1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở việt nam hiện nay

201 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Huệ
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, khi nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam giai đoạn từ 2012 đến nay, luận án đã có được một số điểm mới: Nhiều chủ thể nộp thuế BVMT gặp khó khăn khi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HUỆ

PH¸P LUËT THUÕ B¶O VÖ M¤I TR¦êNG

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HUỆ

PH¸P LUËT THUÕ B¶O VÖ M¤I TR¦êNG

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 9380101.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Các kết quả nêu trong luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Nếu có bất kỳ sự sao chép bất hợp pháp nào từ các công trình nghiên cứu khác, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Huệ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 9

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về đề tài 9

1.1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về thuế bảo vệ môi trường và pháp luật thuế bảo vệ môi trường 9

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 16

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 21

1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu về đề tài 25

1.2.1 Những kết quả nghiên cứu được tiếp thu, sử dụng trong luận án 25

1.2.2 Những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu, cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 27

1.3 Cơ sở lý thuyết, câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án 28

1.3.1 Cơ sở lý thuyết 28

1.3.2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 32

1.3.3 Hướng tiếp cận của luận án 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 35

2.1 Những vấn đề lý luận về thuế bảo vệ môi trường 35

2.1.1 Khái niệm thuế bảo vệ môi trường 35

2.1.2 Vai trò của thuế bảo vệ môi trường 47

2.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật thuế bảo vệ môi trường 52

Trang 5

2.2.1 Khái niệm pháp luật thuế bảo vệ môi trường 52

2.2.2 Nguyên tắc của pháp luật thuế bảo vệ môi trường 55

2.2.3 Nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế bảo vệ môi trường 61

2.2.4 Các yếu tố tác động đến pháp luật thuế bảo vệ môi trường 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 76

3.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 76

3.2 Thực trạng pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 78

3.2.1 Thực trạng các quy định về chủ thể nộp thuế, chủ thể chịu thuế, đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế BVMT 78

3.2.2 Thực trạng các quy định về thuế suất và nguyên tắc, thẩm quyền điều chỉnh thuế suất thuế bảo vệ môi trường 87

3.2.3 Thực trạng các quy định về phương thức và thời điểm tính thuế bảo vệ môi trường 93

3.2.4 Thực trạng các quy định về miễn, giảm, hoàn thuế bảo vệ môi trường 95

3.2.5 Thực trạng các quy định về quản lý, sử dụng tiền thu từ thuế bảo vệ môi trường 96

3.2.6 Thực trạng các quy định về thủ tục thuế bảo vệ môi trường 98

3.3 Thực tiễn thực hiện và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 102

3.3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 102

3.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 115

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 123

CHƯƠNG 4 : ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 124

4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 124

Trang 6

4.1.1 Cần nhận thức thuế bảo vệ môi trường là một công cụ kinh tế để bảo

vệ môi trường 124 4.1.2 Bảo đảm nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 125 4.1.3 Bảo đảm mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững 125 4.1.4 Bảo đảm tính khoa học, đồng bộ trong xây dựng và thực hiện pháp

luật thuế bảo vệ môi trường 126

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật

thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 127

4.2.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở

Việt Nam 140 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 148

KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 1 PL

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

A Tiếng Việt

1 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Bio-ethanol

Bio-ethanol

gia Đông Nam Á)

Trang 8

20 BPP Benefit Pays Principle (Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền)

hiện tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở Việt Nam”

mô tả và quy tắc đánh số thứ tự hàng hoá”)

Framework Convention on Climate Change (Hội nghị lần thứ 21 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc

về biến đổi khí hậu)

(Hệ thống của Châu Âu về các báo cáo thu chi quốc gia và khu vực)

nhà kính Liên minh Châu Âu)

phủ Anh)

(Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)

Trang 9

38 NO2 Nitơ dioxide

dioxide)

(Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)

Vương quốc Anh)

các công cụ chính sách đối với môi trường)

trả tiền)

Thương mại và Công nghiệp Việt Nam)

(Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển)

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Do sự phát triển kinh tế thiếu bền vững nên Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề môi trường nghiêm trọng như biến đổi khí hậu do sự nóng lên của Trái đất, suy thoái, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, ô nhiễm trắng do chất thải nhựa, thủng tầng ozon Nhìn

từ góc độ kinh tế, những vấn đề môi trường này đã gây ra những ảnh hưởng không thể đo đếm đối với sức khỏe thể chất, tinh thần của người dân, với những thành quả kinh tế mà con người đã mất nhiều công sức để xây dựng và với cả sự sống của những sinh vật sống trong tự nhiên Nhìn từ góc độ quyền con người thì rõ ràng những vấn đề về môi trường này đã gây ảnh hưởng đến việc thụ hưởng “quyền con người được sống trong môi trường trong lành” cũng như một số quyền con người khác Để kiểm soát, giảm thiểu những tác động này cũng như để bảo đảm quyền con người, các quốc gia phải đều phải thực hiện rất nhiều kế hoạch, chiến lược, phải sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau như tăng cường áp dụng khoa học – công nghệ; đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục; xây dựng hành lang pháp lý hay áp dụng các công

cụ kinh tế (CCKT) để bảo vệ môi trường (BVMT) Trong số đó, các CCKT nói chung và thuế môi trường nói riêng là nhóm giải pháp quan trọng đã và đang được nhiều quốc gia cam kết, đẩy mạnh thực hiện dưới những hình thức rất đa dạng như: thuế CO2 ở Thụy Điển [185]; thuế với túi nhựa ở Ireland [184]; thuế với thuốc trừ sâu ở Đan Mạch [171]; thuế năng lượng ở Hà Lan [178]…

Đối với Việt Nam, công cuộc “đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp Từ

2002 đến 2018, hơn 45 triệu người đã thoát nghèo, tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức mua ngang giá) GDP đầu người tăng 2,5 lần, đạt trên 2.500 USD năm 2018” [138] Những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế mặc dù đã mang lại sự thay đổi lớn lao trong đời sống người dân, nhưng cũng kéo theo những vấn đề về môi trường nghiêm trọng mà Việt Nam bắt buộc phải giải quyết để có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững (PTBV)

Từ thực tiễn đất nước và trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, ngày 15/11/2010 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thuế BVMT, bổ sung vào nhóm thuế môi trường của Việt Nam một sắc thuế mới bên cạnh thuế tài nguyên Sự ra

Trang 11

đời của Luật Thuế BVMT năm 2010 đã đánh dấu một bước tiến lớn trong việc đẩy mạnh áp dụng CCKT để BVMT ở Việt Nam bởi “thuế BVMT là sự thể hiện sâu sắc nguyên tắc: “người gây ô nhiễm phải trả tiền”” [60, tr.510] khi buộc người sử dụng một số loại hàng hoá, sản phẩm gây tác động xấu tới môi trường như xăng dầu, túi

ni lông, HCFC, than đá… phải trả tiền cho những “ngoại ứng tiêu cực” mà việc sử dụng các hàng hóa, sản phẩm này tạo ra

Tuy nhiên, xem xét dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu để tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay là thực sự cần thiết Lý do cụ thể như sau:

Dưới góc độ lý luận, nghiên cứu sinh (NCS) nhận thấy, hiện nay thuật ngữ

thuế BVMT vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất dẫn đến những khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT Bên cạnh đó, đến nay vẫn chưa có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu sâu về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT nên các vấn đề lý luận về thuế BVMT (như định nghĩa, đặc điểm, vai trò…) và lý luận về pháp luật thuế BVMT (như định nghĩa, đặc điểm, nội dung điều chỉnh, nguyên tắc và các yếu tố tác động đến pháp luật thuế BVMT…) đều chưa được nghiên cứu thấu đáo Sự thiếu hụt về khung lý luận ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật thuế BVMT cũng như ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng hệ thống lý luận về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT làm cơ sở để đánh giá, hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết

Dưới góc độ thực tiễn, mặc dù pháp luật thuế BVMT đã mang lại những kết

quả nhất định trong BVMT cũng như góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước (NSNN) trong giai đoạn từ 2012 đến nay, nhưng thực tế cho thấy, nhiều quy định pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam đã bộc lộ bất cập, một số quy định còn chưa thống nhất, chưa rõ ràng, gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện pháp luật thuế BVMT của các chủ thể Bên cạnh đó, vì nhiều nguyên nhân nên thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT trong những năm qua cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nhất định khiến cho thuế BVMT chưa thực sự phát huy được vai trò là một CCKT trong quản lý và BVMT Trước thực tế đó, ngày 08/06/2017, Quốc hội đã đưa dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế BVMT

Trang 12

vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017 Bộ Tài chính đã được phân công chủ trì soạn thảo dự án luật này, tuy nhiên, sau quá trình xây dựng, thẩm định và lấy ý kiến, Quốc hội nhận thấy dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế BVMT vẫn cần “có thêm thời gian nghiên cứu, hoàn thiện”[147] nên đã quyết định đưa dự án luật này ra khỏi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 Bên cạnh đó, Luật BVMT năm 2020 (được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2020) đã lần đầu tiên khẳng định vai trò là một CCKT của thuế BVMT Điều này giúp hình thành quan điểm thống nhất về vai trò của thuế BVMT ở Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý quan trọng, định hướng cho quá trình sửa đổi, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam trong thời gian tới Do đó, từ góc độ thực tiễn, việc nghiên cứu pháp luật thuế BVMT sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế BVMT nói riêng và pháp luật BVMT ở Việt Nam nói chung

Vì những lí do trên, NCS đã lựa chọn đề tài “Pháp luật thuế bảo vệ môi

trường ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án hướng đến mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam Từ đó, đưa ra những định hướng và đề xuất giải pháp để hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận án cần giải quyết các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong, ngoài nước để xác định các vấn đề cần nghiên cứu trong luận án; nêu và phân tích những cơ sở lý thuyết được sử dụng

để nghiên cứu luận án, đưa ra các câu hỏi, các giả thuyết nghiên cứu cũng như hướng tiếp cận của luận án;

- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về thuế BVMT như định nghĩa, đặc điểm và vai trò của thuế BVMT; lý luận về pháp luật thuế BVMT, bao gồm định nghĩa, đặc điểm, nội dung điều chỉnh, nguyên tắc và các yếu tố tác động đến pháp luật thuế BVMT để xây dựng được khung lý luận về pháp luật thuế BVMT;

- Khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam;

Trang 13

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế BVMT, từ đó nêu những ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay;

- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế, thiếu sót, đồng thời phân tích những nguyên nhân của tình trạng này;

- Đưa ra những định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án hướng đến nghiên cứu:

- Những vấn đề lý luận về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT;

- Quy định pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay;

- Thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định của Luật

Thuế BVMT năm 2010, các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các văn bản của các cơ quan nhà nước, tổ chức có nội dung liên quan đến pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam Tuy nhiên, do đặc thù của pháp luật thuế ở Việt Nam hiện nay nên luận

án cũng nghiên cứu một số quy định có liên quan đến thuế BVMT tại các văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật NSNN, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Tuy nhiên, trọng tâm nghiên cứu là Luật Thuế BVMT năm 2010

và các văn bản hướng dẫn thi hành

Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu về pháp luật thuế BVMT ở Việt

Nam, nhưng do hạn chế về khả năng tiếp cận nên những đánh giá về thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT sẽ được minh chứng thông qua số liệu điển hình của một

số tỉnh thành như Lạng Sơn, Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh…

Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu về pháp luật thuế BVMT từ năm

2010 đến nay, tuy nhiên, do đến ngày 01/01/2012 Luật Thuế BVMT năm 2010 mới bắt đầu có hiệu lực nên các số liệu được sử dụng để minh chứng cho nội dung về thực tiễn thực hiện pháp luật lấy mốc bắt đầu từ 2012 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, NCS sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu gồm phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, thống kê, kết

Trang 14

hợp sử dụng một số phương pháp thu thập thông tin như phỏng vấn sâu, quan sát, thu thập, xử lý và phân tích số liệu sơ cấp, thứ cấp Cụ thể như sau:

Thứ nhất, phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử

dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận án, giúp trả lời các câu hỏi nghiên cứu và chứng minh cho các giả thuyết nghiên cứu, giúp tác giả đưa ra những kết luận khoa học của luận án

Thứ hai, phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh là một trong những

phương pháp nghiên cứu quan trọng, được sử dụng ở nhiều nội dung của luận án, như nội dung về đặc điểm của thuế BVMT (để chỉ ra sự khác biệt giữa thuế BVMT với các loại thuế và phí khác); so sánh đóng góp của thuế BVMT đối với NSNN qua các năm; so sánh thay đổi mức thuế BVMT qua các thời kì; so sánh nội dung một số văn bản quy phạm pháp luật; so sánh pháp luật thuế BVMT của Việt Nam với pháp luật thuế BVMT một số nước khác, từ đó chỉ ra những quy định hợp lý và bất cập của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam

Thứ ba, phương pháp lịch sử: Phương pháp này được sử dụng ở Chương 2,

trong các nội dung về lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam; đánh giá hiệu quả của thuế BVMT ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình thực hiện ở Việt Nam

Thứ tư, phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu

trong Chương 3 để làm sáng tỏ hơn những nhận định về thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay với các vấn đề như số lượng văn bản quy phạm pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay; các loại hàng hóa sản phẩm thân thiện với môi trường có thể thay thế cho các sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế BVMT; số thu thuế BVMT qua các năm; các công văn trả lời của

Bộ Tài chính/Tổng cục Hải quan về thuế BVMT…

Thứ năm, phương pháp thu thập thông tin

- Phỏng vấn sâu: Phương pháp này được NCS sử dụng để thu thập các thông

tin liên quan đến thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT tại Chương 3 của luận

án Có hai nhóm đối tượng phỏng vấn: cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước

có liên quan đến thuế BVMT như Chi cục thuế, Cục/chi cục Hải quan và người nộp

thuế BVMT như cán bộ của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu

- Phương pháp quan sát: Phương pháp này được sử dụng để đưa ra những

đánh giá, nhận xét về thực trạng thực hiện pháp luật thuế BVMT tại Chương 3 của luận án Trong quá trình thực hiện luận án NCS đã đến một số chợ, siêu thị và một

Trang 15

số cửa hàng kinh doanh xăng dầu để quan sát hành vi của người tiêu dùng đối với một số hàng hóa, sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế BVMT và các sản phẩm/dịch

vụ thay thế

- Thu thập, xử lý, phân tích số liệu sơ cấp/thứ cấp: Để có minh chứng cho

những nhận định được đưa ra trong luận án, NCS đã kết hợp tìm kiếm và phân tích một số tài liệu sơ cấp và thứ cấp có liên quan như tờ khai hải quan, tờ khai thuế của một số đơn vị, báo cáo tổng thu thuế BVMT qua các năm của một số địa phương, số liệu thống kê, báo cáo của Bộ Tài chính, Chính phủ, cùng những thông tin từ các

website đáng tin cậy, sách, báo tạp chí và các nguồn khác

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của Chương 2 luận án góp phần làm sâu sắc

hơn những vấn đề lý luận về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT Đặc biệt, tại mục 2.1.1, NCS đã đưa ra các định nghĩa mới: CCKT, thuế môi trường và thuế BVMT, thể hiện các sắc thuế môi trường dưới dạng biểu đồ để thấy được sự khác biệt của thuế môi trường và thuế BVMT Tại mục 2.2.4 NCS đã phân tích được tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế, tài khóa, xã hội và hội nhập tới pháp luật thuế BVMT

Thứ hai, kết quả nghiên cứu tại mục 3.2 đã làm rõ hơn những ưu điểm và hạn

chế của các quy định pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay Điểm khác biệt so với các công trình nghiên cứu khác là trong mỗi nhận định, NCS đều đưa ra những minh chứng, lập luận, so sánh để làm sáng tỏ vấn đề chứ không chỉ dừng ở việc đưa

ra nhận định chung chung Trong đó, có một số đóng góp mới: chỉ ra sự thiếu thống nhất trong quy định về đối tượng chịu thuế BVMT hiện nay; chỉ ra hạn chế của việc thiếu quy định về chủ thể chịu thuế BVMT; phân tích hạn chế của các quy định về đối tượng chịu thuế là xăng dầu, nguyên tắc điều chỉnh thuế suất, quản lý, sử dụng tiền thu từ thuế BVMT và thủ tục hoàn thuế BVMT; sự thiếu nhất quán trong quy định về đối tượng không chịu thuế BVMT

Thứ ba, khi nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở

Việt Nam giai đoạn từ 2012 đến nay, luận án đã có được một số điểm mới: Nhiều chủ thể nộp thuế BVMT gặp khó khăn khi xác định hàng hóa, sản phẩm của mình có thuộc đối tượng chịu thuế BVMT hay không; việc thu thuế với nhóm sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật gần như không thực hiện được; việc điều chỉnh thuế suất chưa hướng đến mục tiêu BVMT và thiếu tính kế hoạch; việc thực hiện quy định về thời điểm tính thuế BVMNT đối với hàng hóa nhập khẩu

Trang 16

(trừ xăng dầu để bán) đã tạo ra áp lực tài chính, thiệt thòi cho nhiều doanh nghiệp; việc quản lý, sử dụng tiền thu từ thuế BVMT còn những điểm chưa rõ ràng; tình trạng bỏ lọt hành vi vi phạm pháp luật thuế BVMT vẫn còn diễn ra Đặc biệt tại mục 3.3.2 NCS đã chỉ ra được hai nguyên nhân mới của những hạn chế trong thực hiện pháp luật thuế BVMT tại Việt Nam: nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước về pháp luật thuế BVMT chưa đầy đủ và sản phẩm/dịch vụ thay thế chưa đáp ứng được tiêu chí tiêu dùng của người dân (một số đối tượng chịu thuế BVMT không có sản phẩm thay thế, giá thành cao, khó tiếp cận, chất lượng chưa bảo đảm)

Thứ tư, tại mục 4.2.1, NCS đề xuất một số giải pháp mới để sửa đổi, bổ

sung các quy định còn chưa phù hợp của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam như:

bổ sung vào Luật Thuế BVMT quy định về chủ thể chịu thuế BVMT, quy định

về phương thức tính thuế với các đối tượng chịu thuế ở dạng hỗn hợp; đưa các loại thuốc bảo vệ thực vật ra khỏi đối tượng chịu thuế BVMT và thay thế bằng một số loại hàng hóa khác (pin, bóng đèn huỳnh quang, nước uống đóng chai);

bổ sung và điều chỉnh quy định về quản lý, sử dụng tiền thu từ thuế BVMT theo hướng không đưa chung vào NSNN như các sắc thuế khác mà chuyển vào các quỹ BVMT để chi dùng cho hoạt động BVMT tương ứng; điều chỉnh tên gọi và ban hành nghị định hướng dẫn thi hành mới để cụ thể hóa các hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT nhằm bảo đảm sự tương thích với danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, trong đó NCS đã đề xuất mô hình của bảng quy định danh mục cụ thể đối tượng chịu thuế BVMT tại trang 132; ban hành quy định giới hạn

độ dày của túi ni lông; sửa đổi quy định về nguyên tắc điều chỉnh thuế suất trong

đó bổ sung giới hạn mức tăng thuế mỗi lần và thời hạn tối thiểu để nghị quyết điều chỉnh tăng thuế suất có hiệu lực…

Thứ năm, tại mục 4.2.2 NCS đã đề xuất một số giải pháp để góp phần nâng

cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam Trong đó có nhóm giải pháp để thay đổi nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước về pháp luật thuế BVMT, đặc biệt đề cao vai trò của Bộ TN&MT trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật thuế BVMT để bảo đảm đúng tính chất là CCKT trong quản lý và BVMT Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các hàng hóa, dịch vụ thay thế cho các hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT cũng được NCS đưa ra như: sửa đổi Chương 7 và Phụ lục 3 Nghị định số

Trang 17

19/2015/NĐ-CP; các hoạt động nhằm khẳng định chất lượng và hiệu quả BVMT của các sản phẩm thay thế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu và

tương đối toàn diện về pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu luận

án góp phần bổ sung, phát triển khung lý luận về pháp luật thuế BVMT

Về mặt thực tiễn, luận án đã đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở

khoa học và thực tiễn về thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam, đặc biệt là những điểm hạn chế, yếu kém, nên đây

sẽ là nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy, có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về thuế, pháp luật BVMT nói chung và pháp luật thuế BVMT nói riêng Đặc biệt những đánh giá, kiến nghị và giải pháp được đưa ra trong luận án sẽ là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện pháp luật thuế BVMT và pháp luật BVMT ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án được kết cấu thành 4 Chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến

luận án;

Chương 2 Những vấn đề lý luận về thuế bảo vệ môi trường và pháp luật

thuế bảo vệ môi trường;

Chương 3 Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế bảo vệ

môi trường ở Việt Nam hiện nay;

Chương 4 Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện

pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về đề tài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về thuế bảo vệ môi trường và pháp luật thuế bảo vệ môi trường

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu lý luận về thuế BVMT

Nghiên cứu về khái niệm thuế BVMT

Bàn về thuế BVMT, trong sách chuyên khảo “Thuế môi trường”, Bùi

Đường Nghiêu (chủ biên) (2006) cho rằng, dù sắc thuế này có nhiều tên gọi khác nhau nhưng mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của nó cũng không đổi, trong đó mục tiêu chính là khuyến khích giảm lượng chất ô nhiễm ra môi trường, tăng thu cho ngân sách và “nội hóa chi phí ngoại ứng” [59, tr.63-64] Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra được năm lí do thúc đẩy các quốc gia ban hành luật thuế chống ô nhiễm môi trường [59, tr.63-68]

Trong Chương 1 đề tài “Định hướng hoàn thiện chính sách thuế bảo vệ môi trường giai đoạn 2016 – 2020” do Đinh Nam Thắng làm chủ nhiệm (2016), nhóm

nghiên cứu nhận định “thuế về môi trường là CCKT dựa vào thị trường và là một trong những phương thức hiệu quả kích thích đầu tư xanh” [73, tr.22] Đặc biệt, tại trang 24, nhóm nghiên cứu đã đưa ra khái niệm thuế BVMT theo cách hiểu tại Việt Nam dưới hai góc độ: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp và phân tích thuật ngữ

“thuế BVMT” của Luật Thuế BVMT năm 2010, đồng thời chỉ ra ba đặc điểm và vai

trò của sắc thuế này dưới các khía cạnh môi trường, kinh tế - xã hội và thu NSNN

Luận án “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013) đã đưa ra định nghĩa về

thuế BVMT của nhà kinh tế học Arthur C.Pigou, phân tích những đặc trưng cơ bản của thuế BVMT và những ưu điểm, hạn chế của thuế BVMT [41, tr.72-74] Cùng

góc độ tiếp cận, giáo trình “Kinh tế môi trường” do Vũ Quang Thọ làm chủ biên

(2010) đã đưa ra những giải thích cơ bản [75, tr.137] và chỉ ra những điểm hạn chế của thuế Pigou [75, tr.142-144] dưới góc nhìn của kinh tế học Quan điểm về thuế môi trường/thuế Pigou này cũng được Trung tâm Khoa học Lập pháp, Viện Nghiên

cứu Lập pháp (2017) đưa ra trong chuyên đề “Pháp luật về thuế bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực xăng dầu: Thực trạng và giải pháp” [86] Tuy nhiên, nghiên cứu

Trang 19

này có trích dẫn thêm cách giải thích thuật ngữ thuế BVMT của Cơ quan Thống kê Châu Âu (EUROSTAT) và quy định của Việt Nam hiện nay

Trong tài liệu “Các công cụ chính sách về môi trường của OECD” [190],

các tác giả đã giải thích khái niệm “các sắc thuế liên quan đến môi trường” và nêu

ra các căn cứ tính thuế gồm: sản phẩm năng lượng; thiết bị vận tải và dịch vụ vận tải; ô nhiễm, bao gồm cả lượng khí thải được đo hoặc ước tính đối với không khí và nước, các chất tạo bọt, một số nguồn ô nhiễm nước không chính xác, quản lý chất thải và tiếng ồn; tài nguyên thiên nhiên, như quản lý nước, đất, rừng, đa dạng sinh học, khai thác mỏ, khai thác đá, trữ lượng động vật hoang dã và cá

Trong bài viết “Thuế môi trường ở nước Anh: Thuế biến đổi khí hậu và hoạch định chính sách” đăng trên Denning Law Journal số phát hành đặc biệt 28/2015 [162],

các tác giả John McEldowney và David Salter đã trích dẫn một số định nghĩa thuế môi trường được đưa ra bởi các cơ quan, tổ chức khác nhau như Liên minh Chính phủ 2012-2015 (Coalition Government); OECD và Cơ quan Thống kê Châu Âu (Eurostat); Văn phòng quốc gia Anh (UK’s Office for National); Bộ Tài chính (HM Treasury) và Viện nghiên cứu Tài chính (Institute for Fiscal Studies-IFS) Những định nghĩa này cũng được đề cập trong một số công trình nghiên cứu khác như: báo

cáo “Cải cách thuế bảo vệ môi trườngở châu Âu: cơ hội cho tương lai” do Học viện Chính sách Môi trường Châu Âu thực hiện năm 2014 [160] và bài viết “Tiếp cận khái niệm thuế môi trường” đăng trên tạp chí Luật học số 7/2017 của tác giả Đặng

Kim Phương [63, tr.61] Tuy nhiên, ngoài phân tích các định nghĩa này, tác giả Đặng Kim Phương cũng đưa ra định nghĩa riêng về thuế BVMT đồng thời chỉ ra vai trò và các điểm đặc thù của thuế môi trường Đặc điểm của thuế BVMT cũng được nhóm

tác giả thực hiện giáo trình “Luật thuế ở Việt Nam” của Đại học Luật Hà Nội (2016)

do Phạm Thị Giang Thu chủ biên phân tích tại trang 354 [90, tr.354]

Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về thuế bảo vệ môi trường” đăng trên website

của Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn) ngày 12/10/2017 [119] đã khẳng định thuế môi trường là một trong những CCKT quan trọng trong lĩnh vực môi trường và đưa ra khái niệm thuế môi trường dưới góc độ khoa học pháp lý và theo quy định của Luật Thuế BVMT năm 2010 Từ đó, phân tích điểm khác biệt giữa thuế BVMT với phí BVMT, đặc thù của thuế môi trường so với các khoản thuế khác và vai trò, ý nghĩa của thuế môi trường Đồng quan điểm, tác giả Đỗ Nam Thắng (2011) trong sách

chuyên khảo “Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường: kinh nghiệm quốc tế

và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam”, đã chỉ ra có nhiều loại CCKT trong quản lý môi

trường và phân tích đặc điểm của ba loại thuế/phí liên quan đến môi trường cơ bản:

Trang 20

thuế/phí đánh vào nguồn phát thải; thuế/phí môi trường gián tiếp và các loại thuế/phí khác có tác động đến môi trường [74, tr.19-20]

Bài viết “Một số vấn đề về việc ban hành Luật thuế môi trường ở Việt Nam”

của Trần Vũ Hải (2009) được thực hiện giai đoạn trước khi Luật Thuế BVMT năm

2010 được ban hành đã đưa ra hai cách tiếp cận khác nhau về khái niệm thuế môi trường: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp [43, tr.24] và chỉ ra một số ưu điểm và khuyết điểm của thuế môi trường Cùng được thực hiện trong giai đoạn này, bài viết

“Định hướng xây dựng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn

Thị Liên và Lê Xuân Trường đã đưa ra những lý do để giải thích cho sự cần thiết xây dựng chính sách thuế môi trường ở Việt Nam [56, tr.17] và bốn nguyên tắc để

thiết lập thuế môi trường Đặc biệt, bài viết “Thuế, phí môi trường trên thế giới và một số định hướng cho Việt Nam” của các tác giả Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Mạnh

Kiên, Đỗ Gioan Hảo đã khẳng định “việc định nghĩa, phân biệt và phân loại thuế, phí môi trường cũng chưa có sự thống nhất trên phạm vi quốc tế” [71, tr.45] nên

“thay vì cố gắng đưa ra một định nghĩa chính thức về thuế môi trường, người ta có khuynh hướng tập trung vào những căn cứ tính thuế có liên quan đặc biệt tới môi trường và coi như những loại thuế có căn cứ tính thuế như vậy đều là thuế môi trường” [71, tr.45] Bên cạnh đó, các tác giả cũng trích dẫn định nghĩa thuế môi trường của EUROSTAT, một số căn cứ tính thuế tiêu biểu để xác định loại thuế nào

đó có phải là thuế môi trường hay không và bảy lợi ích của thuế, phí môi trường so với các công cụ khác

Nghiên cứu về vai trò của thuế BVMT

Trong cuốn sách “Thuế, đổi mới và môi trường” do OECD xuất bản năm

2010, nhóm nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa thuế, đổi mới và môi trường (tại mục 1.3) từ đó cho thấy vai trò quan trọng của các sắc thuế môi trường đối với

sự đổi mới công nghệ, với BVMT và giải thích tại sao các sắc thuế lại đóng vai trò trung tâm trong các chính sách về môi trường (tại Chương 5) Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định để giải quyết những thách thức về môi trường toàn cầu có thể không đạt được bằng duy nhất thuế liên quan đến môi trường [188, pp.27-28]

Trong sách chuyên khảo “Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam”, tác giả Đỗ Nam Thắng

(2011) đã chỉ ra những ưu điểm của các CCKT so với các công cụ CAC trong việc định hướng giảm thiểu ô nhiễm, đồng thời chỉ ra những khó khăn khi áp dụng thuế/phí BVMT [74, tr.66-69] Vai trò của thuế BVMT cũng được phản ánh trong

các bài viết “Hỗ trợ tăng trưởng xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt

Trang 21

Nam” của tác giả Trần Thị Vân Anh và Phạm Văn Nghĩa (2015) [2, tr.37]; bài viết

“Thuế môi trường: Lợi ích và những vấn đề đặt ra” của tác giả Minh Việt (2008) [103, tr.10]; bài viết “Bảo vệ môi trường tốt hơn thông qua chính sách thuế”, tác

giả Hoàng Lâm [134]

Thứ hai, các công trình nghiên cứu lý luận về pháp luật thuế BVMT

Nghiên cứu về khái niệm pháp luật thuế BVMT

Liên quan đến nhóm nội dung này, qua khảo cứu NCS nhận thấy các công trình nghiên cứu hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc phân tích lí do/vai trò hoặc đưa ra những minh chứng cho sự cần thiết của pháp luật thuế BVMT, chứ chưa có công trình nào phân tích về định nghĩa, đặc điểm của pháp luật thuế BVMT Theo đó, có nhiều lí do được đưa ra để khẳng định sự cần thiết của pháp luật thuế BVMT như:

Tại mục 1.4.2.2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam” do Bùi Đường

Nghiêu làm chủ nhiệm (2004) đã phân tích sáu lý do thúc đẩy các quốc gia ban hành luật thuế chống ô nhiễm môi trường gồm: i) Giúp thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả”; ii) Khuyến khích, kích thích và điều chỉnh sản xuất, tiêu dùng theo hướng BVMT [58, tr.45]; iii) Giảm thiểu chi phí quản lý ô nhiễm; iv) Thúc đẩy cải cách, đổi mới công nghệ; v) Tăng thu cho ngân sách, giảm thiểu các hiệu ứng tiêu cực của hệ thống thuế thu nhập hiện hành; iv) Phát huy được khía cạnh sinh thái học của thuế, thúc đẩy công cuộc cải cách thuế xanh Cùng đề cập đến vấn

đề này, nhưng trong cuốn sách “Pháp luật thuế, lý luận, lịch sử, thực trạng và so sánh”, tác giả Nguyễn Thị Lan Hương đã chỉ ra hai ý nghĩa khác của việc ban hành

Luật Thuế BVMT gồm: i) “Luật Thuế BVMT là cơ sở pháp lý điều chỉnh hành vi của các chủ thể sử dụng các loại hàng hóa có hại cho môi trường thông qua quy định về nghĩa vụ nộp thuế” [51, tr.237]; ii) Luật Thuế BVMT là cơ sở pháp lý tạo nguồn thu cho ngân sách trung ương và địa phương để chi cho nhiệm vụ quản lý và BVMT

Cùng đề cập đến vấn đề này, trong bài viết “Luật Thuế môi trường - giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường”, tác giả Nguyễn Quang Tuấn và Lê Thị Thảo

(2008) đưa ra hai lý do cho sự cần thiết ban hành Luật Thuế BVMT ở Việt Nam gồm: i) “Thuế BVMT đang được đề cập ở quá nhiều văn bản nhưng không mang tính

hệ thống và không thể hiện được vai trò tích cực của chính sách thuế trong vấn đề BVMT cũng như tác động đến trách nhiệm của từng cá nhân, cộng đồng trong việc BVMT” [94]; ii) Luật BVMT năm 2005, tại Điều 112 có quy định về nộp thuế môi trường nhưng trên thực tế chưa có cơ sở nào để thực hiện Trong khi đó, tác giả Đinh

Hùng trong bài viết “Luật Thuế bảo vệ môi trường cần thiết phải sửa đổi?” [50] lại

Trang 22

đưa ra ba lý do khác gồm: i) Góp phần khuyến khích sản xuất, sử dụng sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, hạn chế việc sản xuất, sử dụng hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững; ii) Động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu cho NSNN để giải quyết các vấn đề môi trường; iii) Thể hiện cam kết BVMT của Chính phủ Việt Nam trong các điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia Những nội dung này cũng được thể

hiện trong một số bài viết khác như: “Bảo vệ môi trường bằng công cụ thuế, phí môi trường và hiệu quả của giải pháp hiện nay ở Việt Nam” của Đinh Trọng Khang (2016) [52]; “Luật Thuế bảo vệ môi trường và dự báo một số tác động” của tác giả

Phan Thanh (2012) [72]…

Ở góc độ tiếp cận khác, Lương Thị Bích Việt (2013) trong luận văn “Đánh giá tác động của Luật Thuế bảo vệ môi trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành Hà Nội”, tác giả đã phân tích được thực trạng sử dụng túi ni

lông ở Việt Nam hiện nay và những tác hại của túi ni lông đối với môi trường và sức khỏe của con người [102] qua đó để khẳng định túi ni lông là một trong những

loại hàng hóa, sản phẩm cần thiết phải chịu thuế BVMT Trong khi luận văn “Đánh giá và dự báo ảnh hưởng của Luật Thuế bảo vệ môi trường tới sự phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam”, La Thị Cẩm Vân (2011), lại đưa ra những minh chứng

cụ thể về sự cạn kiệt của các nguồn nhiên liệu hóa thạch đồng thời chỉ ra những tác hại tới môi trường do sử dụng nhiên liệu hóa thạch và phân tích hiện trạng sử dụng nhiên liệu hóa thạch ở Việt Nam, qua đó khẳng định vai trò “đánh dấu một bước ngoặt mới cho phát triển năng lượng tái tạo” của Luật Thuế BVMT [100]

Nghiên cứu về nguyên tắc của pháp luật thuế BVMT

Sách chuyên khảo “Thuế môi trường”, do Bùi Đường Nghiêu (2006) làm

chủ biên đã phân tích năm nguyên tắc cơ bản trong xây dựng luật thuế môi trường

ở Việt Nam gồm: i) Mọi chủ thể có hành động gây ra ô nhiễm, có chất gây ô nhiễm thải vào môi trường hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên làm mất cân bằng sinh thái phải nộp thuế môi trường; ii) Mức độ nộp thuế phải tỉ lệ thuận với tổng lượng chất gây ô nhiễm, thải vào môi trường hoặc mức độ ảnh hưởng của các hoạt động gây hại đến môi trường; iii) Thực hiện nguyên tắc thận trọng, phòng bệnh hơn chữa bệnh; iv) Giải quyết tốt nhất mối quan hệ trung ương và địa phương trong thực hiện thuế môi trường; v) Có thể thiết kế chính sách hỗ trợ giảm thuế theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức thực hiện đầu tư, nghiên cứu tìm ra các biện pháp giảm ô nhiễm [59, tr.205-207] Những nguyên tắc này

cũng được tác giả thể hiện trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận

Trang 23

và thực tiễn xây dựng chính sách thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam” do chính tác

Cùng liên quan đến vấn đề này, Trần Vũ Hải (2009) đã đưa ra năm nguyên

tắc cần tiếp cận khi xây dựng Luật thuế môi trường trong bài viết “Một số vấn đề về việc ban hành luật thuế môi trường ở Việt Nam, gồm: đảm bảo nguyên tắc “người

gây ô nhiễm phải trả” và “người được hưởng lợi phải trả”; đảm bảo khuyến khích việc BVMT; cần đảm bảo lộ trình thuế hợp lý, tránh gây “sốc” cho nền kinh tế; tách bạch thuế môi trường với thuế tài nguyên; thuế môi trường không thể thay thế hoàn toàn phí môi trường

Nghiên cứu về nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế BVMT

Trong bài viết “Luật Thuế môi trường - giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường”, Nguyễn Quang Tuấn và Lê Thị Thảo (2008) [94] đã cho thấy có hai quan

điểm khác nhau về xây dựng thuế môi trường ở Việt Nam vào thời điểm đó: Không nên xây dựng Luật Thuế môi trường riêng mà chỉ lồng ghép trong từng sắc thuế cụ thể hoặc nên xây dựng một sắc thuế môi trường độc lập Trong bài viết của mình các tác giả đã thể hiện sự đồng ý với quan điểm thứ hai về việc cần thiết phải xây dựng một sắc thuế môi trường độc lập và đưa ra đề xuất về mô hình của luật thuế môi trường với các nội dung: mục đích của thuế môi trường; đối tượng chịu thuế; đối tượng đánh thuế; căn cứ tính thuế và thuế suất; đối tượng không thuộc diện chịu

thuế và đối tượng miễn, giảm Cùng được nghiên cứu trong giai đoạn này, bài viết

“Một số vấn đề về việc ban hành luật thuế môi trường ở Việt Nam” của Trần Vũ Hải

(2009) đã đưa ra những nội dung cơ bản của luật thuế môi trường như chủ thể, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế và ưu đãi thuế [43]

Trong cuốn sách “Các sắc thuế liên quan đến môi trường ở OECD các vấn đề và chiến lược” do OECD xuất bản (2001), các tác giả đã phân tích ba

nhóm vấn đề quan trọng liên quan đến thiết kế thuế, gồm: căn cứ tính thuế và

Trang 24

thuế suất; cơ sở của thuế, sự liên kết và thông báo trước Trong đó nhóm nghiên cứu đã đưa ra những lưu ý, yêu cầu khi thiết kế từng quy định của pháp luật thuế liên quan đến BVMT [187, pp.24-25]

Nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật thuế BVMT

Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách thuế bảo vệ môi trường

ở Việt Nam” do Bùi Đường Nghiêu làm chủ nhiệm (2004), tại mục 1.4.2.2 đã chỉ ra

hai khó khăn lớn khi thực hiện thuế BVMT: cơ hội để giảm mức thuế đối với lao động và tạo thêm việc làm mới là rất ít; nguồn thu từ thuế chống ô nhiễm môi trường

về lâu dài có thể bị giảm dẫn đến việc các quốc gia phải quay trở lại sử dụng các loại

thuế thông thường khác Cũng liên quan đến vấn đề này, bài viết “Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế - kinh nghiệm quốc tế” của Trần Thanh Lâm (2009) đã

chỉ ra những khó khăn về mặt kỹ thuật và chính trị khi áp dụng thuế, phí và lệ phí môi

trường ở Việt Nam [55]; bài viết “Thuế, phí môi trường trên thế giới và một số định hướng cho Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Mạnh Kiên, Đỗ Gioan Hảo

(2002) cũng chỉ ra năm nhóm rào cản trong sử dụng thuế, phí môi trường ở Việt Nam, gồm: rào cản mang tính kinh tế, xã hội, tài khóa, chính trị và những rào cản

khác Tương tự như vậy, trong bài viết “Thuế môi trường: Lợi ích và những vấn đề đặt ra” tác giả Minh Việt (2008) cũng phân tích những rào cản mang tính kinh tế - xã

hội, tài khóa, chính trị và những rào cản khác là nguyên nhân dẫn đến vai trò của thuế môi trường còn hạn chế và còn nhiều khó khăn khi áp dụng [103, tr.11]

Tại mục 2.2 của báo cáo “Cải cách thuế bảo vệ môi trường ở châu Âu: cơ hội cho tương lai” sau khi nghiên cứu kinh nghiệm tại các quốc gia Châu Âu nhóm

nghiên cứu đã chỉ ra và phân tích một số yếu tố có khả năng tác động tới hiệu quả của thuế/phí môi trường gồm: cấu trúc; mức thuế và phí; việc thực thi; việc sử dụng khoản tiền thu được; các sắc thuế liên quan và những nhân tố bên ngoài [160]

Bài viết “Thuế môi trường trong Liên minh châu Âu”, tác giả Manfred

Rosenstock (2014) đã chỉ ra những nguyên nhân khiến thuế môi trường không được

sử dụng nhiều hơn gồm: gánh nặng thuế càng cao, sự phản đối sẽ càng tăng; những tác động về phân phối và cạnh tranh Đồng thời tác giả cũng đưa ra bốn giải pháp đang được sử dụng để giải quyết những thách thức này Đây là những thông tin quan trọng giúp tìm ra những giải pháp giúp thực hiện pháp luật thuế BVMT một cách hiệu quả hơn [164] Những rào cản về tính cạnh tranh và phân phối thu nhập

cũng được chỉ ra tại mục 1.7 trong cuốn sách “Các sắc thuế liên quan đến môi trường ở OECD các vấn đề và chiến lược” của OECD (2001) [187]

Trang 25

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật thuế BVMT

ở Việt Nam

Nghiên cứu về ưu điểm của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam Qua khảo cứu, chỉ có một số ít các nghiên cứu đề cập đến vấn đề này gồm:

Bài viết “Luật Thuế bảo vệ môi trường: Công cụ quan trọng góp phần bảo

vệ môi trường, phát triển bền vững” của tác giả Lê Xuân Trường (2010) đã đưa ra

một số ưu điểm của pháp luật thuế BVMT hiện hành: quy định căn cứ tính thuế đơn giản, hợp lý; việc đánh thuế BVMT đối với các sản phẩm hiện nay và việc không đưa các chất gây ô nhiễm khác vào đối tượng chịu thuế là có cơ sở khoa học và thực tiễn [93, tr.18]; quy định mức thuế suất theo hình thức thuế tuyệt đối giúp việc tính thuế đơn giản, thuận tiện và cho phép ngăn ngừa khả năng gian lận thuế qua giá Ưu

điểm này cũng được tác giả Thanh Bình đề cập trong bài viết“Luật thuế bảo vệ môi trường, những tồn tại cần khắc phục”[114] Nhưng tác giả Thanh Bình còn cho

rằng quy định thời điểm tính thuế BVMT đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho hiện nay là phù hợp, đồng bộ với các sắc thuế gián thu khác như thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt

Về những hạn chế, bất cập của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam

Đề tài “Định hướng hoàn thiện chính sách thuế bảo vệ môi trường giai đoạn

2016 - 2020” do Đinh Nam Thắng làm chủ nhiệm đã phân tích một số vướng mắc,

hạn chế trong quy định về đối tượng chịu thuế là xăng dầu, túi ni lông và dung dịch HCFC; đối tượng không chịu thuế là xăng dầu được mua để xuất khẩu; thời điểm tính thuế đối với xăng dầu sản xuất, nhập khẩu để bán; khung thuế suất và phương pháp tính thuế, đồng thời chỉ ra những vướng mắc trong quy định hướng dẫn về bao

bì đóng gói sẵn hàng hóa thuộc diện không chịu thuế, hóa đơn, chứng từ nộp thuế

Trong sách chuyên khảo “Chính sách thuế và chi tiêu công cho bảo vệ môi trường” do Hoàng Yến và Vương Đức Hoàng Quân đồng chủ biên (2014) cũng chỉ

ra một số bất cập khác: cách tính thuế chưa hợp lý [105]; chưa làm rõ được sự khác nhau cơ bản giữa thuế BVMT và phí BVMT; không có quy định về quản lý và sử dụng tiền thu từ thuế môi trường như thế nào? Những bất cập này cũng đồng nhất

với quan điểm của tác giả bài viết “Một số bất cập về chính sách thuế bảo vệ môi trường của Việt Nam” [85] Tuy nhiên, trong bài viết này, tác giả bổ sung thêm

điểm bất cập trong quy định về việc đưa hàng hóa xuất khẩu gây ô nhiễm môi trường vào đối tượng không chịu thuế

Trang 26

“Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật Thuế bảo vệ môi trường” của Bộ Tài chính (2017) [17] là văn bản tổng hợp những điểm bất cập đã

được nêu ở nhiều công trình nghiên cứu trên như bất cập trong quy định về đối tượng chịu thuế với túi ni lông, dung dịch HCFC, xăng sinh học; thời điểm tính thuế chưa thống nhất với Luật NSNN năm 2015 (áp dụng từ năm ngân sách 2017); mức thuế với xăng dầu, túi ni lông Ngoài những bất cập về mức thuế đối với xăng dầu

và túi ni lông,“Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện quy định về mức thuế bảo vệ môi trường của Ủy ban Thường vụ Quốc hội” [18] còn phân tích một số hạn

chế trong quy định về mức thuế BVMT đối với than đá và dung dịch HCFC Cùng đề

cập đến nội dung này, trong bài viết “Luật Thuế bảo vệ môi trường cần thiết phải sửa đổi?”, tác giả Đinh Hùng [50] đã chỉ ra những bất cập khác như: quy định túi ni lông

thuộc diện chịu thuế quá chung chung; chưa có quy định thu thuế với hỗn hợp có chứa HCFC; chưa đưa xăng sinh học E5 vào đối tượng chịu thuế; khung thuế với xăng dầu thấp và mức áp dụng hiện nay đã sắp đạt trần khung; khung và mức thu thuế BVMT đối với túi ni lông thấp so với các nước trên thế giới

Trong bài viết “Hoàn thiện pháp luật về thuế bảo vệ môi trường” [119], một

số điểm bất cập trong quy định thuế BVMT cũng được chỉ ra như: bổ sung thêm đối tượng chịu thuế; quy định về biểu khung thuế tại Điều 8 chưa hợp lý; mức thuế giữa xăng và dầu diesel chưa phù hợp với mức độ gây tác động xấu đến môi trường; mức thuế với túi ni lông thấp và chưa quy định mức thuế cụ thể cho từng loại túi ni lông; thiếu quy định về ưu đãi thuế (miễn/giảm thuế) Những bất cập về đối tượng chịu

thuế và mức thuế BVMT cũng được đề cập trong bài viết “Một số ý kiến pháp lý về thuế bảo vệ môi trường” của tác giả Nguyễn Thị Mai Dung [40] Trong đó, tác giả

nhận định rằng chính bất cập trong quy định về đối tượng chịu thuế là một phần nguyên nhân khiến thuế BVMT không nhận được nhiều sự quan tâm của người dân,

số thu ngân sách còn rất hạn chế và không tạo được sự khích lệ trong sản xuất bao

bì thân thiện với môi trường

Trong bài viết “Hướng tới mục tiêu cải cách thuế bảo vệ môi trường” [38, tr.27-30],

tác giả Nguyễn Thị Cúc đã đưa ra một số đánh giá về pháp luật thuế BVMT hiện hành như: quy định về đối tượng chịu thuế còn hạn hẹp; hướng dẫn các sản phẩm chịu thuế quy định tại các văn bản dưới luật cũng chưa rõ ràng; dung dịch HCFC chịu thuế BVMT chưa được hướng dẫn cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật; quy định thời điểm tính thuế BVMT đối với mặt hàng xăng, dầu (khoản 4 Điều 9 Luật Thuế BVMT) đã phá vỡ tính liên hoàn, đồng bộ và tính thống nhất trong việc

Trang 27

tổ chức quản lý thu thuế BVMT; quy định về mức thuế BVMT đối với một số mặt hàng chưa tương xứng với mức độ ô nhiễm

Những bất cập nêu trên cũng được phản ánh ở những mức độ khác nhau

trong nhiều công trình nghiên cứu khác như: bài viết “Bảo vệ môi trường bằng công

cụ thuế, phí môi trường và hiệu quả của giải pháp hiện nay ở Việt Nam”, của Đinh Trọng Khang; Chương 2 tập bài giảng “Pháp luật môi trường trong kinh doanh” do Nguyễn Văn Phương chủ biên (2013); bài viết“Thuế bảo vệ môi trường: có thực vì môi trường?” của Nguyễn Đăng Anh Thi (2017) [150]; bài viết “Lỗ hổng pháp luật

từ thuế bảo vệ môi trường: Thất thu nghìn tỉ đồng với t i nylon” của Linh Anh (2018) [106]; bài viết “Sử dụng chính sách thuế nhằm bảo vệ môi trường ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Thanh Hoài (2014) [46]…

Tiếp cận ở phạm vi hẹp hơn, trong bài viết “Quy định pháp luật về thuế bảo

vệ môi trường đối với xăng dầu ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị Huệ đã chỉ ra một

số điểm bất cập trong quy định thuế BVMT với xăng dầu: quy định cả phần xăng hoá thạch trong xăng sinh học E5 là đối tượng chịu thuế BVMT là chưa phù hợp; quy định về thuế suất tuyệt đối là nguyên nhân dẫn đến đa số người tiêu dùng không biết mình là chủ thể chịu thuế BVMT Những bất cập này cũng được khẳng định

trong chuyên đề nghiên cứu “Pháp luật về thuế bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực xăng dầu: Thực trạng và giải pháp” của Trung tâm Khoa học Lập pháp (2017) Bên cạnh đó, bài viết “Bàn về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường” của tác giả Lê Thu Hoa (2017) đã chỉ ra sự thiếu hợp lý của

việc xăng dầu đang đóng vai trò “trụ cột” về nguồn thu thuế BVMT [45]

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam

Nghiên cứu về những kết quả tích cực trong thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam được thể hiện ở một số công trình như:

Trong “Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật thuế bảo vệ môi trường”, Bộ Tài chính đã tổng kết, đánh giá tình hình năm năm triển khai thực hiện

luật này và chỉ ra một số kết quả đạt được trong giai đoạn từ 2012 đến 2017: đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; giúp thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong BVMT; giúp nâng cao ý thức BVMT của toàn xã hội; Luật Thuế BVMT có bố cục rõ ràng, quy định cụ thể tạo thuận lợi trong quá trình triển khai Luật và đảm bảo tính rõ ràng, dễ hiểu, dễ quản lý của Luật; động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải quyết vấn đề môi trường Kết quả này được minh chứng thông qua ba bảng số liệu về “Tỷ lệ thu

Trang 28

thuế BVMT so với GDP và thu NSNN giai đoạn 2012 – 2016”, “Số thu thuế BVMT chi tiết các nhóm hàng hóa từ năm 2012 – 2016” và “Chi sự nghiệp môi trường giai đoạn 2013-2015”; góp phần xây dựng hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí đồng bộ, thống nhất trong lĩnh vực Những kết quả này cũng được phản ánh trong bài viết

“Hướng tới mục tiêu cải cách thuế bảo vệ môi trường” của Nguyễn Thị Cúc [38]

Những kết quả trong quản lý thuế BVMT cũng được một số nghiên cứu chỉ

ra như: Bài viết “Tổng chi ngân sách cho bảo vệ môi trường cao hơn số thu thuế BVMT” của Anh Phương [140] và bài viết “Bảo vệ môi trường tốt hơn thông qua chính sách thuế” của Hoàng Lâm (2017) Hai bài viết này đều phản ánh được mức

chi cho mục đích môi trường đang lớn hơn khoản thu được, điều này được minh chứng bằng việc chỉ ra ở Việt Nam, “tổng chi NSNN cho các nhiệm vụ BVMT giai đoạn 2012 - 2016 (bao gồm cả các khoản vay, viện trợ đã đưa vào NSNN để chi thường xuyên cho BVMT hoặc chi đầu tư phát triển BVMT; chưa tính chi các hoạt động kinh tế, chi đầu tư phát triển, chi dự phòng của ngân sách địa phương (NSĐP) cho các nhiệm vụ BVMT và các khoản vay, viện trợ chi trực tiếp cho dự án về BVMT không đưa vào NSNN) khoảng 131.857 tỷ đồng, bình quân khoảng 26.371

tỷ đồng/năm, cao hơn số thu thuế BVMT giai đoạn 2012 – 2016” [134]

Nghiên cứu về những bất cập còn tồn tại trong thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam được phân tích ở một số công trình như:

Luận án “Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Ngọc Anh Đào (2013) đã nêu ra một số bất cập

trong thực tiễn thực hiện như: nhiều doanh nghiệp và cán bộ thu thuế không nắm rõ dòng sản phẩm túi ni lông nào phải chịu thuế, ảnh hưởng của quy định này đến hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thủy sản, dệt may và

da giầy; các quy định về thuế BVMT với túi ni lông chưa làm thay đổi thói quen sử dụng túi ni lông của doanh nghiệp, người tiêu dùng mà chỉ tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp Những bất cập tương tự trong thực hiện pháp luật thuế BVMT với túi

ni lông cũng được phản ánh trong bài viết “Thuế bảo vệ môi trường đối với túi nylông: Nhiều bất cập, khó thực thi!” [153]; bài viết “Lỗ hổng pháp luật từ thuế bảo

vệ môi trường: Thất thu nghìn tỉ đồng với t i nylon”[106] và bài viết “Hướng tới mục tiêu cải cách thuế bảo vệ môi trường” [38]

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý thuế bảo vệ môi trường tại cục thuế tỉnh Thái Nguyên” của Phạm Thị Quỳnh (2014) [70], đã khái quát công tác

quản lý thuế BVMT tại hai Cục thuế Bắc Giang, Bắc Kạn và phân tích thực trạng công tác quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên tại mục 3.3.2 Tại mục này tác

Trang 29

giả phân tích theo các nhóm vấn đề: tình hình đăng kí, kê khai, ấn định thuế; công tác quản lý thông tin người nộp thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn giảm thuế; quản lý nợ tiền thuế; thực hiện thanh tra, kiểm tra và kết quả xử lý sau kiểm tra; công tác tuyên truyền, hỗ trợ thuế Đặc biệt tác giả đã trích dẫn một số bảng số liệu để làm minh chứng cho những nhận định của mình như: kế hoạch thu nộp thuế BVMT giai đoạn 2011-2013; tỷ lệ nộp hồ sơ kê khai thuế BVMT 2011 - 2013; tình hình nợ thuế BVMT giai đoạn 2012 - 2013; kết quả kiểm tra các doanh nghiệp nộp thuế BVMT giai đoạn 2012 - 2013… Trong nghiên cứu này, tác giả đồng thời chỉ ra mười yếu tố ảnh hưởng (như yếu tố kinh tế; thể chế chính sách; công tác tuyên truyền hỗ trợ; công tác thanh kiểm tra thuế…) và sáu nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác quản lý thuế BVMT tại Thái Nguyên, gồm: chính sách còn nhiều bất cập; môi trường quản lý thuế chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế BVMT; việc triển khai quản lý thuế BVMT của cơ quan thuế, năng lực, trình độ của cán bộ thuế còn hạn chế; ý thức chấp hành pháp luật thuế BVMT và nhận thức của người nộp thuế chưa cao; sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức liên quan còn chưa chặt chẽ; công tác dự toán thuế BVMT còn chưa chặt chẽ

Ở cấp độ bài viết, điển hình có thể kể đến: “Quy định pháp luật về thuế bảo

vệ môi trường đối với xăng dầu ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Huệ (2016), bài viết

đã chỉ ra hai điểm bất cập trong thực hiện pháp luật về thuế BVMT đối với xăng dầu ở Việt Nam, gồm: Nhà nước chưa tạo được niềm tin cho người tiêu dùng vào chất lượng của các sản phẩm, giải pháp thay thế cho xăng hoá thạch và công tác tuyên truyền chưa được thực hiện tốt dẫn đến chưa định hướng được tiêu dùng [50]

Cùng liên quan đến vấn đề này, bài viết “Bàn về chính sách thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu” của Nguyễn Trung Trực [88] cũng chỉ ra năm điểm bất hợp lý

trong chính sách thuế BVMT đối với xăng dầu: các mặt hàng, ngành hàng có mức ô nhiễm môi trường cao chưa tính thuế BVMT đúng mức như nhiệt điện từ than đá, dầu mazut, sản xuất thép; giá xăng dầu ở Việt Nam khá cao so với thu nhập bình quân đầu người nếu so sánh với các quốc gia phát triển; nguồn thu thuế BVMT chủ yếu từ xăng dầu, còn các nguồn thu khác lại không đáng kể; tăng mức thuế BVMT

sẽ giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước; thu ngân sách từ thuế BVMT cao hơn nhiều lần so với chi cho BVMT

Bên cạnh những nghiên cứu trên, bài viết “Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả của pháp luật thuế bảo vệ môi trường” của Đặng Kim Phương (2017) đã giới

thiệu tổng quan hiệu quả của pháp luật thuế môi trường và phân tích các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của thuế môi trường, từ đó đưa ra năm nhóm tiêu chí đánh giá

Trang 30

hiệu quả của pháp luật thuế môi trường gồm: hiệu quả kinh tế; môi trường; tính đơn giản của pháp luật thuế môi trường; tính ổn định (tương đối) và có thể dự báo được; công bằng xã hội Trong đó, tác giả khẳng định tiêu chí môi trường là tiêu chí quan trọng nhất [64, tr.39-46]

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về định hướng hoàn thiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam

Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách thuế bảo vệ môi trường

ở Việt Nam” mặc dù được thực hiện giai đoạn trước khi có Luật Thuế BVMT năm

2010 nhưng nhóm tác giả đã đưa ra được ba quan điểm xây dựng chính sách thuế chống ô nhiễm, BVMT ở nước ta tại mục 3.2 gồm: sử dụng các biện pháp kinh tế - tài chính chống ô nhiễm, BVMT phải đồng bộ với các biện pháp khác [58, tr.126]; chính sách thuế chống ô nhiễm, BVMT phải được thiết kế và vận hành trong sự phối hợp đồng thời với các công cụ phí, lệ phí và các công cụ tài chính khác; tôn trọng tính đặc thù khi thiết kế và vận hành công cụ thuế chống ô nhiễm, BVMT

Trong tài liệu “Thuế môi trường, Một hướng dẫn cho những người hoạch định chính sách” do OECD công bố năm 2011 [189], trên cơ sở cuốn sách “Thuế,

đổi mới và môi trường”, OECD đã đưa ra một số định hướng giúp các quốc gia vượt qua thách thức trong thực hiện thuế môi trường như: giải quyết vấn đề liên quan đến phân phối thu nhập; bảo tồn khả năng cạnh tranh và đạt được sự tin tưởng

và thông tin về kế hoạch Về việc giải quyết vấn đề liên quan đến phân phối thu nhập, OECD khuyến nghị các quốc gia nên giải quyết vấn đề này thông qua các chính sách bên ngoài Để bảo tồn khả năng cạnh tranh các quốc gia có thể: hợp tác quốc tế trong các chính sách môi trường, cung cấp một giai đoạn chuyển đổi, quay vòng khoản tiền thu được từ thuế môi trường… Còn để đạt được sự tin tưởng, OECD khuyến nghị các quốc gia cần cung cấp thông tin một cách cởi mở, minh bạch về tất cả các yếu tố của kế hoạch - bao gồm việc sử dụng số tiền thu được, những tác động đến sự phân phối thu nhập, cạnh tranh và cách Chính phủ dự định giải quyết những vấn đề đó là chìa khóa để thực hiện thành công

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam

Trong đề tài “Định hướng hoàn thiện chính sách thuế bảo vệ môi trường giai đoạn 2016 - 2020” nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện

Luật Thuế BVMT gồm: mô tả rõ hơn về túi ni lông và dung dịch HCFC thuộc diện

Trang 31

chịu thuế tại khoản 3 Điều 2 và khoản 3 Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010; bổ sung thêm một số hàng hóa vào đối tượng chịu thuế; sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 4 Luật Thuế BVMT năm 2010 về hàng hóa không thuộc diện chịu thuế; bỏ quy định

về thời điểm tính thuế BVMT đối với xăng dầu tại khoản 4 Điều 9 Luật Thuế BVMT năm 2010; bổ sung một số trường hợp miễn, giảm thuế; điều chỉnh khung thuế suất với một số mặt hàng; xây dựng khung thuế ưu đãi với xăng sinh học, quy định thuế suất của than phải cao hơn xăng dầu [73]

Cùng đề cập đến nội dung này, sách chuyên khảo “Chính sách thuế và chi tiêu công cho bảo vệ môi trường” đã đề xuất: việc thu thuế nên áp dụng chủ yếu đối

với chủ thể sản xuất, kinh doanh có khả năng gây ô nhiễm môi trường; đối tượng chịu thuế cần xác định là các đối tượng có khả năng gây ô nhiễm môi trường một cách đáng kể và có thể xác định được mức độ ô nhiễm theo tiêu chuẩn môi trường; căn cứ tính thuế cần được xây dựng một cách khoa học nhưng phải bảo đảm tính đơn giản, thuận tiện cho việc xác định số thuế phải nộp; cần có những quy định về

ưu đãi thuế [105]

Trong “Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật Thuế bảo vệ môi trường”, Bộ Tài chính cũng đề xuất sửa đổi các quy định về đối tượng chịu thuế như

khoản 3 Điều 2 và khoản 3 Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010; bổ sung xăng sinh học vào đối tượng chịu thuế và quy định mức thuế BVMT ưu đãi đối với xăng sinh học; bỏ quy định về thời điểm tính thuế BVMT đối với xăng dầu tại khoản 4 Điều 9

Luật Thuế BVMT; điều chỉnh khung thuế BVMT đối với xăng dầu và túi ni lông

Bài viết “Bảo vệ môi trường bằng công cụ thuế, phí môi trường và hiệu quả của giải pháp hiện nay ở Việt Nam” của Đinh Trọng Khang cũng đề xuất: rà soát,

bổ sung các quy định cụ thể trong việc tính thuế, phí, các mặt hàng phải chịu thuế, phí, đối tượng nộp thuế và hoàn thuế nhằm hoàn thiện Luật Thuế BVMT; rà soát, điều chỉnh các chính sách hiện hành liên quan đến BVMT để xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ về BVMT; nghiên cứu, đánh giá tác động để có thể triển khai một số CCKT mà các nước phát triển đang áp dụng [52] Trong khi đó, tác giả Nguyễn Đình Chiến (2017) [27] lại kiến nghị cần quy định đầy đủ, chi tiết, đối tượng chịu thuế, không chịu thuế; đánh giá mức độ gây ô nhiễm của các hàng hóa chịu thuế để xây dựng mức thuế phù hợp; rà soát quy định của các sắc thuế có tính chất tương đồng để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ; quy định cụ thể việc sử dụng nguồn thu thuế BVMT Những đề xuất hoàn thiện quy định về đối tượng chịu thuế

cũng được phản ánh trong bài viết“Bàn về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường” của Lê Thu Hoa (2017) Nhưng trong bài

Trang 32

viết này Lê Thu Hoa còn kiến nghị: điều chỉnh khung mức thuế của than so với xăng dầu; bổ sung các điều khoản quy định về quản lý và sử dụng số thu thuế BVMT; xem xét các dạng sản phẩm ni lông khác không có dạng túi nhưng cũng gây tác động môi trường như ni lông dạng túi; điều chỉnh mức thuế với túi ni lông như nhiều quốc gia châu Âu; nghiên cứu phương án tính thuế theo mức tác động đến môi trường của một đơn vị sản phẩm theo các chất gây ô nhiễm như SO2, CO2, thủy ngân, phốt phát… Những kiến nghị về đánh thuế BVMT với túi ni lông dựa trên số lượng túi và bổ sung một số sản phẩm nhựa vào đối tượng chịu thuế cũng

được VCCI đưa ra trong văn bản “Góp ý Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế bảo vệ môi trường” [62] Ngoài những kiến nghị này, tác giả bài viết “Thu thuế bảo vệ môi trường đối với túi ni lông: Cần sửa luật, tăng thuế và đổi mới cách thu” [112] còn đề xuất cần đánh thuế cao đối với túi nhựa không thân

thiện với môi trường vì trên thế giới, nhiều quốc gia còn áp dụng mức thuế BVMT rất cao hoặc cấm sản xuất, bán, sử dụng túi ni lông

Bài viết “Luật Thuế bảo vệ môi trường cần thiết phải sửa đổi?” của Đinh

Hùng lại đưa ra những đề xuất cụ thể hơn như: quy định rõ ràng hơn về hình dạng túi ni lông thuộc diện chịu thuế; quy định thu thuế với chất hỗn hợp chứa dung dịch HCFC; bổ sung xăng sinh học vào đối tượng chịu thuế và quy định mức thuế BVMT ưu đãi đối với xăng sinh học; điều chỉnh khung thuế BVMT đối với túi ni lông; bỏ quy định về thời điểm tính thuế BVMT đối với xăng dầu tại khoản 4 Điều

9 Luật Thuế BVMT năm 2010 [50]

Liên quan đến quy định về thuế BVMT với xăng dầu, bài viết của Nguyễn Thị Huệ [48] và Trung tâm Nghiên cứu khoa học Lập pháp [86] đều kiến nghị sửa đổi Điều 2 Nghị định 67/2011/NĐ-CP về thu thuế BVMT đối với xăng khoáng nền của xăng sinh học Trong khi đó, tác giả Nguyễn Trung Trực (2017) lại kiến nghị tăng thuế BVMT đối với những mặt hàng như than đá sản xuất trong nước/nhập khẩu, nhiệt điện từ than, ngành nhuộm vải; tăng phí đăng ký biển số xe ô tô 4-7 chỗ

và áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 4 đối với xe ô tô thay vì tăng thuế BVMT đối với xăng dầu [88, tr.13]

Trong bài viết “Thuế bảo vệ môi trường - hình thức thực hiện nguyên tắc

“người gây ô nhiễm phải trả tiền trong pháp luật môi trường” các tác giả đã đưa ra

sáu kiến nghị sửa đổi Luật Thuế BVMT, gồm: đồng nhất trong tên gọi giữa “thuế môi trường” và “thuế BVMT”; Điều chỉnh đối tượng chịu thuế BVMT [83, tr.45]; quy định phương pháp xác định số lượng hàng hóa tính thuế trong một số trường hợp; lý giải rõ căn cứ tính thuế tránh tình trạng áp dụng thuế suất chủ quan; không

Trang 33

nên quy định khung thuế suất mà cần quy định mức thuế suất cụ thể; chia nhỏ hàng hóa chịu thuế và có khung thuế suất cho từng mặt hàng Cũng liên quan đến vấn đề

này, bài viết “Một số bất cập về chính sách thuế bảo vệ môi trường của Việt Nam”đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách thuế BVMT như: nên áp

dụng chủ yếu đối với chủ thể sản xuất, kinh doanh có khả năng gây ô nhiễm môi trường; cần xác định các đối tượng có khả năng gây ô nhiễm môi trường một cách đáng kể và có thể xác định được mức độ ô nhiễm theo tiêu chuẩn môi trường; căn

cứ tính thuế cần được xây dựng khoa học nhưng phải bảo đảm đơn giản, thuận tiện; cần có những quy định về tính ưu đãi thuế (bao gồm miễn thuế, giảm thuế) [85]

Ngoài các nghiên cứu đã nêu trên, giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế

BVMT cũng được đề cập ở một số công trình khác như: “Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện quy định về mức thuế bảo vệ môi trường của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội”; bài viết “Hướng tới mục tiêu cải cách thuế bảo vệ môi trường” của Nguyễn Thị Cúc; bài viết “Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về pháp luật

sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường và gợi ý cho Việt Nam” của Trung tâm Bồi dưỡng Đại biểu dân cử và bài viết “Thuế bảo vệ môi trường: kinh nghiệm quốc tế và những khuyến nghị với Việt Nam” của Vương Thị Thu Hiền và Phạm

Xuân Thắng (2017) [44]…

Thứ ba, các công trình nghiên cứu về giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam

Luận văn “Đánh giá tác động của Luật Thuế bảo vệ môi trường đối với hành

vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành Hà Nội” của Lương Thị Bích Việt

(2013) đã đưa ra một số những khuyến nghị: có cơ chế khuyến khích người tiêu dùng sử dụng túi đựng riêng; quản lý chặt chẽ, hiệu quả từ khâu sản xuất tái chế túi

ni lông; nâng cao vấn đề giáo dục cộng đồng; kiểm soát để nhằm hạn chế hành vi sử dụng túi ni lông của người dân Thực hiện từng bước để thay đổi dần thói quen của người tiêu dùng, không nên áp dụng một cách nóng vội việc ngưng sử dụng túi ni lông; vận động các doanh nghiệp, các cửa hàng, đại lý hạn chế sử dụng túi ni lông trong các hoạt động giao dịch thương mại và khuyến khích người dân hình thành thói quen mua hàng mang theo túi sử dụng nhiều lần [102]

Trong luận văn “Đánh giá và dự báo ảnh hưởng của Luật Thuế bảo vệ môi trường tới sự phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam”, La Thị Cẩm Vân cũng kiến

nghị: quá trình tăng mức thuế cần cân nhắc kĩ lưỡng tránh làm biến động giá cả, tăng gánh nặng cho người tiêu dùng; tăng mức thuế tối thiểu đối với than đá; tăng cường truyền tải thông tin về Luật Thuế BVMT tới toàn dân; cân nhắc mức thuế, lộ

Trang 34

trình tăng thuế hợp lý nếu không sẽ ảnh hưởng đến sản xuất khó đạt được mục tiêu thay đổi thói quen của người tiêu dùng Bên cạnh đó cần có chính sách cụ thể để nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng tiếp cận được các sản phẩm thân thiện với môi trường [100]

Ngoài những giải pháp trên Nguyễn Đình Chiến (2017) [27] đã đưa ra một số giải pháp mới như: đẩy mạnh xã hội hoá công tác BVMT, có cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia BVMT; hợp tác chặt chẽ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực để giải quyết các vấn đề môi trường liên quốc gia; tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế và khu vực vì môi trường; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về BVMT Tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ tài chính,

kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân cho công tác BVMT

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế BVMT đối với xăng dầu, Nguyễn Thị Huệ [48] đã kiến nghị cần áp dụng nhiều cách thức khác nhau để khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm, giải pháp thay thế và nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật thuế BVMT đối với xăng dầu của người tiêu

dùng Những giải pháp này cũng được đề cập trong chuyên đề:“Pháp luật về thuế bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực xăng dầu: Thực trạng và giải pháp” [86]

Để nâng cao hiệu quả thu thuế BVMT, Lê Quang Kiệm (2013) đề xuất: Bộ TN&MT phối hợp với các Bộ khác xây dựng dự thảo Nghị định về tổ chức, hoạt động của Thanh tra BVMT để trình Chính phủ xem xét, ban hành; xây dựng đội ngũ cán bộ thu thuế, tiêu chuẩn hóa cán bộ thanh tra thuế BVMT bảo đảm khách quan [53, tr.66] và công khai mục đích sử dụng nguồn thu từ thuế; tuyên truyền sâu rộng và đẩy mạnh hợp tác quốc tế

1.2 Đánh giá các công trình nghiên cứu về đề tài

1.2.1 Những kết quả nghiên cứu được tiếp thu, sử dụng trong luận án Thứ nhất, những phân tích lý luận về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT là kết quả của các nghiên cứu được khái quát tại mục 1.1.1 là nguồn tài

liệu quan trọng để xây dựng khung lý luận về pháp luật thuế BVMT tại Chương

2 của luận án Cụ thể:

Một là những phân tích về khái niệm thuế môi trường trong các công trình

nghiên cứu số [71], [73], [43], [41], [63], [73], [119], [41], [2] Mặc dù còn nhiều điểm khác biệt, cũng như sự thiếu thống nhất trong sử dụng thuật ngữ thuế BVMT nhưng những định nghĩa thuế BVMT đã được đưa ra/trích dẫn là nguồn tham khảo quan trọng để NCS xây dựng được định nghĩa thuế BVMT phù hợp với thực tế của Việt Nam Bên cạnh đó những phân tích về đặc điểm của thuế BVMT được thể hiện

Trang 35

trong các công trình nghiên cứu trên cũng là cơ sở giúp NCS phân tích được những điểm riêng biệt của thuế BVMT trên cơ sở so sánh với những CCKT khác như thuế tài nguyên, phí BVMT và các sắc thuế khác trong hệ thống thuế tại mục 2.1.1

Hai là phân tích về vai trò, lợi ích, sự cần thiết của thuế BVMT đã được chỉ

ra trong các công trình nghiên cứu số [71], [73], [58], [52], [119] là cơ sở để NCS phân tích được vai trò của thuế BVMT tại mục 2.1.2 của luận án

Ba là những phân tích về vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của pháp luật thuế

BVMT được đưa ra trong các công trình số [94], [58], [50], [51], [52] là nguồn tư liệu quan trọng để NCS đưa ra những phân tích sâu sắc hơn về khái niệm pháp luật thuế BVMT tại mục 2.2.1 của luận án

Bốn là những kết quả nghiên cứu về nguyên tắc của pháp luật thuế BVMT

trong các công trình số [43], [59],[58], [62] là nguồn tư liệu giúp NCS định hình và phân tích được những nguyên tắc của pháp luật thuế BVMT tại mục 2.2.2 của luận án

Năm là những phân tích liên quan đến nội dung điều chỉnh của pháp luật

thuế BVMT được trình bày trong nghiên cứu số [43], [94], [187] Mặc dù nội dung này không được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, nhưng những kết quả nghiên cứu trên sẽ là cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nội dung này trong Chương 2 của luận án

Sáu là những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật thuế BVMT được đưa ra trong

các công trình nghiên cứu số [55], [71], [58], đặc biệt là những thách thức với tiềm

năng cải cách thuế môi trường được phân tích trong bài viết “Thuế môi trường trong Liên minh châu Âu” của tác giả Manfred Rosenstock (2014) đăng trên Cyprus

Economic Policy Review, Quyển 8, số 2 là cơ sở để NCS kế thừa khi phân tích nội dung này tại mục 2.2.4 của luận án

Thứ hai, những phân tích về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam được khái quát tại mục 1.1.2 mà NCS sẽ kế thừa

để nghiên cứu Chương 3 của luận án:

Một là, phân tích, đánh giá về những điểm hợp lý, ưu điểm trong quy định

pháp luật và những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật thuế BVMT của Việt Nam được thể hiện trong các công trình số [119], [86], [70], [17] là tư liệu quan trọng để NCS phân tích, phản ánh những kết quả đạt được của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam trong Chương 3 của luận án

Hai là, những bất cập trong quy định pháp luật thuế BVMT hiện hành như

bất cập trong quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, khung thuế, mục tiêu thu thuế, cách tính thuế, hoàn thuế… đã được chỉ ra trong các công trình nghiên cứu số [86], [73], [40], [105], [17], [119], [46] sẽ là nguồn tài liệu quan

Trang 36

trọng để NCS đánh giá, phân tích những hạn chế, vướng mắc của pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam trong mục 3.2 của luận án

Ba là, những vướng mắc trong thực hiện pháp luật thuế BVMT được phản

ánh tại các nghiên cứu số [41], [70] là cơ sở để NCS phân tích những hạn chế trong thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam tại mục 3.3 của luận án

Thứ ba, những nghiên cứu về định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật

và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam đã được khái quát tại

mục 1.1.3 mà NCS kế thừa gồm các công trình số [73], [58], [52], [45], [85], [62], [86], [17], [48], [102]… Những kết quả nghiên cứu này sẽ là nguồn tham khảo quan trọng để tác giả đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế BVMT của Việt Nam tại Chương 4 của luận án

1.2.2 Những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu, cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Thứ nhất, một số vấn đề cần nghiên cứu nhằm hoàn thiện khung lý luận về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT, gồm:

- Khái niệm thuế BVMT Trong các nghiên cứu đã công bố, khái niệm thuế

BVMT mới chỉ được nêu khái quát hoặc sử dụng khái niệm của nước ngoài nên còn chưa phù hợp với thực tế của Việt Nam Bên cạnh đó, còn chưa có sự thống nhất trong sử dụng thuật ngữ thuế BVMT nên luận án cần xây dựng định nghĩa mới về thuế BVMT phù hợp với thực tế của Việt Nam và góc độ tiếp cận của tác giả

- Đặc điểm của thuế BVMT Do chưa có khái niệm thuế BVMT hoàn chỉnh,

thống nhất nên đặc điểm của thuế BVMT là nội dung còn đang bị bỏ trống, cần tiếp tục nghiên cứu để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá về pháp luật thuế BVMT

- Khái niệm pháp luật thuế BVMT Qua khảo cứu, nội dung về khái niệm

pháp luật thuế BVMT gần như chưa được đề cập trong các công trình đã công bố, trong khi đây là một trong những đối tượng nghiên cứu của luận án này Do đó việc nghiên cứu về khái niệm pháp luật thuế BVMT trong luận án sẽ góp phần hoàn thiện khung lý luận về pháp luật thuế BVMT

- Nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế BVMT Mặc dù đóng vai trò là cơ

sở lý luận để đánh giá thực trạng cũng như để sửa đổi, hoàn thiện pháp luật thuế BVMT nhưng vấn đề này lại gần như chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu, do đó để có thể đưa ra những đánh giá về thực trạng tại Chương 3 cũng như đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế BVMT tại Chương 4, thì việc

Trang 37

nghiên cứu về nội dung điều chỉnh của pháp luật thuế BVMT tại Chương 2 là thực

sự cần thiết

Thứ hai, những phân tích, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam, gồm:

- Thực trạng quy định pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay Vấn đề

này hiện được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu nhưng còn rải rác, thiếu tính hệ thống, nhiều nhận định còn thiếu lập luận, minh chứng Bên cạnh đó, hiện còn nhiều điểm bất cập vẫn chưa được chỉ ra, nên đây là vấn đề cần tiếp tục được bổ sung, làm

rõ trong luận án

- Thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay Đánh giá

về vấn đề này hiện còn sơ sài, thiếu tính hệ thống, chủ yếu tập trung chủ yếu vào việc thực hiện pháp luật thuế BVMT đối với xăng dầu và túi ni lông; một số đánh giá còn định tính, thiếu số liệu thực tế trong khi đây là vấn đề quan trọng, quyết định đến định hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật thuế BVMT trong tương lai, vì vậy, đây cũng là khoảng trống để NCS cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

- Nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại trong thực hiện pháp luật thuế BVMT là nội dung chưa được nhiều nghiên cứu đề cập tới Do đó, để đưa

ra được giải pháp tại Chương 4, NCS cần tiếp tục nghiên cứu để chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại trong thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay

Thứ ba, những định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam hiện nay Đây là mục tiêu mà các nhà

nghiên cứu cũng như NCS đều hướng đến khi thực hiện công trình nghiên cứu của mình Nhưng do chưa phân tích đầy đủ thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam nên định hướng và giải pháp đưa ra trong các nghiên cứu còn chưa đầy đủ, một số giải pháp có tính khả thi không cao, cần được nghiên cứu và đánh giá thêm

1.3 Cơ sở lý thuyết, câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án

1.3.1 Cơ sở lý thuyết

Thứ nhất, lý thuyết về áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý, BVMT

Việc tăng cường áp dụng các CCKT trong quản lý, BVMT là xu thế chung của các quốc gia trên thế giới “Theo kết quả nghiên cứu của Opshoor và Vos (2 nhà kinh tế học của OECD đã tiến hành khảo sát tổng quát về tình hình sử dụng công cụ khuyến khích kinh tế của 6 nước Italia, Thuỵ Điển, Mỹ, Pháp, Đức, Hà Lan), tổng

Trang 38

cộng 85 công cụ loại này đã được áp dụng, trung bình có 14 công cụ cho mỗi quốc gia” [57] Trong đó, thuế BVMT là một trong những CCKT quan trọng, mang lại nhiều kết quả tích cực trong BVMT cũng như góp phần tăng thu cho NSNN nên đến nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu, xây dựng và triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Theo thông tin từ cơ sở dữ liệu về các công

cụ chính sách đối với môi trường (Policy Instruments for the Environment- PINE) của OECD (2017) thì các sắc thuế liên quan đến môi trường tương ứng khoảng một phần ba các công cụ trong cơ sở dữ liệu PINE, với khoảng hơn 1400 các sắc thuế khác nhau [168] Ở các nước Trung Âu và Đông Âu, các chính sách tài khóa nhằm BVMT, trong đó điển hình là thuế và phí BVMT đã được áp dụng từ năm

1994 Các quốc gia phát triển như Đan Mạch, Nauy, Thụy Điển đã tiến hành cải cách thuế năng lượng nhằm thúc đẩy BVMT từ những năm 1990 [105, tr.36] Tại Châu Âu, theo nghiên cứu của IEEP, có thể thấy, hầu hết các quốc gia Châu Âu đều

áp dụng các sắc thuế, phí hoặc các khoản thu từ môi trường trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, năng lượng, carbon, không khí, chất thải, vật liệu, sản phẩm, nước, nông nghiệp, đa dạng sinh học trên cạn và đa dạng sinh học thủy sản

và biển [160, pp.5] - (Phụ lục 1 Bảng kê tổng quan về thuế, phí và các khoản thu về môi trường đang thực hiện ở các nước Châu Âu) Vì vậy, khi thực hiện nghiên cứu

luận án này, NCS sử dụng lý thuyết về áp dụng CCKT trong quản lý, BVMT làm cơ

sở lý thuyết nền tảng để nghiên cứu luận án

Trên bình diện quốc tế, đến nay đã có nhiều văn kiện pháp lý quốc tế đề cập

và yêu cầu các quốc gia tăng cường áp dụng CCKT trong quản lý môi trường như nguyên tắc số 16 của Tuyên bố Rio tại Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường

và phát triển năm 1992 [118] Việt Nam cùng gần 200 quốc gia khác đã tham gia Hội nghị, kí kết Tuyên bố Rio và sau đó đã có rất nhiều nỗ lực để thực hiện các nguyên tắc của Tuyên bố Rio 1992, trong đó có nguyên tắc số 16

Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều văn bản đề cập đến việc tăng cường sử dụng CCKT trong BVMT như: Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [79]; Nghị quyết 24-NQ/TW ban hành ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu,

tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT [3] Để thực hiện những yêu cầu này, Việt

Nam đã và đang áp dụng nhiều CCKT trong quản lý và BVMT khác nhau như phí BVMT, nhãn sinh thái, quỹ BVMT, ký quỹ BVMT và thuế BVMT

Như vậy có thể thấy, lý thuyết về áp dụng CCKT trong quản lý, BVMT là một trong những lý thuyết cơ bản của pháp luật BVMT đã được thừa nhận và áp

Trang 39

dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam Vì vậy, NCS sẽ vận dụng lý thuyết về CCKT để nghiên cứu luận án này

Thứ hai, lý thuyết về người gây ô nhiễm phải trả tiền

Trên thực tế hiện nay, có hàng trăm loại CCKT khác nhau đang được áp dụng để quản lý, BVMT tại các quốc gia Nội dung, mục tiêu, cách thức tổ chức thực hiện của các công cụ này có thể khác nhau nhưng nhìn chung đều được xây dựng dựa vào hai nguyên tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận là “người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP - Polluter Pays Principle) và “người hưởng thụ phải trả tiền” (BPP - Benefit Pays Principle) Trong đó, “người gây ô nhiễm phải trả tiền”

là cơ sở để xây dựng các CCKT có khả năng hạn chế một phần lợi ích kinh tế của các chủ thể thực hiện hành vi gây tác động xấu đến môi trường như phí BVMT, ký quỹ BVMT hay thuế BVMT Vì vậy, lý thuyết về “người gây ô nhiễm phải trả tiền” cũng là một trong những cơ sở để NCS sử dụng khi thực hiện luận án

Lý thuyết “người gây ô nhiễm phải trả tiền” được hình thành trên cơ sở những luận điểm về thuế môi trường (thuế Pigou) của Arthur Cecil Pigou (1877-1959) - một nhà kinh tế học người Anh, đã phát triển lý thuyết về kinh tế phúc lợi trong cuốn

“Kinh tế phúc lợi” (1919) và được ghi nhận lần đầu tiên trong văn kiện của Tổ chức

Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vào năm 1972 và sau đó được mở rộng hơn vào năm 1974 PPP được xuất phát từ quan điểm cho rằng môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt (vì nó mang tính cộng đồng, ai cũng đều sử dụng)

Nguyên lý căn bản của PPP là việc yêu cầu giá cả của một hàng hoá hay dịch vụ phải được thể hiện đầy đủ tổng chi phí sản xuất ra, bao gồm các chi phí của tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên được sử dụng cũng như giá trị tiêu hao của các thành phần môi trường Nguyên tắc PPP yêu cầu những ai tác động vào môi trường phải trả tiền cho hành vi khai thác các thành phần môi trường, đó chính là “cái giá” mà một chủ thể phải bỏ ra để mua loại hàng hoá môi trường vào phục vụ nhu cầu của mình [41, tr.32]

Những yêu cầu được đặt ra để thực hiện PPP: “Số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu đến môi trường; tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích, đến hành vi của các chủ thể” [154] Những lý thuyết này sẽ là cơ sở để NCS xây dựng khung lý luận về thuế BVMT tại Chương 2 của luận án

Thứ ba, lý thuyết về thuế, pháp luật thuế và một số học thuyết thuế hiện đại

Mặc dù đóng vai trò là một CCKT để quản lý và BVMT, nhưng thuế BVMT vẫn là một sắc thuế trong hệ thống thuế quốc gia Do đó, trong quá trình thực hiện

Trang 40

luận án, NCS sẽ vận dụng một số lý thuyết cơ bản về thuế (khái niệm thuế được đưa ra bởi các học giả khác nhau trên thế giới; đặc điểm, phân loại, vai trò, bản chất của thuế) cùng những lý thuyết cơ bản về pháp luật thuế (khái niệm pháp luật thuế đã được các học giả đưa ra; các nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật thuế; các yêu cầu trong điều chỉnh pháp luật thuế…) Những lý thuyết này là cơ sở để NCS vận dụng vào xây dựng khung lý luận về thuế BVMT, pháp luật thuế BVMT ở Chương 2, cũng như sử dụng để đánh giá thực trạng pháp luật thuế BVMT ở Việt Nam tại Chương 3 của luận án

Ngoài ra, NCS còn vận dụng những nhân tố hợp lý trong một số học thuyết thuế hiện đại để nghiên cứu luận án, gồm:

Một là học thuyết thuế - trao đổi Học thuyết này được hình thành từ tư

tưởng của nhiều học giả nổi tiếng vào thế kỉ XVIII, XIX là John Locke, Jean – Jacques Rousseau, Adam Smith và Montesquieu “Tư tưởng cốt lõi của học thuyết này được xây dựng dựa trên chủ nghĩa tự do, coi thuế là cái giá mà người nộp thuế phải trả để đổi lấy các dịch vụ và hàng hoá công cộng do nhà nước cung ứng”[96] Mặc dù có một số điểm hạn chế, nhưng học thuyết này có hạt nhân hợp lý: “đảm bảo cho người nộp thuế có khả năng kiểm soát được các khoản thuế mà nhà nước sẽ thu đối với mình, dựa trên nguyên tắc đánh thuế phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp thuế Mặt khác, học thuyết này cũng đòi hỏi nhà nước phải sử dụng

số tiền thuế do dân chúng đóng góp một cách thực tế, hiệu quả, không lãng phí và

có lợi cho dân”[96] Những luận điểm này sẽ được vận dụng để nghiên cứu quy định về thuế suất và quản lý, sử dụng tiền thu từ thuế BVMT

Hai là học thuyết thuế - đoàn kết Học thuyết này “đòi hỏi nhà nước phải ấn

định nghĩa vụ thuế của người dân sao cho phù hợp với khả năng tài chính của họ và không đẩy họ vào tình trạng bần cùng sau khi nộp thuế”, đồng thời cũng giúp “vai trò của quyền lực nhà nước trong thuế trở nên mạnh mẽ hơn và do đó khả năng cưỡng chế thi hành nghĩa vụ thuế cũng tốt hơn”[96] Những luận điểm này có giá trị khi nghiên cứu các quy định về mức thuế suất và quy định về quản lý thuế để bảo đảm hiệu quả thu thuế BVMT

Ba là học thuyết thuế - bù đắp Học thuyết này “là sự kết hợp và phát triển

những tinh hoa hợp lí trong quan điểm khoa học của học thuyết thuế - trao đổi và học thuyết thuế - đoàn kết”[96] Học thuyết này “coi thuế như sự trao đổi lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế nhưng nếu sự trao đổi đó không đảm bảo lợi ích chính đáng cho tất cả mọi người dân, trong đó có những người nghèo thì cần thiết phải có sự hi sinh, tương trợ của những người có khả năng đóng thuế đối với nhóm

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hoàng Anh, Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tuấn (2016), Tư duy pháp lý, lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy pháp lý, lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh, Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tuấn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
2. Trần Thị Vân Anh, Phạm Văn Nghĩa (2015), “Hỗ trợ tăng trưởng xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Xã hội (10), tr. 34-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ tăng trưởng xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”," Tạp chí Khoa học Xã hội
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Phạm Văn Nghĩa
Năm: 2015
3. Ban chấp hành Trung ƣơng Khóa XI (2013), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Khóa XI
Năm: 2013
4. Ban chấp hành Trung ƣơng Khóa XII (2016), Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18 tháng 11 năm 2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Khóa XII
Năm: 2016
5. Ban điều hành Đề án Phát triển nhiên liệu sinh học, Bộ Công thương (2015), Cẩm nang nhiên liệu sinh học, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nhiên liệu sinh học
Tác giả: Ban điều hành Đề án Phát triển nhiên liệu sinh học, Bộ Công thương
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2015
6. Nguyễn Thị Hải Bình (Chủ nhiệm) (2018), Thuế Carbon ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở Viện Chiến lƣợc và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế Carbon ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Bình (Chủ nhiệm)
Năm: 2018
7. Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT, ngày 30 tháng 12 năm 2011, quy định việc quản lý nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập - tái xuất các chất làm suy giảm tầng ô- dôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT, ngày 30 tháng 12 năm 2011, quy định việc quản lý nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập - tái xuất các chất làm suy giảm tầng ô-dôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn
Tác giả: Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
8. Bộ Khoa học và Công nghệ (2009), Thông tư số 20/2009/TT-BKHCN ngày 30 tháng 9 năm 2009 về việc ban hành QCVN 01:2009/BKHCN - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu diezen và nhiên liệu sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2009/TT-BKHCN ngày 30 tháng 9 năm 2009 về việc ban hành QCVN 01:2009/BKHCN - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu diezen và nhiên liệu sinh học
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2009
9. Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Thông tư số 22/2015/TT-BKHCN ngày 11 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành QCVN 01:2015/BKHCN - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu diezen và nhiên liệu sinh học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 22/2015/TT-BKHCN ngày 11 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành QCVN 01:2015/BKHCN - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu diezen và nhiên liệu sinh học
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2015
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018), Thông tư số 03/2018/TT- BNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 về ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 về ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2018
11. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 152/2011/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 152/2011/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
12. Bộ Tài chính (2011), Văn bản hợp nhất Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính và Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28 tháng 9 năm 2012 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hợp nhất Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính và Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28 tháng 9 năm 2012 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
13. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 159/2012/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 159/2012/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
14. Bộ Tài chính (2015), Văn bản hợp nhất số 29/VBHN-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hợp nhất số 29/VBHN-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2015
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
15. Bộ Tài chính (2016), Công văn số 3390/BTC-CST ngày 15 tháng 03 năm 2016 về thuế bảo vệ môi trường đối với dung dịch HCFC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 3390/BTC-CST ngày 15 tháng 03 năm 2016 về thuế bảo vệ môi trường đối với dung dịch HCFC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
16. Bộ Tài chính (2016), Công văn số 14542/BTC-CST ngày 14 tháng 10 năm 2016 về thuế bảo vệ môi trường đối với dung dịch HCFC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 14542/BTC-CST ngày 14 tháng 10 năm 2016 về thuế bảo vệ môi trường đối với dung dịch HCFC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
17. Bộ Tài chính (2017), Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật thuế bảo vệ môi trường, ngày 13 tháng 1 năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật thuế bảo vệ môi trường, ngày 13 tháng 1 năm 2017
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
18. Bộ Tài chính (2017), Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện quy định về mức thuế bảo vệ môi trường của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngày 13 tháng 1 năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện quy định về mức thuế bảo vệ môi trường của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngày 13 tháng 1 năm 2017
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
19. Bộ Tài chính (2017), Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27 tháng 6 năm 2017 về ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27 tháng 6 năm 2017 về ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
20. Bộ Tài chính (2018), Công văn số 12108/BTC-CST ngày 03 tháng 10 năm 2018 về thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 12108/BTC-CST ngày 03 tháng 10 năm 2018 về thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm