1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp ở việt nam

124 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại Đối Với Doanh Nghiệp Ở Việt Nam
Tác giả Phạm Hằng Nga
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Thu Thủy
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 694 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song với việc thực hiện tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành,NHTM đã và đang khuyến khích doanh nghiệp bằng nhiều chính sách hỗ trợ doanhnghiệp với hình thức tài trợ đa dạng, t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Hằng Nga

Trang 4

2.1 Chủ thể trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối vớidoanh nghiệp 39

2.2 Các điều kiện cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanhnghiệp theo quy định của pháp luật ở Việt Nam 51

2.3 Nội dung hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng thương mại và doanh nghiệp62

2.4 Vi phạm và xử lý vi phạm trong hoạt động cho vay của ngân hàngthương mại đối với doanh nghiệp 77

Trang 5

Kết luận chương 2 88

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM90

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay của ngânhàng thương mại đối với doanh nghiệp ở Việt Nam 90

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàngthương mại đối với doanh nghiệp ở Việt Nam 92

Kết luận chương 3 110

KẾT LUẬN 111

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việc mở rộng sự tham gia thị trường ngày càng đa dạng của các chủ thể, sựxuất hiện thêm nhiều công cụ tài chính mới với xu hướng thành lập các tập đoàn tàichính hoạt động đa lĩnh vực (tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) đã chothấy sự phát triển vượt bậc của thị trường Việt Nam những năm qua, đồng thời đặt

ra nhiều thách thức và những rủi ro tiềm ẩn Trong đó, sự phát triển cả về quy mô,nghiệp vụ NHTM và doanh nghiệp đã phần nào thúc đẩy sự phát triển chung củanền kinh tế Có thể nói, NHTM là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệubáo hiệu trạng thái sức khỏe của nền kinh tế Ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh.Ngược lại, ngân hàng yếu, nền kinh tế yếu Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh

tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ Với tư cách là tổ chức trung gian tài chínhnhận tiền gửi, đầu tư và tiến hành hoạt động cho vay, NHTM đã xâm nhập mọi lĩnhvực kinh tế- xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết định đốivới mọi quá trình sản xuất kinh doanh NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâmtiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, giữ dòng vốn được lưuthông và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh đối vớimọi thành phần kinh tế và là định chế quan trọng nhất của nền kinh tế tại Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển của NHTM gắn liền với sự xuất hiện vàphát triển của nền sản xuất xã hội Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta có nhữngchuyển biến sâu sắc và ngày càng hội nhập vào cộng đồng quốc tế, việc xây dựnghành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động của NHTM nói chung, đặc biệt là hoạt độngcho vay – hoạt động chủ đạo của NHTM tại Việt Nam giữ vai trò vô cùng quantrọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Pháp luật hoạt động cho vay củaNHTM đã hỗ trợ việc điều tiết cung cứng vốn của thị trường, đảm bảo quá trình táisản xuất của các tổ chức kinh tế được thực hiện liên tiếp với quy mô ngày càng mởrộng, đặc biệt là các doanh nghiệp Tình hình kinh tế diễn biến phức tạp, doanhnghiệp tha thiết muốn tìm kiếm cơ hội kinh doanh tối đa hoá lợi nhuận, NHTMcũng không nằm ngoài mục đích đó đã vận dụng linh hoạt mọi nguồn lực và các

Trang 8

quy phạm pháp luật phát huy hoạt động đầu tư, kinh doanh đặc biệt là hoạt độngcho vay của NHTM khi doanh nghiệp có nhu cầu tiếp cận vốn vay Phải khẳng địnhrằng, vốn đóng vai trò then chốt trong quá trình hoạt động sản xuất của doanhnghiệp Song song với việc thực hiện tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành,NHTM đã và đang khuyến khích doanh nghiệp bằng nhiều chính sách hỗ trợ doanhnghiệp với hình thức tài trợ đa dạng, tập trung vào hoạt động cho vay vốn kinhdoanh, khẳng định vị thế của chính NHTM, kích thích thị trường, gia tăng cơ hội sửdụng vốn cho các chủ thể kinh tế.

Có thể nói trong những năm qua, pháp luật ngân hàng nói chung và pháp luậthoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nói riêng đã và đang được cảithiện Các văn bản pháp lý được xây dựng và ban hành đã tạo ra khung pháp lýquan trọng, góp phần tạo đà phát triển cho hoạt động cho vay của NHTM hay hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn tồn tại không ítnhững bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn tạiNHTM Để hiểu đúng những quy định của pháp luật trong từng lĩnh vực là hoàntoàn không đơn giản và để thực hiện đúng, hành xử đúng quy định của pháp luậtphải trên cơ sở hiểu đúng nội dung quy định của pháp luật Vì những lý do trên, tác

giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối

với doanh nghiệp ở Việt Nam”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Để thực hiện được những nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã tích cực tìmhiểu, tham khảo các tài liệu chuyên khảo, các công trình, luận văn đã được công bốcủa các tác giả như:

Sách chuyên khảo “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt

động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”;

Chủ biên PGS TS Lê Thị Thu Thuỷ (2016) NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

Đề tài khoa học cấp đặc biệt ĐHQGHN, QG.04.32, nghiệm thu 12/2005

“Pháp luật về các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản- kinh nghiệm các nước

và thực tiễn Việt Nam” Chủ trì đề tài PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ.

Trang 9

Bài viết “Bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng” của tác

giả Lê Thị Thu Thuỷ Tạp chí Khoa học Kinh tế - Luật, số 3/2002

Bài viết trên tạp chí luật học điển hình của tác giả Lê Thị Thu Thuỷ & Đỗ

Minh Tuấn, “Giao dịch bảo đảm dưới khía cạnh so sánh luật học”, Tạp chí Nghiên

cứu Lập pháp số 23 (303)/Kỳ 1 – tháng 12/2015

Khoá luận tốt nghiệp: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của ngân

hàng thương mại” của tác giả Trần Ngọc Thu (2011).

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy (2010).

Luận văn thạc sĩ: “Mở rộng tín dụng doanh nghiệp tại Chi nhánh ngân hàng

Đầu tư và phát triển Gia Lai” của tác giả Nguyễn Tấn Lộc (2012).

Những giá trị tham khảo được từ các công trình trên và những công trìnhnghiên cứu liên quan khác, cùng thực tế pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay củaNHTM đối với doanh nghiệp ở Việt Nam là nguồn tài liệu tham khảo để tôi thựchiện đề tài: “Pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối vớidoanh nghiệp ở Việt Nam”

Qua phân tích các nội dung và thực trạng pháp luật hoạt động cho vay củaNHTM đối với doanh nghiệp, tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiệnpháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp ở ViệtNam, nhằm đảm bảo tốt hơn quyền, lợi ích của NHTM và doanh nghiệp khi thamgia quan hệ tín dụng Từ đó tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi đểNHTM sử dụng hiệu quả nguồn vốn đã huy động được, doanh nghiệp được tiếp cậnnguồn vốn hữu ích kịp thời phục vụ sản xuất, kinh doanh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về pháp luật về hoạtđộng cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp, đánh giá thực trạng về hoạt độngcho vay của NHTM ở Việt Nam, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạtđộng cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp ở Việt Nam;

Trang 10

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay củaNHTM đối với doanh nghiệp và pháp luật về vấn đề này

- Đánh giá thực trạng, thực tiễn hoạt động cho vay của NHTM đối với doanhnghiệp ở Việt Nam thời gian qua

- Đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay củaNHTM đối với doanh nghiệp ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luậtViệt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật về hoạt động cho vay của NHTM tại ViệtNam, một số quy định của pháp luật nước ngoài về hoạt động của NHTM

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn không đi sâu nghiên cứu về quản lý nhànước đối với hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp cũng như cácphương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay của NHTM

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phươngpháp phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhiều trong Chương 1 khinghiên cứu một số vấn đề lý luận về pháp luật về hoạt động cho vay đối với doanhnghiệp tại NHTM

- Phương pháp phân tích, đối chiếu, quy nạp, diễn giải được sử dụng chủ yếu

ở Chương 2 để nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động cho vay đốivới doanh nghiệp tại NHTM ở Việt Nam

- Phương pháp bình luận, tổng hợp, quy nạp được sử dụng chủ yếu ở Chương

3 khi đề cập đến một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vayđối với doanh nghiệp tại NHTM ở Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và những đóng góp mới của đề tài

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu, kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học đã được công bố, luận văn có một số đóng góp mới chủ yếu sau:

Trang 11

Thứ nhất, luận văn không chỉ phân tích những vấn đề lý luận về hoạt độngcho vay của NHTM đối với doanh nghiệp ở Việt Nam mà còn nêu ra những ưunhược điểm, tìm ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế vàbất cập qua thực trạng pháp luật hiện hành về vấn đề này.

Thứ hai, từ thực trạng thực thi pháp luật về hoạt động cho vay của NHTMđối với doanh nghiệp, đề xuất kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện phápluật hiện hành về hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt và danh mụctài liệu tham khảo, gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về hoạt động cho vay của

ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương

mại đối với doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho

vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1.1 Những vấn đề lý luận về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

Ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh của mình với rất nhiều chủ thểkinh tế, các chủ thể này tham gia hoạt động kinh doanh nói chung được biết đến vớinhững tên gọi như “thương nhân”, “doanh nghiệp” và “chủ thể kinh doanh” Vớimỗi nước khác nhau có cách hiểu và sử dụng từ ngữ khác nhau, trong cuốnBusiness Law có viết, “Một người được gọi là thương nhân khi người đó hành độngtrong khả năng thương mại, sở hữu hoặc sử dụng chuyên môn liên quan cụ thể đếnhàng hóa được bán” [68] Thương nhân trong trường hợp này được hiểu là người cóchuyên môn, hiểu biết nhất định về hoạt động thương mại của mình Cách tiếp cậnnày hoàn toàn phù hợp với đặc thù nghề nghiệp của mỗi thương nhân bởi hoạt độngthương mại luôn gắn với yếu tố “lợi nhuận – rủi ro” nếu thương nhân không cóchuyên môn thì khó có thể hành nghề cũng như tồn tại trên thương trường Cáchtiếp cận của Luật Thương mại Việt Nam cũng hướng đến yếu tố này khi mà nhà làmluật quy định tính chất “thành lập hợp pháp, hoạt động thường xuyên” Bên cạnh đó,pháp luật doanh nghiệp cũng tồn tại khái niệm “doanh nghiệp” có nội hàm gần giốngvới khái niệm “thương nhân” Theo đó, doanh nghiệp “là tổ chức có tên riêng, có tàisản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định củapháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [48] Cụm từ “chủ thể kinh doanh” khôngđược luật hoá nhưng cũng được sử dụng trong một số giáo trình và được hiểu là

“những tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh mang tính nghề nghiệp, hoạtđộng dưới một hình thức pháp lý nhất định… theo quy định của pháp luật” [12] Trênthực tế, cụm từ này được sử dụng khá phổ biến với nội hàm bao gồm tất cả các tổchức, cá nhân kinh doanh trên thị trường

Như vậy, một số đối tượng là “thương nhân” nhưng không được xác định là

Trang 13

“doanh nghiệp” như hộ kinh doanh, hợp tác xã, mặc dù đây cũng là những tổ chứckinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, thực hiện hoạt động đầu tư sảnxuất kinh doanh Ngoài ra, khái niệm “thương nhân” được hiểu theo nghĩa rộnghơn, còn bao gồm những cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, cóđăng ký kinh doanh, chứ không chỉ bao gồm doanh nghiệp Cả hai đối tượng

“thương nhân”, hay “doanh nghiệp” đều được xác định là “chủ thể kinh doanh”, đều

là những chủ thể có thực hiện hoạt động kinh doanh và thực hiện việc thu lợi nhuận

từ hoạt động kinh doanh Nhưng không phải mọi “chủ thể kinh doanh” đều đượcxác định là “thương nhân” hay “doanh nghiệp” Điều đó có nghĩa, một số “chủ thểkinh doanh” nhưng không được xác định là “doanh nghiệp” như hộ kinh doanh cáthể, hợp tác xã, cá nhân kinh doanh cá thể… Đồng thời một số “chủ thể kinh doanh”nhưng không được xác định là “thương nhân” như cá nhân kinh doanh, hoạt độngthương mại độc lập, thường xuyên, không đăng ký kinh doanh và không được gọi là

“thương nhân”, có thể ví dụ những người bán hàng rong, buôn bán vặt, bán quà vặt,buôn chuyến, đánh giày, bán vé số, sửa chữa xe Tùy vào từng chủ thể khác nhau,

là thương nhân, là doanh nghiệp, hay chủ thể kinh doanh khác mà thủ tục đăng kýthành lập, hay cơ quan quản lý hoạt động kinh doanh của những chủ thể này cũng sẽkhác nhau Ở đây vừa có sự tương đồng, mở rộng dần về mặt khái niệm từ “doanhnghiệp” đến “thương nhân” đến “chủ thể kinh doanh” nhưng cũng có sự khác biệt.Mỗi một loại chủ thể đều được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật dựa trên những

cơ sở pháp lý và đặc điểm đặc trưng, nhằm phân loại và đưa ra những phương thứcgiải quyết phù hợp đối với từng mối quan hệ kinh doanh thương mại Cũng nhưvậy, hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp có sự tham gia của hai chủthể là bên cho vay là NHTM và bên đi vay là doanh nghiệp, được điều chỉnh bởinhững nhóm quy phạm pháp luật chủ yếu liên quan tới hai chủ thể này

Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp

NHTM là tổ chức tín dụng – một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nềnkinh tế, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với mục đích lợi nhuận Với chứcnăng là trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò kết nối giữa bên có vốn nhàn rỗi

Trang 14

gửi tại ngân hàng với bên thiếu vốn, có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống chủ yếu thông qua hoạtđộng cho vay Hoạt động cho vay có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo nhucầu vốn và sự luân chuyển vốn nhịp nhàng giữa các chủ thể kinh tế Hoạt động chovay của NHTM đối với doanh nghiệp có thể hiểu là một hình thức cấp tín dụng,theo đó NHTM cho vay hay giao cho khách hàng là doanh nghiệp một khoản tiền

để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc cóhoàn trả cả gốc và lãi Với mỗi nhóm đối tượng khách hàng mang những đặc điểm

và đặc trưng khác nhau, bởi vậy NHTM có những điều kiện ràng buộc tương ứngvới từng nhóm khách hàng, nhằm đảm bảo tối đa hiệu lực của HĐTD, hạn chế rủi rophát sinh, phát huy được hiệu quả hoạt động tín dụng, giúp NHTM trở thành nơi tincậy để doanh nghiệp đi vay tin tưởng Hoạt động cho vay của TCTD nói chung vàcủa NHTM nói riêng là một hoạt động nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, phức tạpbởi chính sự đa dạng trong nhu cầu vay vốn của các loại chủ thể đi vay

Đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp

Hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp là loại hình cấp tíndụng của TCTD, đồng thời là một loại cho vay tài sản trong dân sự, vì vậy nó cónhững đặc điểm chung với cho vay dân sự:

- Trong hoạt động cho vay luôn xuất hiện hai bên chủ thể tham gia là bên vay

và bên cho vay Chủ thể cho vay là NHTM được pháp luật cho phép cấp tín dụng vàchủ thể đi vay là doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tại NHTM Khi vay vốn tạiNHTM, doanh nghiệp phải thoả mãn các điều kiện vay vốn theo quy định pháp luật

và các điều kiện khác do các bên thoả thuận mà pháp luật không cấm

- HĐTD là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay ghi nhận sự thoả thuậngiữa NHTM với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tại NHTM

- Sự kiện cho vay luôn phát sinh bởi hành vi ứng trước và hành vi hoàn trảđược thực hiện bởi bên vay, sau khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa cácbên trong HĐTD

Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM, hoạt động cho vay là hoạt

Trang 15

động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng có những đặc điểm riêng củahoạt động tín dụng ngân hàng:

- Là hoạt động kinh doanh có điều kiện, mang tính nghề nghiệp kinh doanh,

là một trong những nghiệp vụ chính mà NHTM thực hiện thường xuyên và chuyênnghiệp mang lại lợi nhuận đáng kể cho NHTM

- Tính chất rủi ro là rất lớn, dây chuyền, có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nềnkinh tế - xã hội nên ngoài việc phải tuân thủ những quy định chung của pháp luật vềhợp đồng trong luật dân sự, hoạt động cho vay của NHTM còn phải chịu sự điềuchỉnh chặt chẽ của pháp luật ngân hàng

Bên cạnh đó, NHTM được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, hoạt động cho vay của NHTM đốivới doanh nghiệp mang nhiều đặc điểm phân biệt với các chủ thể kinh tế khác:

- Đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiềulĩnh vực khác nhau Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú,

từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các doanh nghiệp xây lắp hay chovay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các doanh nghiệp sản xuất càphê, cao su

- Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuấtkinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sảnxuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụngnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoảnvay có giá trị lớn và có thể rất lớn

- Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý củadoanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân Bên cạnh đó giá trị khoản vay lớn

và tài sản đảm bảo thường phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết tài sản doanhnghiệp thường thế chấp chính nhà máy, dụng cụ sản xuất của mình

- Nguồn trả nợ của người vay- doanh nghiệp là từ tiền bán hàng (T-H-T’), lợinhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác

Trang 16

- So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng doanhnghiệp có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kếtoán, báo cáo tài chính Các thông tin tài chính được khách hàng cung cấp từ cácbáo cáo tài chính, báo cáo thuế Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểmtoán hay không, uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính kháchhàng cung cấp cao hay thấp.

- Rủi ro xảy ra từ hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệpthường gây ra tổn thất lớn cho NHTM Do đó, NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi

ro các khoản cho vay doanh nghiệp

Nguyên tắc cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp

Nguyên tắc cho vay được xác định trên cơ sở chính sách tín dụng của Nhànước trong từng giai đoạn, yêu cầu bảo đảm quyền tự chủ cho TCTD và bảo đảm antoàn cho các hoạt động ngân hàng Trước khi ban hành Quy chế cho vay của TCTDđối với khách hàng, các nguyên tắc cho vay bao gồm:

- Nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện và bình đẳng giữa các bên trong HĐTD.Xuất phát là một loại giao dịch dân sự bởi vậy hoạt động cho vay cần đảm bảonguyên tắc chung đối với một giao dịch dân sự hợp pháp Bên cho vay cho bên vayvay tài sản là tiền tệ thông qua HĐTD- một loại hợp đồng vay tài sản Mọi nội dungthỏa thuận phải được sự tự nguyện, nhất trí của các bên Đây là cơ sở để thực hiệngiao kết HĐTD giữa các bên, nếu trái nguyên tắc này thì HĐTD sẽ bị vô hiệu

- Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích: Đây là điều kiện bảo đảm choviệc thực hiện kế hoạch mà các bên định sẵn trước đó, mục đích sử dụng vốn vay lànội dung phải được ghi rõ trong HĐTD Theo đó, NHTM có quyền kiểm tra, giámsát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay của doanh nghiệp Trường hợp doanh nghiệp

sử dụng vốn vay không đúng mục đích như đã thoả thuận, NHTM có quyền chấmdứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn Điều này xuất phát từ sự cần thiết phảikiểm soát tính rủi ro trong hoạt động tín dụng và vai trò rất quan trọng của nguyêntắc này đối với khả năng thu hồi nợ vay của NHTM

Trang 17

- Nguyên tắc hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trongHĐTD là nguyên tắc thể hiện tính chất đặc trưng của tín dụng phân biệt so với cấpphát ngân sách Đây cũng là điều kiện “tồn vong” của tín dụng Hoàn trả đúng thờihạn còn liên quan đến tính kế hoạch của nguồn vốn Mantranốp- một nhà kinh tếhọc người Nga từng cho rằng đây là nguyên tắc trên cả nguyên tắc (overprinciple) Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ, tức là kinh tế XHCNphát triển cao, thành phần kinh tế quốc doanh chiếm tuyệt đại bộ phận, thì ngânhàng một cấp (NHNNVN kiêm cả nhiệm vụ NHTM) và doanh nghiệp quốc doanhđược coi là một chủ sở hữu (đều là sở hữu toàn dân) ở đâu đó không coi trọng,thậm chí loại bỏ nguyên tắc này Nhưng trong nền kinh tế thị trường dù là có địnhhướng xã hội chủ nghĩa, quyền sở hữu tài sản của từng thành phần kinh tế đượcbảo vệ nghiêm ngặt, thì “hoàn trả” là nguyên tắc tín dụng được coi trọng Chính vìvậy, từ năm 1990 đến nay chưa có văn bản nào bác bỏ nguyên tắc này Theo đó,

số tiền mà doanh nghiệp vay chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh đã cam kết Tuỳ thuộc vào phương thức vay mà người đi vay phải trả chongười cho vay theo cách thức đã thỏa thuận tương ứng

Vai trò hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp

- Góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển: Trong quá trìnhsản xuất kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của doanh nghiệpphải đồng thời tồn tại cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông nên hiện tượngthừa và thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở doanh nghiệp Từ đó tín dụng góp

đã phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh không bịgián đoạn, là nguồn cung ứng vốn cho doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong nềnkinh tế Mặt khác, với mục tiêu mở rộng sản xuất kinh doanh đối với từng doanhnghiệp thì yêu cầu về nguồn vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu đượcđặt ra Để đẩy mạnh tiến độ sản xuất, doanh nghiệp không chỉ trông chờ vào nguồnvốn tự có mà còn phải biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn trong xã hội.Tín dụng đã chứng tỏ là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu

Trang 18

hiệu trong nền kinh tế Bên cạnh đó, tín dụng còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốncho doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế Đối với doanh nghiệp: vốn vay luônchiếm một vị trí đáng kể trong cơ cấu vốn lưu động và cố định của các doanhnghiệp Nói cách khác, vay vốn ngân hàng là công cụ tài trợ vốn cho các đơn vị sảnxuất kinh doanh và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Đối với dân chúng: vayvốn ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Đối với toàn xã hội: vay vốnngân hàng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn.

- Góp phần ổn định tiền tệ, giá cả: Khi thực hiện chức năng tập trung và phânphối lại vốn tiền tệ, tận dụng những nguồn vốn nhãn rỗi trong xã hội, cho vay doanhnghiệp đã trực tiếp làm giảm khối lượng tiền tệ tồn đọng trong lưu thông Bên cạnh

đó, cho vay doanh nghiệp đã tạo điều kiện mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt.Đây là một trong những nhân tố tích cực làm giảm việc sử dụng tiền mặt trong nềnkinh tế Do đó cho vay doanh nghiệp được xem là một trong những biện pháp hữuhiệu góp phần làm giảm lạm phát, nhờ vậy góp phần làm ổn định tiền tệ Mặt khác,

do cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoànthành kế hoạch sản xuất kinh doanh làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sảnphẩm hàng hoá dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu ngày càngtăng của xã hội, chính nhờ đó mà cho vay doanh nghiệp góp phần làm ổn định thịtrường giá cả trong nước

- Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm, ổn định trật xã hội: Đây

là hệ quả tất yếu của hai vai trò nêu trên: nền kinh tế phát triển trong một môitrường ổn định về tiền tệ là điều kiện để sản xuất hàng hoá và dịch vụ ngày càng giatăng có thể thoả mãn nhu cầu đời sống của các thành viên trong xã hội Mặt khác,

do cho vay doanh nghiệp cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềmnăng sẵn có trong xã hội do đó có thể thu hút được nhiều lực lượng lao động của xãhội để tạo ra lực lượng sản xuất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp: Sự sinhlời của đồng tiền, đều là mong muốn của những ai nắm giữ nó Trên thực tế, những

Trang 19

người có vốn tạm thời nhàn rỗi sẵn sàng cho vay để kiếm lãi, doanh nghiệp cũng vìmục đích sinh lời của vốn mà cần vay thêm tiền để mở rộng sản xuất kinh doanh.Với tư cách là trung gian dẫn vốn, ngân hàng đã giải quyết được mâu thuẫn đó Vớihoạt động đi vay để cho vay, ngân hàng đã tạo cơ hội cho các chủ doanh nghiệp cóthể thành lập công ty hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh bằng việc vay vốn.

- Góp phần tăng tiềm lực tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp: Theo quy luật khách quan, trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh là mộttất yếu, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Việc tạo dựng thương hiệu và phát triển thị phần là một thử thách lớn đối với doanhnghiệp trong quá trình cạnh tranh trên thương trường Để mở rộng sản xuất, tạo vịthế cho mình, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp phải thường xuyên tìmbiện pháp huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, trong đó vốn vay ngân hàngđược coi là nguồn vốn bổ sung chủ yếu Khi yêu cầu về vốn của doanh nghiệp đượcđáp ứng thì mục đích chiễm lĩnh thị trường, tạo thế cạnh tranh của doanh nghiệp trởnên dễ dàng hơn

- Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp: Thực chất,ngân hàng cũng là doanh nghiệp kinh doanh, nhưng ở dạng kinh doanh tiền tệ hoạtđộng theo cơ chế “vay để cho vay”, nghĩa là, ngân hàng cũng phải đi vay, phải đi vay,phải tiến hành huy động vốn và có quy định thời hạn trả Vì vậy, trước khi ký kết hợpđồng vay vốn, ngân hàng tiến hành thẩm định tình hình hoạt động kinh doanh, nănglực tài chính của doanh nghiệp rất kỹ càng và ngân hàng chỉ cho vay đối với nhữngkhách hàng có kết quả hoạt động kinh doanh hiệu quả, tài chính lành mạnh, đảm bảokhả năng trả nợ khi đến hạn Yêu cầu này của ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệpquan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay vốntạo điều kiện nâng cao khả năng tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp Mặt khác,thông qua hoạt động cho vay, vốn vay ngân hàng được cung cấp kịp thời tạo điều kiệncho sản xuất kinh doanh, vòng quay vốn được luân chuyển thuận lợi và nhanh chóng,thúc đẩy hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 20

Hình thức pháp lý của quan hệ cho vay của NHTM với doanh nghiệp

Trong quan hệ cho vay, bên cho vay không chỉ quan tâm đến lãi suất màcòn quan tâm đến sự an toàn của khoản vay, bên vay ngoài vấn đề lãi suất họ cònquan tâm tới giá tiền của giá trị sử dụng mà họ phải trả có phù hợp với khả năngtài chính và kết quả kinh doanh mang lại hay không Với mỗi hình thức cho vay,các chủ thể tham gia quan hệ cho vay với mức độ, nội dung khác nhau, kết quả là

sự thống nhất thỏa thuận giữa các bên được ghi nhận bằng văn bản chính là hợpđồng tín dụng HĐTD là hình thức pháp lý ghi nhận sự thoả thuận bằng văn bảngiữa NHTM với doanh nghiệp, trong đó ghi nhận một cách chi tiết cụ thể các nộidung về chi phí vay, phương thức vay, lãi suất không trái với các quy định phápluật Trên cơ sở đó, quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên được xác lập kể từthời điểm NHTM chuyển giao một khoản vốn tiền tệ cho doanh nghiệp sử dụngtrong một thời hạn nhất định, với điều kiện doanh nghiệp sẽ hoàn trả vốn vay (tiềngốc) và lãi vay theo đúng thỏa thuận HĐTD là hình thức ghi nhận bằng văn bản

sự thỏa thuận giữa NHTM và doanh nghiệp, tạo ra căn cứ có giá trị pháp lý cụ thểcho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD.Theo quy định hiện hành, văn bản HĐTD được hiểu bao gồm văn bản viết và vănbản điện tử HĐTD được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới hình thứcthông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản Các hợp đồng điện tử đượccoi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứ trongquá trình giao dịch

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của NHTM càng tăng nhanh, loạihình cho vay càng trở nên đa dạng, phức tạp Bên cạnh nguồn lợi mà hoạt động chovay mang lại thì NHTM gặp phải không ít khó khăn Trong quan hệ cho vay,NHTM thường ở vị thế chủ động quyết định việc doanh nghiệp có được vay vốnhay không Tuy nhiên khi thu hồi vốn vay, NHTM phần nào vẫn phải phụ thuộc vàokhả năng kinh doanh và thiện trí trả nợ của doanh nghiệp Để đảm bảo an toàn cho

Trang 21

các khoản vay, đảm bảo nguồn vốn cho vay không mất cân đối trong hoạt động kinhdoanh của ngân hàng, kiểm soát được rủi ro, phát huy tối đa hiệu quả hoạt động chovay của NHTM đối với doanh nghiệp, góp phần cho hoạt động chung của nền kinh

tế được thực hiện thông suốt, việc xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạtđộng cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng

Khái niệm pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

Hoạt động cho vay là hoạt động mang tính truyền thống của NHTM, có vaitrò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, không chỉ bởi nguồn lợi mà nó tạo ra đểduy trì hoạt động của NHTM mà còn bởi đây là hoạt động gắn liền với đối tượngnghiệp vụ cho vay là tiền tệ - một loại hàng hóa có tính nhạy cảm và rủi ro cao Hầuhết các quốc gia có hệ thống NHTM đều ban hành quy định pháp luật về hoạt độngcho vay điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ

đó Pháp luật về hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp là tổng hợpcác quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ cho vay giữa NHTM và doanhnghiệp dựa trên nguyên tắc hoàn trả, bình đẳng và thỏa thuận giữa bên cho vay(NHTM) và khách hàng vay (doanh nghiệp) Pháp luật về hoạt động cho vay củaNHTM đối với doanh nghiệp ở Việt Nam không chỉ bao gồm những quy phạm phápluật dân sự Việt Nam nói chung mà còn bao gồm cả những quy phạm pháp luậttrong lĩnh vực tài chính – ngân hàng nói riêng Khi tham gia quan hệ cho vay, bêncạnh việc tuân thủ các văn bản quy phạm pháp luật trên thì các chủ thể còn phảituân thủ các văn bản hướng dẫn quy chế nội bộ của NHTM, các văn bản thỏa thuậnthể hiện sự tự nguyện thống nhất thỏa thuận các nội dung giữa các bên không tráivới các quy định của pháp luật trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng

Sự khác biệt về chủ thể tham gia quan hệ cho vay kéo theo về mặt lý thuyếtđiều chỉnh pháp luật hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp có nhữngđiểm khác biệt so với các chủ thể khác không phải là doanh nghiệp vay vốn Tại ViệtNam nếu như “doanh nghiệp” được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp năm 2020 vàcác văn bản pháp luật về doanh nghiệp, thì “thương nhân” được điều chỉnh bởi Luật

Trang 22

thương mại năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2020, và các văn bản khác về hoạtđộng kinh doanh thương mại, cũng như các văn bản điều chỉnh các chủ thể được xácđịnh là “thương nhân” Còn đối tượng “chủ thể kinh doanh” thì được nhắc đến trongcác văn bản điều chỉnh về hoạt động kinh doanh, thương mại, nhưng không đượcđịnh nghĩa cụ thể bởi bất cứ văn bản pháp luật nào, bởi các đối tượng được xác định

là chủ thể kinh doanh rất đa dạng, và đã được điều chỉnh bởi các văn bản khác

Nội dung pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

Nhìn chung các quy định pháp lý về hoạt động cho vay của NHTM tập trungvào các vấn đề sau:

- Các chủ thể tham gia hoạt động cho vay

- Các điều kiện vay vốn tại NHTM

- Hợp đồng tín dụng (viết tắt là HĐTD)

- Các biện pháp đảm bảo thực hiện

- Vi phạm HĐTD, tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong hoạt động chovay của NHTM đối với doanh nghiệp

1.2.1 Các chủ thể tham gia quan hệ cho vay giữa ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

Bên cho vay

Bên cho vay là NHTM phải thỏa mãn điều kiện được phép thành lập và đượcphép thực hiện hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp theo quy định của phápluật NHTM là đối tượng cần được quản lý chặt chẽ, vì NHTM là doanh nghiệp cócác hoạt động ảnh hưởng lớn đến sự ổn định xã hội, kinh tế đất nước và là tổ chức

có được quyền lực rất lớn trong việc sử dụng, phân bổ nguồn vốn huy động từ xãhội Việc quản lý thiếu chặt chẽ, lạm dụng quyền lực trong nội bộ của NHTM có thể

là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, gây ra sự mất lòng tin trong dân cư và đe doạ

sự ổn định của hệ thống ngân hàng Do đó, một số quy định về tổ chức quản lý đốivới NHTM thường được thiết kế chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác trongnền kinh tế và là một thông lệ chung được thừa nhận rộng rãi trên bình diện quốc tế

Trang 23

NHTM được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các nước trên thế giới Tại

Mỹ, khái niệm NHTM được hiểu như sau: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ,chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tàichính Tại Pháp định nghĩa, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệpthường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dướihình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiếtkhấu, tín dụng và tài chính Như vậy ở nhiều quốc gia, NHTM ngoài việc thựchiện các hoạt động ngân hàng cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụthanh toán thì còn thực hiện các hoạt động được phép khác nhằm thỏa mãn tối đanhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội Với hoạt động huy động vốn bằng cáchnhận tiền gửi, NHTM giúp luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn, gópphần tăng hiệu quả sử dụng vốn trên thị trường Trong đó, nguồn vốn phục vụ hoạtđộng cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp là nguồn vốn huy động từ kháchhàng, NHTM không cho vay tiền của bản thân mình mà NHTM đi vay để cho vay

Ở Việt Nam, NHTM thường được hiểu là loại hình TCTD được thực hiệntoàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan dưới

sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt độngkinh doanh tiền gửi sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanhtoán, các hoạt động kinh doanh khác là các dịch vụ tổng hợp về kinh doanh tiền tệnhư nhận tiền gửi của khách hàng để cho vay, chiết khấu, cung cấp phương tiệnthanh toán, cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng Như vậy, khái niệmNHTM có thể được hiểu như sau: NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ,

là một TCTD thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế đểtạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội

Bên vay

Bên vay vốn trong hoạt động cho vay của NHTM không bị giới hạn bởi bất

kì tổ chức cá nhân nào mà chỉ cần là tổ chức, cá nhân thoả mãn các điều kiện vayvốn theo quy định chung của pháp luật và Quy chế cho vay nội bộ của từng NHTM.Xuất phát từ thực tiễn, trên cơ sở quy định của pháp luật có liên quan, đề tài tập

Trang 24

trung xem xét nhóm khách hàng vay vốn là doanh nghiệp Dư nợ cho vay doanhnghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của NHTM Trên phương diện lýthuyết có khá nhiều cách hiểu khi khái niệm doanh nghiệp được nghiên cứu và xemxét dưới nhiều khía cạnh khác nhau Theo M.Francois Peroux: “doanh nghiệp làmột đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sựquan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiệnnhằm bán ra thị trường những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ để nhận được khoản tiềnchênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy” Theo quan điểmphát triển: doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh

ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời

kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phảikhó khăn không vượt qua được Hay doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉcác loại hình công ty Trên thế giới, so với loại hình doanh nghiệp khác, công tyxuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19 Trước đó, hoạt động kinh doanhthực hiện dưới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân Cũng từ thế kỷ 19,đặc biệt nửa đầu thế kỷ 20, công ty là loại hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất.Nhiều nước trên thế giới, thay vì thiết lập luật doanh nghiệp, đã thiên về quy định tổchức và hoạt động của loại hình công ty Theo quan điểm của các nước tư bản, công

ty là một tổ chức kinh tế được thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu tráchnhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công

ty Công ty được thành lập dựa trên thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi làđiều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn và được thừa nhận

là pháp nhân ở hầu hết các nước

Tuỳ theo đặc thù về lĩnh vực hoạt động kinh doanh, hình thức tổ chức trongcác lĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp có thể được hiểu dưới các thuật ngữ khácnhau: nhà máy, xí nghiệp, công ty, cửa hàng mang đặc điểm chung là các tổ chứckinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đựơc đăng ký kinhdoanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinhdoanh Như vậy, trước hết doanh nghiệp phải là chủ thể kinh tế độc lập, có hoặc

Trang 25

không có tư cách pháp nhân, có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, thựchiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường và chịu trách nhiệm độc lập

về mọi hoạt động kinh doanh của mình Thứ hai, tuỳ theo mục đích thành lập doanhnghiệp mà mỗi doanh nghiệp có mục đích hoạt động khác nhau trừ một số ít cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích còn mục đích của các doanh nghiệp

là tối đa hoá lợi nhuận Như vậy, dù định nghĩa ở góc độ mở rộng hoặc xem xét ởgóc độ hẹp, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chứckinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh

1.2.2 Các điều kiện vay vốn tại ngân hàng thương mại

Với từng loại hình doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tại NHTM, sẽ được NHTMxem xét, đưa ra yêu cầu cụ thể về các điều kiện vay vốn trên cơ sở pháp luật quy định:

Trước hết về chủ thể vay vốn: Pháp luật quy định bên vay phải là cá nhânhoặc pháp nhân [21, Điều 2] Theo đó, doanh nghiệp vay vốn tại NHTM phải có tưcách pháp nhân Vậy vấn đề đặt ra là, đối với trường hợp doanh nghiệp tư nhânkhông có tư cách pháp nhân nhưng cũng là một trong các chủ thể kinh tế tham giahoạt động sản xuất kinh doanh và họ đương nhiên cũng có nhu cầu vay vốn thì cóđược vay vốn tại NHTM không? NHTM sẽ có giải pháp gì để không bị mất đi mộtlượng khách hàng nêu trên nhưng lại không vi phạm các quy định của pháp luật khitiến hành hoạt động cho vay với nhóm đối tượng này? Đồng thời, bên vay phải thỏamãn điều kiện có năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự, có mục đích

sử dụng vốn vay hợp pháp, phải hoàn trả gốc lãi đúng thời hạn thỏa thuận Đâycũng là những điều kiện bắt buộc đối với mọi chủ thể có nhu cầu vay vốn củaNHTM và điều kiện này phải được ghi rõ trong HĐTD như một điều khoản chủ yếucủa hợp đồng Bên cạnh đó, NHTM đưa ra các điều kiện mà bên vay phải đáp ứngnhư: Bên vay phải có khả năng tài chính, đảm bảo trả nợ trong thời hạn đã cam kết.Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả…

NHTM và doanh nghiệp được quyền bình đẳng, thỏa thuận khi tiến hành kýkết HĐTD, NHTM đặt ra những điều kiện mà doanh nghiệp phải thỏa mãn khi vayvốn tại NHTM đồng thời doanh nghiệp cũng có những điều kiện của mình khi lựa

Trang 26

chọn NHTM để vay vốn Ngày nay, doanh nghiệp có xu hướng tìm kiếm các dịch

vụ hỗ trợ tài chính, thực hiện hoạt động vay vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinhdoanh Các khoản vay sẽ giúp hỗ trợ nhu cầu về vốn một cách nhanh chóng, chophép doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, tiếp cận nhiều cơ hội mới và phát huy lợi thếcạnh tranh trên thị trường Quan trọng hơn cả, chủ doanh nghiệp một khi đã hiểu rõquy trình đăng ký khoản vay của ngân hàng, sẽ có sự chuẩn bị kỹ lưỡng khi tìmkiếm các nguồn hỗ trợ tài chính và gia tăng cơ hội thành công Ngoài yếu tố tiênquyết là uy tín, tin cậy của NHTM thì doanh nghiệp thường cân nhắc những chínhsách ưu đãi rõ ràng, hấp dẫn từ phía NHTM từ đó lựa chọn ưu tiên gói vay ưu đãi

mà NHTM đưa ra (các gói vay được NHTM thiết kế cho từng đối tượng khác nhau)

Nói chung, trên cơ sở những điều kiện mang tính chất nguyên tắc thì cácđiều kiện khác được NHTM và doanh nghiệp thỏa thuận rất linh hoạt, phù hợp vớinhu cầu và đảm bảo lợi ích chấp nhận được của NHTM và chính doanh nghiệp đó.Việc pháp luật quy định các điều kiện cho vay ngoài mục đích thiết lập trật tự, kỷcương trong hoạt động tín dụng còn có ý nghĩa là giải pháp đảm bảo sự an toàntrong hoạt động kinh doanh của các TCTD

Trang 27

nhượng quyền sở hữu một khoản tiền vay cho doanh nghiệp vay vốn trong một thờihạn nhất định với điều kiện doanh nghiệp sẽ hoàn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi.

Đặc điểm

- HĐTD phải được lập dưới hình thức bằng văn bản

- Nội dung hợp đồng thể hiện sự đồng ý của NHTM chấp nhận cho doanhnghiệp quyền sở hữu một số tiền nhất định trong thời hạn nhất định, với điều kiện

có hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm

- Về chủ thể: bên cho vay là NHTM, có đủ điều kiện theo luật định đượcphép thực hiện hoạt động cho vay, còn bên vay là doanh nghiệp có đủ điều kiện vayvốn do pháp luật quy định Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền, bao gồm tiềnmặt và bút tệ

- HĐTD chứa đựng rất nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên cho vay Nếu thờihạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn

- Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay củaNHTM bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề cho việcthực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp

Hình thức của HĐTD

Thông thường, pháp luật quy định hình thức HĐTD bằng văn bản, nhằm tạo

ra một bằng chứng cụ thể có giá trị pháp lý cho việc thực hiện hợp đồng, giải quyếtcác tranh chấp phát sinh từ HĐTD Việc ký kết HĐTD bằng văn bản thực chất làmột sự công bố công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lậpước để cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sựhợp lý, an toàn trong trường hợp cần thiết Việc ký kết HĐTD bằng văn bản là cơ sở

để các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn Theoquy định hiện hành, văn bản HĐTD được hiểu gồm văn bản viết, văn bản điện tử.HĐTD được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữliệu được coi là giao dịch bằng văn bản Các hợp đồng điện tử được coi là có giá trịpháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch

Trang 28

Nội dung của HĐTD

Nội dung của HĐTD là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cáchchủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và không trái luật Cácđiều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên vừa làm phát sinh quyền, nghĩa vụ củacác bên tham gia HĐTD Thông thường, pháp luật quy định, nội dung của HĐTDbao gồm các điều khoản chính sau:

- Điều khoản về điều kiện vay vốn: HĐTD cần ghi rõ những tiêu chuẩn cụthể mà doanh nghiệp phải thỏa mãn thì HĐTD mới có hiệu lực

- Điều khoản về đối tượng hợp đồng: Các bên phải thỏa thuận và ghi rõ sốtiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi HĐTD đáo hạn

- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay: Các bên phải ghi rõ trong HĐTD

về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng Nếu

có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước khả năng này trong HĐTD,còn thời gian gia hạn sẽ có thể tiến hành thỏa thuận sau

- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay có vai trò rất quan trọng,liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi vay Vì thế, các bên phải thỏa thuận

rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay trả toàn bộ mộtlần khi hợp đồng vay đáo hạn Nếu khoản vay được thỏa thuận thanh toán theo từng

kỳ hạn, các bên cũng có thể dự liệu trước khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ phùhợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp

- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay Các bên cần ghi rõ vốn vay sẽđược sử dụng vào mục đích gì Việc thỏa thuận điều khoản này trong HĐTD đượcxem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư- NHTM, tránhtrường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn tùy tiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm.Mặt khác, để bảo đảm lợi ích của các bên và đảm bảo đồng vốn đầu tư được sửdụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn các bên cóquyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay khi xét thấy thời cơ và điều kiện

sử dụng vốn đã thay đổi

- Điều khoản về giải quyết tranh chấp HĐTD: Đây là điều khoản mang tínhchất thường lệ, các bên có quyền thỏa thuận về biện pháp giải quyết tranh chấp

Trang 29

bằng con đường thương lượng, hòa giải hoặc lựa chọn cơ quan tài phán sẽ giảiquyết tranh chấp Nếu HĐTD không ghi điều khoản này, có nghĩa các bên khôngthỏa thuận thì việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từHĐTD đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, nếu HĐTD được giao kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản nhưcầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một điều khoản riêng rẽnằm trong HĐTD (hợp đồng chính), hoặc lập thành một hợp đồng phụ đính kèmtheo hợp đồng chính

Giao kết HĐTD

Giao kết HĐTD là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ pháp lý,

do các bên thực hiện theo một trình tự luật định Việc giao kết HĐTD bao gồm cácgiai đoạn chủ yếu sau:

Thứ nhất, đề nghị giao kết HĐTD là hành vi pháp lý do một bên thực hiệndưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chímong muốn được giao kết HĐTD Thông thường, bên đề nghị giao kết HĐTD làdoanh nghiệp có nhu cầu vay vốn Văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửikèm các giấy tờ, tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hayphương án sử dụng vốn vay Các tài liệu này do doanh nghiệp gửi cho NHTM đểxem xét, thẩm định và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết HĐTD Thực tiễngiao kết HĐTD ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, nhiều trường hợpbên chủ động giao kết HĐTD lại chính là NHTM chứ không phải là doanh nghiệp,nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường tín dụng Những NHTM

đã từng đi tiên phong trong việc lựa chọn phương thức này chính là các ngân hàng

cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Khi

đó, văn bản đề nghị là thư chào mời được NHTM gửi cho doanh nghiệp có khảnăng tài chính mạnh, có uy tín trên thương trường và có nhu cầu vay vốn thườngxuyên (những khách hàng tiềm năng) mà NHTM lựa chọn là bên đối tác Trong thưchào mời, bên đề nghị thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhấtkèm theo những ước khoản cụ thể để cho bên kia xem xét chấp nhận Tuy nhiên,

Trang 30

thực tế, nếu bên tiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dung củathư chào mời đó thì không vì thế mà HĐTD được coi là đã hình thành.

Thứ hai, thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD:Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ pháp lý doNHTM thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở

đó quyết định cho vay hay không Do tính chất đặc biệt quan trọng của giai đoạnnày trong cả quá trình từ khi cho vay đến khi thu hồi nợ, nên pháp luật đòi hỏi bêncho vay là NHTM phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định

rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâuquyết định cho vay Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của doanh nghiệp, NHTM

có toàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho vay Trong trường hợp từchối cho vay, NHTM phải thông báo cho doanh nghiệp bằng văn bản và phải nêu rõ

lí do từ chối cho vay Việc từ chối cho vay không có căn cứ xác đáng có thể là lí do

để doanh nghiệp thực hiện hành vi đối kháng với NHTM theo quy định của phápluật Chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD là hành vi pháp lý do bên nhận đề nghị thựchiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia với nội dung thể hiện

sự đồng ý giao kết HĐTD Theo đó, hành vi chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD chỉ

có giá trị như một lời tuyên bố đồng ý ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế choviệc giao kết hợp đồng giữa các bên Có nghĩa là việc giao kết HĐTD chỉ được xem

là hoàn thành sau khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trựctiếp các điều khoản của hợp đồng (bao gồm các điều khoản chủ yếu, điều khoảnthường lệ, điều khoản tùy nghi) và người đại diện có thẩm quyền của các bên đãtrực tiếp ký tên vào bản HĐTD

Thứ ba, đàm phán các điều khoản của HĐTD: Đây là giai đoạn cuối cùng và

là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết HĐTD Trong giai đoạn này, các bêngặp nhau để đàm phán các điều khoản của HĐTD Giai đoạn này được coi là kếtthúc khi đại diện các bên đã chính thức ký tên vào bản HĐTD

Hiệu lực của HĐTD

Trang 31

Điều kiện có hiệu lực của HĐTD, hiệu lực pháp lí của giao dịch nói chung vàgiao dịch cho vay của NHTM nói riêng, thực chất là sự thừa nhận của Nhà nước vềnhững hệ quả pháp lí phát sinh bởi hành vi giao dịch của NHTM đối với doanhnghiệp Việc thừa nhận hiệu lực của một giao dịch pháp lí thường được Nhà nướcthực hiện bằng cách quy định các điều kiện có hiệu lực của giao dịch và các nguyêntắc xác định hiệu lực của giao dịch đó HĐTD là một loại giao dịch dân sự, nênHĐTD có hiệu lực khi HĐTD thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự Sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứtquyền và nghĩa vụ được xác định ngay trong HĐTD Khi xác lập một hợp đồng, cácbên luôn mong hợp đồng đó được thực hiện trên thực tế Tuy nhiên vì nhiều lý do chủquan hoặc khách quan mà hợp đồng có thể bị vô hiệu nếu không đáp ứng những điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự,năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập; Chủ thể tham gia hợpđồng phải hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạmđiều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Ngoài ra, hình thức của giao dịch dân

sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.Như vậy, đối với giao dịch dân sự pháp luật có quy định về hình thức hợp đồng phảiđược lập thành văn bản là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Các điều kiện nêu trên đương nhiên được áp dụng chung cho mọi giao dịchdân sự, trong đó HĐTD là hình thức ghi nhận giao dịch dân sự đặc thù giữa NHTMvới doanh nghiệp, chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện cụ thể là:

Thứ nhất, chủ thể tham gia HĐTD có năng lực hành vi dân sự

Bên vay: doanh nghiệp phải có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ

Bên cho vay: do tính chất đặc thù của hoạt động ngân hàng nên NHTM phải

có giấy phép hoạt động ngân hàng, trong đó cho phép NHTM được hoạt động chovay doanh nghiệp

Thứ hai, mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và đạo đức

xã hội Đối với các giao dịch thương mại của NHTM, mục đích và nội dung giaodịch không chỉ phản ánh lợi ích của các bên mà còn bị chi phối bởi chính các lợi ích

Trang 32

đó Mục đích của giao dịch giữa NHTM và doanh nghiệp sẽ bị coi là trái pháp luật

và đạo đức xã hội khi giao dịch đó được các bên xác lập mà vi phạm các quy tắcpháp lí đã được Nhà nước xây dựng để bảo vệ quyền lợi chung hoặc xâm hại cácgiá trị đạo đức đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận Ví dụ, nếu NHTM và doanhnghiệp giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi là để giúp cho doanh nghiệp thực hiệnhành vi “rửa tiền” đối với nguồn thu nhập do phạm pháp mà có thì giao dịch nàyđược xem là có mục đích trái pháp luật

Thứ ba, giao dịch có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyêntắc tự nguyện, bình đẳng và tự do ý chí Điều kiện này liên quan mật thiết với điềukiện về năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia giao dịch Chỉ khi nào xácđịnh rõ chủ thể giao dịch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì việc xác định tính tựnguyện và tự do ý chí của chủ thể đó mới chính xác và khoa học Đối với chủ thểgiao dịch là pháp nhân NHTM, việc xác định tính tự nguyện, tự do ý chí có phầnkhác biệt và phức tạp hơn so với chủ thể giao dịch là thể nhân Điều này thể hiện ởchỗ, ý chí của pháp nhân NHTM thực chất là ý chí tập thể của các thành viên phápnhân, ý chí này thường được thể hiện thông qua các quyết định của tập thể thànhviên pháp nhân hoặc thể hiện thông qua hành vi của những người đại diện hợp phápcho pháp nhân NHTM Một HĐTD được coi là không có sự đồng thuận khi sự thỏathuận giữa các bên bị các khiếm khuyết như nhầm lẫn, lừa dối hoặc ép buộc, cưỡngbức trong khi giao kết hợp đồng Trên nguyên tắc, các khuyết tật này phải ảnhhưởng mang tính quyết định đến ý chí giao kết của các bên mới được coi là sự kiệnpháp lý làm cho HĐTD vô hiệu

Thứ tư, hình thức của giao dịch cho vay của NHTM đối với doanh nghiệpmang tính đặc thù, cần được pháp luật quy định chặt chẽ và phải được xem là mộttrong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nhằm ngăn ngừa rủi ro pháp lí chocác bên trong quá trình xác lập và thực hiện giao dịch Từ thực tiễn, pháp luật đòihỏi hầu hết các giao dịch loại này phải được xác lập dưới hình thức văn bản hay tàiliệu giao dịch hợp thức và có giá trị chứng cứ chứng minh nội dung cam kết của cácbên Thời điểm phát sinh hiệu lực là mốc thời gian mà kể từ đó quyền và nghĩa vụ

Trang 33

pháp lý của các bên tham gia giao kết bắt đầu phát sinh Pháp luật của từng nước cónhững quy định rất khác nhau về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD, ở ViệtNam [44, Điều 401] quy định thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là thời điểmcác bên đã thỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tênvào văn bản HĐTD.

Trên nguyên tắc, khi HĐTD không thoả mãn một trong số các điều kiện cóhiệu lực do pháp luật quy định nêu trên thì Hợp đồng có thể bị vô hiệu toàn bộ hoặcchỉ bị vô hiệu một phần Hợp đồng vô hiệu từng phần khi một phần nội dung củahợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của hợpđồng Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụcủa các bên kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập Khi hợp đồng vô hiệu thì cácbên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trườnghợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả Bênngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường

1.2.4 Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ

Theo luật dân sự hầu hết các nước trên thế giới, bảo đảm tiền vay là nhữngbiện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Sở dĩ vì HĐTD ngân hàng theopháp luật các nước trên thế giới hầu hết là một chế định của luật dân sự Còn ởViệt Nam [1, Điều 2], bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằmphòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã chokhách hàng vay Như vậy, trong quan hệ cho vay giữa NHTM đối với doanhnghiệp, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo nghĩa hẹp có thể được hiểu là

sự cam kết của doanh nghiệp đối với NHTM dựa trên các quy định của nhà nướcnhằm thiết lập và áp dụng các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảođảm việc trả nợ vốn vay, ngăn ngừa vi phạm, tạo khả năng khắc phục những hậuquả do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gây ra

Tuy vậy trong thực tế, với sự bất ổn của thị trường, giá cả, thông tin cònnghèo nàn những dự đoán và rủi ro phát sinh trong tương lai khó có thể lường

Trang 34

trước Việc lựa chọn, xem xét và cho vay đối với doanh nghiệp theo quy định củapháp luật là do TCTD quyết định, Nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt độngkinh doanh của các TCTD [24, Điều 3] Do đó, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả

nợ nếu chỉ được xem xét ở góc độ là phương án dự phòng sau cùng mà NHTM sửdụng để đảm bảo quyền lợi của mình, khi đó sẽ thiếu đi vai trò tự chủ của NHTMkhi xem xét đánh giá khả năng cho vay đối với doanh nghiệp Nói cách khác, cácbiện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ không phải là một biện pháp bảo đảm chắc chắn

để NHTM thu hồi vốn vay, mà bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ là việc thiết lậpcác điều kiện nhằm xác định khả năng thực có của khách hàng đối với việc hoàn trảvốn vay đúng thời hạn Nó chỉ là biện pháp phòng ngừa và có thể khắc phục hậuquả rủi ro hoặc một phần rủi ro Điều mà các NHTM cần quan tâm là vấn đề tự chủ

và tự quyết định lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ

Ngày nay, đa phần NHTM thường chủ động tìm kiếm dự án sản xuất kinhdoanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ để cho vay Đây đượccoi là biện pháp hàng đầu, tích cực, mang tính phòng ngừa cao được áp dụng tiênphong trong các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ Việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụtrả nợ không chỉ đơn thuần và duy nhất là cho vay phải có tài sản để thế chấp, cầm

cố, cầm giữ hoặc bảo lãnh (tức là bảo đảm bằng tài sản) mà cần hiểu là hàng loạt cácgiải pháp nhằm mục đích thực hiện cho được yêu cầu buộc vốn cho vay phải quay vềvới NHTM sau một chu kỳ nhất định với đầy đủ gốc và lãi Việc NHTM chủ độngtìm kiếm khách hàng là một cách NHTM chủ động lựa chọn chất lượng tín dụng đốivới khoản tiền cho vay dự kiến, ngay cả khi không có bảo đảm bằng tài sản

Theo đó các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ có đặc điểm sau:

- Được xác lập trên cơ sở nghĩa vụ chính mà nó bảo đảm (nghĩa vụ trả nợtheo HĐTD), tuy nhiên mối quan hệ về hiệu lực giữa HĐTD và các giao dịch bảođảm là độc lập

- Mục đích của các biện pháp bảo đảm nhằm nâng cao trách nhiệm của cácbên trong quan hệ nghĩa vụ (NHTM và doanh nghiệp vay vốn)

- Các biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng

Trang 35

- Phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trongnội dung quan hệ chính.

- Các biện pháp bảo đảm được áp dụng dựa trên cơ sở thoả thuận của cácbên, được thiết lập trong phạm vi các biện pháp được pháp luật quy định

- Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ để đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ chính chỉ bị xử lý khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ chính

Xung quanh các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ hiện nay đượcpháp luật quy định áp dụng trong hoạt động cho vay của NHTM đối với doanhnghiệp gặp phải không ít vướng mắc trong thực tiễn mà cụ thể sẽ được xem xét cụthể hơn trong Chương 2

1.2.5 Vi phạm hợp đồng tín dụng, tranh chấp, giải quyết tranh chấp hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

Khái quát chung

Vi phạm HĐTD là hành vi của một bên hoặc cả hai bên tham gia hợp đồng

cố ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trong HĐTD và phải thỏa mãncác điều kiện:

- Bên thực hiện hành vi vi phạm HĐTD phải là các bên tham gia HĐTD, ởđây là doanh nghiệp hoặc NHTM

- Một trong các bên có hành vi trái với các điều khoản đã cam kết trong HĐTD

- Bên thực hiện hành vi có lỗi được xác định là cố ý hoặc vô ý

- Hành vi đó xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của bên đối ước hoặc quyền, lợiích chung của toàn xã hội hoặc tổ chức, cá nhân khác

Tùy vào mức độ hậu quả thực tế xảy ra mà có 2 loại trách nhiệm pháp lý phátsinh khi có vi phạm HĐTD là: Trách nhiệm nộp phạt vi phạm HĐTD: nhằm nângcao tính kỷ luật hợp đồng nên không cần phải chứng minh có thiệt hại vật chất xảy

ra Loại trách nhiệm này do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy định phápluật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD: được áp dụng khi có thiệthại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm Số tiền bồithường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ quan tài

Trang 36

phán có thẩm quyền.

Trong HĐTD, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của người vay sau thời hạnnhất định nên thường dẫn tới các rủi ro bất trắc, chẳng hạn, người vay không thanhtoán hoặc thanh toán không đúng hạn như đã thỏa thuận Vì thế các tranh chấp vềhợp đồng cũng thường xuyên xảy ra Tranh chấp phát sinh từ HĐTD được hiểu làtính trạng pháp lý cảu quan hệ HĐTD trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bấtđồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD vànhững xung đột này phải được thể hiện ra bên ngaofi (mặt khách quan) Theo phápluật Việt Nam hiện hành, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD sẽ được giải quyếtbằng những phương thức: thương lượng, hòa giải trung gian, cơ chế tài phán (đâyđược xem là giải pháp cuối cùng để phân định quyền lợi giữa các bên theo quy địnhcủa luật tố tụng)

Giải quyết tranh chấp trong hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp

Tranh chấp phát sinh từ HĐTD được hiểu là tình trạng pháp lí của quan hệHĐTD, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về quyền

và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD Về khách quan, một HĐTD chỉ đượccoi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên đã được thểhiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được Vì thế,không phải cứ khi nào có vi phạm hợp đồng thì khi đó mới có tranh chấp, đôi khi viphạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp đồng là sự kiện diễn ra sau đó mộtkhoảng thời gian Thậm chí có sự vi phạm HĐTD nhưng không hề có tranh chấp,bởi các bên không bày tỏ ra bên ngoài sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ vớinhau bằng các hành vỉ phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ Trong thực tiễn, việcxác định đúng đắn, chính xác thời điểm phát sinh tranh chấp có tác dụng rất lớntrong việc xác định thời hiệu khởi kiện, cũng như lựa chọn phương án giải quyếttranh chấp phù hợp Trên cơ sở đó góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các tổchức và cá nhân trong xã hội

Ngày nay, tuỳ thuộc vào quan điểm, tư tưởng của nhà lập pháp mà pháp luậtmỗi nước có những quy định khác nhau trong việc quy định thẩm quyền và thủ tục

Trang 37

giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Ví dụ, pháp luật về tố tụng của Cộng hoàPháp thì những tranh chấp phát sinh từ HĐTD giữa TCTD (chủ thể kinh doanh) vớicác pháp nhân hoặc cá nhân có đăng kí kinh doanh trong danh bạ thương mại, đượcxem là tranh chấp thương mại và sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án thươngmại Những tranh chấp phát sinh từ HĐTD giữa TCTD với các chủ thể không phải

là thương nhân thì việc giải quyết sẽ được phân định theo quy tắc: Nếu người bịkiện (bị đơn) là một thương nhân thì bên nguyên đơn có thể lựa chọn giữa toà ánthương mại hoặc dân sự để khởi kiện; Nếu người bị kiện là một người không phảithương nhân thì bên nguyên đơn chỉ có thể khởi kiện tại toà án dân sự [56]

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các tranh chấp phát sinh từ HĐTD sẽđược giải quyết thông qua những phương thức sau đây:

Thứ nhất, giải quyết tranh chấp HĐTD bằng phương thức thương lượng hoặchoa giải Theo quy định của pháp luật, để giải quyết tranh chấp HĐTD, trước hếtcác bên có quyền tự thương lượng với nhau về các mâu thuẫn, xung đột, bất đồngnhằm tiến tới sự dung hoà về lợi ích cho cả hai bên Trường hợp việc thương lượngkhông đạt kết quả, các bên có thể lựa chọn giải pháp hoà giải với nhau qua trunggian hoà giải, các bên tranh chấp thông qua bên trung gian (Hòa giải viên/ trung tâmhòa giải) cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương án giảiquyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận qua hòagiải Việc quy định các cơ chế này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên

và giúp cho các bên tránh được những chi phí không cần thiết do phải theo kiệntrước toà Tuy vậy, nếu các bên không thể tự giải quyết được tranh chấp cho mìnhbằng con đường thương lượng, hoà giải thì theo luật định họ có quyền đưa tranhchấp ra xét xử tại một cơ quan tài phán có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Thứ hai, giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán Việc giải quyếttranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường tài phán được xem như giải phápcuối cùng để phân định quyền lợi giữa các bên theo quy định của luật tố tụng ỞViệt Nam, nếu không có thoả thuận nào khác trong HĐTD thì các tranh chấp vềkinh doanh, thương mại, trong đó có tranh chấp về HĐTD sẽ thuộc thẩm quyền giải

Trang 38

quyết của toà án Đây là phương thức giải quyết tranh chấp bằng thủ tục tư pháp màcác bên thông qua cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án Việc xác định thẩm quyềngiải quyết của toà dân sự hay toà kinh tế còn phụ thuộc vào mục đích của HĐTD,các yếu tố về chủ thể ký kết, phạm vi lợi ích bị xâm phạm Việc phân định loại vụ

án trên thực tế chỉ là tương đối, nhiều toà án địa phương gặp phải không ít khókhăn Tuy nhiên, khi xem xét giải quyết dù phân định như thế nào cũng cần phảidựa trên mục đích cuối cùng là đảm bảo lợi ích công bằng, khách quan cho các bên.Ngoài ra, các bên có quyền lựa chọn giải quyết tranh chấp, nếu HĐTD có thoảthuận về việc lựa chọn cơ quan tài phán là trọng tài thương mại thì tranh chấp này

sẽ được giải quyết tại trọng tài thương mại theo thủ tục tố tụng trọng tài

1.3 Các yếu tố tác động tới pháp luật về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp

1.3.1 Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng thương mại

Bên cạnh các Bộ luật, Luật thì các thông tư, các văn bản dưới Luật khácđược Nhà nước ban hành, hướng dẫn các vấn đề có liên quan tới NHTM, doanhnghiệp ở một khía cạnh nào đó đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đa dạng hoá, tínhnăng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của các NHTM và doanh nghiệp,đảm bảo việc đa dạng đầu tư của NHTM nhưng vẫn quản lý giám sát được các hoạtđộng đầu tư kinh doanh thêm của NHTM Như vậy, tiếng nói của NHTM, tình trạnghoạt động, kết quả kinh doanh phần nào thể hiện sự tác động hiệu quả hay khôngcủa các chính sách pháp luật Nhà nước áp dụng pháp luật trước sự vận động khôngngừng của nền kinh tế- thị trường Có thể nói việc đưa ra các khuôn khổ, khungpháp lý nhất định nhằm tạo hành lang an toàn cho chính các NHTM và xa hơn nữa

là giữ vững sự ổn định của hệ thống tài chính, hạn chế sự đổ vỡ tín dụng, dẫn đếnkhủng hoảng tài chính trong toàn bộ nền kinh tế Có thể thấy, NHTM chịu sự điềuchỉnh của pháp luật hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp, hiệu quảhoạt động kinh doanh trong hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệpphần nào phản ánh hiệu quả và là cơ sở để các nhà làm luật xem xét, xây dựng cácchính sách pháp luật

Chính sách tín dụng

Trang 39

Hoạt động tín dụng mang tính chất sống còn đối với NHTM, hơn thế nữachức năng huy động và cho vay quyết định quy mô, chất lượng, sản phẩm ngânhàng tạo nên bộ mặt ngân hàng trước công chúng Chính sách tín dụng đóng vai tròthen chốt điều tiết các mặt hoạt động như: huy động vốn và cho vay, quy trình chovay, lãi suất, sản phẩm tín dụng, kỹ thuật quản lý rủi ro tín dụng và thu hút kháchhàng nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược đề ra trong kinh doanh Chính sáchtín dụng của ngân hàng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc mở rộnghoặc hạn chế quy mô tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạch định và hạn chế rủi ro,bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng mà pháp luật cho phép.

Vì vậy, trong từng thời kỳ nhất định, NHTM phải định hướng xây dựng mục tiêuphấn đấu cụ thể để định hướng tích cực đến việc điều chỉnh mọi mặt hoạt độngNHTM Một chính sách tín dụng hợp lý, phù hợp với định hướng phát triển của đấtnước và xu thế toàn cầu hoá sẽ tạo điều kiện cho NHTM sử dụng tối ưu nguồn vốncủa mình khi cho vay, tạo điều kiện thuận lợi mở rộng quy mô tín dụng, đồng thờiđảm bảo an toàn trong kinh doanh, giúp nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM.Bên cạnh đó, những chính sách tín dụng kịp thời thể hiện sự thích ứng nhanh nhạycủa NHTM với tình hình mới và là tiền đề quan trọng trong tiến trình hoàn thiện hệthống pháp luật để phù hợp xu thế hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng

Chất lượng nhân sự, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật công nghệ của ngân hàng

Ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại được trang bị các phương tiện kỹthuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hoá các thủ tục, rút ngắn thời giangiao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn và giúp cho việc thuthập thông tin nhanh chóng, chính xác, công tác phân tích tín dụng, lập kể hoạch,xây dựng chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn Trong hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng, bên cạnh những máy móc thiết bị tiên tiến, con người có đóng góprất lớn đến thành công của ngân hàng Hoạt động cho vay doanh nghiệp đòi hỏi cán

bộ phải có trình độ tổng quát, có cái nhìn biện chứng cho mọi vấn đề, có khả năngphát hiện và phân tích vấn đề một cách khéo léo Đối với cán bộ tín dụng, khi làmviệc phải có sự nhạy bén, linh hoạt xử lý mọi vấn đề, không áp dụng nguyên tắc một

Trang 40

cách máy móc, cứng nhắc để có thể vừa thu hút được khách hàng vừa đảm bảo antoàn và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng Đây không chỉ đơn thuần là một nghiệp

vụ mà nói đúng hơn nó là một nghệ thuật trong kinh doanh Tốc độ thay đổi nhanhchóng của công nghệ đặt ra yêu cầu các cơ quan quản lý phải thay đổi cách tiếp cậntheo hướng từ quản lý thận trọng, đảm bảo tuân thủ quy định, luật lệ sang thúc đẩyđổi mới sáng tạo, bảo vệ người tiêu dùng, chính sách theo hướng cởi mở, thích ứngvới môi trường, hoàn cảnh thay đổi nhanh chóng của kỷ nguyên 4.0

1.3.2 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp

Nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp

Điều trước tiên và mang tính chất quyết định đến quy mô vốn tín dụng ngânhàng, đó chính là nhu cầu vốn vay của khách hàng, ngân hàng không thể mở rộngđược quy mô cho vay nếu khách hàng không có nhu cầu về vốn vay ngân hàng.Đồng thời, nếu quy định pháp luật về hoạt động cho vay của NHTM đối với doanhnghiệp cứng nhắc không có sự điều chỉnh trong từng thời kỳ để phù hợp với từngđiều kiện hoàn cảnh cụ thể thì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho cả NHTM và doanhnghiệp Những chính sách pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn kinh doanh thời

kỳ dịch bệnh là một trong những ví dụ cho sự cần thiết trong tính linh hoạt kịp thờicủa các chính sách pháp luật hiện nay

Vấn đề tài chính, hệ thống sổ sách kế toán, nội dung và phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp uy tín, thương hiệu, trình độ, cách thức quản lý của doanh nghiệp

Những vấn đề nội tại của doanh nghiệp như: sự thiếu minh bạch giữa tài sản

cá nhân và tài sản của doanh nghiệp Hệ thống sổ sách kế toán, nội dung và phươngpháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp thường không đầy đủ, thiếu chính xác,thiếu minh bạch Nhiều doanh nghiệp không thực hiện phương pháp kế toán theochế độ bắt buộc mà chỉ thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân Do đó gây khókhăn lớn cho ngân hàng khi tiến hành đánh giá doanh nghiệp Mặt khác, vốn tự cócủa các doanh nghiệp còn hạn chế Vốn nhỏ ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Năng lực tài chính nội tại của doanh nghiệp yếu, các

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (1999), Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 quy định vềbảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
2. Chính phủ (2006), Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/06/2006 về giao dịch bảo đảm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/06/2006 về giao dịchbảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
3. Chính phủ (2009), Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 về tổ chức vàhoạt động của ngân hàng thương mại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
4. Chính phủ (2012), Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006 (Trương Quốc Cường, Đào Minh Phúc, Nguyễn Đức Thắng, 2010)/NĐ- CP ngày 19/12/2006 về giao dịch bảo đảm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006 (TrươngQuốc Cường, Đào Minh Phúc, Nguyễn Đức Thắng, 2010)/NĐ-CP ngày 19/12/2006 về giao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
5. Chính phủ (2017), Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng kýgiao dịch bảo đảm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
6. Chính phủ (2019), Nghị định số 86/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 quy định về mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 86/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 quy định vềmức vốn pháp định của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
7. Chính phủ (2019), Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 quy định về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
8. Chính phủ (2021), Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thihành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2021
9. Trương Quốc Cường, Đào Minh Phúc, Nguyễn Đức Thắng (2010), Rủi ro tín dụng thương mại ngân hàng – Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro tíndụng thương mại ngân hàng – Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trương Quốc Cường, Đào Minh Phúc, Nguyễn Đức Thắng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
10. Lê Văn Dũng (2007), “Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí ngân hàng, (7), tr. 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mạitrong quá trình hội nhập quốc tế”, "Tạp chí ngân hàng
Tác giả: Lê Văn Dũng
Năm: 2007
11. Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Thảo (2002), Ngân hàng Thương mại – quản trị và nghiệp vụ, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Thương mại –quản trị và nghiệp vụ
Tác giả: Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Thảo
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
12. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh, Nxb. Hồng Đức, tr.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật về chủthể kinh doanh
Tác giả: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2013
13. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật ngân hàngViệt Nam
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
14. Nguyễn Thành Nam (2013), “Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (22), tr.44-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạtđộng bảo lãnh ngân hàng”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Thành Nam
Năm: 2013
15. Nguyễn Thành Nam (2013), “Xác định lại bản chất quan hệ bảo lãnh ngân hàng trong các quy định của pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (19), tr. 51-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định lại bản chất quan hệ bảo lãnh ngânhàng trong các quy định của pháp luật”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Thành Nam
Năm: 2013
16. Đinh Thị Thuỳ Nga (2011), Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận văn ThS. Luật Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro tronghoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Thuỳ Nga
Năm: 2011
17. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNNVN, ngày 31/12/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNNVN, ngày31/12/2001
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2001
18. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 07/2010/TT-NHNNVN ngày 26/02/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2010/TT-NHNNVN ngày26/02/2010
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
19. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 12/2010/TT-NHNNVN ngày 14/4/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2010/TT-NHNNVN ngày14/4/2010
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
20. Ngân hàng Nhà nước (2014), Thông tư số 36/2014/TT-NHNNVN ngày 20/01/2014 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 36/2014/TT-NHNNVN ngày20/01/2014 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt độngcủa các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w