1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở việt nam

105 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 641,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi nghiêncứu của đề tài, luận văn đã tiếp cận một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đãđược công bố như: Đề tài khoa học cấp trường, trường Đại học Luật Hà Nội, Hoàn thiện phá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ KIM NGUYỆT

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Dương Thị Hà Phương

Trang 4

NÔNG TRẠI CHĂN NUÔI VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TỪ CÁC NÔNG TRẠI CHĂN NUÔI 7 1.1 Một số vấn đề lý luận về chất thải từ các nông trại chăn nuôi

và quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 7

1.1.1 Khái niệm, phân loại 71.1.2 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường và con người

81.1.3 Khái niệm nông trại chăn nuôi và quản lý chất thải từ các nông

trại chăn nuôi 12

1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải từ các

nông trại chăn nuôi 16

1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

161.2.2 Đặc điểm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải từ các

nông trại chăn nuôi 181.2.3 Nội dung pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

201.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý chất thải từ các

nông trại chăn nuôi 22

Trang 5

1.3 Pháp luật về quản lý chất thải chăn nuôi của một số quốc gia

trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TỪ CÁC NÔNG TRẠI CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM 32

2.1 Các quy định của pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi 32

2.1.1 Các quy định về giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi 32

2.1.2 Trách nhiệm đánh giá tác động môi trường, đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường của chủ các dự án liên quan đến chất thải từ các nông trại chăn nuôi 38

2.1.3 Các quy định về chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi và quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi .42

2.2 Các quy định pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường liên quan đến chất thải từ các nông trại chăn nuôi .44

2.3 Trách nhiệm pháp lý của các chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan đến quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 46

2.3.1 Trách nhiệm hành chính 46

2.3.2 Trách nhiệm dân sự 50

2.3.3 Trách nhiệm hình sự 52

2.4 Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 53

2.4.1 Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền chung 53

2.4.2 Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền chuyên môn 55

Trang 6

2.5 Thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý chất thải từ các

nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 56

2.6 Đánh giá pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 60

2.6.1 Kết quả đạt được 60

2.6.2 Hạn chế, vướng mắc của pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TỪ CÁC NÔNG TRẠI CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM 67

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 67

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 74

3.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật 74

3.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt Nguyên nghĩa

Nghị định số

155/2016/NĐ-CP

Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày18/11/2016 của Chính phủ quy định về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo

vệ môi trườngNghị định số 38/2015/NĐ-CP Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày

24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải

và phế liệu

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

Bảng 1.1 Quy định về nước thải xả ra môi trường của Nhật Bản 28Bảng 2.1 Hiện trạng xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi 58Hình 1.1 Dòng chảy sinh dưỡng và sự phát tán các yếu tố gây ô

nhiễm môi trường từ một số trang trại chăn nuôi lợn ở

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung và chuyên môn hóa cao đang

là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa sảnxuất nông nghiệp của nước ta trong thời kỳ phát triển mới Trong những nămqua, ngành chăn nuôi nước ta phát triển theo hướng tập trung, nâng cao quy

mô và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đáp ứng cơ bản nhu cầu thựcphẩm ngày càng cao của xã hội Cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiệnđại hóa đất nước, ngành chăn nuôi nước ta đang có những dịch chuyển nhanhchóng từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi quy mô lớn Việc phát triển chănnuôi theo phương thức sản xuất hàng hóa quy mô trang trại trong những nămgần đây đã góp phần khai thác tốt hơn các tiềm năng và lợi thế của địaphương như: đất đai, lao động, huy động nguồn vốn của nhân dân, góp phầnchuyển đổi tích cực cơ cấu cây trồng, vật nuôi Trang trại chăn nuôi phát triểngiúp chủ trang trại và các lao động trong trang trại nâng cao thu nhập, tạothêm việc làm cho nhiều lao động trên địa bàn, góp phần xóa đói, giảm nghèo

ở vùng nông thôn, tạo ra xu thế và nhu cầu hợp tác mới trong sản xuất ở khuvực nông thôn

Tuy nhiên, chăn nuôi theo hướng trang trại và các làng nghề chăn nuôimang tính hàng hóa được hình thành và phát triển đã tạo ra một lượng chấtthải rất lớn, việc xử lý chất thải chăn nuôi không triệt để gây sức ép đến môitrường khiến cho vấn đề vệ sinh môi trường trở thành một vấn đề cấp thiếtcần được sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội Chất thải chănnuôi tác động đến môi trường và sức khỏe con người trên nhiều khía cạnh:Gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường khí, môi trường đất vàcác sản phẩm nông nghiệp Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh

Trang 10

chức y tế thế giới (WHO) đã cảnh báo, nếu không có biện pháp thu gom và

xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sứckhỏe con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đặc biệt

là các virus biến thể từ các dịch bệnh như: lở mồm long móng, dịch bệnh taixanh ở lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể cướp đi sinh mạng của rấtnhiều người Cùng với đó, lĩnh vực BVMT trong chăn nuôi vẫn còn là mộtlĩnh vực mới được quan tâm; chất thải là chất thải hữu cơ dễ phân hủy trongmôi trường tự nhiên nên chưa thu hút được sự chú ý cao trong nghiên cứukhoa học và quản lý nhà nước so với các lĩnh vực khác

Để góp phần thực hiện hiệu quả công tác quản lý chất thải từ các nôngtrại chăn nuôi ở Việt Nam thì việc đi sâu nghiên cứu, phân tích các quy địnhcủa pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam, từ

đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lýchất thải từ các nông trại chăn nuôi là việc làm cần thiết Chính vì vậy, tác giả

đã chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại

chăn nuôi ở Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta hiện nay đã có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

từ luật đến dưới luật điều chỉnh vấn đề quản lý chất thải chăn nuôi như: LuậtBảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014, Luật Bảo vệ môitrường số 72/2020/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2020 và cóhiệu lực thi hành từ 01/01/2022, Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14 ngày19/11/2018, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ vềquản lý chất thải và phế liệu, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựcBVMT, … Ngoài các quy định chung nêu trên, hiện nay còn có một số cácquy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan tới hoạt động quản lý chất thải chăn

Trang 11

nuôi đã được ban hành như: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trạichăn nuôi lợn an toàn sinh học QCVN 01-14:2010/BNNPTNT; Quy chuẩn kỹthuật quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học QCVN01-15:2010/BNNPTNT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi

- QCVN 62-MT:2016/BTNMT… đã góp phần chuẩn hóa công tác quản lýchất thải chăn nuôi tại Việt Nam

Đề tài pháp luật về quản lý chất thải nói chung và chất thải chăn nuôinói riêng đã được các học giả quan tâm nghiên cứu Trong phạm vi nghiêncứu của đề tài, luận văn đã tiếp cận một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đãđược công bố như: Đề tài khoa học cấp trường, trường Đại học Luật Hà Nội,

Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải, Nguyễn Văn Phương (chủ nhiệm

đề tài), Lưu Ngọc Tố Tâm (thư ký), Vũ Thu Hạnh, Vũ Duyên Thủy, Đặng

Hoàng Sơn (2008); Luận án tiến sĩ sinh học “Nghiên cứu vi sinh vật để xử lý chất thải chăn nuôi dạng rắn”, Phạm Bích Hiên, trường Đại học Khoa học

Tự nhiên, 2012; Bài giảng Quản lý chất thải chăn nuôi của tác giả Bùi Hữu

Đoàn, Nxb Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011; bài viết

“Chính sách pháp luật về quản lý chất thải nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam”, Nguyễn Văn Phương, Tạp chí Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Số 12/2013; bài viết “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam”, Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 12/2014; bài viết Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi quy mô trang trại và đề xuất giải pháp quản lý toàn diện chất thải chăn nuôi, Nguyễn Thế Hinh, 2017; bài viết “Pháp luật môi trường ở Việt Nam hiện nay”, Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Khoa học Xã hội

Việt Nam, số 03/2018; bài viết “Chương trình quản lý chất thải chăn nuôi

tổng hợp (IWM) của Dự án LCASP”, Bản tin chuyên đề khoa học Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 02-2019, Nguyễn Thế Hinh, 2019;

Trang 12

Có thể thấy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án, bàiviết nhưng những công trình này chủ yếu đề cập đến pháp luật về môi trường

và quản lý chất thải nói chung hoặc quản lý chất thải chăn nuôi dưới góc độcác yếu tố kỹ thuật, nghiên cứu về ô nhiễm môi trường chăn nuôi, mà chưa

đi sâu vào nghiên cứu về pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chănnuôi Hơn nữa, trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bảnhướng dẫn thi hành chưa có các quy định về quản lý chất thải từ các nông trạichăn nuôi được tập hợp trong một chương độc lập Vấn đề này được ban hànhxen kẽ trong các quy định về quản lý chất thải và nằm rải rác ở những văn bảnpháp luật do nhiều cơ quan khác nhau ban hành dẫn đến quá trình thực thi khótránh khỏi những vướng mắc, trở ngại Mặt khác, từ khi các văn bản pháp luậtđiều chỉnh vấn đề quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi được ban hànhchưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu, đánh giá một cách tổngquát, chuyên sâu pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Pháp luật về quản lý chất thải

từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam” với mong muốn có một công trình

khoa học phân tích và tổng hợp một cách hệ thống các quy định của pháp luậthiện hành về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam; từ đóđưa ra một số kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải từcác nông trại chăn nuôi cho phù hợp với thực tế, góp phần để hoạt động quản

lý chất thải chăn nuôi được thực hiện hiệu quả hơn trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống các quy định pháp luật

hiện hành của Việt Nam về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi và thựctiễn thi hành pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Pháp luật về quản lý chất thải là một

phạm trù nghiên cứu rộng, do vậy luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề pháp

lý về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi và không nghiên cứu các

Trang 13

loại chất thải khác Phân tích các quy định của pháp luật đối với lĩnh vực quản

lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam, từ đó rút ra kết luận làm

cơ sở cho việc đề ra những phương hướng và giải pháp trong thời gian tới

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải chăn nuôi, quản

lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi, pháp luật về quản lý chất thải từ cácnông trại chăn nuôi ở Việt Nam

Hai là, nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các yếu tố tác độngđối với hoạt động quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam

Ba là, phân tích, đánh giá pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trạichăn nuôi ở Việt Nam, từ đó tìm ra những điểm tích cực, những mặt còn hạnchế, vướng mắc của pháp luật hiện hành

Bốn là, đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chănnuôi ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, lýluận chung về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng, Nhà nước vềBVMT nói chung và pháp luật về quản lý chất thải chăn nuôi nói riêng

Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết đã sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, logic, so sánh, được sử dụng khinghiên cứu tại chương 1: Một số vấn đề lý luận về chất thải từ các nông trạichăn nuôi và pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

- Phương pháp hệ thống, đánh giá, bình luận, đối chiếu, được sử dụngkhi nghiên cứu tại chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý chất thải từ cácnông trại chăn nuôi ở Việt Nam

Trang 14

- Phương pháp tổng hợp, chứng minh, quy nạp, được sử dụng khinghiên cứu tại chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Với những nội dung được trình bày, luận văn sẽ gópphần hoàn thiện hệ thống lý luận về quản lý chất thải chăn nuôi và pháp luật

về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Là một đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật

về lĩnh vực quản lý chất thải chăn nuôi, tác giả hi vọng luận văn có giá trịtham khảo nhất định, trước hết đối với những người quan tâm về vấn đề quản

lý chất thải chăn nuôi ở góc độ pháp lý và là nguồn tham khảo hữu ích trongviệc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn học Luật Môi trường

Dựa trên những phân tích tổng hợp về pháp luật quản lý chất thải từ cácnông trại chăn nuôi ở Việt Nam, một số kiến nghị của đề tài có giá trị thamkhảo đối với các cơ quan xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về BVMT,pháp luật về quản lý chất thải nói chung và pháp luật về quản lý chất thải từcác nông trại chăn nuôi nói riêng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận vănđược trình bày thành 03 chương, với nội dung chính là:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chất thải từ các nông trại chăn

nuôi và pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại

chăn nuôi ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp

luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT THẢI TỪ CÁC NÔNG TRẠI CHĂN NUÔI VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TỪ CÁC

NÔNG TRẠI CHĂN NUÔI

1.1 Một số vấn đề lý luận về chất thải từ các nông trại chăn nuôi và quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm, phân loại

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa,nguyên vật liệu, năng lượng, … không ngừng gia tăng đã khiến vấn đề chấtthải trở thành vấn nạn lớn không chỉ với riêng nước ta mà còn trên toàn cầu.Theo cách hiểu thông thường, chất thải được hiểu là những chất không còn sửdụng được nữa, được con người thải ra trong các hoạt động khác nhau

Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: “Chất thải là rác thải và những đồ vật bị bỏ đi nói chung” Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo

vệ môi trường năm 2014 cũng đã đưa ra định nghĩa về chất thải: “Chất thải

là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.

Khoản 1 Điều 59 Luật Chăn nuôi năm 2018 định nghĩa về chất thải

chăn nuôi:“Chất thải chăn nuôi bao gồm chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ, nước thải chăn nuôi, khí thải và chất thải khác”.

Các chất thải chăn nuôi được tạo ra trong quá trình chăn nuôi gia súc,gia cầm, bao gồm:

- Chất thải của bản thân gia súc, gia cầm như phân, nước tiểu, lông,vảy, da và các phủ tạng loại thải của gia súc, gia cầm …

- Nước thải từ quá trình tắm gia súc, rửa chuồng hay rửa dụng cụ vàthiết bị chăn nuôi, nước làm mát hay từ các hệ thống dịch vụ chăn nuôi…

Trang 16

- Thức ăn thừa, các vật dụng chăn nuôi, thú y bị loại ra trong quá trìnhchăn nuôi.

Căn cứ vào mức độ tác động của chất thải đến môi trường xung quanh,chất thải chăn nuôi được phân thành 02 loại: chất thải thông thường và chấtthải nguy hại

Có thể thấy, chất thải chăn nuôi nếu không được xử lý hiệu quả sẽ làmột trong những nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trường, làm ảnh hưởng đến

sự sinh trưởng, phát triển của gia súc, gia cầm và đời sống, sức khỏe của conngười Vì vậy, cần phải có biện pháp thích hợp để xử lý và quản lý chất thảichăn nuôi nhằm khống chế ô nhiễm, tận dụng nguồn chất thải giàu hữu cơ vàomục đích phát triển kinh tế

1.1.2 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường và con người

Bên cạnh những mặt thuận lợi và những hiệu quả đáng kể mà ngành chănnuôi mang lại thì hoạt động chăn nuôi đã và đang phát sinh nhiều yếu tố tiêu cựcảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng cuộc sống người dân cũng nhưchất lượng môi trường Lượng lớn chất thải bao gồm rác thải, phân gia súc giacầm, nước thải, mùi hôi … phát sinh từ các hoạt động chăn nuôi đã trở thành vấn

Trang 17

đề bức xúc và nan giải cho chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư.

Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đối với môi trường

Chất thải chăn nuôi chưa được xử lý thải trực tiếp ra môi trường(nghĩa là đổ trực tiếp trên đất, ao, kênh, mương, sông ngòi) tích tụ vượt quákhả năng tiếp nhận của khu vực đất hay nước, dẫn đến việc các chất hữu cơ,mầm bệnh và dư lượng hóa chất từ chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm nghiêmtrọng cho đất, nước mặt và nước ngầm, cũng như chất lượng không khí tạikhu vực tiếp nhận đó [78]

- Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước thường xảy ra thông qua nhiều conđường như xả thải trực tiếp chất thải rắn và nước thải chăn nuôi chưa qua xử

lý một cách thích hợp vào môi trường Lượng chất thải này chảy vào nguồnnước, ngấm vào tầng nước ngầm, được trải đều trên đất và lắng đọng các chấtgây ô nhiễm không khí trên bề mặt nước gây ô nhiễm cả nước mặt và nướcngầm ở nhiều cấp độ khác nhau Các phù du sinh vật, rong tảo phát triển dẫnđến giảm dinh dưỡng và oxy trong nước, phá hủy môi trường sinh thái nước.Việc ô nhiễm nguồn nước dẫn đến việc nhiều hộ dân không có nước sinhhoạt; là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, mẩnngứa, ghẻ lở, … ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng

- Ô nhiễm đất: Chất thải động vật từ các cơ sở chăn nuôi thải trực tiếptrên đất nông nghiệp mà không có một kế hoạch quản lý dinh dưỡng thíchhợp đã gây ra vấn đề quá tải phân cho đất, rối loạn độ phì của đất, gây phìdưỡng và ô nhiễm đất Các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loàisinh vật có ích như giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống,ếch nhái … làm cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phátsinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng Bên cạnh nồng độ cao các chất dinhdưỡng, phân vật nuôi có nguồn gốc chăn nuôi công nghiệp thường chứa nhiềukim loại khác nhau như đồng (Cu), kẽm (Zn), Cadimi (Cd), … trong quá trìnhtrao đổi chất không tiêu hóa hết bài tiết ra ngoài có thể khiến đất bị ô nhiễm

Trang 18

kim loại nặng và mất khả năng sản xuất nông nghiệp (thông thường phải thayđổi mục đích sử dụng đất trong một giai đoạn nhất định vì hàm lượng kimloại nặng xâm nhập vào đất nông nghiệp và tồn lưu trong các loại nông sản,

có hại cho con người và vật nuôi nếu sử dụng)

- Ô nhiễm không khí: Quá trình phân hủy và mục rữa của các chất hữu

cơ trong phân, nước tiểu động vật và thức ăn thừa tạo ra các khí CO2, CH4,

NH3, N2O, H2S, vi khuẩn, nội độc tố, các hợp chất hữu cơ bay hơi, các chất cómùi hôi và những phân tử hạt mịn Ở những khu vực chăn nuôi có chuồng trạithông thoáng kém thường dễ tạo ra các khí độc ảnh hưởng trực tiếp, gây pháttán dịch bệnh, các bệnh nghề nghiệp cho công nhân chăn nuôi và ảnh hưởngtới sức khỏe của người dân xung quanh khu vực chăn nuôi

Sommer & Jensen đã đưa ra mô hình về mối quan hệ giữa chăn nuôi vàcác yếu tố ô nhiễm môi trường theo hình 1.1

Hình 1.1 Dòng chảy sinh dưỡng và sự phát tán các yếu tố gây ô nhiễm môi

trường từ một số trang trại chăn nuôi lợn ở Việt Nam

(Nguồn: Phạm Bích Hiên (2012), Nghiên cứu vi sinh vật để xử lý chất thải chăn nuôi dạng rắn, Luận án tiến sĩ sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên)

Chất thải chăn nuôi cũng là một trong những nhân tố chính góp phầntạo ra khí nhà kính Các nhà nghiên cứu ước tính chăn nuôi gây ra 18% khí

Trang 19

gây hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên, lớn hơn cả phần dogiao thông vận tải gây ra Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương thế giới(FAO), chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lượng Nitơ oxit (N2O) trongkhí quyển Đây là loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời cao gấp

296 lần so với khí CO2 Động vật nuôi còn thải ra 9% lượng khí CO2 toàn cầu,37% lượng khí Methane (CH4) – loại khí có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lầnkhí CO2 Các khí CO2, CH4, N2O là 3 loại khí hàng đầu gây hiệu ứng nhà kính

và làm tăng nhiệt độ trái đất [30, 39]

Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đối với con người

Các chuồng trại chăn nuôi, các nguồn chất thải chăn nuôi là nguồn phátsinh tác nhân gây bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người và vậtnuôi Phân, nước thải từ các cơ sở chăn nuôi và xác gia súc, gia cầm chết(thường do các nguyên nhân bệnh lý) có chứa các loại mầm bệnh như ký sinhtrùng (trứng, ấu trùng giun sán), các vi sinh vật gây hại (khuẩn E.coli,Salmonella, Shigella, …) và một số loại virus gây bệnh (ví dụ như H5N1,H1N1) có thể được truyền sang người và gây ra các bệnh nghiêm trọng hoặcdịch bệnh Các mầm bệnh và độc tố có thể được lưu giữ trong đất trong thờigian dài hay lan truyền trong môi trường nước và không khí, gây nguy hiểmcho người, vật nuôi và khu hệ sinh vật trên cạn hay dưới nước Nhiều loạibệnh như tả, lỵ, thương hàn, … từ động vật bị bệnh lây truyền sang người quathực phẩm, qua con đường “phân – miệng” hoặc qua việc giết mổ gia súc bịnhiễm bệnh Các khí thải H2S, NH3, CH4, CO2, … phát sinh từ phân, nước thảiđộng vật, quá trình thối rữa thức ăn thừa và xác động vật gây mùi hôi thối khóchịu, kích thích trung khu hô hấp của con người và vật nuôi [35] Các khí độcnày tùy theo nồng độ mà gây cho người mệt nhọc, đau đầu, khó thở, co giật

và có thể tử vong Với gia súc có thể làm giảm lượng thức ăn tiêu thụ, có hiệntượng thần kinh không bình thường, giảm tốc độ sinh trưởng

Trang 20

Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật, chất thảichăn nuôi còn ảnh hưởng đến nền kinh tế: Chất thải chăn nuôi gia súc chứahàm lượng dinh dưỡng tương đối cao, nếu được xử lý đúng cách có thể trởthành nguồn phân bón hữu cơ tốt thay thế phân vô cơ Điều này không chỉ tiếtkiệm chi phí sản xuất đáng kể cho nông dân mà còn giúp duy trì độ phì củađất và làm giảm thoái hóa đất.

Như vậy, có thể thấy, chất thải chăn nuôi nếu không được quản lý đúngcách không chỉ gây ô nhiễm môi trường ở nhiều mức độ khác nhau, gây lãngphí nguồn tài nguyên phân bón tốt mà còn gây thiệt hại cho xã hội vì tốn kémcho việc dọn sạch, phục hồi các hệ sinh thái bị hư hại và môi trường ô nhiễmtại địa phương Khi một hệ sinh thái đã bị hư hại, đa dạng sinh học bị mất đi,môi trường bị ô nhiễm và y tế công cộng bị ảnh hưởng thì vô cùng khó khăn

và tốn kém để khôi phục

1.1.3 Khái niệm nông trại chăn nuôi và quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Để chỉ các hình thức tổ chức sản xuất tập chung, các nước đều có ngôn

từ riêng dùng để biểu đạt như Farm, farm stedd, farm house (Anh); Ferme(Pháp); … khi chuyển sang tiếng Việt dịch là trang trại hay nông trại TheoFAO (1997), nông trại là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiện hoạtđộng sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ

Trong từ điển tiếng Việt, nông trại (hay trang trại – từ đồng nghĩa)được hiểu một cách khái quát là: “trại lớn sản xuất nông nghiệp” Trong cáctài liệu nghiên cứu, các trang trại thường gắn với ngành sản xuất nông, lâm,ngư nghiệp gọi là “nông trại”, “lâm trại”, “ngư trại” để phân biệt chuyênngành sản xuất của các trang trại Căn cứ vào lĩnh vực sản xuất, nông trạiđược phân loại thành các nhóm nông trại chuyên ngành: (i) Nông trại trồngtrọt; (ii) Nông trại chăn nuôi

Trang 21

Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT ngày 28/02/2020

của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định “trang trại chuyên ngành được xác định theo lĩnh vực sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, diêm nghiệp và tỷ trọng giá trị sản xuất của lĩnh vực chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản xuất của trang trại trong năm”.

Như vậy, có thể hiểu nông trại chăn nuôi là một loại hình trang trại,trong đó hoạt động sản xuất chủ yếu là các hoạt động chăn nuôi theo hìnhthức chăn nuôi trang trại Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sửdụng của một người chủ độc lập Sản xuất được tiến hành với quy mô ruộngđất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lýsản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra cácloại sản phẩm hàng hóa phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường

Trong những năm qua, các nông trại chăn nuôi không ngừng phát triển

và tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng, đáp ứng cơ bản nhu cầu thựcphẩm ngày càng cao của xã hội, góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế

- xã hội Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc tăng trưởng nhanh và mạnhcác nông trại chăn nuôi tạo ra lượng chất thải rất lớn, hàng triệu tấn mỗi năm,gây sức ép lớn cho môi trường sinh thái và là một trong những nguyên nhângây ra hiệu ứng nhà kính nếu không được quản lý một cách có hiệu quả

Khái niệm quản lý chất thải được định nghĩa lần đầu tiên tại Thông tư số1590/1997/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 03/4/1997 về các biện pháp cấp bách

trong quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp, theo đó “Quản lý chất thải là các hoạt động nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu sản sinh chất thải đến thu gom, vận chuyển, xử lý (tái chế, tái sử dụng), tiêu hủy (thiêu đốt, chôn lấp) chất thải và giám sát các địa điểm tiêu hủy chất thải”.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 ghi nhận “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái

Trang 22

sử dụng, tái chế và xử lý chất thải” Xuất phát từ đặc tính của chất thải dù ít

hay nhiều luôn chứa đựng những yếu tố không có lợi cho môi trường và sứckhỏe con người, việc quản lý chất thải là một quy trình khép kín Nhữnghoạt động này đòi hỏi phải có sự gắn kết chặt chẽ và tuần tự nhằm tiêu hủytriệt để sự nguy hại của chất thải từ giai đoạn phát sinh đến giai đoạn xử lý,tiêu hủy hoàn toàn

Như vậy, từ những khái niệm về quản lý chất thải nói chung, có thể đưa

ra một khái niệm về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi như sau:

Quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi là sự kết hợp kiểm soát toàn bộ hoạt động từ khi phát sinh đến thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, tái chế, tái sử dụng bằng những biện pháp tốt nhất nhằm ngăn ngừa những hậu quả nguy hiểm của chất thải từ các nông trại chăn nuôi đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế tất cả các vấn

đề môi trường liên quan.

Qua khái niệm này có thể thấy, quản lý chất thải từ các nông trại chănnuôi ở Việt Nam được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Chủ thể thực hiện quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Cũng giống như hoạt động quản lý chất thải nói chung, việc quản lýchất thải từ các nông trại chăn nuôi được thực hiện bởi hai nhóm chủ thể lànhà nước và tổ chức, cá nhân

Nhà nước thực hiện quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi thôngqua hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong BVMT Đây là

hệ thống cơ quan được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, chịu tráchnhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các hoạt động quản

lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi của các tổ chức và cá nhân trong xã hộithông qua việc ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về chất thải chăn nuôi, quy

Trang 23

định trách nhiệm của các chủ thể trong xử lý chất thải chăn nuôi; tiến hànhviệc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các quy định về quản lý chấtthải và xử lý các vi phạm pháp luật đối với nội dung này.

Cùng với Nhà nước, quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi cònđược thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân trong xã hội Đó là các chủ nguồnthải (tổ chức, cá nhân sở hữu nông trại chăn nuôi); chủ thu gom, vận chuyểnchất thải; cộng đồng dân cư Nhóm chủ thể này thực hiện quản lý chất thải từcác nông trại chăn nuôi thông qua việc áp dụng các biện pháp để giảm thiểuchất thải chăn nuôi, phân loại, thu gom, xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thảichăn nuôi hay giám sát việc thực hiện quản lý chất thải chăn nuôi của các chủnguồn thải … Hiệu quả quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi phụ thuộckhông nhỏ vào mức độ và khả năng thực hiện các hoạt động quản lý củanhóm chủ thể này

Mục đích của quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Mục đích của quản lý chất thải nói chung và quản lý chất thải từ cácnông trại chăn nuôi nói riêng là phòng ngừa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường

và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường

Nội dung của quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Nội dung của quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi mà chủ thểthực hiện phải phù hợp với từng giai đoạn cụ thể của quá trình quản lý Chấtthải chăn nuôi phải được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảmthiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy Từ giaiđoạn đầu tiên của hoạt động phát thải chất thải chăn nuôi là quản lý tại nguồn

Ở giai đoạn này, chủ thể quản lý phải nắm bắt toàn bộ các thông tin về chấtthải chăn nuôi như: nguồn phát sinh, lượng phát sinh, thành phần của chất thảichăn nuôi phát sinh Chất thải chăn nuôi phải được phân loại, giảm thiểu và

xử lý tại nguồn bởi chủ nguồn thải trước khi xả thải ra nguồn tiếp nhận hoặc

sử dụng làm phân bón, thức ăn chăn nuôi Một số chất thải chăn nuôi sau khi

Trang 24

được xử lý, tái chế được vận chuyển đến nơi sử dụng.

Từ khái niệm và đặc điểm trên, có thể nhận thấy, quản lý chất thải từcác nông trại chăn nuôi có sự khác biệt so với hoạt động quản lý các loại chấtthải khác Xuất phát từ đặc trưng của chất thải chăn nuôi chủ yếu là các chấtthải hữu cơ dễ phân hủy trong môi trường tự nhiên, nếu được thu gom và xử

lý hiệu quả sẽ là nguồn tài nguyên tái tạo có giá trị cao cho sản xuất nôngnghiệp Do vậy, hoạt động quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi chủyếu tập trung vào khâu xử lý tại nguồn phát thải Các chủ nguồn thải (tổ chức,

cá nhân sở hữu cơ sở chăn nuôi trang trại) có trách nhiệm xử lý các chất thảichăn nuôi đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi xả thải ra nguồn tiếpnhận hoặc sử dụng làm phân bón, thức ăn chăn nuôi Còn đối với các loại chấtthải khác, hoạt động quản lý chất thải đòi hỏi quy trình khắt khe hơn từ khâuphân loại, thu gom, bảo quản, vận chuyển đến khâu xử lý, tiêu hủy

1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo đượctạo lập xung quanh con người, chi phối đời sống con người, đảm bảo sự tồntại và phát triển của con người Trong mối quan hệ với môi trường, bên cạnhnhững tác động tích cực, bằng sự gia tăng quy mô dân số và sự phát triển cáchình thái kinh tế, con người đã tác động tiêu cực đến môi trường, khiến chomôi trường tự nhiên bị tàn phá và ô nhiễm Trước tình hình đó, pháp luật môitrường ra đời nhằm giải quyết những thách thức giữa môi trường và pháttriển, không chỉ nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm sựphát triển bền vững của môi trường mà còn ngăn ngừa, hạn chế những tácđộng xấu của các loại chất thải đến môi trường và sức khỏe con người Nóicách khác, hệ thống pháp luật môi trường bao hàm trong nó các quy định điều

Trang 25

chỉnh 2 vấn đề cơ bản sau:

i) Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên;

ii) Kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường

Trong đó, các quy định về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

là một bộ phận của pháp luật môi trường, nằm trong mảng thứ hai của hệthống pháp luật môi trường, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điềuchỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến chất thải chăn nuôi với cơquan quản lý Nhà nước về môi trường và giữa chủ thể tiến hành hoạt độngliên quan đến chất thải chăn nuôi với nhau trong quy trình quản lý chất thảichăn nuôi nhằm BVMT và sức khỏe cộng đồng

Pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi là tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, thừa nhận nhằm điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình con người tiến hành các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải chăn nuôi với giới hạn điều chỉnh là các nông trại chăn nuôi trên lãnh thổ Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chănnuôi là một bộ phận của pháp luật môi trường; điều chỉnh mối quan hệ giữacác chủ thể tiến hành hoạt động có liên quan đến chất thải chăn nuôi với cơquan quản lý Nhà nước về môi trường và mối quan hệ giữa các chủ thể tiếnhành hoạt động có liên quan đến chất thải chăn nuôi với nhau Các quan hệnày chính là những quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt độngquản lý Nhà nước về chất thải từ các nông trại chăn nuôi (quan hệ phát sinh từhoạt động quy hoạch quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi, hoạt độngthanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hoạt động xử lý chất thải chăn nuôi,…) vàcác quan hệ phát sinh trong quá trình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải từcác nông trại chăn nuôi, bồi thường thiệt hại do tác hại của chất thải chăn nuôi

Trang 26

gây ra, … Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi bảo vệmôi trường và sức khỏe cộng đồng thông qua việc đặt ra các khung pháp luậtquy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước về môi trường và quyền,nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan đến chất thải chăn nuôi Pháp luậtquản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi phân định rõ ràng quyền hạn chocác cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp hoạt động quản lý nhà nước đối với vấn

đề này đạt hiệu quả cao hơn; định hướng xử sự và hành vi của các chủ thể liênquan đến quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi nhằm mục đích ngănngừa, hạn chế số lượng chất thải chăn nuôi phát sinh vào môi trường và giảmthiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó với môi trường và sức khỏe con người

Trước khi có Luật Chăn nuôi năm 2018, ở Việt Nam đã có một sốkhung pháp lý và quy định, quy chuẩn nhằm bảo đảm người chăn nuôi khônggây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, đa số các quy định mới chỉ nêu ra cácyêu cầu về xả thải, tập trung theo hướng xử lý chất thải chăn nuôi thật sạch để

xả ra môi trường mà chưa chú trọng đến vấn đề tái chế, tái sử dụng chất thảichăn nuôi để đem lại lợi ích kinh tế Luật Chăn nuôi năm 2018 được ban hành

đã thể hiện sự quan tâm lớn đến môi trường chăn nuôi thông qua việc đưa ranhiều quy định cụ thể về địa điểm chăn nuôi, mật độ và quy mô chăn nuôi,đặc biệt là các quy định cụ thể hơn về xử lý chất thải chăn nuôi theo hướng sửdụng cho mục đích cây trồng hoặc làm thức ăn cho thủy sản

1.2.2 Đặc điểm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Là một bộ phận của pháp luật môi trường, pháp luật quản lý chất thải từcác nông trại chăn nuôi cũng có những đặc điểm khác biệt so với quản lý chấtthải thông thường khác:

Thứ nhất, khác với quản lý các loại chất thải thông thường khác (chấtthải sinh hoạt, chất thải công nghiệp,…) bao gồm những hoạt động được thực

Trang 27

hiện với quy trình tương đối nghiêm ngặt và khắt khe, sau khi phân loại tạinguồn sẽ được thu gom, vận chuyển đến nơi quy định để xử lý; quản lý chấtthải từ các nông trại chăn nuôi chủ yếu tập trung vào hoạt động xử lý chất thảingay tại nguồn phát thải để tái sử dụng hoặc xả ra nguồn tiếp nhận.

Thứ hai, quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi không đòi hỏi cao

về chuyên môn và sự tham gia của các chủ thể khác như chủ thu gom, vậnchuyển, xử lý chất thải Việc xử lý chất thải chăn nuôi có thể được thực hiệnbởi duy nhất một chủ thể là chủ nguồn thải

Với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, cũng giống nhưcác lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chănnuôi có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, tác động và ảnh hưởng mạnh

mẽ tới các quan hệ xã hội, cụ thể:

- Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi tạo hành langthể chế rõ ràng nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả chất thải từ các nông trạichăn nuôi Các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường rất đadạng nhưng trong đó không thể thiếu sự quản lý của Nhà nước Vai trò củaNhà nước là ban hành các văn bản pháp luật, trong đó bao gồm cả pháp luật

về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi Pháp luật về quản lý chất thải

từ các nông trại chăn nuôi là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa ô nhiễm môitrường, thông qua việc đặt ra những quy định cho các chủ thể khi tiến hànhcác hoạt động có liên quan đến chất thải: quy định trách nhiệm của các chủthể phát sinh chất thải, quy định cách thức thu gom, phân loại, giảm thiểu, táichế, xử lý, … chất thải chăn nuôi; thông qua việc ban hành các tiêu chuẩn môitrường, quy chuẩn kỹ thuật môi trường Đây là cơ sở pháp lý cho việc xácđịnh vi phạm pháp luật môi trường, là cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm đốivới những hành vi vi phạm luật môi trường

- Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi góp phần

Trang 28

thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để BVMT, qua

đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước Thông qua việc quy địnhcác điều kiện hoạt động đối với các nông trại chăn nuôi, quy định trách nhiệm

xử lý chất thải chăn nuôi trước khi tái chế, sử dụng, xả thải ra nguồn tiếp nhậncủa chủ cơ sở chăn nuôi … pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trạichăn nuôi góp phần khuyến khích chủ nguồn thải nghiên cứu, ứng dụng khoahọc - kỹ thuật tiên tiến để giảm thiểu việc thải bỏ chất thải chăn nuôi vào môitrường; đầu tư công nghệ để xử lý chất thải chăn nuôi, sử dụng hiệu quảnguồn tài nguyên chất thải chăn nuôi làm phân bón hữu cơ

- Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi, thông quacác định hướng xử sự và chế tài của mình đã góp phần làm thay đổi và nângcao nhận thức của cộng đồng, nâng cao hiệu quả công tác BVMT, đặc biệt làtrong lĩnh vực chăn nuôi ở nước ta

1.2.3 Nội dung pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi đã đưa ra mộtquy trình triển khai và thực hiện một cách lần lượt từ quy định đối với chủnguồn thải đến quy định về việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến việc xử lýchất thải từ các nông trại chăn nuôi, đồng thời cũng quy định rõ trách nhiệmcủa các chủ thể liên quan đến chất thải chăn nuôi, cụ thể:

Về quản lý đối với chủ nguồn thải: Chiến lược phát triển chăn nuôi đến

năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008đặt mục tiêu về môi trường như sau: “Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôitheo phương thức trang trại, công nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc,gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môitrường” Luật Chăn nuôi năm 2018 hiện nay đã quy định việc quản lý của cơquan nhà nước đối với các chủ nguồn thải chất thải từ các nông trại chăn nuôithông qua việc quy định các điều kiện chăn nuôi Các nông trại chăn nuôi

Trang 29

phải đáp ứng các điều kiện như có biện pháp bảo vệ môi trường theo quy địnhcủa pháp luật về bảo vệ môi trường; có khoảng cách an toàn từ khu vực chănnuôi đến đối tượng chịu ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi và từ nguồn gây

ô nhiễm đến khu vực chăn nuôi; có đủ nguồn nước đảm bảo chất lượng chohoạt động chăn nuôi và xử lý chất thải chăn nuôi Ngoài ra, các tổ chức, cánhân chăn nuôi trang trại quy mô lớn phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điềukiện chăn nuôi Các quy định này đã xác lập quan điểm “xử lý môi trườngchăn nuôi để được phép chăn nuôi”, “không đánh đổi môi trường lấy lợi íchkinh tế” của Đảng và Nhà nước ta [42]

Về quản lý với tổ chức, cá nhân vận chuyển, tái chế, tái sử dụng, xử

lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014

quy định chủ cơ sở sản xuất làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảmthiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải hoặc chuyểngiao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế và thu hồinăng lượng (Điều 86)

Tổ chức, cá nhân chăn nuôi có nghĩa vụ xử lý chất thải chăn nuôi theoquy định của pháp luật về BVMT Cụ thể, tổ chức, cá nhân sở hữu cơ sở chănnuôi trang trại có trách nhiệm xử lý chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ, nướcthải chăn nuôi, khí thải từ hoạt động chăn nuôi đáp ứng quy chuẩn kỹ thuậtquốc gia trước khi sử dụng cho cây trồng, làm thức ăn cho thủy sản hoặc xảthải ra nguồn tiếp nhận Việc xử lý vật nuôi chết vì dịch bệnh và chất thảinguy hại khác phải tuân thủ quy định của pháp luật về thú y, bảo vệ môitrường Chất thải chăn nuôi chưa xử lý khi vận chuyển ra khỏi cơ sở chănnuôi đến nơi xử lý phải sử dụng phương tiện, thiết bị chuyên dụng (Điều 59Luật Chăn nuôi năm 2018)

Về kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và chịu trách nhiệm

Trang 30

pháp lý khi vi phạm pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi:

Đây là những nội dung không thể thiếu trong việc xây dựng pháp luật về quản

lý chất thải nói chung cũng như pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trạichăn nuôi nói riêng Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát được phân định theonguyên tắc từ cấp cao đến cấp thấp và được thực hiện thông qua hoạt động kêkhai của tổ chức, cơ sở chăn nuôi cũng như kiểm tra trực tiếp tại cơ sở chănnuôi của cơ quan có thẩm quyền theo tần suất quy định Đối với các trườnghợp vi phạm pháp luật về quản lý chất thải thì phải chịu trách nhiệm hànhchính, dân sự, hình sự tùy theo mức độ của hành vi vi phạm

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi bị chi phối bởinhiều yếu tố, nhưng cơ bản và trước hết bởi những yếu tố sau:

Đường lối chính sách của Đảng định ra mục tiêu và phương hướng

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định Nhànước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật và tổ chức

thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, bảo đảm cho đường lối, chủ trương

của Đảng trở thành hiện thực trong đời sống xã hội Vì thế, đường lối chínhsách của Đảng là một trong những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn nhất đến nộidung của pháp luật

Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về BVMTtrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Định hướngChiến lược phát triển bền vững Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của ViệtNam), Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướngđến năm 2020 đã khẳng định quan điểm phát triển bền vững trong đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi

Trang 31

khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT đã đặt ra mục tiêu cụ thể vềBVMT đến năm 2020 là không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng, 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vựccác sông được xử lý, tiêu hủy, xử lý trên 85% chất thải nguy hại.

Là một bộ phận của pháp luật môi trường, cụ thể hóa quan điểmphát triển bền vững, pháp luật quản lý chất thải nói chung và pháp luậtquản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi nói riêng xây dựng các quyphạm điều chỉnh theo hướng xác định kiểm soát chất thải là trách nhiệmkhông chỉ của các cơ quan nhà nước mà còn là trách nhiệm của các tổchức, cá nhân trong xã hội, quản lý chất thải luôn được thực hiện trên cơ

sở kết hợp hài hòa giữa BVMT với phát triển kinh tế, xã hội và đề cao sựphòng ngừa ô nhiễm môi trường

Các yếu tố kinh tế - xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục chi phối không nhỏ

đến sự điều chỉnh của pháp luật quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Để thực hiện một cách hiệu quả hoạt động quản lý xã hội, một điều tất yếu làNhà nước phải ban hành các quy định pháp luật phù hợp với nhu cầu quản lýkinh tế xã hội của đất nước Hiện nay, ngành chăn nuôi ở nước ta đang pháttriển với tốc độ cao cùng với sự gia tăng số lượng và xu hướng chuyển dịch từquy mô nông hộ sang chăn nuôi tập trung và thâm canh với quy mô lớn Vớirất nhiều tác động bất lợi của chất thải chăn nuôi đến môi trường cũng nhưsức khỏe con người, động vật; vấn đề quản lý chất thải từ các nông trại chănnuôi trở thành yêu cầu bức thiết cần phải giải quyết Song, đây lại là vấn đềkhông đơn giản, nó đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ các biện pháp quản lý bằngkinh tế, kỹ thuật và pháp luật Vì thế, việc hình thành hay không pháp luậtquản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi cũng như sự điều chỉnh của hệthống pháp luật này chịu sự chi phối không nhỏ từ thực trạng chất thải và yêu

Trang 32

cầu BVMT khỏi những tác động bất lợi của chúng.

Việc gia nhập các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường là hoạt

động chi phối không nhỏ đến pháp luật môi trường của Việt Nam nóichung và pháp luật quản lý chất thải nói riêng Khi đã tham gia ký kết cácĐiều ước quốc tế, Việt Nam có nghĩa vụ nỗ lực, thiện chí thực hiện cáccam kết quốc tế của mình thông qua việc sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựngcác quy phạm pháp luật mới sao cho phù hợp với Điều ước quốc tế mà ViệtNam đã ký kết và tham gia

Trong lĩnh vực quản lý chất thải, có thể kể đến một số Điều ước quốc tế

mà Việt Nam đã tham gia như: Công ước Viên về bảo vệ tầng ozon; Côngước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm vàviệc tiêu hủy chúng; Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khóphân hủy (POP), Công ước Rotterdam về thủ tục thỏa thuận thông báo trướcđối với một số hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật nguy hại trong thương mạiquốc tế, … Tham gia các công ước này, Việt Nam có nghĩa vụ cơ bản làBVMT và sức khỏe con người trước những tác động có hại của các loại chấtthải Như vậy, hệ thống pháp luật quản lý chất thải của Việt Nam hiện hànhđang chịu sự chi phối không nhỏ bởi việc thực thi các cam kết quốc tế tronglĩnh vực này

1.3 Pháp luật về quản lý chất thải chăn nuôi của một số quốc gia trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam

Vấn đề quản lý chất thải chăn nuôi là vấn đề mang tính toàn cầu, cầnđược quan tâm ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới Đặc biệt là đối với cácnước đang phát triển do việc quản lý, xử lý chất thải không thể bắt kịp sự tăngtrưởng của công nghiệp và kinh tế, dẫn đến tải lượng ô nhiễm tăng lên nhanhchóng, môi trường bị suy thoái Đứng trước thách thức môi trường lớn lao đó,các quốc gia đều có những quy định hay luật liên quan đến vấn đề xử lý chất

Trang 33

thải chăn nuôi, BVMT từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung vàchăn nuôi nói riêng Có thể nghiên cứu chính sách pháp luật và pháp luật vềquản lý chất thải chăn nuôi của một số quốc gia [67] như:

Mỹ

Luật của bang Iowa quy định với những cơ sở chăn nuôi có tổng khốilượng gia súc lớn hơn 200.000 pounds (90.718 kg) phải nộp bản Kế hoạchquản lý chất thải cho Sở Tài nguyên Môi trường Chất thải chăn nuôi khôngthể được vận chuyển ra ngoài khỏi bể chứa nếu như bản Kế hoạch quản lýchất thải chưa được phê chuẩn Một bản Kế hoạch quản lý chất thải bao gồmnhững thông tin: (1) Tính toán diện tích cây trồng cần để sử dụng hết lượngchất thải; (2) Thành phần các chất của chất thải; (3) Phương thức bón chátthải, thời gian sử dụng chất thải và địa điểm sử dụng chất thải; (4) Nếu nhưđất canh tác tiếp nhận chất thải không thuộc sở hữu của cơ sở chăn nuôi, bản

Kế hoạch quản lý chất thải phải kèm theo thỏa thuận về việc sử dụng chất thảivới chủ tiếp nhận chất thải; (5) Ước tính thể tích chất thải và lượng chất thảivật nuôi thải ra; (6) Giải pháp hạn chế chất thải bị rửa trôi khỏi đất và khảnăng gây ô nhiễm nguồn nước; (7) Biện pháp hạn chế mùi, nếu như chất thảilỏng được sử dụng

Cơ sở chăn nuôi được coi là sai phạm khi không nộp bản Kế hoạchquản lý chất thải Hơn nữa, cơ sở chăn nuôi bị coi là vi phạm nếu áp dụngvượt quá lượng chất thải cần cho cây trồng Bản Kế hoạch quản lý chất thảiđược nộp 1 lần Tuy nhiên, nếu cơ sở chăn nuôi có biểu hiện vi phạm, bản Kếhoạch quản lý chất thải phải được nộp hàng năm và phải được phê chuẩn bởi

Sở Tài nguyên môi trường

Châu Âu

Phần lớn các nước châu Âu đều có các quy định tương tự nhau liênquan đến hoạt động chăn nuôi bao gồm: Giấy phép chăn nuôi cho những

Trang 34

trang trại lớn; quy định hệ thống lưu trữ chất thải chăn nuôi để tăng hiệu quảsản xuất nông nghiệp; quy định về giai đoạn không được tưới/sử dụng phânbón cho cây trồng (thường trong các tháng mùa đông từ tháng 11 cho đếntháng 2 năm sau).

Trong Luật Phụ phẩm động vật (EC) No 1069/2009 ban hành bởi Nghịviện châu Âu, mục f, Điều 13 Chương 2 có quy định: Chất thải chăn nuôiđược bón trực tiếp cho đất nếu như cơ quan chức năng không coi những chất

đó có nguy cơ lây truyền bất cứ bệnh dịch nào và chất thải chăn nuôi đượcxếp vào nhóm 2 trong các phần phụ phẩm động vật Ngoài ra, mỗi nước thànhviên cũng có thêm những quy định riêng về việc quản lý chất thải chăn nuôinói chung và chất thải lỏng nói riêng làm phân bón trong trồng trọt Nhiềunước ở châu Âu cho phép các chủ trang trại vận chuyển và sử dụng phân lỏngchưa qua xử lý từ những trang trại an toàn dịch bệnh để tưới cho các trang trạitrồng trọt Nhiều nước còn quy định chủ trang trại chăn nuôi phải đưa ra cáctài liệu minh chứng có đủ diện tích trồng trọt để sử dụng hết phân lỏng, haytại một số nước, các trang trại chăn nuôi có hình thức bán chất thải lỏng chocác trang trại trồng trọt giúp tăng thu nhập cho người chăn nuôi

Trang 35

phải tính toán được lượng phân bón P mà mình tạo ra và tự định đoạt đối vớiphần phân dư qua các “ngân hàng phân bón” hoặc bằng “hợp đồng chuyểnnhượng phân” trực tiếp tới các trang trại trồng trọt hoặc các trang trại chănnuôi với mật độ vật nuôi thấp Kể từ lúc chính sách giới hạn phân P được sửdụng cho một diện tích đất được thực thi, người nông dân buộc phải chuyểnchất thải chăn nuôi từ các trang trại chăn nuôi với mật độ cao tới các trang trạichăn nuôi với một mật độ thấp hơn, tức là người nông dân chăn nuôi phải trảtiền cho người sử dụng lượng phân dư do mình tạo ra đồng thời cũng khuyếnkhích họ áp dụng cách thực hành chăn nuôi nhằm giảm sự bài tiết P.

- Chính sách cấm sử dụng chất thải chăn nuôi hỗn hợp trong điều kiệnthời tiết không thuận lợi cho thực vật sinh trưởng từ 16 tháng 9 đến 31 tháng

01 năm sau, và sau khi đất bị đóng băng hoặc tuyết phủ Hệ quả là tất cả cáctrang trại chăn nuôi cần phải có khả năng lưu trữ chất thải hỗn hợp cho ít nhất

5 tháng, nơi lưu trữ phải được che đậy để giảm sự bay hơi amoniac

- Xử lý chất thải chăn nuôi thừa: hệ thống phân phối chất thải chăn nuôigồm 3 liên kết: (1) Trại chăn nuôi có lượng chất thải dư thừa; (2) Công ty vậnchuyển chất thải; (3) Trang trại nhận chất thải (trồng trọt hoặc chăn nuôi cóđất canh tác) Trang trại chăn nuôi có chất thải dư thừa phải trả từ 10 – 23euro cho công ty vận chuyển Công ty vận chuyển phải trả 3 – 10 euro chotrang trại nhận chất thải chăn nuôi

Nhật Bản

Ở Nhật Bản, những quy định được thực hiện bởi sự gia tăng khiếu nại

về ô nhiễm do hoạt động chăn nuôi từ những năm 1970 Mục tiêu của luật về

xử lý và sử dụng chất thải chăn nuôi, luật này có hiệu lực vào năm 1999, làkhuyến khích xử lý hợp lý chất thải và thúc đẩy việc sử dụng chất thải xử lý

đó bởi nông dân Luật nêu cụ thể những tiêu chuẩn quy định có tính thực tế về

Trang 36

cạnh, kích cỡ phù hợp và dung tích để lưu trữ chất thải) Luật nhằm vào mụcđích thúc đẩy xây dựng những cơ sở chứa chất thải đảm bảo, không bị rò rỉgây ô nhiễm môi trường Hiện nay 99,9% trang trại chăn nuôi ở Nhật đã xâydựng cơ sở xử lý theo luật Luật không quy định phương thức sử dụng, thờigian và tỷ lệ sử dụng cho đất canh tác do đó, nông dân có thể sử dụng chấtthải chăn nuôi bất cứ khi nào.

Luật kiểm soát nguồn nước có hiệu lực vào năm 1970 quy định nướcthải chăn nuôi hay chất thải lỏng xả ra nguồn nước tiếp nhận, và quy định mớinhất của Nhật được trình bày trong bảng dưới đây:

Bảng 1.1 Quy định về nước thải xả ra môi trường của Nhật Bản

pH Vùng phi ven biển 5,8-8,6

Tiêu chuẩn về nước thải ra môi trường ở Nhật Bản được áp dụng thốngnhất Tiêu chuẩn này có 2 chủ đề chính: tiêu chuẩn để bảo vệ sức khỏe conngười (28 thông số bao gồm cadmium và cyanide) và tiêu chuẩn bảo vệ môitrường sống (gồm 15 thông số)

Trang 37

Qua nghiên cứu pháp luật quản lý chất thải chăn nuôi ở một số quốcgia, có thể nhận thấy rằng vấn đề ban hành các văn bản pháp luật nhằm quản

lý chất thải chăn nuôi được các quốc gia chú trọng, quan tâm từ rất sớm sovới Việt Nam, từ những năm 70, 80 của thế kỷ 20

Trong thời gian qua, với sự hợp tác trong nhiều chương trình với nướcngoài, chúng ta đã soạn thảo xây dựng và hoàn thiện một hệ thống chính sáchpháp luật trong lĩnh vực quản lý chất thải chăn nuôi như: Luật Bảo vệ môitrường, Luật Chăn nuôi, Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu; giới thiệu,nghiên cứu, thí điểm, đề xuất biện pháp ứng dụng đối với một số vấn đề đốivới Việt Nam như: ĐTM đối với các dự án xây dựng cơ sở chăn nuôi quy môlớn, quy hoạch chăn nuôi theo vùng, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội Pháp luật về quản lý chất thải của các quốc gia cũng chỉ ra cho ViệtNam một số kinh nghiệm sau đây:

Một là, trong công tác quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi cần

đặc biệt chú trọng việc quy định trách nhiệm quản lý chất thải của người sảnsinh chất thải và cơ quan quản lý nhà nước các cấp, từ cấp trung ương tới cấpđịa phương Triển khai phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương tronghoạt động quản lý chất thải chăn nuôi và sự tham gia của cộng đồng trongcông tác BVMT

Hai là, trong công tác quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi, cần

phải phát huy quan điểm coi chất thải chăn nuôi là nguồn tài nguyên cần được

sử dụng để tạo thu nhập bổ sung cho người dân thay vì coi như một nguồnchất thải cần phải xử lý, khuyến khích việc thu gom, chế biến chất thải chănnuôi thành phân hữu cơ để sử dụng, kinh doanh

Ba là, chú trọng việc lồng ghép mục tiêu sản xuất sạch, phát triển nền

kinh tế xanh trong hoạt động quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi; đồng

Trang 38

thời khuyến khích hình thành các cơ sở kết hợp chăn nuôi – trồng trọt hoặc cơ

sở chăn nuôi có liên kết với vùng sản xuất trồng trọt lân cận để tiếp nhận, sửdụng phân bón hữu cơ sản xuất từ xử lý chất thải của cơ sở chăn nuôi

Trang 39

Do đó, vấn đề quản lý chất thải nói chung và quản lý chất thải từ các nông trạichăn nuôi nói riêng trở thành vấn đề vô cùng quan trọng nhằm phát triển kinh

tế đi đôi với BVMT trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

số gợi mở cho Việt Nam; từ đó, làm cơ sở lý luận cho việc phân tích làm rõthực trạng pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở ViệtNam tại Chương 2

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TỪ CÁC

NÔNG TRẠI CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM

2.1 Các quy định của pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

2.1.1 Các quy định về giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển,

xử lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi

Khoản 1 Điều 85 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định yêu cầu

về quản lý chất thải phải được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảmthiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy

Chủ nguồn thải là các tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sởphát sinh chất thải [21, Điều 3, khoản 19] Chủ nguồn thải chất thải từ cácnông trại chăn nuôi là các tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành các cơ sởchăn nuôi theo hình thức chăn nuôi trang trại

Khoản 2 Điều 86 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về trách

nhiệm của chủ nguồn thải như sau:“Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải hoặc chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng”.

Như vậy, có thể nhận thấy chủ nguồn thải là đối tượng trực tiếp và đầutiên chịu trách nhiệm trong quá trình quản lý chất thải, bởi lẽ, sự phát sinhchất thải rất đa dạng và phong phú, chúng ta khó có thể kiểm soát được quátrình này Chủ nguồn thải có nghĩa vụ giảm thiểu, phân loại, thu gom, vậnchuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải Những nghĩa vụ này củachủ nguồn thải nhằm mục đích cuối cùng là đưa vào môi trường lượng chấtthải ít nhất và có độ độc hại thấp nhất Cụ thể hóa điều này, điểm b, c khoản 2Điều 57 Luật Chăn nuôi năm 2018 quy định tổ chức, cá nhân chăn nuôi có

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 24-NQ/TW ngày03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quảnlý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2013
2. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của BộChính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2004
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), QCVN 01-14:2010/BNNPTNT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học, ban hành kèm theo Thông tư số 04/2010/TT-BNNPTNT ngày 15/01/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trạichăn nuôi lợn an toàn sinh học
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), QCVN 01- 15:2010/BNNPTNT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, ban hành kèm theo Thông tư số 04/2010/TT-BNNPTNT ngày 15/01/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trạichăn nuôi gia cầm an toàn sinh học
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), QCVN 01-41:2011/BNNPTNT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu xử lý vệ sinh đối với việc tiêu hủy động vật và sản phẩm động vật, ban hành kèm theo Thông tư số 33/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/5/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu xử lývệ sinh đối với việc tiêu hủy động vật và sản phẩm động vật
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2011
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016), Thông tư số 07/2016/TT- BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônquy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2016
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017), Quyết định số 932/QĐ- BNN-KH ngày 24/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 932/QĐ-BNN-KH ngày 24/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônvề việc phê duyệt Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của ngànhnông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2017
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2018), Báo cáo công tác bảo vệ môi trường ngành nông nghiệp năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác bảovệ môi trường ngành nông nghiệp năm 2018
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2018
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2019), Thông tư số 23/2019/TT-BNNPTNT ngày 30/11/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về hoạt động chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số23/2019/TT-BNNPTNT ngày 30/11/2019 của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về hoạtđộng chăn nuôi
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2019
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2020), Quyết định số 06/QĐ- BNN-CN ngày 02/01/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc đính chính Thông tư số 23/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về hoạt động chăn nuôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 06/QĐ-BNN-CN ngày 02/01/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônvề việc đính chính Thông tư số 23/2019/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 11năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướngdẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về hoạt động chăn nuôi
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2020
11. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2020), Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT ngày 28/02/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí kinh tế trang trại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số02/2020/TT-BNNPTNT ngày 28/02/2020 của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn quy định tiêu chí kinh tế trang trại
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2020
12. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), QCVN 26:2010/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn, ban hành kèm theo Thông tư số 39/2010/TT-BTNMT ngày 16/12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quychuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
13. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 36/2015/TT-BTNMTngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thảinguy hại
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
14. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), QCVN 62-MT:2016/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi, ban hành kèm theo Thông tư số 04/2016/TT-BTNMT ngày 29/4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2016
15. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017 chuyên đề: Quản lý chất thải, Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trườngquốc gia năm 2017 chuyên đề: Quản lý chất thải
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2017
16. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2018 chuyên đề: Môi trường nước các lưu vực sông, Cổng thông tin điện tử Cục Quản lý tài nguyên nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trườngquốc gia năm 2018 chuyên đề: Môi trường nước các lưu vực sông
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2018
17. Bùi Bá Bổng (2017), Ràng buộc chính sách quản lý chất thải chăn nuôi và bùn sinh học để sản xuất phân bón hữu cơ, Cổng thông tin điện tử Dự án Hỗ trợ Nông nghiệp các bon thấp (LCASP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ràng buộc chính sách quản lý chất thải chăn nuôivà bùn sinh học để sản xuất phân bón hữu cơ
Tác giả: Bùi Bá Bổng
Năm: 2017
18. Chính phủ (2015), Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 củaChính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
19. Chính phủ (2015), Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 củaChính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môitrường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệmôi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
20. Chính phủ (2015), Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môitrường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH - Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở việt nam
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH (Trang 8)
Sommer & Jensen đã đưa ra mô hình về mối quan hệ giữa chăn nuôi và các yếu tố ô nhiễm môi trường theo hình 1.1. - Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở việt nam
ommer & Jensen đã đưa ra mô hình về mối quan hệ giữa chăn nuôi và các yếu tố ô nhiễm môi trường theo hình 1.1 (Trang 18)
Bảng 1.1. Quy định về nước thải xả ra môi trường của Nhật Bản - Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở việt nam
Bảng 1.1. Quy định về nước thải xả ra môi trường của Nhật Bản (Trang 36)
STT Hình thức Tỷ lệ Trang trại - Pháp luật về quản lý chất thải từ các nông trại chăn nuôi ở việt nam
Hình th ức Tỷ lệ Trang trại (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w