1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng ở việt nam

91 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Các Điều Kiện Chào Bán Chứng Khoán Ra Công Chúng Ở Việt Nam
Tác giả Đỗ Thảo Quyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thuận
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 588 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp cũng là một trong số các quốc gia sử dụng cách định nghĩa theo hướngliệt kê này, Luật chứng khoán Pháp quy định: Việc chào bán chứng khoán ra công chúng được hiểu là việc cho phépmộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THUẬN

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Thảo Quyên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 2

3.Tính mới và những đóng góp của đề tài 3

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5.Tổng quan tài liệu 4

6.Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 6

7.Kết cấu của luận văn 6

Chương 2 36

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN 36

CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG Ở VIỆT NAM 36

Chương 3 64

ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN 64

PHÁP LUẬT VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN 64

RA CÔNG CHÚNG 64

3.1.1 Xuất phát từ yêu cầu lý luận, thực tiễn hoạt động chào bán chứng khoán 64

3.1.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Trang 5

UBCK Ủy ban Chứng khoán

UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường tài chính đặc biệt, có vai tròquan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế ở các quốc gia trên thế giới bởi:Đây là nơi các doanh nghiệp và chính phủ huy động được nguồn vốn dồi dào, dàihạn cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội, cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Đồng thời, đây cũng là kênh đầu tư rất hữu hiệu của công chúng đầu tư bởi sự hấpdẫn về lợi nhuận mà nó mang lại khi mua, bán chứng khoán Vậy nên, TTCK luônhàm chứa các rủi ro bởi tính hấp dẫn khi kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là cácchứng khoán của tổ chức phát hành có tăng trưởng tài chính hoặc lách luật, hay trụclợi tình hình kinh tế, chính trị để tăng trưởng ảo, lợi dụng lòng tin của các cổ đông

để phát hành cổ phiếu hút vốn Do đó, nếu tổ chức phát hành không tuân thủ cácquy định pháp luật, chỉ đặt lợi ích kinh doanh, kinh tế, lợi nhuận của doanh nghiệp

để chào bán các chứng khoán không chất lượng ra thị trường thì sẽ ảnh hưởng rấtnhiều đến tình hình phát triển kinh tế, lạm phát và thua thiệt sẽ thuộc về cổ đông vàngười đầu tư Người đầu tư ham lợi hoặc thiếu hiểu biết về chất lượng của các loạichứng khoán đó mà mua phải thì ắt thiệt hại kinh tế cho mình, cho doanh nghiệpmình, thiệt hại kéo theo đó có thể gây sụp đổ cả nền kinh tế của quốc gia nếu họhoảng loạn, đồng loạt bán ra để thu hồi vốn dẫn tới mất khả năng thanh toán trênTTCK Thị trường chứng khoán sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ tất yếu của nền kinh tếbởi đây là thị trường xương sống của nền kinh tế Lịch sử TTCK thế giới ghi nhận

đã từng có quốc gia như Mỹ năm 1929 và năm 1987 đã từng sụp đổ gây chao đảo cảnền kinh tế của quốc gia Do đó, để đảm bảo hoạt động bình ổn của thị trường, đảmbảo việc huy động vốn cho phát triển kinh tế quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích củacông chúng đầu tư trên TTCK, bất cứ quốc gia nào có TTCK cũng đều quy địnhbằng pháp luật các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng Chào bán chứngkhoán ra công chúng là một trong những khâu đầu tiên của doanh nghiệp phát hànhphát hành chứng khoán nhằm huy động vốn cho mục đích phát triển kinh tế, kinh

Trang 7

doanh của mình Tại Việt Nam, ngày từ khi mới khai trương TTCK (năm 2000) cácquy định về chào bán chứng khoán ra công chúng đã được pháp luật quy định tạiNghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7 năm 1998 Đây là Nghị định đầu tiên hay vănbản pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động của TTCK Từ đó đến nay với hơn 20năm hoạt động, pháp luật về TTCK nói chung và phát hành chứng khoán nói riêng

đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm đảm bảo chất lượng cácchứng khoán phát hành, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Tuynhiên, thực tế vận hành của TTCK và tình trạng phát hành cổ phiếu để tăng vốn, trả

cổ tức, phát hành cổ phiếu thưởng … (phát hành chứng khoán ra công chúng) trênTTCK của Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều lỗ hổng tạo điều kiện để cácdoanh nghiệp phát hành lách luật phát hành chứng khoán kém chất lượng tung ra thịtrường, gây mất niềm tin của công chúng đầu tư, gây khó khăn cho việc huy độngvốn của Chính phủ và các doanh nghiệp làm ăn chân chính Các quy định về điềukiện chào bán chứng khoán ra công chúng được đề cập rải rác tại nhiều văn bản,chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, do đó gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân liênquan, cũng như cho cơ quan quản lý trong thực hiện, theo dõi và áp dụng Thêm vào

đó, trong bối cảnh Luật chứng khoán năm 2019 và các văn bản pháp luật liên quan

đã và đang được các cơ quan hữu quan nghiên cứu, đánh giá, tiến hành sửa đổi, bổsung hoàn thiện thì việc tiếp tục nghiên cứu về điều kiện chào bán chứng khoán racông chúng trên TTCK Việt Nam vẫn là đòi hỏi ngày càng cấp bách về cả lý luận vàthực tiễn nhằm góp phần hoàn thiệp pháp luật về chứng khoán và TTCK

Trước tình hình đó, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Pháp luật về các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho

luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật kinh tế của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu các quy định pháp luật về chào bánchứng khoán ra công chúng và thực tiễn áp dụng, trong đó tập trung nghiên cứu,đánh giá các tiêu chuẩn, quy định, các yêu cầu liên quan về điều kiện chào bán

Trang 8

chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam, từ đó có thể đề xuất nhữnggiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra côngchúng ở Việt Nam.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu tổng quát trên, luận văn đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:

- Làm sáng tỏ thêm lý luận về điều kiện chào bán chứng khoán ra côngchúng và pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng theo nguyên

lý chung

- Phân tích, đánh giá, so sánh các điều kiện chào bán chứng khoán ra côngchúng theo pháp luật Việt Nam và trên thế giới

- Xác định các vấn đề pháp lý phát sinh và nhu cầu thực tiễn phải hoàn thiện

hệ thống pháp luật về các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

- Trên cơ sở xác định các vấn đề phát sinh và nhu cầu điều chỉnh pháp luật,

đề xuất những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật chohoạt động

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn đóng góp những nội dung khoa học sau:

Thứ nhất, luận văn làm rõ các khái niệm, đặc điểm của chào bán chứng

khoán ra công chúng, làm rõ các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng từ

để đó thấy được ý nghĩa, vai trò của chào bán chứng khoán ra công chúng

Thứ hai, luận văn làm rõ thực trạng quy định của pháp luật về điều kiện chào

bán chứng khoán ra công chúng, chỉ ra được các ưu điểm và hạn chế của quy địnhpháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng và vai trò của nó đốivới hoạt động phát hành nói chung và hoạt động phát hành chứng khoán ra côngchúng nói riêng Từ đó đưa ra được các đánh giá đối với quy định pháp luật về điềukiện chào bán chứng khoán ra công chúng

Thứ ba, Từ việc nghiên cứu các bất cập của các quy định hiện hành về phát

hành chứng khoán ra công chúng và thực tế xu hướng phát triển của TTCK ViệtNam trong giai đoạn đã là thị trường vốn được nhiều quốc gia tham gia đầu tư, vốn

Trang 9

hóa thị trường tăng trưởng mạnh, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, luận văn đưa

ra định hướng, đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện, pháp luật về điềukiện chào bán chứng khoán ra công chúng

Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ thống lý luận

về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng Luận văn cung cấp cái nhìn tổngquát về chào bán chứng khoán ra công chúng chung và việc áp dụng các quy địnhđiều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng vào thực tiễn nói riêng Trên cơ sởphân tích, đánh giá quy định pháp luật hiện hành về điều kiện chào bán chứngkhoán ra công chúng luận văn rút ra được những ưu điểm, hạn chế Từ đó đề xuấtcác giải pháp để xây dựng pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy địnhpháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp luậtđiều chỉnh điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý,

cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

5 Tổng quan tài liệu

Các nghiên cứu về hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng đã được thựchiện trong một số đề tài nghiên cứu cấp Bộ do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và

Bộ Tư pháp chủ trì Những công trình nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lý luận quan trọngcho sự vận hành và hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam Ngoài ra, đềtài về chào bán cổ phiếu ra công chúng cũng được nghiên cứu ở một số luận vănthạc sĩ ở các khía cạnh khác nhau như:

- Đề tài “Pháp luật về phát hành chứng khoán Công ty ở Việt Nam – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Minh Hiếu năm 2008.

- Đề tài “Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Minh Thu năm 2008.

- Đề tài “Một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và một số nước” của tác giả Phạm Thị Thanh Hương năm 2010.

Trang 10

- Đề tài “Chào bán chứng khoán ra công chúng Công ty Cổ phần Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Minh Hằng năm 2010.

- Đề tài “Pháp luật về chào bán cổ phiếu ra công chúng của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Thanh Tâm năm 2014.

- Đề tài “Pháp luật về hoạt động công bố thông tin của tổ chức phát hành chứng khoán ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thùy Trang năm 2015.

- Đề tài “Pháp luật về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam

- thực trạng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Nhung năm 2015

- Đề tài “Pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chứng ở Việt Nam”

của tác giả Hoàng Nam năm 2016

Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của các đề tài này đều chưa nghiên cứu mộtcác đầy đủ, toàn diện và có hệ thống các vấn đề đã và đang phát sinh của quy địnhpháp luật hiện hành về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng, nhất là trongbối cảnh Luật chứng khoán năm 2019 và các văn bản pháp luật liên quan đã đượccác cơ quan hữu quan nghiên cứu, đánh giá, tiến hành sửa đổi, bổ sung hoàn thiện.Các bài viết, đề tài nghiên cứu khoa học trên chủ yếu nghiên cứu chào bán chứngkhoán và chào bán chứng khoán ra công chúng dưới góc độ điều kiện về thủ tục(trình tự thủ tục thực hiện theo quy định pháp luật) Trong khi đó, để giúp chodoanh nghiệp, nhà đầu tư, các cá nhân liên quan, cũng như cho cơ quan quản lýtrong thực hiện, theo dõi, áp dụng thì việc nghiên cứu các điều kiện về nội dung,điều kiện vật chất của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng cũng cầnphải được tập trung nghiên cứu Đề tài nghiên cứu này sẽ nghiên cứu một cách toàndiện về cơ sở lý luận về chào bán chứng khoán trong đó tập trung phân tích các điềukiện chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, từnhững bài viết đã nghiên cứu về chào bán chứng khoán của một số nước trên thếgiới, luận văn sẽ có những so sánh các quy định pháp luật của một số quốc gia trênthế giới để so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam và đưa ra được các giải pháphoàn thiện pháp luật Việt Nam

Trang 11

6 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu

Để nghiên cứu về vấn đề này, luận văn đặt ra các câu hỏi:

- Chào bán chứng khoán ra công chúng là gì?

- Điều kiện để chào bán chứng khoán ra công chúng là gì?

- Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về điều kiện để chào bán chứngkhoán chứng khoán ra công chúng

- Tại sao phải quy định pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng?

- Pháp luật hiện hành về chào bán chứng khoán ra công chúng ở VN cónhững bất cập, hạn chế gì?

- Định hướng và giải pháp nào để hoàn thiện việc xây dựng pháp luật về điềukiện để chào bán chứng khoán chứng khoán ra công chúng?

6.2 Địa điểm nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúngtrong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

6.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên những chủ trương, đường lối của Đảng vàNhà nước Luận văn vận dụng chủ yếu hai phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của đề tài Ngoài

ra, luận văn còn sử dụng phối hợp các phương pháp khác như phương pháp phântích, tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê

Luận văn cũng kế thừa, tham khảo một số tài liệu, các báo cáo liên quan đến

đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đượckết cấu gồm ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về điều kiện chào bán chứng khoán

ra công chúng và pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng Nội

dung chương 1, tác giả sẽ nghiên cứu về một số vấn đề lý luận về điều kiện chào

Trang 12

bán chứng khoán ra công chúng, kết quả nghiên cứu là khái niệm của chào bánchứng khoán ra công chúng; các đặc điểm của chào bán chứng khoán ra côngchúng; vai trò của chào bán chứng khoán ra công chúng; các hình thức chào bánchứng khoán ra công chúng; khái niệm điều kiện chào bán chứng khoán ra côngchúng; phân loại các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng ở Việt Nam, bao gồm các nghiên cứu về thực trạng quy định của pháp luật về

điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng ở Việt Nam dự kiến kết quả là chỉ rađược các nội dung quy định của pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra côngchúng; đánh giá được pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng, bao gồm các nội dung nghiên

cứu về định hướng và một số giải pháp nhằm xây dựng pháp luật, nâng cao hiệuquả thực thi pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng dự kiếnkết quả nghiên cứu là nêu ra được một số giải pháp cụ thể, hiệu quả, phù hợp vớitình hình thực tế

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN

VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN

RA CÔNG CHÚNG1.1 Chào bán chứng khoán ra công chúng

Đối với các doanh nghiệp, thị trường chứng khoán là một trong những kênhhuy động vốn quan trọng trong nền kinh tế thông qua hoạt động phát hành chứngkhoán Bởi lẽ: huy động vốn thông qua hoạt động phát hành chứng khoán mang lạicho doanh nghiệp nhiều lợi thế hơn so với vay ngân hàng: không bắt buộc phải có tàisản đảm bảo, nguồn vốn dài hạn được huy động, đảm bảo hiệu quả hoạt động quản trịcông ty; tăng sự gắn kết giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành chứng khoán, …

Để huy động nguồn vốn trên thị trường chứng khoán, các chủ thể cần phảiđưa chứng khoán ra thị trường thông qua hoạt động chào bán chứng khoán, đổi lạinguồn vốn sẽ được họ thu hồi Chào bán chứng khoán được coi là tiền đề, là giaiđoạn khởi phát để các hành vi sau này liên quan đến chứng khoán được thực hiện(môi giới chứng khoán, lưu ký khoán khoán, niêm yết chứng khoán, kinh doanhchứng khoán, ) Chào bán chứng khoán đóng vai trò quan trọng không chỉ đối vớicác chủ thể chào bán mà còn đóng vai trò quan trọng đối với cả nền kinh tế, chàobán chứng khoán sẽ đem lại nguồn vốn cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của nềnkinh tế - xã hội

Dưới góc độ kinh tế, chào bán chứng khoán là hoạt động cho mục đích chủ

Trang 14

yếu là huy động vốn trung và dài hạn được thực hiện trên thị trường sơ cấp, trong

đó người nhận vốn là tổ chức phát hành/tổ chức chào bán chứng khoán và các nhàđầu tư là người cấp vốn

Dưới góc độ pháp lý, chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứngkhoán gắn liền với quá trình chứng khoán được chuyển từ tổ chức phát hành sangnhà đầu tư theo trình tự, thủ tục của pháp luật

Phương thức chào bán chứng khoán là phương pháp và hình thức thực hiệnchào bán chứng khoán Với mục tiêu huy động vốn, dựa theo quy mô và phạm củađợt chào bán chứng khoán, chào bán chứng khoán gồm hai phương thức truyềnthống là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ.Việc phân loại giữa hai phương thức chào bán chào bán chứng khoán nêu trên có ýnghĩa quan trọng trong việc quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán chứngkhoán của các doanh nghiệp và của các quỹ đầu tư Đối hoạt động chào bán chứngkhoán của chính phủ hay chính quyền địa phương, thay vì chú trọng phân biệt dựatrên phạm vi và quy mô chào bán chứng khoán, pháp luật điều chỉnh hoạt động chàobán chứng khoán của chính phủ và chào bán chứng khoán của chính quyền địaphương lại tập trung đến việc điều chỉnh cách thức chứng khoán được phân phối

Chào bán chứng khoán ra công chúng là một trong những nội dung cơ bản vàchủ yếu được pháp luật chứng khoán các nước quy định Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia,với các đặt vấn đề khác nhau sẽ có những cách hiểu và quy định khác nhau về chàobán chứng khoán ra công chúng, một số cách định nghĩa khái niệm “chào bánchứng khoán ra công chúng” có thể kể đến như sau:

Thứ nhất, định nghĩa theo hướng quy định miễn trừ Theo đó, tất cả các

trường hợp chào bán chứng khoán không thuộc phạm vi miễn trừ đều được xác định

là chào bán chứng khoán ra công chúng

Luật chứng khoán Mỹ năm 1933 (sau đây gọi là Luật chứng khoán Mỹ) không

có điều khoản cụ thể định nghĩa hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Tuynhiên, khoản 2 Chương 4 Luật này quy định “Việc phát hành chứng khoán không đềcập tới chào bán ra công chúng thì được miễn trừ áp dụng các quy định tại Chương

Trang 15

5” Trong đó, Chương 5 chỉ ra các hành vi bị cấm trong một đợt phát hành chứngkhoán mà bản đăng ký chào bán không có hiệu lực, chủ yếu đề cập việc sử dụng cácphương tiện thông tin đại chúng để thông báo và tiến hành chào bán chứng khoán.Sau đó, Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái Mỹ (SEC) lần lượt vào các năm 1974,

1982 và 1990 đã ban hành ba văn bản gồm Rule 146 và Regulation D và Rule 144Aquy định về những trường hợp được coi là chào bán riêng lẻ Hoạt động chào bánchứng khoán ra công chúng qua đó được mô tả một cách gián tiếp [60]

Thứ hai, định nghĩa theo hướng liệt kê Theo hướng định nghĩa này các, thay

vì quy định miễn trừ, các nhà lập pháp lại liệt kê những giao dịch được xác định làchào bán chứng khoán ra công chúng

Trung Quốc là quốc gia sử dụng cách định nghĩa theo hướng liệt kê này.Theo Điều 10 Luật chứng khoán Trung Quốc năm 2005, sửa đổi, bổ sung một sốđiều năm 2014 (sau đây gọi là Luật chứng khoán Trung Quốc) quy định:

Phát hành chứng khoán công khai (Luật chứng khoán Trung Quốc sửdụng thuật ngữ “phát hành chứng khoán công khai (公公公公公公)” tương tựvới thuật ngữ “phát hành/chào bán chứng khoán ra công chúng” là việcphát hành chứng khoán theo một trong các phương thức sau: (i) Pháthành cho nhà đầu tư không xác định; (ii) Phát hành cho lũy kế từ haitrăm nhà đầu tư xác định trở lên; (iii) Các hình thức phát hành chứngkhoán khác do pháp luật quy định Các trường hợp không phải phát hànhchứng khoán công khai thì không được phép quảng cáo, thông báo và sửdụng các phương thức chào mời công khai khác

Pháp cũng là một trong số các quốc gia sử dụng cách định nghĩa theo hướngliệt kê này, Luật chứng khoán Pháp quy định:

Việc chào bán chứng khoán ra công chúng được hiểu là việc cho phépmột công cụ tài chính được mua bán trên thị trường có quản lý hoặc làviệc phát hành hay nhượng bán công cụ tài chính ra công chứng có sửdụng quảng cáo, vận động hoặc thông qua các tổ chức trung gian Sốngười cụ thể do Ủy ban chứng khoán quy định là 300 người

Trang 16

Thứ ba, định nghĩa quy định theo các tiêu chí cụ thể Các tiêu chí thường

được đặt ra để xác định một giao dịch có phải là chào bán chứng khoán ra côngchúng hay không có thể kể đến như: giới hạn về vốn, số lượng nhà đầu tư,…

Luật Chứng khoán Bungaria năm 1999 đã quy định các trường hợp được coi

là chào bán chứng khoán như sau:

Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán để trao đổi chứngkhoán hoặc đề nghị mua lại chứng khoán trong trường hợp tối thiểu 50người, hay một số lượng người xác định, bao gồm cả việc thông quaphương tiện thông tin đại chúng [9]

Hoặc, quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật củaCộng hòa Belarus quy định:

Chào bán chứng khoán ra công chúng là trường hợp tổ chức phát hànhthông qua việc chào bán hoặc khi việc phát hành đáp ứng được ít nhấtmột trong các tiêu chí như sau: Chứng khoán được phát hành cho nhữngđối tượng không thể xác định trước, bao gồm các pháp nhân và cá nhân;Chứng khoán được chào bán cho hơn 100 pháp nhân và cá nhân [8].Như vậy, có thể thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định thể nào làchào bán chứng khoán ra công chúng Để bảo vệ nhà đầu tư và duy trì lòng tin trênthị trường chứng khoán, pháp luật chứng khoán trên thế giới đều có những cáchđịnh nghĩa, những quy định quản lý hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúngthông qua việc đặt ra các yêu cầu nhằm giám sát các chủ thể chào bán chứng khoán.Khó có thể khẳng định được rằng định nghĩa nào mang tính chuẩn mực nhất vì mỗiquốc gia hay thậm chí mỗi nhà lập pháp có thể có cách hiểu khác nhau về “chào bánchứng khoán ra công chúng”

Theo thông lệ quốc tế, chào bán chứng khoán ra công chúng là quá trình bắtđầu từ việc tổ chức phát hành chào mời người đầu tư mua chứng khoán của mình vàkết thúc bằng việc phát hành chứng khoán Hoạt động phát hành chứng khoán chỉ làmột khâu trong quá trình mời chào, phát hành và bán chứng khoán

Ở Việt Nam, định nghĩa về “chào bán chứng khoán ra công chúng” đượcđịnh nghĩa qua các thời kỳ như sau:

Trang 17

Nghị định 48/1998/NĐ-CP và Nghị định 14/2003/NĐ-CP trước đây không

sử dụng khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng mà sử dụng khái niệm

"phát hành chứng khoán ra công chúng", theo đó, phát hành chứng khoán và côngchúng là việc chào bán một đợt chứng khoán có thể chuyển nhượng được thông qua

tổ chức trung gian cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành Định nghĩanày chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và trong thực tiễn đã tạo nên nhiều kẽ hở

để các tổ chức phát hành lách luật để không phải tuân thủ các quy định về phát hànhchứng khoán Định nghĩa phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định tạiNghị định 48/1998/NĐ-CP và Nghị định 144/2003/NĐ-CP bao gồm cả hai tiêu chí

"50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành" và "thông qua tổ chức trung gian" Nhưvậy, doanh nghiệp có thể phát hành cho trên 50 nhà đầu tư nhưng không thông qua

tổ chức trung gian để không phải đăng ký phát hành với UBCKNN Ngay cả kháiniệm "nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành" cũng không rõ ràng Liệu nhà đầu tưngoài tổ chức phát hành có phải là nhà đầu tư không trực tiếp tham gia góp vốn vàquản lý doanh nghiệp hay không? [49, tr 85-86]

Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua năm 2006, tại Khoản 12 Điều 6đưa ra định nghĩa về chào bán chứng khoán ra công chúng theo các phương thứcliệt kê cụ thể:

Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theomột trong các phương thức, đó là (i) thông qua phương tiện thông tin đạichúng, kể cả Internet; (iii) chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhàđầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (iii)hoặc chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định

Qua 2 lần sửa đổi, bổ sung, Luật chứng khoán sửa đổi năm 2010 và Luậtchứng khoán năm 2019 vẫn giữ nguyên cách định nghĩa khái niệm “Chào bánchứng khoán ra công chúng” Có thể nhận thấy, các nhà làm luật Việt Nam chútrọng tới số lượng nhà đầu tư chứng khoán tham gia vào mỗi cuộc chào bán (thểhiện ở phương thức (ii) và phương thức (iii)) và coi đó là tiêu chí chủ yếu để phânbiệt chào bán chứng khoán ra công chúng với chào bán chứng khoán riêng lẻ

Trang 18

1.1.2 Đặc điểm của chào bán chứng khoán ra công chúng

Từ các phân tích về trên có thể rút ra một định nghĩa chung nhất về chào bán

chứng khoán ra công chúng như sau: Chào bán chứng khoán ra công chúng là chào bán chứng khoán cho một số lượng lớn các nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc sử dụng các phương thức quảng cáo hoặc mới chào có tính chất rộng rãi ra công chúng khi chào bán Dù được định nghĩa theo hướng nào,

các khái niệm về “Chào bán chứng khoán ra công chúng” cũng đều đã phản ánhđược các đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, tính chất rộng rãi, quy mô lớn của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Tính chất này được thể hiện thông qua: việc chào bán chứng

khoán thu hút số lượng lớn nhà đầu tư chứng khoán (đến từ trong nước và ngoàinước và không chỉ nhà đầu có tổ chức mà buộc phải có cả nhà đầu tư cá nhân) bỏvốn để mua chứng khoán trong đợt chào chứng khoán; khối lượng chào bán lớn; sửdụng phương thức quảng cáo hoặc mời chào rộng rãi trong chào bán ra công chúng

Thứ hai, việc chào bán chỉ được thực hiện khi chủ thể chào bán chứng khoán

đăng ký chào bán với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý thị trường chứngkhoán Đây được coi là thủ tục pháp lý bắt buộc

Thứ ba, chủ thể thực hiện chào bán chứng khoán đa dạng, các chủ thể này có

thể là: Chính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp

Thứ tư, mục đích của chào bán chứng khoán là nhằm huy động nguồn vốn

trung và dài hạn Điều này được thể hiện ở tổng giá trị chứng khoán được chào bánthường phải đạt tới một giá trị nhất định nhằm tập trung được một lượng vốn lớn,giúp chủ thể chào bán chứng khoán huy động được đủ nguồn vốn thực hiện được dự

án mở rộng quy mô kinh doanh hoặc hạng mục đầu tư mới

Thứ năm, chào bán chứng khoán ra công chúng phải đáp ứng các điều kiện

và tuân thủ quy trình luật định

Thứ sáu, chào bán chứng khoán ra công chúng thường được tiến hành thông

qua tổ chức trung gian là các công ty bảo lãnh chứng khoán hoặc đại lý phát hànhchứng khoán

Trang 19

Trong các đặc điểm nêu trên thì đặc trưng về tính chất rộng rãi và quy môlớn của chào bán chứng khoán được coi là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt chàobán chứng khoán ra công chúng với hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.

Tiêu chí chào bán cho một số lượng lớn các nhà đầu tư không chuyên làtiêu chí phổ biến được các nhà làm luật các nước sử dụng để xác định một đợtchào bán là chào bán chứng khoán ra công chúng Nếu đợt chào bán cho một sốlượng nhất định nhà đầu tư không chuyên nghiệp thì được coi là chào bán chứngkhoán ra công chúng Pháp luật Việt Nam cũng có cách tiếp cận tương tự khi dựavào tiêu chí số lượng nhà đầu tư để xác định một đợt chào bán chứng khoán làchào bán ra công chúng hay chào bán riêng lẻ Theo đó, một đợt chào bán chứngkhoán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyênnghiệp hoặc cho số lượng không xác định nhà đầu tư thì được coi là chào bánchứng khoán ra công chúng Theo Chỉ thị về bản cáo bạch của EU, thì đợt chàobán chuyên nghiệp được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng chứng khoáncho từ 150 nhà đầu tư trở lên không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp được coi là chàobán chứng khoán ra công chúng Theo pháp luật của Hoa Kỳ thì việc chào bánchứng khoán cho trên 35 nhà đầu tư không chuyên thuộc trường hợp chào bánchứng khoán ra công chúng Về tiêu chí này, Trung Quốc lại có cách tiếp cậnkhác Theo Điều 10 Luật Chứng khoán của Trung Quốc thì đợt chào bán chứngkhoán cho số nhà đầu tư không chuyên hoặc cho từ 200 nhà đầu tư chuyên nghiệptrở lên là chào bán chứng khoán ra công chúng

Khối lượng chào bán đề cập đến tổng giá trị của chứng khoán được chào bán.Khối lượng chào bán cũng là tiêu chí quan trọng mà pháp luật nhiều nước sử dụng

để xác định hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Theo pháp luật nhiềunước thì một đợt chào bán chứng khoán đạt một khối lượng nhất định được coi làchào bán chứng khoán ra công chúng Pháp luật Việt Nam không sử dụng tiêu chí

về khối lượng chào bán để xác định chào bán chứng khoán ra công chúng

Tiêu chí “quảng cáo, mời chào rộng rãi cũng được pháp luật nhiều nước sửdụng làm căn cứ để xác định một đợt chào bán là chào bán chứng khoán ra công

Trang 20

chúng hay không Nếu việc quảng cáo, mời chào mà hướng tới số đông công chúngđầu tư, có xu hướng hoặc làm cho số đông công chúng đầu tư biết là chào bánchứng khoán ra công chúng Tiêu chí này dựa vào phương tiện và cách thức đểquảng cáo, mời chào chứng khoán dự kiến chào bán Quảng cáo hoặc mời chàorộng rãi được hiểu là bất kỳ quảng cáo, bài báo, thông báo hoặc bất kỳ thông điệpnào được công bố trên báo, tạp chí, phương tiện thông tin tương tự, hoặc truyền tảiqua phát thanh, truyền hình hoặc các phương tiện thông tin đại chúng khác Các buổihội thảo hoặc họp mà khách tham dự được mời bằng bất kỳ phương thức quảng cáo,mời chào rộng rãi nào như thông qua báo, tạp chí, truyền thanh, truyền hình, cũngđược coi là quảng cáo, mời chào rộng rãi trừ một số ngoại lệ Pháp luật Trung Quốccoi việc chào bán theo phương thức quảng cáo hoặc mời chào rộng rãi ra công chúng

là chào bán chứng khoán ra công chúng Pháp luật Việt Nam cũng áp dụng tiêu chínày Theo đó, việc chào bán chứng khoán thông qua phương tiện thông tin đại chúng,

kể cả Internet là chào bán chứng khoán ra công chúng [55, tr 302-305]

1.1.3 Các hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng

Chào bán chứng khoán ra công chúng gồm hai loại: chào bán lần đầu (initialpublic offering: IPO) và chào bán thêm (seasoned offering)

Chào bán lần đầu chứng khoán ra công chúng (initial public offering: IPO)

thường được thực hiện bởi công ty mới thành lập hoặc các công ty nhỏ muốn tăngvốn để mở rộng quy mô kinh doanh Chào bán lần đầu chứng khoán ra công chúngcũng có thể được thực hiện bởi các công ty một chủ (ví dụ doanh nghiệp nhà nước,doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty cổ phần) nay muốn chuyển đổi thành công từ cổphần đại chúng (public corporation) để có thêm cơ hội huy động vốn từ công chúngđầu tư, thỏa mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh của mình Quá trình phát hànhchứng khoán ra công chúng có thể chia làm năm giai đoạn: (i) Lựa chọn nhà bảolãnh phát hành; (ii) Đăng ký chào bán với cơ quan quản lý nhà nước về thị trườngchứng khoán; (iii) Thăm dò thị trường hay tiếp thị việc chào bán chứng khoán trongkhi chờ đợi đăng ký chào bán có hiệu lực; (iv) Phân phối chứng khoán sau khi đăng

ký chào bán có hiệu lực; và (v) Kết thúc chào bán chứng khoán

Trang 21

Chào bán thêm chứng khoán ra công chúng (seasoned offering) là hoạt động

chào bán chứng khoán mới của công ty đại chúng được tiến hành sau đợt chào bánlần đầu) Loại chào bán này thường được các công ty cổ phần đại chúng thực hiệnkhi muốn tăng vốn điều lệ (chào bán cổ phiếu) hoặc vốn tự có (chào bán trái phiếu)trong quá trình kinh doanh để mở rộng quy mô kinh doanh hoặc để thực hiện dự ánkinh doanh cần nhiều vốn mà ở thời điểm hiện tại, nguồn vốn sẵn có của công tykhông đủ khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh đó [52, tr 56-57]

Bên cạnh đó, căn cứ vào loại chứng khoán được phát hành có thể chia chàobán chứng khoán ra công chúng làm ba loại: chào bán cổ phiếu ra công chúng, chàobán trái phiếu ra công chúng và chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng (Điều 14Luật Chứng khoán năm 2019) Ngoài ba loại hình thức chào bán chứng khoán cơbản nêu trên, từ nửa sau của thế kỷ trước trên thế giới đã xuất hiện thêm hình thứcchào bán sản phẩm chứng khoán mới

Sản phẩm chứng khoán mới (hay còn gọi là các sáng tạo tài chính - financialengineering) được định nghĩa là các chứng khoán được tạo lập bằng cách áp dụng cácphương pháp chuyên biệt, đặc biệt là từ toán tài chính (mathematical finance) vàthuật toán tài chính (computational finance) trong việc ứng dụng vào lĩnh vực tàichính Tại Mỹ, các Ngân hàng đầu tư là chủ thể tiên phong trong việc phát triển cácsáng tạo tài chính Những sản phẩm chứng khoán mới nổi bật nhất trong vài thập kỷgần đây là các sản phẩm chứng khoán phái sinh và sản phẩm chứng khoán hóa(CKH)

1.1.4 Ý nghĩa của chào bán chứng khoán ra công chúng

Chào bán chứng khoán ra công chúng là hoạt động thu hút đầu tư, tăng quy

mô vốn điều lệ để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh So với các phương pháphuy động vốn đầu tư khác như vay vốn từ các tổ chức tín dụng, huy động vốn bằngchào bán chứng khoán ra công chúng mang đến nhiều ý nghĩa và có vai trò quantrọng không chỉ đối với các tổ chức chào bán chứng khoán mà còn đối với các nhàđầu tư chứng khoán và đối với sự phát triển của nền kinh tế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, ý nghĩa đối với tổ chức chào bán chứng khoán Về phía tổ chức

Trang 22

chào bán chứng khoán, chào bán chứng khoán nói chung có ý nghĩa quan trongtrọng hoạt động kêu gọi nguồn vốn trung và dài hạn hiệu quả “Chào bán chứngkhoán ra công chúng” là công khai gọi vốn từ công chứng, gồm các nhà đầu tư cánhân và tổ chức, trên phạm vi rộng, từ trong nước và cả nước ngoài Số lượng nhàđầu tư được chào bán càng lớn thì khả năng tiêu thụ chứng khoán càng tăng cao.Đối với chính phủ, việc phát huy tốt được kênh huy động vốn thông qua chào bántrái phiếu để vay vốn từ dân chúng sẽ tạo cho quỹ ngân sách nhà nước một nguồnvốn lớn để phục vụ cho đầu tư phát triển Nếu có khả năng huy động được nguồnvốn từ dân chúng thông qua chào bán trái phiếu, các chính phủ sẽ ưu tiên phươngthức huy động vốn này thay vì vay vốn từ chính phủ nước ngoài và các tổ chức tàichính quốc tế Đối với doanh nghiệp, việc huy động vốn thông qua chào bán chứngkhoán ra công chúng sẽ tạo ra nguồn vốn lớn mà việc vay vốn từ các tổ chức tíndụng khó có thể đáp ứng được.

Chào bán chứng khoán ra công chúng cũng góp phần làm tăng uy tín củadoanh nghiệp phát hành và đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp trong hoạtđộng huy động vốn cũng như trong trình hoạt động kinh doanh sau này Sau khihoàn tất việc chào bán chứng khoán ra công chúng, doanh nghiệp trở thành công tyđại chúng và sẽ được công chúng biết đến nhiều hơn Điều này cho phép hàng hóa

và dịch vụ của doanh nghiệp tăng khả năng chiếm giữ thị phần, cho phép doanhnghiệp tăng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn khác nhau và cógiá trị lớn trong nền kinh tế

Thông qua chào bán chứng khoán ra công chúng giá trị đích thực của doanhnghiệp được phản ánh Giá trị của doanh nghiệp sẽ được xác định bởi chính thịtrường chứng qua thông qua khối lượng giao dịch và giá chứng khoán giao dịch trênthị trường, chứ không phải được xác định bởi tập hợp những tiêu chí chủ quan đượcđưa ra bởi các tổ chức đánh giá chuyên biệt Vấn đề này có vai trò quan trọng đốivới các doanh nghiệp đang có kế hoạch muốn sáp nhập hoặc thôn tính; đồng thờiđiều này cũng đem lại lợi ích cho cả các cổ đông khi xác định giá trị của chứngkhoán mình nắm giữ

Trang 23

Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng cũng làm tăng tính thanhkhoản cho chứng khoán của doanh nghiệp phát hành đặc biệt là đối với đối tượng làcông ty đại chúng do chứng khoán của nhóm công ty này thường được giao dịchrộng rãi thị trường thông qua các sàn giao dịch chứng khoán, giá chứng khoán đượchình thành, và có thể giao dịch dễ dàng Lợi thế này cho phép các doanh nghiệp giữchân nhân viên và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách chào bán chứngkhoán với nhiều điều kiện ưu đãi (ưu đãi về giá, ưu đãi về quyền biểu quyết,…).Tính thanh khoản của chứng khoán còn cho phép nhà đầu tư chứng khoán có thể lựachọn giao dịch chứng khoán mua vào hoặc bán ra dựa trên các phân tích thị trườngchứng khoán của mình hay của công ty tư vấn và vì thế tính thanh khoản của chứngkhoán công ty càng tăng.

Thứ hai, ý nghĩa đối với các nhà đầu tư Về phía các nhà đầu tư chứng

khoán, bên cạnh hoạt động các đầu tư vào vàng, ngoại tệ, bất động sản hoặc gửi tiếtkiệm trong các ngân hàng thì việc đầu tư vào chứng khoán từ các đợt chào bánchứng khoán cũng được coi là một trong những kênh đầu tư hiệu quả Trong một hệthống tài chính lành mạnh, đầu tư vào cổ phiếu thường mang lại nhiều lợi ích dàihạn và bền vững hơn cho các đầu tư, còn đầu tư vào trái phiếu mang lại lợi nhuậnchắc chắn, và so với lãi suất ngân hàng, lợi suất trái phiếu thường cao hơn Chàobán chứng khoán ra công chúng có thể làm tăng giá trị tài sản của cổ đông Cổđông sáng lập công ty thường tin rằng tài sản của họ trong công ty sẽ tăng lên saukhi công ty chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng Trước khi chào bán cổ phầnlần đầu ra công chúng, tính thanh khoản của cổ phần của họ thấp và giá bánthường mang tính chủ quan Sau khi hoàn tất chào bán chứng khoán ra công chúnglần đầu, vị thế của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và giá của cổ phần có thể đượcxác định một cách khách quan hơn, chính xác hơn hơn và thường có xu hướngtăng so với trước đó

Thứ ba, ý nghĩa đối với nền kinh tế Đối với sự phát triển của nền kinh tế,

khi hoạt động chào bán chứng khoán diễn ra sôi động và hiệu quả sẽ làm cho dòngvốn không ngừng lưu thông từ chỗ nhàn rỗi đến nơi cần vốn, tạo ra một nguồn vốn

Trang 24

khổng lồ phục vụ cho hoạt động công nghiệp và thương mại, là các hoạt động tạo

ra tài sản vật chất cho xã hội Nếu hoạt động chào bán chứng khoán thực sự lànhmạnh và hiệu quả, nền kinh tế của đất nước sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ vàbền vững hơn Với tính chất rộng rãi, quy mô lớn của hoạt động chào bán chứngkhoán ra công chúng, sự lưu thông nguồn vốn nhàn rỗi đến nơi cần vốn sẽ càngdiễn ra mạnh mẽ hơn

1.2 Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

1.1 Khái niệm điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

Khi các nhà đầu tư mua các chứng khoán được chào bán đồng nghĩa với việc

đã chuyển giao một khoản tiền cho tổ chức phát hành và đổi lại bằng quyền hữu cácchứng khoán – bằng chứng về quyền tài sản (quyền sở hữu vốn trong công ty cổphần hoặc quyền chủ nợ) và được hưởng những lợi ích mà chứng khoán đó manglại Chất lượng và giá trị của chứng khoán hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hoạtđộng của tổ chức phát hành và sự biến động của thị trường Tuy nhiên, nhà đầu tưkhông thể trực tiếp kiểm tra chất lượng và đánh giá được giá trị của chứng khoánnhư đối với các loại hàng hóa thông thường khác mà chỉ căn cứ vào các thông tinliên quan đến tổ chức phát hành và đợt phát hành để đánh giá giá trị của chứngkhoán khi quyết định đầu tư Do đó, nếu tổ chức phát hành hoạt động kém hiệu quảhoặc cố ý đưa ra những thông tin không chính xác về tình hình tài chính và đợt pháthành thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư nói riêng cũng như sự an toàn

và hiệu quả của thị trường chứng khoán nói chung Chính vì vậy, nhằm quản lý chặtchẽ việc chào bán chứng khoán ra công chúng, hầu hết các quốc gia có TTCK đềuquy định điều kiện chào bán để bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông và nhà đầu tư,pháp luật đã đặt ra những quy định nhằm quản lý chặt chẽ việc chào bán chứngkhoán ra công chúng [22]

Theo từ điển Tiếng Việt, “Điều kiện” được định nghĩa như sau: (i) những gì

có thể tác động đến tính chất, sự tồn tại hoặc sự xảy ra của một cái gì đó (nói tổngquát); (ii) cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra; (iii) điềunêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó

Trang 25

Do đó, “điều kiện về chào bán chứng khoán ra công chúng” được hiểu lànhững tiêu chuẩn, những quy định, hoặc yêu cầu mà pháp luật đề ra buộc tổ chứcphát hành phải tuân thủ thì mới được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấpthuận chào bán chứng khoán ra công chúng [55, tr 305]

1.2 Phân loại điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

Trên thế giới, khi quy định về các điều kiện chào bán chứng khoán ra côngchúng, các nhà làm luật có nhiều cách tiếp cận khác nhau Nhưng tựu chung lại, cóhai nhóm điều kiện về chào bán chứng khoán ra công chúng, bao gồm: Một là,nhóm điều kiện đảm bảo tính minh bạch và tính đúng pháp luật của đợt chào bán.Hai là, nhóm điều kiện đảm bảo chất lượng của chứng khoán được chào bán

Thứ nhất, nhóm điều kiện đảm bảo tính minh bạch và đúng pháp luật của đợt

chào bán Nhóm điều kiện này bao gồm: (i) Việc chào bán chỉ được tiến hành saukhi công ty phát hành đã đăng ký chào bán với cơ quan quản lý nhà nước về chứngkhoán và thị trường chứng khoán; (ii) Việc chào bán và phân phối chứng khoán phảiđược tiến hành thông qua một định chế trung gian là công ty chứng khoán hoặcngân hàng thương mại với vai trò là nhà bảo lãnh phát hành hoặc đại lý phân phốichứng khoán; (iii) Việc chào bán được tiến hành cho một số lượng nhà đầu tư khôngxác định (công chúng đầu tư) và phải tiến hành công bố thông tin theo quy định vàkết quả đợt chào bán phải có tối thiểu một số lượng nhà đầu tư nhất định mua được;(iv) Quy mô của đợt phát hành phải ở một mức độ nhất định về khối lượng hoặc giátrị chứng khoán phát hành

Thứ hai, nhóm điều kiện đảm bảo chất lượng của chứng khoán được chào

bán Nhóm điều kiện này bao gồm: (i) Chỉ những tổ chức phát hành có quy mô nhấtđịnh về vốn (thường là vốn điều lệ hoặc vốn chủ sở hữu hoặc tỷ lệ nợ trên vốn chủ

sở hữu hay kết hợp các yếu tố trên) mới được chào bán chứng khoán; (ii) Tổ chứcphát hành phải hoạt động kinh doanh hiệu quả trong một số năm liên tục trước khiphát hành; (iii) Tổ chức phát hành phải có phương án sử dụng một cách hiệu quảvốn thu được từ đợt phát hành

Tại Việt Nam, trước đây, Nghị định số 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và

Trang 26

thị trường chứng khoán do Chính phủ ban hành 28/11/2003 đã phân biệt chào bánchứng khoán ra công chúng gồm ba loại là: (i) chào bán cổ phiếu; (ii) chào bántrái phiếu; (iii) chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư Đồng thời, chào bán cổ phiếu racông chúng được chia thành hai nhóm: chào bán cổ phiếu lần đầu và chào bánthêm cổ phiếu ra công chúng Do đó, có thể thấy, tùy thuộc vào loại chứng khoánchào bán và lần chào bán mà tổ chức chào bán chứng khoán phải tuân thủ các điềukiện khác nhau [52, tr 71].

Tới luật chứng khoán 2006 và Luật chứng khoán 2010 sửa đổi bổ sung, cácquy định đã không còn sự phân biệt giữa điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu vàđiều kiện chào bán thêm cổ phiếu mà tổ chức chào bán chứng khoán phải tuân thủnhư tại Nghị định số 144/2003/NĐ-CP trước đây nữa Quy định về điều kiện chàobán chứng khoán ra công chúng theo Luật chứng khoán hiện hành còn lưu ý tới địa

vị pháp lý của chủ thể chào bán chứng khoán cũng như vị trí địa lý nơi diễn ra việcchào bán chứng khoán Bởi vậy, điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúngđược xây dựng có phân biệt giữa công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn vàquỹ đầu tư chứng khoán đại chúng với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần và doanh nghiệp thành lậpmới, thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao; giữa chào bán chứng khoántrong nước và chào bán chứng khoán ra nước ngoài

Hiện nay, trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung, Luật chứng khoán năm 2019 vàcác văn bản hướng dẫn thi hành quy định các điều kiện chào bán chứng khoán racông chúng có phân biệt giữa chào bán cổ phiếu (gồm chào bán cổ phiếu lần đầu racông chúng và chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng), chào bán trái phiếu và chàobán chứng chỉ quỹ đầu tư

Ngoài ra, các nhà làm luật cũng phân loại các điều kiện chào bán chứngkhoán ra công chúng thành hai nhóm: các điều kiện về vật chất và các điều kiện

về thủ tục

Thứ hai, các điều kiện về vật chất Điều kiện về vật chất liên quan đến

những quy định về năng lực của tổ chức phát hành, các quy định khác nhằm đảm

Trang 27

bảo chứng khoán có tính rủi ro thấp và đảm bảo tổ chức phát hành thực hiện đượcđúng và đầy đủ các nghĩa với đối với nhà đầu tư Các nhà làm luật thường phân chiacác điều kiện vật chất thành điều các điều kiện về tư cách pháp lý của tổ chức chàobán chứng khoán, điều kiện về năng lực của tổ chức chào bán chứng khoán và cácđiều kiện liên quan khác tùy vào từng trường hợp chào bán cụ thể.

Thứ nhất, các điều kiện về thủ tục Ngoài những điều kiện về vật chất, pháp

luật còn quy định những điều kiện về thủ tục mà chủ thể chào bán chứng khoán phảituân thủ khi chào bán chứng khoán ra công chúng Nhóm điều kiện về thủ tục nàycũng được phân chia thành các điều kiện về thủ tục chung cho các trường hợp chàobán chứng khoán ra công chúng và các điều kiện về thủ tục riêng, đặc thù cho từngloại chứng khoán cụ thể

1.3 Pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

1.1 Khái niệm

Quá trình vận hành và phát triển của thị trường chứng khoán tại một số quốcgia trên thế giới như Mỹ (sự sụp đổ của thị trường chứng khoán chứng khoán NewYork thời kỳ 1929 – 1933), Nhật Bản (sụp đổ của thị trường chứng khoán Nhật Bảnđầu những năm 1990), … đã chứng minh rằng: việc thiếu đi sự can thiệp, quản lýtrực tiếp của nhà nước thông qua các đạo luật về chứng khoán và thị trường chứngkhoán, để thị trường chứng khoán phát triển một cách tự phát sẽ dẫn tới hệ lụy tấtyếu – sự mất ổn định, sụp đổ của thị trường chứng khoán, đồng thời cũng kéo theonền kinh tế đất nước rơi vào khủng hoảng Do đó, nhằm đảm bảo thị trường chứngkhoán tồn tại và phát triển lành mạnh thì việc Nhà nước dùng pháp luật để điềuchỉnh thị trường chứng khoán nói chung và điều chỉnh hoạt động chào bán chứngkhoán ra công chúng nói riêng là vô cùng cần thiết

Một trong những nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nước về chứngkhoán và TTCK nói chung và trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúngnói riêng chính là việc ban hành các văn bản pháp luật về việc điều chỉnh nhữngquan hệ phát sinh trong lĩnh vực này Mô hình điều chỉnh pháp luật đối với hoạtđộng chào bán chứng khoán ra công chúng, tùy thuộc vào hệ thống pháp luật và mỗi

Trang 28

nước có thể có cách tiếp cận khác nhau.

Đối với các quốc gia theo hệ thống Thông luật (Common Law) như Anh,

Mỹ, Úc thì Luật công ty điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hoạt động chào bánchứng khoán, bao gồm cả chào bán nội bộ và chào bán ra công chúng Trong khi đó,Luật chứng khoán điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ quá trình tổ chức, quản lý vàđiều hành thị trường giao dịch chứng khoán

Đối với các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law)như Pháp và nhiều nước Châu Âu khác thì Luật công ty điều chỉnh hoạt động chàobán chứng khoán nội bộ Luật chứng khoán điều chỉnh hoạt động chào bán ra côngchúng và hoạt động tổ chức, quản lý và giao dịch trên TTCK Quy định về chào bánchứng khoán, đặc biệt là chào bán chứng khoán ra công chúng được ban hành trongLuật Chứng khoán và Kinh doanh chứng khoán

Như vậy, pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng là tổng thể các quy định của cơ quan có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng của các tổ chức phát hành nhằm đảm bảo chất lượng các chứng khoán, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư Đảm bảo sự bình ổn của thị trường chứng khoán, đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế.

1.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng

Chứng khoán khi được chào bán ra công chúng phải cần phải thu hút vàđược đảm bảo bởi niềm tin của các nhà đầu tư thông qua chất lượng chứng khoánđáp ứng đầy đủ các điều kiện chào bán và doanh nghiệp chào bán chứng khoán lànhững doanh nghiệp có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai Để thu hút

và tạo dựng được niềm tin này, hệ thống pháp luật về điều kiện chào bán chứngkhoán phải gắn liền với hệ thống quản lý chất lượng Hệ thống quản lý chất lượngchứng khoán thường được áp dụng ở những nước mới hình thành thị trường chứngkhoán, hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán cònchưa đầy đủ, rõ ràng, doanh nghiệp chào bán chưa có nhiều kinh nghiệm trên thịtrường chứng khoán

Trang 29

Thông thường, pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng ởbất cứ quốc gia nào cũng sẽ bao gồm các nội dung sau đây:

1.3.2.1 Nhóm quy định về điều kiện phát hành

Đây là nhóm quy định điều chỉnh các vấn đề: về quy mô vốn, tình hình tàichính, chấp thuận nội bộ và yêu cầu niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứngkhoán sau khi phát hành

Thứ nhất, về quy mô vốn của công ty phát hành: Doanh nghiệp phát hành

phải phát triển ở một mức độ nhất định về vốn mới được phép phát hành cổ phiếu racông chúng Quy định này nhằm đảm bảo chất lượng của doanh nghiệp phát hành

Về mặt lý thuyết, vốn điều lệ của doanh nghiệp là cơ sở để xác định tỷ lệ vốn góphay sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp công ty, qua đó làm tiền đề xác định quyền,lợi ích cũng như nghĩa vụ của các thành viên, các nhà đầu tư trong công ty Vốnđiều lệ cũng là căn cứ pháp lý trong trường hợp tranh chấp, giải thể, để biết đượcliệu một doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ đầu tiên và trên hết là đóng góp đủvốn hay chưa, đồng thời, qua vốn điều lệ và các phần cấu thành còn lại của vốn chủ

sở hữu, ta cũng có thể hình dung doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và đang chútrọng vào lĩnh vực nào Các nhà kinh tế cho rằng, do không có một cơ chế xác định

số vốn điều lệ thực tế khi các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp, nên vốn điều lệkhông có ý nghĩa nhiều trong việc đảm bảo khả năng tài chính để thực hiện nghĩa

vụ hoặc trả nợ đối với các chủ nợ

Dưới góc độ pháp lý, vốn điều lệ chỉ mang tính danh nghĩa nhằm xác định cơcấu sở hữu trong công ty bởi vì, doanh nghiệp với tư cách là một pháp nhân chịutrách nhiệm một cách độc lập về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của mình bằngtoàn bộ phần vốn thuộc sở hữu của mình (vốn chủ sở hữu) chứ không chỉ giới hạntrong phạm vi vốn điều lệ

Kinh nghiệm thế giới cho thấy, ngoài quy định về vốn điều lệ tối thiểu, phápluật một số nước còn yêu cầu doanh nghiệp khi phát hành chứng khoán ra côngchúng còn phải đáp ứng về mức vốn chủ sở hữu nhất định Với vai trò và ý nghĩacủa mình, vốn chủ sở hữu mới thật sự phản ánh quy mô và tình hình tài sản, hiệu

Trang 30

quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là những yếu tố quan trọng đảm bảochất lượng chứng khoán chứ không phải vốn điều lệ.

Điều kiện về vốn chủ sở hữu (hoặc giá trị tài sản ròng) của tổ chức chào bánchứng khoán ra công chúng là cơ sở ban đầu để bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa

vụ tài chính của tổ chức chào bán đó Tùy thuộc vào điều kiện của từng nước, phápluật về chứng khoán và thị trường chứng khoán mỗi nước có những điều khác nhau

về vốn điều lệ của tổ chức chào bán

Thứ hai, quy định về tình hình hoạt động kinh doanh của tổ chức chào bán (tình hình tài chính): Doanh nghiệp phát hành phải đạt đủ điều kiện về tài chính để

hoạt động và có khả năng sinh lời cho cổ đông Điều này được minh chứng qua việccông ty phát hành phải có lãi trong năm liền trước năm đăng ký chào bán và không

có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán Bên cạnh đó là điều kiện về năng lựctạo doanh thu, bảo đảm kinh doanh ổn định và tình trạng tài chính tốt: Các điều kiệnnày hứa hẹn rằng tổ chức chào bán sẽ có khả năng tạo ra lợi nhuận và làm tăng giátrị cho chứng khoán Tất nhiên, tổ chức chào bán không thể bảo đảm năng lực củamình thông qua những cam kết suông mà phải được chứng minh bằng hoạt độngkinh doanh và tình trạng tài chính của tổ chức chào bán trong quá khứ và hiện tại.Mặc dù không hoàn toàn bảo đảm rằng tương lai tổ chức chào bán sẽ có được khảnăng kinh doanh và tình trạng tài chính tốt, nhưng những số liệu trong quá khứ vàhiện tại cũng đánh giá được phần nào khả năng thực hiện nghĩa vụ của tổ chức chàobán và bảo đảm giá trị thặng dư của chứng khoán được chào bán

Thứ ba, điều kiện về phương án phát hành, phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán hoặc trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán: Một trong các

điều kiện mà tổ chức chào bán phải đáp ứng khi chào bán chứng khoán ra côngchúng là phải có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợtchào bán được cấp có thẩm quyền tổ chức chào bán thông qua (Đại hội đồng cổđông đối với chào bán cổ phiếu ra công chúng, Đại hội đồng cổ đông hoặc Hộiđồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu của Công ty đối vớichào bán trái phiếu ra công chúng,…) Về phương án sử dụng số tiền thu được từ

Trang 31

đợt chào bán, số tiền này phải được chuyển khoản vào tài sản phong tỏa Tổ chứcphát hành không được sử dụng số tiền trên dưới bất cứ hình thức nào cho đến khihoàn thành đợt chào bán và nhận được chấp thuận từ cơ quan quản lý thị trườngchứng khoán Đây là điều kiện có trong tất cả các quy định về điều kiện chào bánchứng khoán ra công chúng của các nước trên thế giới cũng như các văn bản phápluật của Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.

Thứ tư, quy định về phải có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông và cơ quan quản lý khi phát hành: nội dung này được thể hiện thông qua việc tổ chức

phát hành phải có phương án rõ ràng cho việc phát hành chứng khoán, bên cạnh đóviệc sử dụng nguồn vốn thu được và phương án này cần được chấp thuận của Đạihội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị với tư cách là cơ quan quản lý nội bộ củacông ty phát hành Đại hội đồng cổ đông với địa vị pháp lý là cơ quan đại diện cho

cổ đông – chủ sở hữu công ty, cơ quan có thẩm quyết định cao nhất trong doanhnghiệp Còn Hội đồng quản trị với địa vị pháp lý là cơ quan quản lý, có quyền nhândanh Công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty,trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Yêu cầu về sự chấpthuận của các cơ quan quản lý nội bộ khi doanh nghiệp thực hiện chào bán chứngkhoán ra công chúng là bắt buộc bởi phát hành chứng khoán ra công chúng đồngnghĩa với khả năng làm tăng số lượng cổ đông có quyền biểu quyết của công ty pháthành ở thời điểm nào đó trong tương lai (đối với phát hành cổ phiếu, trái phiếuchuyển đổi), vị thế của các cổ đông hiện hữu hoặc gia tăng khoản nợ của Công ty(đối với phát hành trái phiếu)

Thứ năm, quy định về niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong thời hạn nhất định Một đặc điểm của giao dịch chào bán cổ phiếu ra công

chúng là việc chào bán không nhất thiết phải xảy ra đồng thời với việc niêm yếthoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán Tùy theo quy định của các quốc gia, cóthể phải niêm yết ngay sau phát hành, có thể để doanh nghiệp tự đề ra thời điểmthích hợp để (lên sàn) niêm yết khi đủ điều kiện Tại Việt Nam, quy định của LuậtChứng khoán 2006 yêu cầu cổ phiếu chào bán ra công chúng của công ty đại chúng

Trang 32

phải được niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm

kể từ ngày kết thúc đợt chào bán

1.3.2.2 Quy định về việc công bố thông tin về đợt phát hành

Yêu cầu về đảm bảo nghĩa vụ công bố, công khai thông tin của tổ chức pháthành đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ nhà đầu tư, đảm bảo rằngcác thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở công bằng, hiệu quả và minh bạch,giảm thiểu tối đa rủi ro hệ thống, dựa trên nguyên tắc hoạt động của TTCK Nộidung này đã được IOSCO ghi nhận là một trong ba nguyên tắc cơ bản đối với hoạtđộng chào bán chứng khoán ra công chúng Nguyên tắc này quy định tổ chức pháthành cần công bố đầy đủ, chính xác, kịp thời các kết quả tài chính và các thông tinquan trọng khác đối với các quyết định của người đầu tư Việc công bố công khaithông tin về các kết quả tài chính và các thông tin quan trọng khác đối với các quyếtđịnh của người đầu tư là việc thông báo cho các nhà đầu tư những thông tin quantrọng về công ty để các nhà đầu tư có thể đưa quyết định đầu tư theo sự đánh giácủa họ Hoạt động công bố, công khai thông tin phải đảm bảo các yêu cầu sau:

(i) Tính chính xác của thông tin được công bố: mọi thông tin công bố trênthị trường đều phải chính xác Việc đưa ra các thông tin không chính xác sẽ dần đếnquyết định đầu tư sai lầm của các nhà đầu tư Giá chứng khoán không được phảnánh đúng theo giá trị và năng lực của tổ chức phát hành chứng khoán, kéo theonhững ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển chung của thị trường chứng khoán

(ii) Sự kịp thời của thông tin được công bố: Các thông tin phải được cungcấp kịp thời cho các nhà đầu tư Sự kịp thời khi đưa ra các thông tin của Công ty sẽlàm hạn chế khả năng giao dịch xảy ra các giao dịch chứng khoán không công bằngdựa trên thông tin nội bộ

(iii) Sự công bằng về thông tin: các thông tin về chứng khoán và TTCK phảiđược phổ biến cho tất cả công chúng đầu tư Điều này giúp thực hiện nguyên tắccông bằng của thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư đều được bình đẳng trongviệc tiếp cận thông tin

Trang 33

Thông thường, pháp luật về chứng khoán và TTCK của các quốc gia điềuquy định cụ thể việc công bố thông tin theo từng giai đoạn:

Một là, trước khi phát hành thì tổ chức phát hành được công bố các loại

thông tin gì? Chẳng hạn như thông tin về bản cáo bạch đã được cơ quan quản lý chophép công bố, giá chứng khoán dự kiến phát hành, số lượng, có nhà đầu tư chiếnlược không? Có tổ chức bảo lãnh phát hành không? Phát hành thu vốn nhằm mụcđích gì… các công bố này nhằm cung cấp thông tin cho nhà đầu tư để họ lựa chọn,quyết định đầu tư

Hai là, công bố về các thông tin bổ sung trong bộ hồ sơ xin phát hành Trong

quá trình hoàn thiện hồ sơ gửi cơ quan quản lý TTCK về xin phép phát hành, Doanhnghiệp phát hành sẽ được cơ quan quản lý thụ lý hồ sơ trong khoảng thời gian nhấtđịnh, nếu bộ hồ sơ hoàn chỉnh không phải sửa đổi, bổ sung gì thì thông thường sau

30 ngày, cơ quan quản lý sẽ trả kết quả Nếu được phát hành chứng khoán ra côngchúng, tổ chức phát hành phải công bố thông tin này và tiến hành thực hiện các quyđịnh về phát hành theo quy định của pháp luật

Ba là, công bố thông tin kết thúc đợt phát hành, số lượng chứng khoán

được phát hành, số tiền thu được, thông tin về việc không bán hết chứng khoánđịnh phát hành…

1.3.2.3 Nhóm quy định về phân phối và xử lý chứng khoán không được phân phối hết sau phát hành

Thứ nhất, quy định về phân phối chứng khoán chào bán ra công chúng Tùy

từng trường hợp phát hành chứng khoán ra công chúng mà tổ chức chào bán có thể

tự thực hiện hoạt động phân phối chứng khoán hoặc thực hiện phân phối chứngkhoán thông qua các tổ chức trung gian đại lý phát hành hoặc bảo lãnh phát hành.Tuy vậy, bất kể chủ thể phân phối chứng khoán là ai thì chứng khoán được pháthành cũng phải được phân phối một cách công bằng, công khai và phải đảm bảothời hạn đăng ký mua chứng khoán cho nhà đầu tư chứng khoán - thời hạn này phảiđược ghi trong Bản thông báo phát hành

Thứ hai, quy định về xử lý chứng khoán không được phân phối hết sau phát

Trang 34

hành Việc xử lý chứng khoán chứng khoán không được phân phối hết sau phát hành có thể thông qua: (i) tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán mua số chứng

khoán còn lại chưa được phân phối hết (ii) tổ chức phát hành chứng khoán tiếp tụcthực hiện chào bán chứng khoán cho các nhà đầu tư chứng khoán xác định

Đối với với các hình thức bảo lãnh phát hành chứng khoán chủ yếu là: Bảolãnh với cam kết chắc chắn, bảo lãnh với cố gắng cao nhất, bảo lãnh tất cả hoặckhông, bảo lãnh theo phương thức dự phòng và bảo lãnh tối thiểu – tối đa Ở ViệtNam bảo lãnh phát hành chứng khoán được thực hiện theo một trong hai phươngthức sau: (i) Nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành

để bán lại (ii) Mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết hoặc cố gắngtối đa để phân phối số chứng khoán cần phát hành của tổ chức phát hành Đây thựcchất là một dạng của phương thức cam kết chắc chắn, nhưng công ty chứng khoáncam kết mua phần chứng khoán còn lại của đợt phát hành chưa được phân phối hết

Phần lớn các trường hợp, tổ chức phát hành chứng khoán có quyền tự quyếttrong việc lựa chọn thuê hoặc không thuê tổ chức trung gian bảo lãnh phát hành.Tuy nhiên, để sự thành công của đợt phát hành, đảm bảo chứng khoán được pháthành tuân thủ theo nguyên tắc công bằng, công khai, pháp luật cũng ràng buộctrong một số trường hợp chào bán chứng khoán nhất định phải được bảo lãnh pháthành theo hình thức cam kết chắc chắn khi chào chứng khoán bán ra công chúng Ví

dụ như theo quy định pháp luật của Việt Nam, trong trường hợp chào bán chứngkhoán ra công chúng tại Việt Nam của doanh nghiệp thành lập và hoạt động theopháp luật nước ngoài, tổ chức chào bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứngkhoán phải hoàn tất cam kết bảo lãnh trước khi nộp hồ sơ đăng ký chào bán

Ngoài ra, để xử lý chứng khoán không được phân phối hết, tổ chức phát hànhchứng khoán có thể tiếp tục tiến hành chào bán chứng khoán cho một hoặc một sốnhà đầu tư xác định (trừ trường hợp chào bán cho cổ đông hiện hữu tương ứng với

tỷ lệ sở hữu của họ trong công ty) phải bảo đảm điều kiện chào bán, điều kiện vềquyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư không thuận lợi hơn so với điều kiện chào bán cho

cổ đông hiện hữu, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông – cơ quan đại diện cho Chủ

sở hữu của Công ty có quyết định chấp thuận bằng văn bản Về cơ bản, nguyên tắc

Trang 35

của việc tiếp tục chào bán chứng khoán chưa được phân phối hết trên tương tự vớitrường hợp tổ chức phát hành chào bán chứng khoán riêng lẻ.

1.3.2.4 Nhóm quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong chào bán chứng khoán ra công chúng

Hoạt động xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứngkhoán nói chung đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước vềchứng khoán và thị trường chứng khoán, đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạtđộng an toàn, công bằng, công khai và minh bạch Theo tài liệu của IOSCO về "Cácbiện pháp phòng ngừa hiệu quả trong Cưỡng chế thực thi pháp luật chứng khoán",

cơ quan quản lý TTCK nên có và cần sẵn sàng sử dụng nhiều biện pháp xử lý khácnhau mang tính hiệu quả, phù hợp với tính chất mức độ vi phạm và thuyết phục.Biện pháp xử lý nên tương xứng với mức độ vi phạm và hướng tới phòng ngừa viphạm IOSCO khuyến nghị rằng vi phạm có thể được phòng ngừa khi cơ quan quản

lý TTCK được trao thẩm quyền và sẵn sàng áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp;

có đầy đủ các biện pháp xử lý phù hợp với tính chất, mức độ đa dạng của rất nhiềuloại vi phạm về chứng khoán khác nhau; xác định và yêu cầu các đối tượng liênquan chịu trách nhiệm; có các biện pháp xử lý mang tính thực tiễn và sáng tạo đápứng tốt nhất các lợi ích chung của xã hội và lợi ích của nhà đầu tư Hệ thống phápluật của các quốc gia trên thế giới đều có những quy định về chế tài xử lý vi phạmpháp luật trong chào bán chứng khoán ra công chúng

- Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán như Anh (FCA), Pháp (AMF), Mỹ(SEC), Hà Lan (AFM), Úc (ASIC), … có quyền áp dụng hình thức xử lý vi phạmcăn cứ theo tính chất, mức độ, ảnh hưởng của vi phạm, có tính tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ và hướng tới răn đe đối tượng vi phạm, ngăn chặn ảnh hưởng xấu đến thịtrường; bao gồm các biện pháp xử lý: thông báo/cảnh báo vi phạm, xử phạt hànhchính Cơ quan quản lý có thể thực hiện biện pháp cảnh báo vi phạm trên websitenhằm cảnh báo nhà đầu tư về loại hình vi phạm, rủi ro có liên quan Việc quy địnhnhư vậy tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý trong thực thi pháp luật, phòng chống viphạm, phòng ngừa và cảnh báo rủi ro trên thị trường

Trang 36

- Điều 233 Luật Chứng khoán Trung Quốc cũng quy định cá nhân nào viphạm pháp luật chứng khoán trong trường hợp nghiêm trọng thì cơ quan quản lýTTCK có thể cấm tham gia các hoạt động chứng khoán có thời hạn hoặc vĩnh viễn(bao gồm không được hành nghề hoặc không được đảm nhiệm vị trí giám đốc, kiểmsoát viên hoặc lãnh đạo của một tổ chức niêm yết).

- Điều 11 (Khoản 4a, 4b, 4c), 11A (Khoản 1-b (i)) Đạo luật về Ủy Ban Chứngkhoán Ấn Độ quy định: khi cần thiết vì quyền lợi của TTCK hoặc của nhà đầu tư,khi đã hoàn tất điều tra hoặc khi đang điều tra, UBCK Ấn Độ có các quyền banhành văn bản: đình chỉ giao dịch bất kỳ chứng khoán nào trên SGDCK; cấm cánhân tiếp cận với TTCK và cấm bất kỳ cá nhân liên quan đến TTCK mua bán, giaodịch chứng khoán; đình chỉ chức vụ của bất kỳ nhân viên SGDCK hoặc tổ chức tựquản (SRO); để bảo vệ nhà đầu tư, UBCK Ấn Độ có quyền ban hành văn bản: cấmbất kỳ công ty nào phát hành bản cáo bạch, tài liệu chào bán hoặc quảng bá nhằmchào bán chứng khoán ra công chúng

- Ủy ban Chứng khoán Mỹ và Canada có thể cấm cá nhân có hành vi viphạm luật chứng khoán mang tính chất lừa đảo vĩnh viễn không được tham gia thịtrường chứng khoán [30]

Pháp luật Việt Nam quy định cả chế tài hành chính và chế tài hình sự để xử

lý các hành vi phạm nói trên Các biện pháp chế tài hành chính bao gồm: phạt cảnhcáo, phạt tiền và áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như thu hồi Giấy chứngnhận chào bán chứng khoán ra công chúng, đình chỉ hoặc hủy bỏ chào bán chứngkhoán ra công chúng Ngoài ra, trong một số trường hợp chủ thể vi phạm còn bị ápdụng các biện pháp khắc phục hậu quả Ví dụ, tổ chức phát hành có hành vi khôngsửa đổi, bổ sung hồ sơ khi phát hiện thông tin không chính xác thì sẽ bị áp dụngbiện pháp khắc phục hậu quả là:

Tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng phải thu hồi chứng khoán

đã chào bán, hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặtcọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạncủa ngân hàng mà tổ chức chào bán chứng khoán mở tài khoản thu tiềnmua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc tại thời điểm bị xử phạt vi phạm

Trang 37

hành chính, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận đượcyêu cầu của nhà đầu tư

Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính được trao cho Chánh thanh traUBCKNN và Chủ tịch UBCKNN Trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật vềchào bán chứng khoán cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự, thìchủ thể vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình

sự Ở Việt Nam, hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình chào bán chứng khoánđược chia thành các nhóm chính sau:

Nhóm 1: Nhóm các hành vi vi phạm quy định về công bố thông tin Các

hành vi này rất đa dạng, trong đó có hai dạng hành vi rất đáng lưu ý: Cố ý công bốthông tin sai lệch là hành vi công bố thông tin sai sự thật liên quan đến hoạt độngcủa tổ chức phát hành hoặc công có thông tin không đúng với các thông tin trong

hồ sơ chào bán chứng khoán; che giấu sự thật là hành vi không công bố hoặc cố ýcông bố không đầy đủ các thông tin trong hồ sơ chào bán chứng khoán Chủ thểcủa các hành vi này bao gồm tổ chức chào bán, tổ chức bảo lãnh tổ chức tư vấnphát hành, tổ chức kiểm toán được chấp thuận và những cá nhân có trách nhiệmcủa các tổ chức này

Nhóm 2: Nhóm các hành vi vi phạm về các điều kiện, thủ tục trong quá trình

chào bán chứng khoán: sử dụng thông tin ngoài bản cáo bạch để thăm dò thị trường,phân phối chứng khoán không đúng với nội dung của đăng ký chào bán về loạichứng khoán, thời hạn phát hành và khối lượng tối thiểu theo quy định, thông báophát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng không đúng nội dung và thờigian theo quy định và các hành vi khác Chủ thể của các hành vi này bao gồm tổchức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức tư vấn phát hành và cá nhân cótrách nhiệm của các tổ chức này

Nhóm 3: Nhóm thực hiện hành vi chào bán chứng khoán khi đăng ký chào

bán chưa có hiệu lực pháp luật: Nhóm hành vi này có thể bao gồm hành vi khôngđăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng nhưng vẫn tiến hành các hoạt độngchào bán chứng khoán ra công chúng, thực hiện các hành vi quảng cáo, mời chàokhông thuộc phạm vi được pháp luật cho phép hoặc bán chứng khoán khi chưa

Trang 38

được cấp giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng và cáchành vi khác Chủ thể của hành vi này là tổ chức phát hành [55, tr 362-364].

1.3 Vai trò của pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng

Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng đóng vai trò quan trọng đốivới tổ chức phát hành, nhà đầu tư, thị trường chứng khoán và nền kinh tế Tuy vậy,bên cạnh những lợi ích mang lại cho nền kinh tế, cho bản thân mỗi doanh nghiệp vàcác nhà đầu tư thì hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng cũng là nơi dễphát sinh các hành vi lừa đảo, không trung thực và thiếu minh bạch, có thể gâythiệt hại khôn lường về tài sản và lòng tin của các nhà đầu tư Điều đó càng trở nêncực kỳ nguy hiểm trong bối cảnh trình độ và kinh nghiệm đầu tư chứng khoán củacông chúng chưa cao như ở Việt Nam hiện nay Do đó, một hệ thống pháp luật hoànchỉnh về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng đóng vai trò vô cùng quantrọng, vai trò đó có thể kể đến như sau:

Thứ nhất, đảm bảo chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán: chất

lượng của bất kỳ loại hàng hóa nào cũng phụ thuộc rất lớn ở khâu sản xuất Nếukhâu sản xuất được áp dụng và tuân thủ những điều kiện, quy trình chặt chẽ thìhàng hóa làm ra sẽ đáp ứng những yêu cầu về chất lượng, đảm bảo an toàn chongười sử dụng Chứng khoán cũng là một loại hàng hóa và thị trường chứng khoán

là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng phục vụ cho nhu cầu đầu tư pháttriển kinh tế Đây là thị trường phức tạp, thu hút được một số lượng nhà đầu tư đôngđảo cả trong và ngoài nước tham gia; thị trường này hoạt động theo một thiết chếphức tạp và riêng biệt với những quy luật chi phối khắc nghiệt, sâu sắc và ảnhhưởng toàn diện đến tình hình phát triển của quốc gia; và tùy thuộc vào trình độphát triển nền kinh tế thị trường của mỗi nước sẽ có thể tác động, ảnh hưởng đếnmôi trường, thị trường khu vực và quốc tế

Thị trường chứng khoán muốn tồn tại và phát triển thì phải có nguồn hànghóa phong phú, lành mạnh Hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng là mộttrong những nguồn cung quan trọng nhất cho thị trường Không chỉ vậy, hoạt độngchào bán cổ phiếu ra công chúng còn có vai trò lớn đối với nền kinh tế, với tổ chức

Trang 39

phát hành và với nhà đầu tư như đã phân tích ở trên Do vai trò và tầm ảnh hưởngmạnh mẽ, sâu rộng đó mà nhất thiết phải có pháp luật quy định về các điều kiệnđược chào bán cổ phiếu ra công chúng nhằm đảm bảo cho thị trường có được nguồncung cấp hàng hóa đa dạng, có chất lượng cao; từ đó có thể mở rộng quy mô, tạothuận lợi cho sự phát triển của thị trường, phát huy tối đa vai trò huy động vốn phục

vụ cho hoạt động phát triển kinh tế nước nhà

Thứ hai, tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, công bằng và đúng pháp luật:

thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ, các văn bản pháp luật còn thiếuđồng bộ, các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán chưa đầy đủ, rõ ràng, tổ chức pháthành và nhà đầu tư chưa có nhiều kinh nghiệm Do đó, cần thiết phải có sự thamgia xem xét, đánh giá chất lượng của cổ phiếu chào bán ra công chúng thông quaviệc thẩm định nội dung của đợt chào bán từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền về chứng khoán Các điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng sẽ giúpcho sự can thiệp của cơ quan chuyên trách được thực hiện minh bạch, công bằng vàđúng pháp luật

Thứ ba, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư Sau khi tiến

hành chào bán chứng khoán ra công chúng, chứng khoán sẽ thuộc sở hữu của nhàđầu tư và lợi nhuận của nhà đầu tư sẽ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của tổ chứcphát hành Vì vậy, pháp luật phải đề ra các điều kiện để chào bán chứng khoán racông chúng nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư cũng như lòng tin của họ và thịtrường chứng khoán Đồng thời, xuất phát từ bản chất chào bán cổ phiếu ra côngchúng là việc chào bán cổ phiếu cho một số lượng lớn công chúng đầu tư, nhiềungười trong số đó là các nhà đầu tư nhỏ, không có kiến thức chuyên sâu về phântích đầu tư cổ phiếu; do đó, để bảo vệ các nhà đầu tư này, pháp luật điều chỉnh hoạtđộng chào bán cổ phiếu ra công chúng phải đưa ra các điều kiện để đảm bảo cho cổphiếu được chào bán rộng rãi ra công chúng là các cổ phiếu có chất lượng cao, tổchức phát hành là các doanh nghiệp có triển vọng phát triển trong tương lai

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Pháp luật luôn đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống - xãhội đặc biệt là đối với những lĩnh vực nhạy cảm và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ronhư thị trường chứng khoán Để xây dựng được quy định về điều kiện chào bánchứng khoán ra công chúng tại Việt Nam đầy đủ, hoàn thiện thì tại Chương 1, luậnvăn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về điều kiện chào bán chứng khoán racông chúng và pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng, cụ thể:(i) Khái quát và phân tích những vấn đề lý luận chung về chào bán chứng khoán racông chúng như khái niệm, đặc điểm, hình thức, vai trò, ý nghĩa của hoạt động chàobán chứng khoán ra công chúng (ii) Khái quát và phân tích những vấn đề lý luậnchung về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng gồm khái niệm, phân loạiđiều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng Theo đó, điều kiện về chào bánchứng khoán ra công chúng được hiểu là những tiêu chuẩn, những quy định, hoặcyêu cầu mà pháp luật buộc tổ chức phát hành phải tuân thủ thì mới được cơ quan

quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận chào bán chứng khoán ra công chúng (ii) Khái quát và phân tích những vấn đề lý luận chung liên quan đến pháp luật về

điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng bao gồm khái niệm, nội dung điềuchỉnh và vai trò của pháp luật

Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã được nghiên cứu ở Chương 1, Chương 2

là các phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này Qua đótìm ra được những hạn chế trong quy định, những vướng mắc trong thực tiễn ápdụng các điều kiện về chào bán cổ phiếu ra công chúng tại Việt Nam để đề xuất,kiến nghị hoàn thiện, từ đó tạo tiền đề cho việc xây dựng khung pháp lý chuyênngành hoàn chỉnh

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2012), Báo cáo thi hành Nghị định 58/2012/NĐ-CP và tình hình Thị trường chứng khoán Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thi hành Nghị định 58/2012/NĐ-CP và tìnhhình Thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
2. Bộ Tài chính (2017), Nản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan về dự thảo hồ sơ đề nghị xây dựng dự án Luật chứng khoán (sửa đổi) ngày 17 tháng 4 năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp củacác bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan về dự thảo hồ sơ đề nghị xây dựngdự án Luật chứng khoán (sửa đổi) ngày 17 tháng 4 năm 2017
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
3. Bộ Tài chính (2020), Thông tư số 116/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 về Hướng dẫn một số điều về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng tại Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 116/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020về Hướng dẫn một số điều về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúngtại Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2020
4. Bộ Tài chính (2020), Thông tư số 118/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 hướng dẫn nội dung về chào bán, phát hành chứng khoán, chào mua công khai, mua lại cổ phiếu, đăng ký công ty đại chúng và hủy tư cách công ty đại chúng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 118/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm2020 hướng dẫn nội dung về chào bán, phát hành chứng khoán, chào muacông khai, mua lại cổ phiếu, đăng ký công ty đại chúng và hủy tư cách côngty đại chúng
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2020
5. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 130/2012/TT-BTC ngày 10 tháng 08 năm 2012 hướng dẫn việc mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và một số trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của công ty đại chúng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 130/2012/TT-BTC ngày 10tháng 08 năm 2012 hướng dẫn việc mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ vàmột số trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của công ty đại chúng
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Năm: 2012
6. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 204/2012/TT-BTC ngày 19 tháng 11 năm 2012 hướng dẫn hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 204/2012/TT-BTC ngày 19tháng 11 năm 2012 hướng dẫn hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra côngchúng
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Năm: 2012
7. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 162/2015/TT-BTC ngày 26 tháng 10 năm 2015 hướng dẫn việc chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán cổ phiếu để hoán đổi, phát hành thêm cổ phiếu, mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và chào mua công khai cổ phiếu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 162/2015/TT-BTC ngày 26tháng 10 năm 2015 hướng dẫn việc chào bán chứng khoán ra công chúng,chào bán cổ phiếu để hoán đổi, phát hành thêm cổ phiếu, mua lại cổ phiếu,bán cổ phiếu quỹ và chào mua công khai cổ phiếu
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Năm: 2015
10. Chính phủ (1998), Nghị định số 48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và thịtrường chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
11. Chính phủ (2007), Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w