- Ngô Thị Cẩm Lệ 2012, Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Pháp luật về thuế TNDN và thực tiễn trên địa bàn Hà Nội”, Khoa Luật ĐHQGHN;- Công trình nghiên cứu của ban kinh tế Chính Phủ với đề t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THANH HƯƠNG
THI HµNH PH¸P LUËT THUÕ THU NHËP
DOANH NGHIÖP T¹I TØNH TH¸I NGUY£N
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2HÀ NỘI - 2021
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THANH HƯƠNG
THI HµNH PH¸P LUËT THUÕ THU NHËP
DOANH NGHIÖP T¹I TØNH TH¸I NGUY£N
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUYẾN
Trang 4HÀ NỘI - 2021
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trên bất cứ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Dương Thanh Hương
Trang 6NSNN: Ngân sách nhà nướcTNDN: Thu nhập doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
g
Bảng 2.1 Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên giai đoạn 3 năm (2018 - 2020)
Error:Referencesourc
e notfoundBảng 2.2 Sự biến động về số lượng chủ thể nộp thuế trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 3 năm (2018 - 2020)
Error:Referencesourc
e notfoundBảng 2.3 Số liệu truy thu thuế TNDN giai đoạn 3 năm (2018 - 2020) Error:
Referencesourc
e notfoundBảng 2.4 Số liệu công tác dự toán thu và kết quả đạt được tại tỉnh
Thái Nguyên từ năm 2018 - 2020
Error:Referencesourc
e notfoundBảng 2.5 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra Doanh nghiệp tại
Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn năm 2018 - 2020
Error:Refer
Trang 9e notfound
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nềnkinh tế mà còn là nguồn thu chủ yếu của NSNN.Thông qua việc thu thuế, nhànước có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để có thể thựchiện chức năng của mình Trong hệ thống chính sách thuế hiện hành của ViệtNam, thuế TNDNlà một trong những sắc thuế có vai trò rất quan trọng khôngchỉ trên góc độ là công cụ rất mạnh của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mônền kinh tế, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh hợp lý, mà sắcthuế này còn đóng góp số thu lớn cho NSNN hàng năm
Việc ban hành luật thuế TNDN số 14/2008/QH2012 sửa đổi bổ sung bởiluật số 32/2013/QH2013, luật số 71/2014/QH2013, Luật Đầu tư số61/2020/QH14 có ý nghĩa về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và về mặt pháp lý.Tuy nhiên, thực trạng thi hành pháp luật thuế TNDN cũng phát sinh nhiều khókhăn, vướng mắc cần giải quyết
Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc, của vùngtrung du miền núi đông bắc, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùngtrung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Kinh tế Thái Nguyên tăngtrưởng ổn định trong nhiều năm qua.Tính đến tháng 10/2020, tổng số doanhnghiệp trên là địa bàn tỉnh Thái Nguyên là hơn 11.000 doanh nghiệp với tổng
số vốn đăng kí gần 100.000 tỷ đồng, thuế TNDN đóng góp lớn vào nguồn thungân sách của tỉnh Năm 2019, tỉnh Thái Nguyên tiếp tục nằm trong tốp cáctỉnh, thành phố có số thu ngân sách đạt trên 10.000 tỷ đồng với tổng số thu đạttrên 12.000 tỷ đồng Việc thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyênthời gian qua đã có những đóng góp hết sức quan trọng, tạo nguồn thu ổn địnhcho NSNN tại địa phương, góp phần phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên Tuynhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thi hành pháp luật thuế TNDN
Trang 11tại tỉnh còn nhiều bất cập, khó khăn chưa phù hợp với sự phát triển kinh tếcủa tỉnh hiện nay Thực tế đã xuất hiện tình trạng doanh nghiệp trốn thuế, nợthuế, gian lận thuế gây thất thu NSNN Nếu những bất cập không được giảiquyết triệt để sẽ ảnh hưởng tới tính minh bạch và chất lượng của hoạt động thihành pháp luật thuế TNDN, làm giảm lòng tin và tính tự giác của người nộpthuế.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của thuế TNDN và thực tiễn thi hành
pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên” là cần thiết và có ý nghĩa
cả về mặt lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay Với đề tài này, tác giả
hi vọng sẽ có cơ hội nghiên cứu sâu thêm về pháp luật thuế thu nhập doanhnghiệp qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thái Nguyên, từ đó đưa ra nhận định cánhân và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thuế TNDN
ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tàinghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng trong thời gian qua ở Việt Nam đã có một
số công trình khoa học, bài viết, đặc biệt là các luận văn thạc sĩ nghiêncứu,tìm hiểu về thuế TNDN như:
- Báo cáo “Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020”
Nội
Trang 12- Ngô Thị Cẩm Lệ (2012), Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Pháp luật về thuế TNDN và thực tiễn trên địa bàn Hà Nội”, Khoa Luật ĐHQGHN;
- Công trình nghiên cứu của ban kinh tế Chính Phủ với đề tài: “Kinh nghiệm cải cách chính sách thuế TNDN của một số nước trên thế giới” (2013);
- Vi Thị Tú Na (2013), Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”,
Đại học Kinh tế Thái Nguyên;
- Nguyễn Thị Nga (2014), Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Quản lý thuế TNDN trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương”;
- Phan Thị Huế (2014), Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Quản lý thuế TNDN trên địa bàn huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”;
- Nguyễn Thị Thoảng (2016), luận văn thạc sĩ với đề tài: “ Quản lý thuế thu nhập trên địa bàn Huyện Thuận Thành, Bắc Ninh”, Đại Học
Thương Mại Hà Nội;
- Trương Hữu Bách (2016), Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Chống thất thu thuế TNDN đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại thành phố Phủ Lý,tỉnh Hà Nam”, Đại học Kinh tế - ĐHQGHN;
- Nguyễn Thị Hoa (2019), Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Căn cứ tính thuế TNDN theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”, Học Viện Khoa học Xã hội.
Các công trình trên đây chủ yếu nghiên cứu, phân tích các vấn đề củathuế TNDN dưới góc độ quản lý kinh tế, phân tích những quy định của phápluật thuế TNDN trước thời điểm mà Luật thuế TNDN được sửa đổi, bổ sung.Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, số32/2013/QH13 áp dụng từ 01/01/2014; Luật sửa đổi,bổ sung một số điều củacác Luật về thuế của Quốc hội, số 71/2014/QH13 áp dụng 01/01/2015; Luật
Trang 13Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 cùng nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã cónhiều thay đổi hơn, vì vậy luận văn sẽ nghiên cứu, phân tích những điểm mớiđược sửa đổi bổ sung trong pháp luật hiện hành Hơn nữa, luận văn xác địnhphạm vi nghiên cứu tương đối hẹp, đó là phân tích, đánh giá việc thi hành phápluật thuế TNDN cụ thể là tại tỉnh Thái Nguyên qua thực tiễn thi hành các quyđịnh, thủ tục hành chính, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảcông tác thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng và côngtác thi hành pháp luật thuế TNDN tại Việt Nam nói chung Vì thế có thể chorằng đề tài không bị trùng lặp với các công trình đã từng công bố trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của Luận văn là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn củathuế TNDN, pháp luật thuế TNDN và hoạt động thi hành pháp luật thuếTNDN tại tỉnh Thái Nguyên, thông qua đó đánh giá thực trạng thi hành phápluật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên trong giai đoan từ năm 2018-2020 Từ
đó đề xuất đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các quy định củapháp luật thuế TNDN hiện hành và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thihành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên, góp phần đảm đảo thực thitốt pháp luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, chống thất thu NSNN
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận pháp luật thuế TNDN và thực tiễn thi hành
pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Đánh giá được thực trạng thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnhThái Nguyên;
- Phân tích những kết quả đạt được đồng thời đề cập đến những bất cậpcòn tồn tại trong thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên;
Trang 14- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp thuế
TNDN tại tỉnh Thái Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và các quyđịnh pháp luật về luật thuế TNDN tại Việt Nam và tình hình thi hành pháp luậtthuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên, những giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng caohiệu quả thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNDN ở Việt Nam thông qua khảosát tại tỉnh Thái Nguyên để từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá, kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên;
Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2018 đến 2020
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp duy vật lịch sử
và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhcũng như quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và một số vấn đề lýluận có liên quan
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện luậnvăn gồm có:
- Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp thông tin: tổng hợp, phântích các số liệu thu thập được tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá số liệu: trên cơ sở những
dữ liệu, thông tin thu thập được tiến hành phân tích, đánh giá thực tiễn thihành pháp luật thuế TNDN tại tỉnh Thái Nguyên;
Trang 15- Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng để đối chiếucác quy định cũ và quy định mới của pháp luật thuế TNDN để tìm ra nhữngđiểm bất cập, chưa phù hợp với pháp luật và thực tiễn;
- Phương pháp điều tra khảo sát
5 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của luận văn
Luận văn một mặt đã đánh giá được những ưu điểm, tiến bộ mà phápluật về thuế TNDN đạt được kể từ khi Luật thuế TNDN số 32/QH13/2013 rađời cho đến nay, một mặt chỉ ra những bất cập, hạn chế của việc thi hành phápluật về thuế thu nhập doanh nghiệp Những ví dụ điển hình của luận văn hếtsức cụ thể, sát thực, cập nhật và phản ánh rõ ưu, nhược điểm của việc thi hànhpháp luật thuế TNDN đã chỉ ra tại tỉnh Thái Nguyên trong chương 2
Xuất phát từ thực trạng đó, luận văn đã đưa ra các biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thuế TNDNtại địa phương Kết quả luậnvăn có thể được sử dụng trong việc thi hành pháp luật thuế TNDN được tốthơn Ngoài ra, những vấn đề nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo
để biên soạn giáo trình về thuế, mà cụ thể là phần thi hành pháp luật về thuếTNDN tại địa phương cụ thể
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục,luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và thi
hành pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thuế thu
nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thái nguyên
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Để có quan niệm khoa học, cách nhìn nhận chính xác về khái niệm thuếthu nhập doanh nghiệp, trước hết cần bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm “thunhập” và “thu nhập doanh nghiệp”
Về khái niệm “thu nhập”.
Theo cuốn Từ điển Kinh tế học (Đại học Kinh tế Quốc dân), thuật ngữ“
thu nhập” (income or earnings) [19, tr 33] được giải nghĩa là “khoản tiền thu
được từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất trong một thời kỳ” Cáckhoản tiền thu được từ lao động, tư bản, đất đai và năng lực kinh doanh là thunhập từ tiền lương, lãi suất, địa tô và lợi nhuận Doanh nhân (người sở hữunăng lực kinh doanh) là người kết hợp các nhân tố sản xuất để tạo ra sảnlượng và thu nhập cho các nhân tố sản xuất
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cánhân, Doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thờigian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó Thu nhập cóthể gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợinhuận kinh doanh.Thu nhập có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau, ví
dụ như: từ lao động, từ việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từ thừa kế,được tặng cho… [29]
Trang 17Về khái niệm “thu nhập doanh nghiệp”.
Như đã đề cập ở trên, thu nhập bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhấtđịnh là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, quốc gia,tỉnh, huyện, xã… Đối với thu nhập doanh nghiệp, về lý thuyết khoản thu nhậpnày cũng được hiểu là thu nhập của doanh nghiệp phát sinh trong quá trìnhhoạt động của doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là thu nhập phát sinh từ hoạtđộng kinh doanh Trong lĩnh vực kinh tế, thu nhập doanh nghiệp có thể đượcphân loại dựa vào tiêu chí khác nhau Chẳng hạn như:
Nếu dựa vào tiêu chí nguồn gốc phát sinh thu nhập, có thể phân loạithành thu nhập từ hoạt động kinh doanh và thu nhập khác của doanh nghiệp
Nếu dựa vào tiêu chí nơi phát sinh thu nhập của doanh nghiệp, có thểphân chia thành thu nhập phát sinh ở trong nước và thu nhập phát sinh ở nướcngoài của doanh nghiệp
Nếu dựa vào thời điểm xác định thu nhập, có thể phân chia thành thunhập trước thuế và thu nhập sau thuế (thu nhập ròng hay thu nhập thuần)của doanh nghiệp Thu nhập trước thuế là khoản thu nhập được doanhnghiệp xác định trước khi tính và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Thunhập sau thuế (thu nhập ròng hay thu nhập thuần) là khoản thu nhập cònlại, được xác định sau khi doanh nghiệp đã thực hiện nghĩa vụ thuế thunhập doanh nghiệp với Nhà nước
Về khái niệm “thuế thu nhập doanh nghiệp”.
Theo định nghĩa trong từ điển trực tuyến Wikipedia, thuế TNDN là thuếđánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp, tổ chức [30]
Theo từ điển trực tuyến của trung tâm chính sách thuế, thuế TNDN làthuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp Thu nhập chịu thuế của một doanh
Trang 18nghiệp là phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các khoản chi phí có thểđược khấu trừ và khấu hao vốn [31].
Theo Giáo trình thuế của Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh,thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ các chiphí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ [16, tr.25]
Theo Giáo trình Thuế của Học viện Tài chính, thuế TNDN là thuế tínhtrên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế [16, tr.16]
Như vậy, có thể thấy rằng thuế TNDN, về bản chất là một bộ phận sảnphẩm xã hội được sáng tạo ra trong quá trình hoạt động kinh tế Quá trìnhNhà nước đánh thuế TNDN đối với doanh nghiệp, thực chất là quá trìnhphân phối lại nguồn tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước Thuế TNDNchính là phần giá trị sản phẩm mới được doanh nghiệp tạo ra nhưng bị Nhànước cưỡng chế phải nộp vào ngân sách nhà nước như là một nghĩa vụ phảithực hiện để hình thành quỹ ngân sách nhà nước Xét về khía cạnh hoạt độngcủa doanh nghiệp thì thuế thu nhập doanh nghiệp chính là một khoản phảinộp vào ngân sách nhà nước, phát sinh trong quá trình phân phối lợi nhuậncủa doanh nghiệp
Ở các nước khác nhau, thuế TNDN có tên gọi không giống nhau
Một số quốc gia sử dụng các cách gọi khác nhau để thay cho têngọi“thuế TNDN” như: “thuế lợi tức’’, “thuế thu nhập công ty”, “thuế thực lãi”hay “thuế lợi nhuận” Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau nhưng nhìn chungcác tên gọi này không làm thay đổi nội dung, bản chất của sắc thuế thu nhậpdoanh nghiệp, bởi lẽ suy cho cùng thì bản chất của thuế thu nhập doanhnghiệp chính là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của tổ chức có têngọi là doanh nghiệp hoặc tương tự
Trang 19Xét về khía cạnh lịch sử hình thành, thuế TNDN ra đời là tất yếu kháchquan và bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau đây:
- Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư(thông qua việc điều tiết thu nhập của doanh nghiệp do các nhà đầu tư thànhlập ra) nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội
- Thuế TNDN là một trong những nguồn thu quan trọng của NSNN và
có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Khi nền kinh tếphát triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của các doanh nghiệp và của các nhà đầu
tư tăng lên làm cho khả năng huy động nguồn tài chính cho Nhà nước thôngqua thuế TNDN ngày càng ổn định và vững chắc
- Xuất phát từ yêu cầu phải điều tiết, quản lý nền kinh tế nói chung vàđiều tiết các hoạt động đầu tư và kinh doanh nói riêng, Nhà nước áp dụngchính sách thuế thu nhập doanh nghiệp để thông qua đó điều tiết các hoạtđộng kinh doanh trong nền kinh tế ở mỗi quốc gia.Bằng việc quy định đốitượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, mức thuế suất và các chính sách ưu đãithuế TNDN, Nhà nước thực hiện các mục tiêu và chức năng quản lý kinh tế vĩ
mô theo nhu cầu của mình
1.1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Về phương diện lý thuyết, thuế TNDN có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, về khía cạnh bản chất kinh tế, thuế TNDN có bản chất là thuế
trực thu, theo đó Nhà nước dùng thuế thu nhập doanh nghiệp để trực tiếp điềutiết thu nhập của người nộp thuế là doanh nghiệp Điều đó cũng có nghĩa rằng
về bản chất, người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cũng chính là người chịuthuế thu nhập doanh nghiệp và khoản thuế này vốn dĩ đánh vào đối tượngchịu thuế chính là thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp phát sinh trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp
Trang 20Thứ hai, về khía cạnh chủ thể nộp thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp có
chủ thể nộp thuế (đồng thời là chủ thể chịu thuế) là doanh nghiệp, với tư cách
là một chủ thể hay thực thể kinh doanh trong nền kinh tế Đây là dấu hiệu đểphân biệt giữa thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế thu nhập cá nhân, vốn dĩcũng là thuế trực thu, đánh vào thu nhập của người nộp thuế
Thứ ba,về khía cạnh đối tượng chịu thuế, thuế TNDN có đối tượng chịu
thuế là các khoản thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp phát sinh trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp Các khoản thu nhập này phải nằm trongdanh mục là thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật Sở dĩ như vậy làbởi vì, thu nhập của doanh nghiệp thì có nhiều loại khác nhau nhưng khôngphải tất cả các loại thu nhập của doanh nghiệp đều là thu nhập chịu thuế (thunhập bị đánh thuế), mà chỉ một số thu nhập đã được pháp luật quy định là thunhập chịu thuế thì mới là đối tượng chịu thuế
Thứ tư, mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế
thường phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệphoặc các nhà đầu tư Điều này có nghĩa là nếu doanh nghiệp có thu nhập càngcao thì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp càng nhiều và ngược lại, thunhập càng thấp thì mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp càng ít Chínhthuộc tính này khiến cho thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có hiện tượng gianlận khi xác định thu nhập chịu thuế, với mục đích là làm giảm số thuế thunhập doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước
Thứ năm, thuế TNDN thường có mức thuế suất cố định Đây là một
trong những dấu hiệu để phân biệt giữa thuế thu nhập doanh nghiệp với thuếthu nhập cá nhân, bởi lẽ thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng cả hai loạithuế thuế, bao gồm thuế suất lũy tiến (áp dụng đối với các khoản thu nhập vềtiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh) và thuế suất cố định (áp dụngđối với các loại thu nhập chịu thuế khác của cá nhân)
Trang 211.1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
Giống như bất kỳ loại thuế nào khác ở mỗi quốc gia, thuế TNDN cũng
có những vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ để tạo lập nguồn thu
cho ngân sách nhà nước Ở các quốc gia đang phát triển, do thu nhập của cácdoanh nghiệp thường ở mức độ hạn chế và Chính phủ thường có mục tiêu đặttrọng tâm vào các khoản thuế gián thu nhằm đảm bảo khả năng thu ngân sáchnhà nước một cách dễ dàng, ổn định và thuận lợi nên thuế thu nhập doanhnghiệp chưa phát huy được vai trò của mình Tuy nhiên, đối với các quốc giaphát triển, do ngân sách nhà nước vốn khá ổn định và có thể được bảo đảmbằng nhiều nguồn thu khác nhau (không chỉ là thuế) và Chính phủ các quốcgia này vốn rất coi trọng vấn đề công bằng xã hội nên thuế thu nhập nóichung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng chắc chắn sẽ được coi trọng,với mục đích chính là điều tiết sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế và thúcđẩy công bằng xã hội
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ để Nhà nước điều tiết
vĩ mô đối với nền kinh tế thông qua việc quy định về mức thuế suất thuế thunhập doanh nghiệp, các trường hợp ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, chínhsách miễn, giảm thuế hay giãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ tiền thuế trong đạo luật
về thuế thu nhập doanh nghiệp Đây vốn dĩ là vai trò then chốt trong chínhsách thuế ở mỗi quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia có nền kinh tế thịtrường phát triển lâu đời
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ để Nhà nước thiết lập
công bằng xã hội, thông qua việc điều tiết thu nhập của người nộp thuế làdoanh nghiệp để phân phối lại cho các nhu cầu khác ở tầm vóc quốc gia, ví dụnhư việc sử dụng, phân bổ các khoản thu về thuế thu nhập doanh nghiệp cho
Trang 22các nhu cầu đảm bảo phúc lợi xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩygiáo dục, y tế, bảo vệ môi trường và thúc đẩy công bằng xã hội.
Thứ tư, thuế thu nhập doanh nghiệp là nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp
đổi mới sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuấtkinh doanh và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhằm khôngngừng gia tăng thu nhập cho mình
1.1.2 Khái niệm và cấu trúc pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Xét về khía cạnh lịch sử hình thành, thuế thu nhập doanh nghiệp là sắcthuế được ra đời khá sớm ở Việt Nam, với tên gọi ban đầu là “thuế lợi tức”,được ban hành bởi Luật thuế lợi tức năm 1990 Sau 8 năm thực hiện, Luậtthuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tìnhhình kinh tế, xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế thohướng thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt là xu hướng hội nhậpquốc tế, đòi hỏi hệ thống pháp lý nói chung và hệ thống pháp lý về thuế nóiriêng phải tương thích với thông lệ chung của thế giới
Tình hình thực tế nói trên đặt ra yêu cầu cấp bách là phải cải cách, đổimới pháp luật về thuế nói chung, trong đó có các quy định về thuế thu nhậpdoanh nghiệp Đứng trước yêu cầu khách quan đó, Luật thuế TNDN đã đượcQuốc Hội ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển củanền kinh tế trong giai đoạn mới của đất nước, đó là Luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp năm 1997 (bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1999), thay choLuật thuế lợi tức
Có thể nhận thấy rằng, đây là đạo luật thuế rất quan trọng, đặt nền tảngban đầu cho việc hình thành đồng bộ các quy định về thuế thu nhập doanhnghiệp ở Việt Nam – với tư cách là loại thuế trực thu điển hình đánh vào thu
Trang 23nhập của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát sinh trên lãnhthổ Việt Nam và/hoặc ở nước ngoài.
Trong suốt quá trình phát triển của pháp luật về thuế thu nhập doanhnghiệp, đạo luật này đã được sửa đổi, bổ sung, tu chỉnh nhiều lần vào các năm
2003, 2008, 2014, 2015 nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thay đổi lớn lao củanền kinh tế đất nước trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Xét về phương diện lý thuyết, giống như bất cứ lĩnh vực pháp luật nàokhác, pháp luật thuế TNDN cũng được quan niệm là tổng hợp các quy phạmphạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình thu, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp giữa cơ quannhà nước có thẩm quyền và chủ thể nộp thuế TNDN
Ở khía cạnh cấu trúc về nội dung, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệpbao gồm các quy định cơ bản về chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứtính thuế, chế độ miễn giảm thuế, hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp
Ở khía cạnh cấu trúc về hình thức, pháp luật thuế thu nhập doanhnghiệp bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp, Luật quản lý thuế; các Nghị định và Thông tư quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2 Những vấn đề lý luận về thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và nội dung thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Khái niệm thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong khoa học pháp lý, thực hiện pháp luật được định nghĩa là hành vicủa chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp vớiquy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn
Trang 24khổ mà pháp luật đã quy định.Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự có tínhchủ động, được tiến hành bằng một thao tác nhất định nhưng cũng có thể làmột xử sự có tính thụ động, tức là không tiến hành vượt xử sự bị pháp luậtcấm.Trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các cá nhân, tổ chức tham gia vàoquan hệ pháp luật tự mình thực hiện những hành vi nhất định nhằm đạt mộtmục đích nào đó Hành vi của chủ thể có thể là làm những việc pháp luật buộcphải làm, không làm những việc mà pháp luật cấm, làm những việc mà phápluật cho phép Hành vi thực tế của các chủ thể trong những trường hợp này
đã làm cho các quy định của pháp luật được thực hiện trong thực tế, nói cáchkhác, các chủ thể đã thực hiện pháp luật
Dưới góc độ khoa học pháp lí, chỉ những xử sự phù hợp với những quyđịnh của pháp luật, được tiến hành bởi những chủ thể có đủ khả năng nhậnthức được yêu cầu của pháp luật, có khả năng tự mình xác lập, thực hiện hành
vi do pháp luật quy định thì mới được coi là biểu hiện thực tế của việc thựchiện pháp luật Việc thực hiện pháp luật có ý nghĩa to lớn trong đời sống.Bằng việc thực hiện pháp luật, các quy định của pháp luật từ trong các nguồnluật khác nhau đã đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế của các chủ thể.Nhờ đó, pháp luật phát huy vai trò của nó trên thực tế, làm cho đời sống xãhội ổn định, trật tự và có điều kiện phát triển mạnh mẽ, các quyền, lợi ích hợppháp của các cá nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ, đời sống xã hội được antoàn Thông qua việc thực hiện pháp luật, những hạn chế khiếm khuyết (nếucó) của pháp luật sẽ được bộc lộ, nhờ đó, pháp luật có thể được hoàn thiệnmột cách kịp thời
Có bốn hình thức thực hiện pháp luật, bao gồm:
Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động,
thể hiện ở sự kiềm chế của chủ thể để không vi phạm các quy định cấm đoán
Trang 25của pháp luật Ví dụ, không nhận hối lộ, không sử dụng chất ma tuý, khôngthực hiện hành vi lừa đảo, không lái xe trong tình trạng say rượu ;
Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động,
theo đó chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thểthực hiện pháp luật được Ví dụ, thực hiện nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghĩa
vụ đóng thuế, nghĩa vụ lao động công ích, nghĩa vụ nuôi dạy con cái, chămsóc ông bà, cha mẹ khi già yếu…
Sử dụng pháp luật là khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng
khai thác hay không sử dụng, khai thác, hưởng quyền mà luật đã dành chomình Ví dụ: công dân có quyền đi lại trong nước, ra nước ngoài và từ nướcngoài trở về nước theo quy định của pháp luật Nét đặc biệt của hình thứcthực hiện pháp luật này so với tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật là chủthể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật ghinhận, còn ở hai hình thức trên, việc thực hiện mang tính bắt buộc
Áp dụng pháp luật là hoạt động chức năng của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lí nhữngvấn để cụ thể thuộc trách nhiệm của mình
Từ các phân tích trên đây về các hình thức thực hiện pháp luật, có thểđưa ra khái niệm về thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Thi hành pháp luật (hay chấp hành pháp luật) thuế thu nhập doanh nghiệp là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật có liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp tiến hành các hoạt động mà pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp bắt buộc phải làm
Đặc điểm của thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Xét về phương diện lý thuyết, định nghĩa nói trên cho thấy việc thihành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp có một số đặc trưng cơ bản sau:
Trang 26Thứ nhất, chủ thể của hoạt động thi hành pháp luật thuế thu nhập
doanh nghiệp chính là các tổ chức, cá nhân với tư cách là người nộp thuế thunhập doanh nghiệp hoặc với tư cách là chủ thể khác có liên quan đến thuếthu nhập doanh nghiệp (ví dụ: chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin vềthu nhập doanh nghiệp, chủ thể có nghĩa vụ tố cáo hành vi vi phạm pháp luậtthuế thu nhập doanh nghiệp của người nộp thuế hoặc của cơ quan thuế, côngchức ngành thuế…) Các chủ thể này được pháp luật ghi nhận các quyền vànghĩa vụ pháp lý nhất định trong việc thực hiện pháp luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp, trong đó các yêu cầu của việc thi hành pháp luật thuế thunhập doanh nghiệp thường tập trung vào các nghĩa vụ pháp lý của các chủ thểnày.Chẳng hạn như:
Đối với chủ thể là người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, họ phải thihành một số nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệpnhư: đăng ký thuế, kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp, nộp thuế thu nhậpdoanh nghiệp, báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn chứng từ trong hoạt độngkinh doanh, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, cung cấp các chứng cứliên quan đến việc xin miễn, giảm, hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp hoặchưởng các ưu đãi khác về thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với chủ thể là cơ quan thuế và công chức thuế, họ phải thực hiệnmột số nghĩa vụ như kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm đối với người nộp thuếthu nhập doanh nghiệp; hướng dẫn, giải thích chính sách, hỗ trợ về thủ tụchành chính cho người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; cung cấp thông tin vàgiải trình với người nộp thuế về các hoạt động thực thi công vụ trong lĩnh vựcquản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với chủ thể là tổ chức, cá nhân khác có liên quan, họ có tráchnhiệm phải tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
Trang 27cung cấp thông tin, chứng cứ hoặc tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa
vụ thuế đối với người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp…
Thứ hai,đối tượng của việc thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp chính là các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể có liênquan đến thuế thu nhập doanh nghiệp (người nộp thuế, cơ quan thuế, côngchức ngành thuế, tổ chức và cá nhân khác có liên quan) Các quy định này đòihỏi các chủ thể liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp phải tiến hành cáchoạt động bắt buộc có tính cách như là một nghĩa vụ, trách nhiệm phải thựchiện và nếu không thực hiện thì sẽ bị chế tài.Hiện nay, pháp luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp đã và đang quy định nhiều nghĩa vụ, trách nhiệm khác nhau đốivới người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ quan thuế và công chức thuếthực thi công vụ liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp, các tổ chức và cánhân khác có liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ ba, mục đích của việc thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp là đảm bảo thực hiện đúng các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp,đồng thời góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ thuế, trong
đó có thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra, mục đích của việc thi hànhpháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn nhằm đảm bảo giữ vững trật tự,
kỷ cương, phép nước trong lĩnh vực thuế nói chung và thuế thu nhập doanhnghiệp nói riêng, từ đó tạo thói quen tốt trong cộng đồng dân cư và cộngđồng doanh nghiệp về văn hóa pháp lý mà điểm mấu chốt là văn hóa thượngtôn pháp luật
Nội dung thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong phần trên, luận văn đã làm rõ khái niệm và phân tích các đặctrưng của thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó khẳng định
rõ bản chất của việc thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là việc các
Trang 28chủ thể có liên quan chủ động thực thi các công việc có tính chất nhiệm vụ,nghĩa vụ, trách nhiệm phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nói đến nội dung thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là nóiđến các yếu tố cấu thành nên hoạt động thi hành pháp luật, trong đó có phápluật thuế thu nhập doanh nghiệp, bao gồm:
- Thi hành các quy định pháp luật về chủ thể nộp thuế thu nhập doanhnghiệp;thi hành các quy định về đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thi hành các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thi hành các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thi hành các quy định về truy thu, hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thi hành các quy định về thủ tục hành chính liên quan đến thuế thunhập doanh nghiệp;
1.2.2 Các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật thuế TNDN nhưngquan trọng nhất phải kể đến ba yếu tố, đó là hệ thống pháp luật, chủ thể thamgia thi hành pháp luật và điều kiện vật chất- kỹ thuật cần thiết đảm bảo chohoạt động thi hành pháp luật
Trước hết, cần phải khẳng định rằng yếu tố thể chế (hệ thống pháp luật)
nói chung trong đó có pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng có tácđộng trực tiếp đến kết quả thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.Điều này thể hiện ở chỗ, pháp luật sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội
và ngược lại, các quy định pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạtđộng thực hiện pháp luật nói chung cũng như tác động đến việc thi hành phápluật về thuế TNDN nói riêng Các chủ thể pháp luật căn cứ vào các quy địnhpháp luật để thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình Do đó, pháp luật được xây
Trang 29dựng một cách toàn diện, rõ ràng, minh bạch, đồng bộ, phù hợp với điều kiệnthực tiễn của đời sống kinh tế- xã hội chắc chắn sẽ là nền tảng đảm bảo choviệc thi hành pháp luật được hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể
dễ dàng thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình Hiện nay, pháp luật thuế TNDNđang dần được hoàn thiện để đáp ứng các nhu cầu đặt ra trong quá trình thihành pháp luật nhưng vẫn còn tồn tại một số bất cập, kẽ hở gây khó khăn chocác chủ thể khi tham gia pháp luật, và tạo cơ hội cho người nộp thuế trục lợibằng cách trốn thuế, gian lận tiền thuế thu nhập doanh nghiệp
Thực tế cho thấy, hoạt động quản lý thuế TNDN có đạt hiệu quả haykhông luôn phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật củaNhà nước về quản lý thuế TNDN Từ khi Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12ngày 03 tháng 6 năm 2008 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bảnsửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện và kiện toàn hệ thống cơ chế, chính sáchquản lý thuế TNDN sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam vàthông lệ quốc tế tùy từng giai đoạn Cơ chế, chính sách pháp luật là một hìnhthức thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị Quan điểm của giai cấp nàytác động trực tiếp đến việc xây dựng cơ chế, chính sách thuế; những cơ chế,chính sách đó lại tiếp tục không tạo ảnh hưởng đến quá trình thực hiện côngtác quản lý thuế Mỗi chính sách ra đời ứng với quan điểm khác nhau sẽ tạo raluồng tác động khác nhau đến các hoạt động quản lý hành chính Một hệthống cơ chế, chính sách pháp luật hoàn chỉnh, chặt chẽ, có tính đồng bộ cao,phù hợp, dễ thực hiện sẽ tăng tính hiệu quả của hoạt động quản lý thuế TNDNtrong thực tiễn Vì nó là căn cứ để NNT thực hiện nghĩa vụ, bên cạnh đó,cũng là cơ sở để cơ quan thuế tiến hành quy trình quản lý, kiểm tra, xử phạt viphạm trong trường hợp cần thiết Trái lại, hệ thống cơ chế, chính sách baogồm những nội dung quá phức tạp, khó hiểu, khó áp dụng vào thực tiễn; đồngthời, quy định không rõ ràng, nhất quán mà thủ tục hành chính lại rườm rà sẽ
Trang 30gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý thuế và NNT sẽ làm tăng chi phí hànhchính, lãng phí thời gian, giảm hiệu quả của công tác quản lý thuế TNDN.
Thứ hai,yếu tố chủ thể thi hành pháp luật hay nói cụ thể hơn là ý thức
và trình độ, năng lực nhận thức pháp luật của người thu thuế và người nộpthuế sẽ có ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật thuế TNDN
Về ý thức pháp luật, là cán bộ công chức ngành thuế và người nộp thuếcần có thái độ trung thực, tôn trọng pháp luật, thực hiện đúng quyền hạn vànghĩa vụ của mình Mọi hành vi sai trái không đúng với quy định của phápluật nhằm trục lợi cho bản thân, bòn rút NSNN đều bị ngăn cấm và bị xử phạtthích đáng Trình độ, năng lực pháp lý của chủ thể cũng có ảnh hưởng đến thihành pháp luật Một số cán bộ có trình độ pháp lý yếu kém, không nắm bắtkịp thời và vận dụng đúng các quy định của pháp luật sẽ dẫn đến bỏ xót cácsai phạm của người nộp thuế, dẫn đến việc gian lận, trốn thuế Các doanhnghiệp hiện nay đa số có nhân viên kế toán, doanh nghiệp lớn có thuê đội ngũ
tư vấn thuế hay có riêng những phòng pháp chế giúp thực hiện các nghĩa vụpháp lý về thuế vì vậy đòi hỏi trình độ của cán bộ thuế ngày càng phải nângcao Ngược lại, về phía doanh nghiệp nếu các nhân viên này có trình độ pháp
lý thấp thì việc sảy ra các sai sót trong khi thực hiện nghĩa vụ như kê khai,khấu trừ sai là không thể tránh khỏi
Thông qua công cụ pháp luật Nhà nước tạo ra tác động đến đời sốngkinh tế - xã hội của người dân cũng như các hoạt động quản lý hành chính củaCQNN, cụ thể trong luận văn này là hoạt động quản lý thuế TNDN Ý thứcchấp hành pháp luật thuế của NNT là một trong những yếu tố quan trọng cótác động phần nào tới hoạt động quản lý thuế TNDN của cơ quan chức năng,
nó là hệ quả hành vi xuất phát từ trình độ hiểu biết của mỗi người Một xã hội
có NNT với ý thức tuân thủ tốt là một xã hội có cộng đồng dân cư có dân trícao, nhận thức sâu sắc nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và trách nhiệm
Trang 31của bản thân đối với cộng đồng Thực tế, khi mỗi công dân nhận thức đúngđắn về quyền lợi an sinh xã hội và dịch vụ công cộng mà họ được thụ hưởng
là do nhà nước cung cấp, họ sẽ thấy rằng nghĩa vụ đóng thuế vào NSNN làđiều nên làm Mỗi công dân có ý thức tự nguyện chấp hành pháp luật thuếTNDN sẽ khiến cho quy trình quản lý thu thuế được thực hiện hiệu quả, thuậnlợi Từ đó, ngày càng giảm thiểu hành vi trốn thuế, đồng thời, quá trình làmviệc cũng được giải quyết một cách nhanh gọn, chính xác, kịp thời Ngược lại,nếu ý thức chấp hành pháp luật của NNT kém sẽ dẫn đến tình trạng khai thuế,nộp thuế, quyết toán thuế, thanh tra, kiểm tra thuế bị trì trệ, làm giảm hiệusuất giải quyết hồ sơ của CQT, gây khó khăn cho CQT trong việc thực hiệncông tác quản lý thuế TNDN Hậu quả khó tránh khỏi là nguồn thu thuế bịthất thoát, không đảm bảo công bằng giữa những NNT
Ý thức chấp hành pháp luật của NNT có thể từng bước cải thiện khiđược cơ quan chức năng trong lĩnh vực quản lý thuế tiến hành tuyên truyền,giáo dục đầy đủ định kì Một khi người dân thực sự am hiểu pháp luật vềthuế, có ý thức tự giác hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của bản thân thì hiệu quảcủa công tác quản lý thuế không những sẽ rất cao, mà còn phát huy được tối
đa chức năng của thuế TNDN
Thứ ba, yếu tố điều kiện vật chất - kỹ thuật trong công tác quản lý thuế
cũng được xem là nhân tố tác động đến việc thi hành pháp luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp Sở dĩ như vậy là bởi vì, khi điều kiện cơ sở vật chất đầy đủ,tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc sẽ góp phần nângcao hiệu quả quản lý thuế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệpkhi tham gia vào thực hiện nghĩa vụ về thuế Hiện nay, ngành thuế đã và đangđẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế, xây dựng cácchương trình phần mềm quản lý tập trung đối với người nộp thuế, kê khaithuế qua mạng, quản lý hóa đơn tạo điều kiện cho việc quản lý thuế được
Trang 32thống nhất, đồng bộ và dễ dàng hơn, từ đó rút gọn các thủ tục hành chínhrườm rà, phiền phức nhằm ngăn ngừa, hạn chế các sai phạm xảy ra.
Quản lý thuế TNDN là một chuỗi công việc bao gồm tiếp nhận tờ khaiđăng kí MST, cấp MST; nhận, nhập, kiểm tra tờ khai thuế; liên hệ, trao đổithông tin với các cơ quan, phòng, ban có liên quan; tuyên truyền, phổ biếnpháp luật Những công việc này đòi hỏi sự tỉ mỉ, tính chính xác cao nhưngvẫn phải đảm bảo hoàn thành đầy đủ, kịp thời để tránh thất thoát nguồn thu.Chính vì thế, muốn hoạt động quản lý thuế TNDN được diễn ra vừa nhanhchóng, hiệu quả vừa an toàn, tiết kiệm thời gian, công sức thì cơ sở vật chấtcủa cơ quan quản lý thuế phải đáp ứng được đòi hỏi của công việc Đảm bảo
cơ sở vật chất tốt phục vụ hoạt động của CQT là điều hết sức cần thiết đểcông tác quản lý thuế TNDN trơn tru hơn; đồng thời, phải phát triển hơn nữa
hệ thống cơ sở dữ liệu dành riêng cho ngành thuế, ứng dụng CNTT trong hoạtđộng quản lý thuế nhằm mục đích kiểm soát tốt thông tin và tra cứu nhanh khi
có nhu cầu tìm kiếm
Bên cạnh đó, trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức củacán bộ quản lý thuế cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo thihành pháp luật thuế nói chung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng.Trình
độ, năng lực là một dạng khả năng chuyên biệt của cá nhân nhưng lại có quan
hệ mật thiết với quá trình thực hiện hành vi Việc thực thi pháp luật thuếTNDN chịu sự tác động, chi phối bởi trình độ, năng lực quản lý của cơ quanthuế và công chức thuế Sở dĩ như vậy là bởi vì, toàn bộ quy trình của hoạtđộng quản lý thuế đều do đội ngũ này vận hành, từ ban hành văn bản, tổ chức
bộ máy quản lý, thực hiện quy định của pháp luật đến thanh tra, kiểm tra giámsát, xử lý vi phạm Các định hướng, chính sách thuế muốn được thực thi mộtcách hiệu quả, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước thì cơ quan thuế, công
Trang 33chức thuế phải có năng lực, trình độ đáp ứng được yêu cầu của xu hướng cảicách thuế theo hướng hiện đại.
Bên cạnh yếu tố về năng lực, trình độ chuyên môn thì phẩm chất đạođức của mỗi cán bộ, công chức thuế cũng tác động mạnh mẽ đến công tácquản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng Để có được một độingũ thực sự có chất lượng thì mỗi cán bộ, công chức phải là người có nhâncách tốt, luôn nhiệt huyết và có trách nhiệm với công việc được giao Ngoài
ra, khả năng giải quyết công việc một cách mềm dẻo, linh hoạt, không cửaquyền, hách dịch nhưng cũng không làm trái các quy định pháp luật là mộttrong những phẩm chất cần có của đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế tronggiai đoạn hiện nay ở Việt Nam
Trang 34Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về thuế thu nhậpdoanh nghiệp; lý thuyết thi hành pháp luật thuế TNDN thông qua việc làm rõcác vấn đề như: khái niệm, đặc điểm,vai trò thuế thu nhập doanh nghiệp; kháikhái niệm, đặc trưng, nội dung và các yếu tố tác động đến việc thi hành phápluật thuế thu nhập doanh nghiệp
Trên cơ sở nêu lên các quan điểm lý luận về thuế thu nhập doanhnghiệp; pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp; thi hành pháp luật thuế thunhập doanh nghiệp, luận văn đã phân tích, tổng hợp những hệ thống quanđiểm khác nhau của các nhà nghiên cứu khoa học Đây là kiến thức nền quantrọng để luận văn đi sâu vào việc giải quyết những nội dung được đặt ra ở cácchương tiếp theo của luận văn
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Thái Nguyên có ảnh hưởng đến việc thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên được tái lập ngày 1/1/1997 trên cơ sở tách tỉnh BắcThái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên là trung tâmchính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đôngbắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núivới vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tâygiáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh LạngSơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 70 km); diệntích tự nhiên 3.562,82 km²
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế Nội Bài
50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km và cảng Hải Phòng 200 km TháiNguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt,đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường Quốc lộ 3 nối HàNội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc; Quốc lộ 1BLạng Sơn; Quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang Hệ thống đường sông Đa Phúc -Hải Phòng; đường sắt Thái Nguyên – Hà Nội - Lạng Sơn
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên;thành phố Sông Công, thị xã Phổ Yên và 6 huyện: Phú Bình, Đồng Hỷ, VõNhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số 178 đơn vị hành chính cấp xã,bao gồm 32 phường, 9 thị trấn và 137 xã
Trang 36Địa hình Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du,miền núi khác, chủ yếu là đồi núi thấp, chạy theo hướng Bắc Nam, thấp dần
từ Bắc xuống Nam, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp và xây dựng cáccông trình công nghiệp
Dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc chủyếu sinh sống đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, H’mông, Sán Chay, Hoa vàDao Ngoài ra, Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạonguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 6 trườngđại học, 11 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạynghề, mỗi năm đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động
Tài nguyên nông nghiệp: Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai,Thái Nguyên có nhiều khả năng phát triển nông lâm nghiệp Chè TháiNguyên, đặc biệt là chè Tân Cương là sản phẩm nổi tiếng trong cả nước ViệtNam đã từ lâu Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 73.383 ha và rừng trồnghơn 40.000 ha, hiện nay đã đến tuổi khai thác Diện tích đất đồi còn rất lớn,
đó là tiềm năng để phát triển hàng hoá về cây công nghiệp, cây ăn quả và pháttriển đàn gia súc
Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phongphú về chủng loại, đó là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển cácngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng… Tỉnh Thái Nguyên khuyếnkhích các dự án đầu tư chế biến sâu khoáng sản
Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước Than
mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn và than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn
2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Thái Nguyên
Về điều kiện kinh tế
Công nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển của kinh tế Thái
Trang 37Nguyên Những thành tựu quan trọng có thể kể đến là: Tốc độ tăng trưởngkinh tế (GRDP) bình quân 11,1%/năm; GRDP bình quân đầu người tăng từ 51triệu đồng/người năm 2015 lên 90 triệu đồng/người năm 2020; giá trị sản xuấtcông nghiệp tăng bình quân 16,3%/năm, vươn lên đứng thứ 2 trong vùng Thủ
đô Hà Nội, đứng đầu vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ; giá trị xuất khẩutrên địa bàn tăng bình quân 13,1%/năm về trước mục tiêu Nghị quyết 2 năm.Tổng thu NSNN trong cân đối tăng bình quân 16,3%/năm (từ 7.484 tỷ đồngnăm 2015 lên 15.555 tỷ đồng năm 2020), với kết quả này, trong 5 năm liêntiếp (2015 - 2019), Thái Nguyên là tỉnh đứng thứ nhất trong các tỉnhvùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, đứng thứ 17 trong cả nước về thu ngânsách.Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện với chỉ số năng lựccạnh tranh cấp tỉnh (PCI) xếp thứ 12/63 tỉnh, thành phố (tăng 6 bậc so vớinăm 2018);Chỉ số cải cách hành chính - Par Index xếp thứ 14/63, tăng 04 bậc
so với năm 2018, tăng 16 bậc so với năm 2017, tăng 40 bậc so với năm 2016;chỉ số hài lòng của người dân - SIPAS hàng năm đều đạt trên 80%, riêng năm
2017 Thái Nguyên là 1 trong 3 tỉnh dẫn đầu cả nước về chỉ số này (tỉnh TháiNguyên, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Ninh Bình)
Kết quả của công tác cải cách hành chính (CCHC) chính là chìa khóavàng để Thái Nguyên thực hiện thành công thu hút đầu tư trên địa bàn.Trong giai đoạn 2016 - 2020, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã thực hiện trênđịa bàn tỉnh đạt 238 nghìn tỷ đồng Thu hút đầu tư nước ngoài 156 dự án vớitổng vốn đầu tư đăng ký gần 8,3 tỷ USD Khu vực Doanh nghiệp ngoài nhànước tiếp tục phát triển với số lượng đăng ký thành lập mới bình quân mỗinăm khoảng 350 doanh nghiệp Đặc biệt, từ sau Hội nghị Xúc tiến đầu tưnăm 2018 được tổ chức với quy mô và tầm vóc lớn nhất trong nhiệm kỳ, đếnnay đã có 41 nhà đầu tư đang triển khai 53 dự án với tổng vốn đăng ký đầu
tư 108.961 tỷ đồng Hiện có 29/53 dự án đã hoàn thành về thủ tục đầu tư;
Trang 3824/53 dự án đang hoàn thiện các thủ tục về đầu tư Riêng các KCN trên địabàn tỉnh Thái Nguyên hiện thu hút được trên 120.000 lao động, với thu nhậpbình quân gần 7 triệu đồng/tháng.
Hiện nay Thái Nguyên đã và đang triển khai các khu công nghiệp sau:+ KCN Nam Phổ Yên (120 ha), thuộc T.X Phổ Yên
+ KCN Điềm Thuỵ (350ha) thuộc huyện Phú Bình
+ KCN Quyết Thắng (105ha đang triển khai) thuộc thành phố Thái Nguyên.+ KCN Yên Bình (400ha) thuộc T.X Phổ Yên
+ KCN Sông Công II (250ha) đang triển khai, hiện đang mở rộng lên450ha) thuộc thành phố Sông Công
+ KCN Sông Công I (195ha) thuộc thành phố Sông Công
Ngoài ra, Thái Nguyên đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý bổ sungKhu Công nghệ thông tin tập trung Yên Bình – Giai đoạn 1 với quy mô 200havào Quy hoạch tổng thể phát triển Khu CNTT tập trung Quốc gia đến năm
2020 và định hướng đến năm 2025
Nhìn chung, ngoài các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDIđang triển khai trên địa bàn, các doanh nghiệp, tập đoàn địa phương củaThái Nguyên cũng tương đối mạnh và đa dạng ngành nghề, từ kinh doanhsắt thép, nguyên vật liệu cho tới bất động sản, khai khoáng, may mặc,hàng tiêu dùng Trong danh sách top 500 thương hiệu mạnh Việt Namnăm 2019, Thái Nguyên đóng góp tới 6 doanh nghiệp (nếu không tínhSAMSUNG ELECTRONICS VIỆT NAM THÁI NGUYÊN) và đều có thứhạng cao trong danh sách
GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt trên 90 triệu đồng/người,gấp 1,76 lần so với năm 2015 Năng suất lao động bình quân chung các
Trang 39ngành kinh tế của tỉnh năm 2020 đạt trên 140 triệu đồng/lao động, gấp 1,5lần so với năm 2015.
Về văn hóa, xã hội
Văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Hệ thống giáo dục
và đào tạo có bước phát triển; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dụcđược quan tâm về chất lượng (100% đạt chuẩn trở lên) Chất lượng giáo dụcđại trà, giáo dục mũi nhọn, giáo dục thường xuyên được nâng lên Cơ sở vậtchất, trang thiết bị dạy học từng bước được đầu tư; đã bước đầu hình thànhcác cơ sở giáo dục ngoài công lập chất lượng cao
2.2 Thực trạng thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2.2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Như đã đề cập ở trên, nội dung cơ bản của pháp luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp bao gồm các nhóm quy định cơ bản sau đây:
Các quy định về chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong quá trình thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, việcxác định rõ chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp luôn đóng vai trò quantrọng, bởi lẽ nếu không xác định chính xác chủ thể này thì sẽ không thể xácđịnh được ai là người phải thi hành pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, do
đó cũng không thể đảm bảo được việc thi hành pháp luật thuế thu nhập doanhnghiệp một cách hiệu quả nhất
Tại Việt Nam hiện nay, Khoản 1 Điều 2 Luật thuế TNDN hiện hànhquy định chủ thể nộp thuế TNDN là:
Tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thunhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm: a) Doanhnghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; b)
Trang 40Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nướcngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trúhoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; c) Tổ chức đượcthành lập theo Luật Hợp tác xã; d) Đơn vị sự nghiệp được thành lậptheo quy định của pháp luật Việt Nam; đ) Tổ chức khác có hoạtđộng sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
Theo quy định nói trên, tổ chức được coi là chủ thể nộp thuế TNDN khithỏa mãn các điều kiện sau:
(i) Được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam
Để xác định điều kiện này có thỏa mãn hay không, các chủ thể có liênquan (người nộp thuế, cơ quan thuế) phải căn cứ vào các tài liệu minh chứngviệc tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp ở Việt Nam (ví dụ: quyếtđịnh thành lập hoặc cho phép thành lập doanh nghiệp, điều lệ của doanhnghiệp, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm ngườiđứng đầu doanh nghiệp…)
(ii) Có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ở nướcngoài, bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập
từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượngquyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chếbiến khoáng sản; thu nhập từ quyền sử dụng tài sản, quyền sở hữu tài sản, kể
cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; thu nhập từchuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản (trong đó có các loại giấy tờ cógiá); thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; khoản thu từ nợ khóđòi đã xóa nay đòi được; khoản thu từ nợ phải trả không xác định được chủ;khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoảnthu nhập khác