGXH cho NCT được hiểu là hệ thống quy phạm pháp luật doNhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vựcTGXH cho NCT, bảo đảm NCT thực hiện các quyền được hưởng những chế

độ bảo vệ nhất định nhằm đáp ứng những nhu cầu sống thiết yếu do tuổi già

mà họ không thể tự lo liệu được cuộc sống của bản thân, qua đó giúp NCTduy trì được đời sống hằng ngày, vượt qua khó khăn của tuổi già, nghèo đói,bệnh tật để hòa nhập cộng đồng

Pháp luật TGXH đối với NCT là một công cụ quan trọng góp phần tạonên sự ổn định và hài hoà trong quan hệ xã hội, đảm bảo sự công bằng vàquyền sống của NCT; là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm đời sống, chămsóc sức khoẻ của con người khi về già, không còn làm ra thu nhập Pháp luậtTGXH đối với NCT là cơ sở pháp lý để NCT thực hiện quyền được bảo đảmđời sống, chăm sóc sức khoẻ, tránh được đói nghèo và tử vong do bệnh tật,chứ không phải sự “ban ơn” hay thể hiện sự thương cảm của Nhà nước đốivới NCT trong xã hội Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quanquản lý nhà nước thực hiện trách nhiệm của mình trong việc đảm bảo cácquyền lợi về các chế độ ưu tiên, ưu đãi, trợ cấp, lương hưu, BHYT, BTXH, cácchế độ khác đối với NCT theo đúng quy định khi họ đủ điều kiện thụ hưởng

1.2.2 Nguyên tắc pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.2.2.1 Nguyên tắc công bằng, công khai, kịp thời

Do những thay đổi về tâm lý, sinh lý so với các người trẻ tuổi khác,NCT có những hạn chế nhất định trong quá trình lao động hoặc tham gia cáchoạt động xã hội khác như giao thông, thể thao, du lịch, vui chơi, giải trí Bởi vậy, họ cần được tạo điều kiện hưởng ưu đãi, trợ giúp khi tham gia các

Trang 29

hoạt động xã hội Theo đó, khi NCT tham gia các hoạt động như vui chơi, dulịch, giải trí thì được giảm hoặc miễn giá vé, được ưu tiên khi khám chữabệnh tại các cơ sở y tế Ngoài ra, đối với NCT có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn, không thể tự lo đời sống cho bản thân thì được Nhà nước bảo trợ thôngqua các chế độ trợ cấp hằng tháng hoặc trợ cấp một lần.

Nguyên tắc công bằng xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự công bằng giữacác thành viên trong xã hội Sự công bằng được hiểu là sự phù hợp với đặcđiểm riêng của NCT và phù hợp với thực tế cuộc sống của NCT Vì thế,không ít NCT không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ đóng góp nào vẫn đượchưởng trợ cấp xã hội hằng tháng Bên cạnh đó, nguyên tắc công bằng vềTGXH đối với NCT chính là cụ thể hóa mục đích của chính sách TGXH,nhằm chia sẻ những khó khăn về kinh tế khi NCT không có bất kỳ khoản thunhập nào để bảo đảm đời sống hằng ngày Đó là sự chia sẻ của xã hội khi họthường xuyên phải đối mặt với ốm đau, bệnh tật, không còn khả năng vậnđộng, giao tiếp, tham gia các hoạt động xã hội

Nguyên tắc công khai xuất phát từ việc đảm bảo minh bạch các khoảnthu, chi trong quá trình thực hiện chính sách TGXH đối với NCT Trong hoạtđộng TGXH, công khai nghĩa là mọi hoạt động TGXH, các chính sách trợgiúp đều phải được công bố, hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiệnthông tin, truyền thông đại chúng, mọi người dân đều có thể tiếp cận Cácchính sách TGXH đối với NCT được xây dựng trên nền tảng nhu cầu củachính NCT, hiệu quả của chính sách này xét dưới góc độ cung cấp dịch vụđược đánh giá bằng mức độ hài lòng của NCT và chất lượng cung cấp dịch

vụ Nói cách khác, khi chất lượng và hiệu quả của TGXH đối với NCT đượcnâng cao thì mức độ hài lòng của NCT nói riêng và người dân nói chung cũngtăng lên, điều đó phụ thuộc vào mức độ công khai, minh bạch trong hoạt độngTGXH đối với NCT

Trang 30

Nguyên tắc kịp thời xuất phát từ việc giải quyết đúng việc, đúng người,đúng thời điểm Chẳng hạn như khi NCT suy giảm sức khỏe thì điều họ cần làđược trợ giúp giải quyết các thủ tục về BHYT để kịp thời khám, chữa bệnh.Điều này đòi hỏi hoạt động phối hợp thống nhất, hệ thống, đồng bộ, xuyênsuốt và hiệu quả giữa các cơ quan, ban, ngành, tổ chức chính trị xã hội có liênquan trong việc thực thi chính sách TGXH đối với NCT.

1.2.2.2 Nguyên tắc mọi người cao tuổi đều có quyền hưởng trợ giúp xã hội

Là thành phần trong nhóm đối tượng cần sự chăm sóc của xã hội nênmọi NCT, không phân biệt bất kỳ ai, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôngiáo, vùng, miền đều có quyền được hưởng TGXH Khi NCT có đầy đủ cácđiều kiện theo quy định của pháp luật thì được hưởng các chế độ, quyền lợi vềTGXH Mức trợ cấp TGXH đối với NCT không phụ thuộc vào sự đóng góp,thu nhập hoặc mức sống của họ Trường hợp vì lý do nào đó mà NCT khôngđược bảo đảm quyền lợi thì họ có quyền khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật

Đây là nguyên tắc quan trọng của chính sách pháp luật TGXH đối vớiNCT Bởi ngay cả khi không còn khả năng làm việc để mang lại thu nhập thìNCT vẫn phải chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản là ăn, mặc, ở, đi lại và sinhhoạt hằng ngày; chưa kể khi ốm đau, bệnh tật, họ còn phải mua thuốc men,khám chữa bệnh Nếu không có nguồn tài chính tích lũy từ trước thì họ sẽ gặp

vô vàn khó khăn Vì vậy, nhu cầu được đảm bảo đời sống và được chăm sócsức khỏe của NCT để họ có thể cải thiện chất lượng cuộc sống, tiếp tục sống

và cống hiến cho xã hội rất quan trọng

1.2.2.3 Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Bảo đảm nguyên tắc đa dạng hóa các hoạt động TGXH đối với NCTnghĩa là Nhà nước quy định nhiều chế độ, nhiều loại hình TGXH khác nhau

Trang 31

tương ứng với các nhu cầu cần trợ giúp khác nhau của NCT để họ có thể đượcthụ hưởng Cùng với trách nhiệm chính của Nhà nước trong thực hiện TGXHđối với NCT thì cộng đồng xã hội, bao gồm các tổ chức, cá nhân cùng thamgia Bởi Nhà nước tuy có nguồn lực dồi dào từ ngân sách song cũng khôngthể đáp ứng được mọi chi phí theo nhu cầu của NCT Hơn nữa, sự tham giacủa các tổ chức, cá nhân vào công tác TGXH đối với NCT ở một phương diệnnào đó cũng chính là thực hiện trách nhiệm đối với bản thân mình và đối vớimôi trường sống chung của xã hội Vì vậy, Nhà nước quy định trách nhiệmcủa con cháu, gia đình có NCT phải quan tâm phụng dưỡng, chăm sóc NCT;khuyến khích cá nhân, hộ gia đình nhận nuôi dưỡng NCT có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn; hỗ trợ các điều kiện vật chất cho các cơ sở chăm sóc NCT;nghiên cứu khoa học, đầu tư cơ sở vật chất để thành lập các cơ sở chăm sóc,nuôi dưỡng NCT

1.2.2.4 Nguyên tắc trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được thực hiện trên cơ sở cân đối giữa nhu cầu thực tế của người cao tuổi với khả năng đáp ứng về điều kiện KT-XH của đất nước

Thực tế cho thấy nhu cầu TGXH của NCT là rất lớn, trong khi khảnăng đáp ứng của Nhà nước là có hạn, kể cả các quốc gia phát triển Vì vậy,đây là bài toán mà hầu hết các quốc gia phải tìm cách để có lời giải phù hợpvới điều kiện KT-XH của mình, xây dựng các chính sách TGXH đối với NCT,đảm bảo các chính sách này phát triển ổn định và lâu dài

Nội dung của nguyên tắc thể hiện ở 2 khía cạnh: Đó là NCT phải cótrách nhiệm với chính mình từ khi còn trẻ Khi còn trong độ tuổi lao độngphải tham gia đóng BHXH hoặc tích lũy của cải, tiền bạc, để khi hết khả nănglao động, không thể đi làm được nữa vẫn có lương hưu hoặc khoản tích lũyđảm bảo đời sống, không tạo gánh nặng cho con cái và xã hội Ngoài ra, Nhànước và đơn vị sử dụng lao động, tùy vào điều kiện cụ thể, hỗ trợ phí đóng

Trang 32

BHXH, hỗ trợ hoặc đài thọ phí BHYT hoặc trợ cấp cho NCT trong trườnghợp họ không có lương hưu hoặc trợ cấp xã hội nào khác Mức hưởng trợ cấp

xã hội hiện nay dù chưa đáp ứng được nhu cầu của NCT nhưng đã phần nàogiúp họ duy trì được đời sống hằng ngày Mỗi khi kinh tế xã hội phát triển,Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh mức lương hưu hằng tháng, đồng thờiđiều chỉnh tăng các mức chuẩn trợ cấp xã hội nhằm ngày càng đáp ứng nhucầu của NCT

1.2.3 Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.2.3.1 Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Các cơ quan Nhà nước thống nhất quản lý TGXH đối với NCT Cơquan trung ương cấp bộ, ngành chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về NCTnói chung và TGXH đối với NCT nói riêng Ở Việt Nam, Bộ LĐ-TB&XHthống nhất quản lý nhà nước về NCT trong phạm vi cả nước; ở Nhật Bản,

Bộ Y tế - Lao động và ASXH thống nhất quản lý các vấn đề về NCT trongphạm vi cả nước

Bên cạnh đó, các cơ quan trung ương cấp bộ, ngành liên quan phối hợpvới cơ quan quản lý về NCT cấp trung ương thực hiện quản lý nhà nước vềTGXH đối với NCT Ví dụ như việc phối hợp thực hiện của Bộ Tài chínhtrong việc dự toán thu, chi ngân sách nhà nước cho vấn đề thực hiện TGXHđối với NCT Ngoài ra, chính quyền địa phương các cấp thành lập các phòng,ban chuyên trách quản lý về vấn đề NCT nói chung và TGXH đối với NCTnói riêng Ví dụ: ở Trung Quốc, tổ chức tự trị quần chúng ở địa phương và tổchức NCT được thành lập theo quy định pháp luật có trách nhiệm phản ánhyêu cầu của NCT, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCT

1.2.3.2 Đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội

Đối tượng xác định được hưởng TGXH phải thuộc nhóm đối tượng yếuthế trong xã hội Theo đó, đối tượng NCT thuộc nhóm yếu thế, được TGXH

Trang 33

thì phải đảm bảo về độ tuổi, điều kiện theo quy định của pháp luật về NCT vàpháp luật về TGXH đối với NCT Độ tuổi được pháp luật công nhận là NCT ởmỗi quốc gia trên thế giới có khác nhau tùy vào điều kiện phát triển kinh tế,chính trị, xã hội, tình trạng dân số, chủng tộc và tuổi thọ trung bình của từngquốc gia Tuy nhiên, cũng như đối với đối tượng BTXH nói chung, khôngphải mọi NCT đều được TGXH, mà họ phải thuộc đối tượng và có đủ cácđiều kiện nhất định theo quy định pháp luật.

Dưới góc độ kinh tế, đối tượng NCT được TGXH là những NCT cómức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi rocần có sự trợ giúp về mặt vật chất

Dưới góc độ xã hội, NCT thuộc nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội vìtuổi cao sức giảm, sức yếu, không còn sức lao động, lâm vào hoàn cảnh khókhăn, không có đủ khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của bản thân

Dưới góc độ pháp lý, xuất phát từ khái niệm pháp luật về TGXH đốivới NCT, có thể hiểu đối tượng NCT được TGXH là những NCT có hoàncảnh đặc biệt khó khăn, gặp rủi ro, biến cố, bất hạnh, trong cuộc sống vì nhiềunguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sốngtối thiểu của bản thân Theo đó, trên thế giới, một số quốc gia xác định đốitượng NCT được TGXH dựa vào độ tuổi của họ, một số quốc gia lại dựa vàotrình trạng sức khỏe, đời sống và thu nhập của NCT Việc đưa ra quy định đốitượng NCT được TGXH trong pháp luật có vai trò quan trọng trong việc xácđịnh đúng đối tượng, đúng hoàn cảnh cần trợ giúp, giúp NCT vượt qua khókhăn để hòa nhập cộng đồng

1.2.3.3 Các chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Khác với chế độ hưu trí hằng tháng hay BHYT, khi hưởng các chế độTGXH, NCT không phải đóng góp bất kỳ khoản tiền nào để đảm bảo điềukiện thụ hưởng Khi nào NCT có đủ điều kiện về tuổi, hoàn cảnh do pháp luật

Trang 34

quy định thì được hưởng một số hoặc nhiều chế độ TGXH khác nhau như: (1)chế độ TGXH thường xuyên tại cộng đồng, (2) chế độ TGXH đột xuất, (3)chế độ hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng NCT tại cộng đồng và (4) chế độchăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở BTXH/cơ sở TGXH.

Về chế độ TGXH thường xuyên tại cộng đồng là chế độ trợ cấp hằngtháng bằng tiền của nhà nước để nuôi dưỡng NCT Mức trợ cấp hằng thángdựa vào mức chuẩn được Nhà nước xây dựng, tùy vào điều kiện kinh tế củađất nước và mức sống tối thiểu của xã hội theo từng thời kỳ Ví dụ như TrungQuốc quy định mức trợ cấp xã hội phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từngtỉnh, thành phố qua từng thời kỳ, Chính phủ Trung Quốc không quy định vềmức trợ cấp tối thiểu vùng

Bên cạnh chế độ TGXH thường xuyên tại cộng đồng, chế độ TGXHđột xuất là chế độ TGXH đối với NCT được thực hiện một lần khi NCTsống tại cộng đồng cùng gia đình hoặc được hộ gia đình, cá nhân nhậnchăm sóc, nuôi dưỡng NCT gặp phải những khó khăn, rủi ro bất ngờ nhưthiên tai, bệnh tật

NCT không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không đủđiều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện được tiếp nhận vào cơ sở chăm sócNCT nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng thì sẽ được hưởng chế độ

hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng NCT tại cộng đồng Nội dung này baogồm cả quy định về chế độ đối với NCT được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng;chế độ và điều kiện, trách nhiệm của hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc,nuôi dưỡng NCT

Về chăm sóc, nuôi dưỡng NCT tại cơ sở chăm sóc NCT, có 02 đốitượng trong chế độ này: (1) NCT có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thuộc diệnđược chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở chăm sóc NCT (cơ sở BTXH) theo quyđịnh của pháp luật về NCT; (2) NCT tự nguyện sống tại cơ sở chăm sóc NCT

Trang 35

theo hợp đồng uỷ nhiệm chăm sóc giữa NCT hoặc người giám hộ của NCTvới cơ sở chăm sóc NCT Theo đó, có thể hiểu, đối với đối tượng thứ hai,NCT hoặc người giám hộ của NCT bỏ ra một khoản phí nhất định để đượchưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng NCT tại cơ sở chăm sóc NCT Cơ sởchăm sóc NCT hiện nay ở một số nơi khá phát triển, giúp người dân có thể tựchọn, tự chủ trong việc chọn cơ sở chăm sóc khi về già.

1.2.3.4 Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Nguồn tài chính thực hiện TGXH đối với NCT cơ bản do Nhà nướcchi trả Tuy vậy, do khả năng ngân sách có hạn, Nhà nước cũng có chínhsách khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vàohoạt động TGXH đối với NCT Đối với chế độ TGXH thường xuyên tạicộng đồng và chế độ TGXH đột xuất, chế độ hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôidưỡng NCT tại cộng đồng, ngân sách Nhà nước là nguồn tài chính thực hiệnchính Tùy thuộc vào tình hình chính trị, KT-XH, mức sống của từng vùngmiền, mỗi quốc gia có quy định về mức trợ cấp khác nhau nên nguồn tàichính thực hiện có thể là tài chính trung ương kết hợp với tài chính địaphương theo tỷ lệ nhất định

Đối với cơ sở chăm sóc NCT công lập, nguồn tài chính thực hiện baogồm: (1) ngân sách Nhà nước cấp; (2) nguồn thu từ phí dịch vụ của các đốitượng tự nguyện; (3) nguồn thu từ hoạt động lao động sản xuất, dịch vụ của

cơ sở; (4) nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; (5)nguồn thu khác theo quy định của pháp luật

Đối với cơ sở chăm sóc NCT ngoài công lập, nguồn tài chính thựchiện bao gồm: (1) ngân sách Nhà nước hỗ trợ; (2) nguồn tự có của chủ cơsở; (3) nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; (4)nguồn thu từ phí dịch vụ của đối tượng tự nguyện; (5) nguồn thu khác theoquy định của pháp luật

Trang 36

Hầu hết các quốc gia hiện nay đều cho phép tổ chức, cá nhân ngoàiNhà nước đầu tư xây dựng cơ sở chăm sóc NCT, một số quốc gia còn cóchính sách ưu đãi riêng về kinh phí xây dựng, thuế, trợ cấp cho các tổchức, cá nhân này.

1.2.3.5 Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Quyền lợi hưởng TGXH của NCT không có sự phân biệt và luôn bảođảm công bằng giữa những NCT Trường hợp vì lý do nào đó mà NCT khôngđược bảo đảm các quyền lợi thì họ có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc yêu cầu cơquan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật

Khiếu nại là việc NCT, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theothủ tục quy định của pháp luật, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩmquyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quanhành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chínhNhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằngquyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật TGXH đối với NCT, xâm phạmquyền, lợi ích hợp pháp của mình

Tố cáo là việc NCT, theo thủ tục quy định của pháp luật, báo cho cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật TGXHđối với NCT của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đedoạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Về xử lý vi phạm đối với hành vi vi phạm pháp luật TGXH đối vớiNCT một số quốc gia trên thế giới quy định tại luật chuyên ngành chung vềNCT như Trung Quốc, Nhật Bản; một số quốc gia khác lại quy định tại bộluật, luật xử lý vi phạm, tố tụng riêng như Việt Nam Nhìn chung, đối vớicác hành vi vi phạm pháp luật TGXH đối với NCT có những hình thức xửphạt hành chính, phạt tiền, phạt cảnh cáo, và nếu cấu thành tội phạm thì sẽ bịtruy cứu trách nhiệm hình sự

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Con người sinh ra, lớn lên và già đi là quy luật tự nhiên của đất trời.Khi bước vào giai đoạn tuổi già, sức khoẻ thể chất và tinh thần của conngười có sự thay đổi rất lớn NCT có đặc điểm riêng biệt về tâm lý, sinh lý

so với các lứa tuổi khác như: Các cơ quan, các bộ phận cơ thể hoạt độngkém đi, khả năng thích nghi môi trường cũng dần kém đi; cơ thể bắt đầu mắcnhiều loại bệnh; càng cao tuổi càng cảm thấy cô đơn, bất lực trong cuộcsống, thậm chí trầm cảm, tự ti Sự thay đổi này làm suy giảm khả năng laođộng, khiến không ít NCT nếu không có tích lũy về tài chính, tài sản từtrước sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn, khó có thể đảm bảo được cuộc sốngcủa mình NCT, nhất là người trên 80 tuổi rất cần có người nương tựa, chămsóc, phụng dưỡng, giúp đỡ Chính vì vậy, TGXH đã và đang là một trongnhững giải pháp thiết thực giúp cải thiện, khắc phục tình trạng này TGXH là

sự trợ giúp, tương trợ, bảo đảm (bằng tiền, vật chất hoặc những điều kiệnsống thích hợp) của nhà nước, của cộng đồng, của xã hội theo quy định củapháp luật để NCT có thể vượt qua được khó khăn, hạn chế rủi ro, tái hòanhập cộng đồng và tự lo liệu, duy trì cuộc sống, phát huy thế mạnh của bảnthân và có thể đóng góp có ích cho xã hội

Với mục đích bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của NCT, công tácTGXH đóng vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của NCT,được Nhà nước ta quan tâm và chú trọng, nhất là trong xây dựng hành langpháp lý (từ đối tượng hưởng, điều kiện hưởng đến quyền lợi được hưởngtrong từng chế độ TGXH dành cho NCT) Trong những năm qua, nhà nước đãxây dựng hệ thống pháp luật TGXH đối với NCT

Pháp luật TGXH đối với NCT là tổng hợp các quy phạm pháp luật doNhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực

Trang 38

chế độ bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu sống thiết yếu, giúp NCT vượt qua khókhăn, duy trì cuộc sống Pháp luật TGXH quy định quyền, nghĩa vụ của nhànước, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ, giúp đỡ cho NCT thông qua các nộidung chủ yếu sau: Quy định về đối tượng, các chế độ, nguồn tài chính, thủ tục,quản lý nhà nước, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp trongvấn đề TGXH đối với NCT Pháp luật về TGXH không chỉ có ý nghĩa quantrọng đối với cuộc sống của NCT mà còn có ý nghĩa đối với việc đánh giá sựphát triển của mỗi quốc gia Không đơn thuần mang ý nghĩa về kinh tế như một

sự phân phối lại thu nhập xã hội một cách công bằng mà TGXH đối với NCTcòn có ý nghĩa về mặt xã hội, chính trị và pháp luật của một quốc gia

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU

2.1 Khái quát tình hình kinh tế-xã hội và tình hình người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu

2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Lai Châu

Lai Châu là tỉnh miền núi, biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam,cách Thủ đô Hà Nội khoảng 450 km; phía bắc giáp tỉnh Vân Nam - TrungQuốc (265,165 km đường biên), phía tây và phía tây nam giáp tỉnh Điện Biên,phía đông giáp tỉnh Lào Cai, phía đông nam giáp tỉnh Yên Bái, và phía namgiáp tỉnh Sơn La Đây là địa bàn có con người cư trú từ rất sớm, các nhà khảo

cổ đã tìm thấy những công cụ lao động của thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá giữa và đồ

đá mới, công cụ bằng đồng của nền văn hóa Đông Sơn

Thời Hùng Vương, Lai Châu thuộc bộ Tân Hưng; thời Lý thuộc lộ ĐàGiang; thời Trần thuộc châu Ninh Viễn; thời Lê thuộc trấn Gia Hưng; năm1463-1768, thuộc trấn Hưng Hóa Năm 1909, Toàn quyền Đông Dương thànhlập tỉnh Lai Châu Từ năm 1916 - 1943, tỉnh Lai Châu chuyển thành Đạo quanbinh thứ tư theo chế độ quân quản Trong kháng chiến chống Pháp, Lai Châuthuộc chiến khu 2, chiến khu 10 và chiến khu 1 thuộc liên khu Việt Bắc Năm

1948, Lai Châu và Sơn La hợp nhất thành tỉnh Sơn Lai; năm 1952, tái lập lạihai tỉnh Lai Châu và Sơn La; năm 1953 thuộc khu Tây Bắc; năm 1954, LaiChâu được giải phóng; năm 1955, thuộc Khu tự trị Thái - Mèo; năm 1962,thuộc Khu tự trị Tây Bắc Cuối năm 2003, tỉnh Lai Châu chia tách thành haitỉnh Lai Châu và Điện Biên [4]

Lai Châu hiện có diện tích 9.068,8 km² (lớn thứ 10/63 tỉnh, thành phố ởViệt Nam), có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ

Trang 40

chủ quyền biên giới quốc gia; vùng đầu nguồn và phòng hộ xung yếu, điềutiết nguồn nước trực tiếp cho các công trình thuỷ điện lớn trên sông Đà vàvùng châu thổ sông Hồng; tỉnh có trên 60% diện tích có độ cao trên 1.000 m,gần 90% diện tích có độ dốc trên 250, đất nông nghiệp chỉ có 12,4%, đất lâmnghiệp chiếm 57,7% Tỉnh có 7 huyện, 1 thành phố, 106 xã, phường, thị trấn(4 huyện nghèo, 62 xã đặc biệt khó khăn); dân số trên 47 vạn người (xếp thứ62/63 tỉnh, thành phố, mật độ dân số 50 người/km2), gồm 20 dân tộc (dân tộcthiểu số chiếm hơn 84%, trong đó có 4 dân tộc rất ít người chỉ có ở Lai Châu

là Cống, Mảng, La Hủ và Si La) Tỉnh có tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh

tế biên mậu, thủy điện, nông - lâm nghiệp và thủy sản, du lịch

Kinh tế của tỉnh phát triển nhanh và khá toàn diện trong những nămqua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 7,5% Đến hết năm

2020, GRDP bình quân đầu người đạt 43,7 triệu đồng/người; cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 14,5%,công nghiệp - xây dựng chiếm 38,8%, dịch vụ chiếm 46,7% Phát huy tiềmnăng, lợi thế, tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, tổng sản lượnglương thực có hạt đạt trên 220 nghìn tấn; phát triển vùng chè tập trung chấtlượng cao gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu chè Lai Châu, đến naytổng diện tích chè tập trung trên 7.800 ha; trồng mới gần 4.300 ha mắc ca,hơn 7.300 ha quế; ổn định vùng cao su đại điền với diện tích trên 13.000 ha;chú trọng bảo vệ và phát triển rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 50,5% Có 38 xãđạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 40,4% tổng số xã, bình quân đạt 15,5 tiêuchí; có 2/7 huyện, thành phố đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới

Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng khá, giá trị tổng sản phẩmtoàn ngành đạt 5.948 tỷ đồng Các dự án thủy điện được tập trung triển khaithực hiện, toàn tỉnh có trên 100 dự án thủy điện được quy hoạch, công suấtlắp máy trên 3.500 MW; trong đó có 23 dự án đã phát điện, công suất trên

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Thanh Tùng (2015), “Pháp luật về bảo trợ xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (234), tr.44-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảotrợ xã hội ở Việt Nam”, "Tạp chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Thanh Tùng
Năm: 2015
2. Ban Bí thư Trung ương (1995), Chỉ thị về chăm sóc người cao tuổi, số 59-CT/TW, ngày 27/9/1995, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về chăm sóc người cao tuổi,số 59-CT/TW, ngày 27/9/1995
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Năm: 1995
3. Ban Bí thư Trung ương (2010), Thông báo kết luận về kết quả 14 năm thực hiện Chỉ thị số 59-CT/TW, số 305-TB/TW, ngày 03/02/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết luận về kết quả 14 nămthực hiện Chỉ thị số 59-CT/TW, số 305-TB/TW, ngày 03/02/2010
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Năm: 2010
4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu 1945 - 2009, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh LaiChâu 1945 - 2009
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
5. Ban Công tác người cao tuổi tỉnh Lai Châu (2016 - 2019), Báo cáo công tác người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu hằng năm, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo côngtác người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu hằng năm
6. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lai Châu (2017), Chỉ thị về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người cao tuổi", số 11- CT/TU ngày 14/4/2017, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với công tác người cao tuổi
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lai Châu
Năm: 2017
9. Bộ LĐ-TB&XH (2011), Thông tư quy định hồ sơ, thủ tục trợ cấp xã hội hằng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cơ sở bảo trợ xã hội, số 17/2011/TT-BLĐTBXH ngày 19/5/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định hồ sơ, thủ tục trợ cấp xã hộihằng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cơsở bảo trợ xã hội, số 17/2011/TT-BLĐTBXH ngày 19/5/2011
Tác giả: Bộ LĐ-TB&XH
Năm: 2011
10. Bộ LĐ-TB&XH (2012), Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị địnhsố 28/2012/NĐ-CP, số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012
Tác giả: Bộ LĐ-TB&XH
Năm: 2012
11. Bộ Nội vụ (2013), Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 30/2012/NĐ-CP, số 02/2013/TT-BNV ngày 10/4/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành mộtsố điều của Nghị định số 30/2012/NĐ-CP, số 02/2013/TT-BNV ngày10/4/2013
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2013
12. Bộ Tư pháp (2009), Đề cương giới thiệu Luật người cao tuổi năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương giới thiệu Luật người cao tuổi năm 2009
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2009
13. Bộ Y tế, Quỹ dân số Liên hợp quốc (2009), Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về chínhsách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại ViệtNam
Tác giả: Bộ Y tế, Quỹ dân số Liên hợp quốc
Năm: 2009
14. Chính phủ (2011), Nghị định số 06/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
15. Chính phủ (2012), Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Luật người khuyết tật, số 28/2012/NĐ-CP ngày10/4/2012
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
16. Chính phủ (2012), Nghị định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện, số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹtừ thiện, số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
17. Chính phủ (2013), Nghị định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đốitượng bảo trợ xã hội, số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
18. Chính phủ (2021), Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối vớiđối tượng bảo trợ xã hội, số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2021
19. Nguyễn Đình Cử (2011), “Chăm sóc và phát huy nguồn lực người cao tuổi ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc và phát huy nguồn lực người caotuổi ở nước ta”
Tác giả: Nguyễn Đình Cử
Năm: 2011
20. Cục Bảo trợ xã hội (2011), Cẩm nang hỏi đáp chính sách đối với người cao tuổi, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang hỏi đáp chính sách đối với ngườicao tuổi
Tác giả: Cục Bảo trợ xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2011
21. Cục bảo trợ xã hội, Bộ LĐ-TB&XH (2018), Hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các chính sáchtrợ giúp xã hội
Tác giả: Cục bảo trợ xã hội, Bộ LĐ-TB&XH
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2018
22. Nguyễn Văn Dụng (2011), “Tính đặc thù trong công tác thanh tra việc thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội”, Tạp chí Thanh tra Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đặc thù trong công tác thanh tra việcthực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội”
Tác giả: Nguyễn Văn Dụng
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ - Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh lai châu
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ (Trang 8)
Bảng 2.1. Dân số tỉnh Lai Châu và các huyện, thị (2015 -2020) - Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh lai châu
Bảng 2.1. Dân số tỉnh Lai Châu và các huyện, thị (2015 -2020) (Trang 43)
Bảng 2.3. Tình hình người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu - Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh lai châu
Bảng 2.3. Tình hình người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu (Trang 44)
Bảng 2.5. Tình hình chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu - Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh lai châu
Bảng 2.5. Tình hình chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu (Trang 49)
1 Tình hình thiệt hại - Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh lai châu
1 Tình hình thiệt hại (Trang 54)
Bảng 3.1. Tuổi thọ trung bình của dân số tỉnh Lai Châu (2016-2020) - Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh lai châu
Bảng 3.1. Tuổi thọ trung bình của dân số tỉnh Lai Châu (2016-2020) (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w