Tại Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Namnăm 2016 đã khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaViệt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THANH
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
TRẦN THẾ NGỌC
Trang 4CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ PHÁP LUẬT HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 7 1.1 Khái quát về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và hỗ trợ
tài chính cho danh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 7
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 71.1.2 Khái quát về hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo 12
1.2 Khái quát về pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo 18
1.2.1 Khái niệm pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo 181.2.2 Cấu trúc pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật hỗ trợ tài chính cho
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 29 Kết luận Chương 1 32 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH
CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 33 2.1 Thực trạng pháp luật về đối tượng và điều kiện để được hỗ
trợ tài chính 33
Trang 52.2 Thực trạng pháp luật về chủ thể hỗ trợ tài chính cho doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 36 2.3 Thực trạng pháp luật về nguồn tài chính hỗ trợ cho doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 37 2.4 Thực trạng pháp luật về phương thức hỗ trợ tài chính cho
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 39
2.4.1 Thực trạng pháp luật về hỗ trợ tạo lập vốn đầu tư, bổ sung vốn
điều lệ cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 392.4.2 Thực trạng pháp luật về việc hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo 452.4.3 Thực trạng pháp luật về việc hỗ trợ qua thuế cho doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo 502.4.4 Thực trạng pháp luật về hỗ trợ tài chính khác cho doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo 52
2.5 Thực trạng pháp luật về quản lý, giám sát hoạt động hỗ trợ
tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 53 2.6 Thực trạng pháp luật về việc giải quyết tranh chấp và xử lý
vi phạm trong hoạt động hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 55 Kết luận Chương 2 59 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM 62 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 62 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ tài chính cho
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 64
3.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ vốn đầu tư, bổ sung
vốn điều lệ cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 64
Trang 63.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ tín dụng cho doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 68
3.2.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ qua thuế cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 71
3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về các hỗ trợ tài chính khác cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 72
Kết luận Chương 3 74
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
DNKN Doanh nghiệp khởi nghiệp
DNKNST Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạoDNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
KH&CN Khoa học và công nghệ
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ
2.1
Số liệu thống kê doanh nghiệp thành lập mới ở Việt
Nam từ năm 2017 đến 6 tháng đầu năm 2020 34Biểu đồ
2.2
Thống kê đầu tư vào các DNKNST tại các quốc gia
năm 2019 của Công ty đầu tư mạo hiểm Cento
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, thách thức lớn nhất của mỗi một quốc gia làviệc áp dụng sự phát triển của KH&CN, đặc biệt là công nghệ số và côngnghệ thông minh nhằm cơ cấu lại nền kinh tế để phù hợp cũng như ứng phóvới những sự thay đổi không ngừng của nền Cách mạng Công nghiệp lần thứ
4 (Cách mạng Công nghiệp 4.0) vốn đã ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tại cácquốc gia trên thế giới Đứng trước tình thế đó, Việt Nam đã nhận thức và đưa
ra nhiều cách thức thúc đẩy đổi mới sáng tạo phù hợp
Các định hướng, chính sách cho thấy rằng Đảng và Nhà nước hết sứcquan tâm và đẩy mạnh hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong khốidoanh nghiệp tư nhân Tại Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Namnăm 2016 đã khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaViệt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tếNhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.Cũng trong năm 2016, văn bản chính thức đầu tiên liên quan tới khởi nghiệp đã
được Chỉnh phủ ban hành, theo đó Đề án số 844/QĐ-TTg về “Hỗ trợ hệ sinh
thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” ngày 18/05/2016
quy định về DNKN là “loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng
nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới”.
Kể từ thời điểm này trở đi, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản phápluật có liên quan đến việc hỗ trợ các DNKNST giúp tạo động lực cho các chủdoanh nghiệp có ý tưởng đổi mới và sáng tạo; cũng như gia tăng khả năngcạnh tranh với các công ty tại các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giớibằng cách giới thiệu, chào bán các sản phẩm và dịch vụ mới ra thị trườngtrong nước và quốc tế
Trang 10Tuy vậy, trên thực tế các chủ doanh nghiệp vẫn vướng vào bài toánkhó khăn về tài chính để thành lập, vận hành công ty một cách bền vữngđồng thời tạo ra một hay nhiều sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tốt, mangtính mới Các chủ doanh nghiệp trẻ đều phải xây dựng hoặc có trong taynhiều nguồn lực để bắt đầu khởi nghiệp, như: nguyên vật liệu, nhân công,công nghệ, tài chính, sự hỗ trợ từ chính quyền, sự hỗ trợ của các mạng lướiquan hệ Với các chủ doanh nghiệp trẻ ở Việt Nam, nguồn lực từ thừa kếthường rất hạn chế đều là tự lực vươn lên, rất ít gia đình đã có điều kiện tàichính tốt Bên cạnh đó, việc đi vay vốn từ các tổ chức tín dụng cũng là điềuhết sức khó khăn đối với họ Các thủ tục và điều kiện để một DNKNSTthành lập và huy động vốn vay hỗ trợ thành công từ phía các Nhà đầu tư, cácQuỹ đầu tư hay các Quỹ tín dụng đều rất khó khăn và mất nhiều thời gianmặc dù đã được sự hỗ trợ của Nhà nước.
Căn cứ vào những đóng góp quan trọng mà DNKNST mang lại vànhững khó khăn về tài chính mà các DNKNST gặp phải trên thực tế liên quanđến pháp luật về hỗ trợ tài chính đối với DNKNST ở Việt Nam, tôi chọn đề
tài “Pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở Việt
Nam” làm Luận văn thạc sĩ Luật kinh tế của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến pháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST đã được một sốnhà nghiên cứu đề cập Một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
PGS.TS Vũ Văn Ninh và PGS.TS Phạm Thị Thanh Hòa, Chính sách
tín dụng dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc
gia “Chính sách thuế, tài chính đặc thù cho phát triển hệ sinh thái khởi nghiệpđổi mới sáng tạo quốc gia”, NXB Tài chính, trong đó phân tích thực trạngchính sách tín dụng dành cho DNKN ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằmgiúp các DNKN có khả năng tiếp cận được nguồn vốn
Trang 11TS Trần Đức Trung, Khởi nghiệp sáng tạo và nhu cầu vốn trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Chính
sách thuế, tài chính đặc thù cho phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mớisáng tạo quốc gia”, NXB Tài chính, trong đó phân tích thực trạng số lượngdoanh nghiệp ở Việt Nam được thành lập từ năm 2016, đưa ra các nguyênnhân, lý do, rào cản khiến các DNKNST khó tiếp cận vốn và gợi ý chính sáchtài chính hỗ trợ DNKNST ở Việt Nam
PGS.TS Lê Thị Thanh, Pháp luật thuế ở Việt Nam hiện nay với hoạt
động khởi nghiệp sáng tạo, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Chính sách
thuế, tài chính đặc thù cho phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sángtạo quốc gia”, NXB Tài chính, trong đó phân tích tầm quan trọng của thuế vàpháp luật thuế trong việc thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo cũng nhưkhuyến khích các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động khởi nghiệp sángtạo Đồng thời, nêu bật những bất cập, hạn chế trong hệ thống pháp luật thuế
để từ đó đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật thuế áp dụng cho hoạtđộng khởi nghiệp sáng tạo
ThS Lê Minh Hương, Chích sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp khởi
nghiệp: Kinh nghiệm một số nước và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Quản lý
Ngân quỹ Quốc gia số 176, trong đó nghiên cứu, phân tích chung các chíchsách hỗ trợ tài chính gồm: chích sách ưu đãi thuế, chích sách tín dụng, chíchsách hỗ trợ gián tiếp thông qua mô hình vườn ươm và các chích sách hỗ trợtài chính khác tại các nước như Ấn Độ, Singapore, Thái Lan … để đưa ra cáckhuyến nghị cho chích sách tài chính hỗ trợ DNKN ở Việt Nam
ThS Hồ Xuân San, Pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng
tạo, Trường Đại học Luật – Đại học Huế trong đó làm rõ những vấn đề lý luận
cơ bản về pháp luật hỗ trợ DNKNST cũng như sự cần thiết phải ban hành các
Trang 12quy định về hỗ trợ DNKNST Thực trạng pháp luật hỗ trợ DNKNST, thực tiễnthi hành tại Việt Nam và một số kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.Dựa trên kết quả nghiên cứu, đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằmgóp phần hoàn thiện pháp luật hỗ trợ DNKNST.
Tuy nhiên, các công trình khoa học kể trên mới chỉ nghiên cứu phápluật hỗ trợ chung hoặc riêng lẻ độc lập từng vấn đề đối với các DNKNST tạiViệt Nam và trên thế giới mà chưa có công trình nghiên cứu nào tổng quan vềpháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST ở Việt Nam Vì vậy việc nghiên cứu
đề tài “Pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở
Việt Nam” là cần thiết, hữu ích và có tính khả thi áp dụng vào thực tế.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về DNKNST, hỗ trợ tài chínhcho DNKNST và pháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST cũng như sự cầnthiết trong việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định để đảm bảo hỗtrợ tài chính cho DNKNST Luận văn tìm hiểu và phân tích thực trạng phápluật hỗ trợ tài chính cho DNKNST ở Việt Nam trong đó nêu bật được ưuđiểm và nhược điểm trong quá trình thực hiện pháp luật hỗ trợ tài chính trênthực tiễn tại Việt Nam Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, luận văn đưa rađịnh hướng phát triển DNKNST và một số giải pháp nhằm góp phần hoànthiện pháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật hỗ trợ tài chínhcho DNKNST như khái niệm DNKNST, khái niệm hỗ trợ tài chínhDNKNST, các phương thức hỗ trợ tài chính, khái niệm về pháp luật hỗ trợ tàichính cho DNKNST …
Trang 13- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật ở Việt Nam
về việc hỗ trợ tài chính cho DNKNST
- Đề xuất định hướng phát triển DNKNST và một số giải pháp nhằmhoàn thiện pháp luật về hỗ trợ tài chính cho DNKNST ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hỗ trợ tài chính cho DNKNST trong đó tìm hiểu, phân tích khái niệmDNKNST và các phương thức hỗ trợ tài chính cho DNKNST tại một số nướctrên thế giới và ở Việt Nam
- Pháp luật về hỗ trợ tài chính cho DNKNST ở Việt Nam trong đó tìmhiểu thực trạng pháp luật về hỗ trợ tài chính cho DNKNST và đưa ra một sốđịnh hướng và đề xuất hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ tài chính cho DNKNST
ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu các quy định củapháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST với các vấn đề xoay quanh phươngthức hỗ trợ tài chính cho DNKNST ở Việt Nam thông qua việc đã tìm hiểu cơbản về khái niệm DNKNST và hỗ trợ tài chính cho DNKNST
Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các văn bản phápluật và thực hiện pháp luật liên quan đến việc hỗ trợ tài chính cho DNKNST
từ khi có Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
- Phương pháp nghiên cứu, cụ thể:
+ Phương pháp phân tích, bình luận … được sử dụng trong việc tìm
Trang 14hiểu về một số vấn đề lý luận về hỗ trợ tài chính cho DNKNST và pháp luật
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo và pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởinghiệp sáng tạo
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ
trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ PHÁP LUẬT HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO
1.1 Khái quát về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và hỗ trợ tài chính cho danh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Trong những năm gần đây, một loại hình doanh nghiệp mới được nhậnnhiều sự quan tâm từ Chính Phủ và người dân, đó là DNKNST Trên thế giới,hiện không có định nghĩa thế nào là DNKNST nhưng có nhắc nhiều tới cụm
từ “Startup” hiểu theo tiếng Việt là DNKN với các định nghĩa khác nhau giữacác quốc gia
Ở Argentina và Brazil, khái niệm DNKN được hiểu là những công tyhoạt động trên nền tảng công nghệ mới Ở Chi Lê thì định nghĩa DNKN lànhững công ty có tiềm năng phát triển mạnh mẽ Còn Colombia và Peru thìxác định DNKN căn cứ trên khả năng hoạt động của doanh nghiệp dựa vàocông nghệ thông tin và truyền thông Đối với Singapore xác định DNKN cóhoạt động tập trung vào những ngành, lĩnh vực mà Chính Phủ đã định hướng
có mức độ tăng trưởng nhanh như y tế (khoa học sinh hóa), công nghệ thôngtin, công nghệ sáng tạo đổi mới, ngành công nghiệp bán lẻ, công nghệ tàichính, lĩnh vực giáo dục (theo hướng đào tạo chuyên nghiệp) [11, tr.23]
Ở Mỹ, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về DNKN như theo PeggyJames và Mitchell Grant là hai chuyên gia phân tích tài chính nổi tiếng đãđịnh nghĩa trên Investopedia – một trang web nổi tiếng về đầu tư, tài chính tại
Mỹ thì DNKN là một trong các doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu hoạtđộng Các DNKN này ban đầu thường được các nhà khởi nghiệp tự bỏ vốn cá
Trang 16nhân để phát triển một sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ tin rằng có nhu cầunhưng do doanh thu hạn chế hoặc chi phí cao, hầu hết các DNKN này có quy
mô nhỏ, không có tính bền vững dài hạn nếu không có sự tài trợ bổ sung từcác nhà đầu tư hoặc các quỹ đầu tư [46]
Còn theo Steve Blank và Bob Dorf là hai tác giả nổi tiếng chuyên viết
về các vấn đề kinh doanh, khởi nghiệp tại Mỹ trong cuốn sách “The Startup
Owner’s Manual” được xuất bản tại Việt Nam tựa là “Bách khoa toàn thư
về khởi nghiệp” thì cho rằng DNKN tại Mỹ được phần thành 3 loại, gồm:
(1) DNKN nhỏ là các doanh nghiệp chỉ hoạt động trong một số ngành dịch
vụ thiết yếu như giặt là, trạm xăng và các cửa hàng tiện ích Các doanhnghiệp này được xem là kinh doanh thành công khi có lợi nhuận dù là lợinhuận nhỏ Chủ của các doanh nghiệp này thường không muốn phát triểndoanh nghiệp mình thành một doanh nghiệp hàng trăm triệu đô trong cácngành khác như công nghiệp hay xây dựng; (2) DNKN có khả năng mở rộngtăng trưởng nhanh là các doanh nghiệp mà tại đó các chủ doanh nghiệp luônmuốn phát triển doanh nghiệp mình thành các doanh nghiệp không chỉ hàngtriệu mà thậm chí hảng tỉ đô doanh thu Các chủ doanh nghiệp này thườngtìm kiếm mô hình kinh doanh có thể mở rộng và lặp lại nhằm thu hút vốnđầu tư và mở rộng thật nhanh mô hình kinh doanh đó ra thị trường; (3)DNKN có khả năng chuyển nhượng là các doanh nghiệp phát triển tạo ramột mô hình DNKN mới có tiềm năng và luôn trong tình trạng sẵn sàng bánmình khi có những doanh nghiệp lớn trả với giá từ 5 triệu đến 50 triệu đô đểmua cả nhân tài lẫn dự án kinh doanh Các DNKN này thường có hình thái
là một doanh nghiệp lớn hoặc các DNKN dưới dạng các doanh nghiệp xã hộikhi tìm kiếm các giải pháp mới gạt bỏ lợi nhuận và triển khai ở mọi lục địa,trong mọi lĩnh vực khác nhau như: nước, nông nghiệp, sức khỏe và tài chính
Trang 17vi mô [30, tr.23-24] Tựu chung lại, ở Mỹ, xác định DNKN là các doanhnghiệp có tính chất định hướng công nghệ, có tiềm năng tăng trưởng caonhưng nguy cơ rủi ro lớn.
Như vậy, có thể thấy rằng chỉ cần nhắc đến cụm từ DNKN là chúng tacũng có thể nghĩ ngay đến các công ty khởi nghiệp với mục đích đồng hành,giúp đỡ, giải quyết nhu cầu của một tập khách hàng nhất định khi họ được trảinghiệm và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ mới mà chưa hề có trên thị trường
do các công ty này tạo ra, điển hình như: Uber ứng dụng gọi xe ra đời năm2009; WeWork cung cấp không gian làm việc chung ra đời năm 2010; Airbnbđặt và cho thuê phòng căn hộ ra đời năm 2008 Trong nhận thức của nhiềuquốc gia, DNKN được hiểu là những công ty về lĩnh vực công nghệ hoặc có
áp dụng công nghệ vào lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty
Tại Việt Nam hiện chỉ có Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm
2017 có đề cập tới khái niệm DNNVV mà không có định nghĩa cụ thể thế nào
là DNKNST Trong Luật này đã đưa ra khái niệm “Doanh nghiệp nhỏ và vừa
khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh” [25].
Tổng quát lại, có thể đưa ra được khái niệm về DNKNST như sau:Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là các doanh nghiệp hoạt động kinhdoanh trên nền tảng công nghệ có tính đột phá và sáng tạo nhằm tạo ra cácsản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hay mô hình kinh doanh mới mà trong xã hộichưa có doanh nghiệp khác thực hiện để từ đó đạt được sự tăng trưởng tốtnhất bất chấp nhiều rủi ro có tính tác động ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinhdoanh
DNKNST có những đặc điểm riêng khác với các doanh nghiệp truyền
Trang 18thống Các đặc điểm này được thể hiện bao gồm:
Như vậy, so với các doanh nghiệp truyền thống, để hình thành DNKNSTcần phải có ý tưởng và có thời gian nuôi dưỡng ý tưởng, thử nghiệm ý tưởngtrên thị trường
Thứ hai, tính tăng trưởng
Khác với doanh nghiệp truyền thống đề cao việc tạo ra lợi nhuận vàmột khi đạt được lợi nhuận mới nghĩ đến việc mở rộng doanh nghiệp.DNKNST sẽ đam mê tăng trưởng công ty càng nhanh càng tốt, và tạo ra một
mô hình kinh doanh có tính tăng trưởng DNKNST sẽ muốn nhân bản môhình kinh doanh thành công của mình ra khắp thế giới
Một DNKNST sẽ không đặt ra giới hạn cho sự tăng trưởng, và họ cótham vọng phát triển đến mức lớn nhất có thể DNKNST xây dựng mô hìnhkinh doanh để sản phẩm hoặc dịch vụ của họ có thể cung cấp ở nhiều thịtrường khác nhau và có thể tùy chỉnh trong mô hình chuyển đổi khách hàng
(ví dụ: hỗ trợ khách hàng, ngôn ngữ, hậu cần, hoạt động tiếp thị), nhưng nhìn
chung, thị trường toàn cầu có thể được giải quyết đồng thời với cùng một sảnphẩm hoặc dịch vụ cốt lõi
DNKNST phải có khả năng cung cấp giá trị cho thị trường lớn; nó phảilàm cái gì đó mà nhiều khách hàng muốn; nó phải có khả năng đến được
Trang 19khách hàng một cách nhanh chóng nhất có thể; và nó phải sẵn lòng thay đổikhi thị trường hay công nghệ thay đổi Chẳng hạn, nếu bạn tạo ra một sảnphẩm để được dùng chỉ trong thị trường địa phương, bạn có thể đạt tới một sốgiới hạn người dùng nhưng nếu bạn tạo ra nó cho thị trường toàn cầu thì bạnđang nghĩ về tăng trưởng nhanh.
Đối với các doanh nghiệp truyền thống người sáng lập sẽ muốn códoanh thu từ ngay ngày đầu tiên doanh nghiệp đi vào hoạt động, và tốt hơnnữa là có luôn lợi nhuận Giá trị lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào số tiền mà bảnthân người sáng lập muốn kiếm được (cho chính bản thân họ), cũng như sẽphụ thuộc vào kế hoạch mở rộng doanh nghiệp Còn đối với các DNKNST cóthể cần đến nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để có được doanh thu (dù rấtnhỏ) DNKNST sẽ tập trung vào phát triển một sản phẩm thật sự hữu ích chongười dùng, nhằm có được một lượng khách hàng đông đảo Nếu kế hoạchthành công, lợi nhuận tài chính có thể rất khổng lồ
Thứ ba, tính rủi ro cao
So với doanh nghiệp truyền thống, DNKNST có nhiều rủi ro hơn vàcũng có nhiều lợi thế hơn DNKNST thường làm việc theo nhóm để xây dựngdoanh nghiệp dựa trên công nghệ, quy trình, quy mô kinh doanh, hoặc ýtưởng mới tạo ra cho họ một lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các doanhnghiệp truyền thống Vốn của DNKNST bắt đầu từ chính tiền túi của chủdoanh nghiệp, hoặc đóng góp từ gia đình và bạn bè, một số trường hợp thì gọivốn từ cộng đồng (Crowd-Funding) Tuy nhiên, phần lớn các DNKNST đềuphải gọi vốn từ các Nhà đầu tư thiên thần (Angel Investors) và Quỹ đầu tưmạo hiểm (Venture Capital)
DNKNST có ý tưởng khởi nghiệp độc đáo hoặc khác biệt/tốt hơn sovới các giải pháp cạnh tranh trên thị trường Điều này làm cho việc thực hiện(làm cho khách hàng thích sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn hơn là sản phẩm
Trang 20hoặc dịch vụ của đối thủ cạnh tranh) không chắc chắn và đương nhiên là khárủi ro Trong thực tế, có một số DNKNST theo dõi những câu chuyện thànhcông của các doanh nghiệp khác (sử dụng cùng một mô hình kinh doanh,tham gia vào cùng một thị trường, có các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự).Trong trường hợp này, một số rủi ro liên quan đến việc bán hàng và tiếp thịcũng có thể giảm xuống.
Thứ tư, gắn liền với yếu tố công nghệ
Công nghệ là đặc tính tiêu biểu của DNKNST, thể hiện sự đột phá,sáng tạo của doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ Do vậy, hầu hết cácDNKNST sử dụng yếu tố công nghệ mới để tạo lợi thế cạnh tranh về sảnphẩm, dịch vụ so với các doanh nghiệp truyền thống
1.1.2 Khái quát về hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Tài chính doanh nghiệp nói chung hay tài chính của DNKNST nóiriêng khi nhìn nhận dưới góc độ kinh tế đều được hiểu là quan hệ giá trị giữadoanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Có nhiều cách phân loại cácnhóm quan hệ tài chính doanh nghiệp Theo Giáo trình Tài chính doanhnghiệp của Trường Đại học kinh tế quốc dân, quan hệ tài chính doanh nghiệpđược chia thành bốn nhóm: (1) Quan hệ doanh nghiệp với Nhà nước; (2)Quan hệ doanh nghiệp với thị trường tài chính; (3) Quan hệ giữa doanhnghiệp với các thị trường khác như hàng hóa, dịch vụ, sức lao động; (4) Quan
hệ trong nội bộ doanh nghiệp [9, tr.11] Còn theo Giáo trình Tài chính doanhnghiệp của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, quan hệ tài chính doanhnghiệp được chia thành ba nhóm: (1) Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp vớiNgân sách Nhà nước; (2) Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các nhà đầu
tư, cho vay, với bạn hàng và khách hàng; (3) Quan hệ kinh tế trong nội bộ
Trang 21doanh nghiệp [10, tr.1-3].
Có thể thấy rằng, cho dù phân chia các nhóm quan hệ tài chính doanhnghiệp không giống nhau nhưng tựu chung lại, các nhóm quan hệ đều phátsinh trong quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn vốn và tài sản nhằmthực hiện mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, mục đích của chủ sở hữu
và các chủ thể có liên quan Các nhóm quan hệ phát sinh đều gắn với việcchuyển dịch nguồn vốn, chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm tạo lậpquyền sở hữu vốn và tài sản của doanh nghiệp và kết quả hướng tới là lợinhuận phát sinh thông qua giao dịch
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học có định nghĩa hỗtrợ là sự giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào của một người cho người kháckhi thấy người đó gặp khó khăn hoặc mong cầu sự trợ giúp [38, tr.462]
Do vậy, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát hỗ trợ tài chính choDNKNST là toàn bộ các phương thức hỗ trợ tài chính giúp DNKNST tạo lập,quản lý, sử dụng nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp một cách hiệu quả
Các phương thức hỗ trợ tài chính là các cách thức mà các chủ thể hỗ trợthực hiện việc hỗ trợ tài chính cho các DNKNST Để xác định rõ ràng cácphương thức hỗ trợ tài chính cho DNKNST, chúng ta cần phải xác định đượccác chủ thể hỗ trợ tài chính và các nội dung hỗ trợ tài chính cho DNKNST, cụthể như sau:
Thứ nhất, về chủ thể hỗ trợ tài chính, gồm:
(1) Cá nhân là một chủ thể hỗ trợ tài chính cơ bản nhất trong nhóm cácchủ thể hỗ trợ tài chính Các cá nhân này có thể là các nhà đầu tư cá nhânhoặc các nhà đầu tư thiên thần Gọi họ là các chủ thể hỗ trợ tài chính cơ bảnnhất bởi họ là một con người cụ thể, có đặc tính riêng biệt, không trùng lặp và
dễ dàng phân biệt với các chủ thể khác trong việc hỗ trợ tài chính cho cácDNKNST Các cá nhân này bỏ vốn đầu tư vào các dự án khởi nghiệp của các
Trang 22cá nhân, nhóm hoặc các DNKNST tiềm năng Họ dùng chính suy nghĩ, sựnghiên cứu đánh giá và kinh nghiệm đầu tư của riêng bản thân để quyết địnhđầu tư vào các dự án phù hợp mà không bị ảnh hưởng bởi suy nghĩ, quyếtđịnh của một nhóm hay một tổ chức nào khác Các cá nhân này khi thực hiệnđầu tư vào các cá nhân, hay DNKN bất kỳ đều thực hiện thông qua hình thứcgóp vốn, mua cổ phần để trở thành thành viên góp vốn, cổ đông và hưởng lợitức hằng năm nếu DNKN đó có lợi nhuận.
(2) Pháp nhân là chủ thể hỗ trợ tài chính có tính đa dạng cũng như phứctạp nhất trong việc tổ chức hoạt động và thực hiện hỗ trợ tài chính choDNKNST Pháp nhân được hiểu là một tổ chức có tư cách pháp lý độc lập, cóthể tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội … theo quy định củapháp luật Tổ chức này được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lậphoặc cho phép thành lập Cụ thể:
Các pháp nhân do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập là các
Cơ quan thuộc Bộ máy Nhà nước mà trong phạm vi thẩm quyền của mình cóquyền ban hành các văn bản pháp luật
Các Cơ quan này có các hình thức, phương pháp hoạt động và thựchiện các chức năng riêng Do vậy, xét về vấn đề hỗ trợ tài chính cho cácDNKNST thì các pháp nhân do Cơ quan Nhà nước thành lập là chủ thể trựctiếp đưa ra các chính sách, văn bản pháp luật để điều chỉnh, áp dụng trongviệc hỗ trợ tài chính một cách toàn diện nhất
Các Cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ máy Nhà nước sẽ đưa ra cácnguyên tắc để xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính hợp lý như xác địnhphân loại các đối tượng cần được hỗ trợ, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệptoàn diện, đưa ra chính sách ưu đãi phù hợp như chính sách ưu đãi tíndụng, ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn … để từ đó thể chế hóa các chính sách nàythành các quy định pháp luật có tính áp dụng đối với từng đối tượng, từng
Trang 23địa phương trên thực tế.
Các Cơ quan trong Bộ máy Nhà nước thường thực hiện việc hỗ trợ ưuđãi tín dụng và ưu đãi thuế của Nhà nước cho DNKNST có thể kể đến baogồm Cơ quan thuế, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước … Ngoài ra, các phápnhân này có thể là các Quỹ bảo lãnh tín dụng; Quỹ phát triển DNNVV và cácQuỹ khác với nguồn vốn của Nhà nước được Nhà nước thành lập tại từng địaphương để hỗ trợ cấp vốn căn cứ theo hồ sơ năng lực của từng doanh nghiệp,từng loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh đặc thù
Các pháp nhân do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thànhlập có thể thực hiện hỗ trợ tài chính cho DNKNST gồm: các pháp nhânthành lập bởi một số nhà đầu tư cá nhân như các công ty đầu tư tài chính,công ty tài chính hoặc là các tổ chức tín dụng như ngân hàng thương mại tưnhân, tổ chức tín dụng tư nhân; quỹ tín dụng nhân dân Bản chất của việcđầu tư của các pháp nhân này cũng giống như chủ thể hỗ trợ tài chính là cánhân Tuy nhiên, vì được thành lập dưới dạng pháp nhân nên các nhà đầu tư
là chủ thể góp vốn thành lập pháp nhân sẽ được hưởng lợi nhuận hoặc chịurủi ro chung trên cơ sở vốn đầu tư bỏ ra khi quyết định đầu tư vào một dự ánkhởi nghiệp bất kỳ
Thứ hai, về nội dung hỗ trợ tài chính, gồm:
(1) Hỗ trợ vốn đầu tư, bổ sung vốn điều lệ đối với DNKNST là phươngthức hỗ trợ tài chính mà trong đó các DNKNST gọi vốn hỗ trợ từ các cá nhân
là nhà đầu tư cá nhân như gia đình, bạn bè hoặc nhà đầu tư thiên thần lànhững cá nhân giàu có sẵn sàng rót vốn cho các DNKNST bằng cách sở hữuvốn góp, sở hữu cổ phần trong chính DNKNST đó và gọi vốn hỗ trợ từ phápnhân là các doanh nghiệp do các cá nhân đầu tư thành lập, quỹ đầu tư mạohiểm Ngoài ra, DNKNST còn có thể nhận vốn hỗ trợ bằng cách huy độngvốn từ cộng đồng (Crowd-funding) Đây là hình thức huy động vốn mới dựa
Trang 24trên sự ủng hộ của công chúng giúp chủ một dự án hay người nghĩ ra một ýtưởng có thể hoàn thành những dự án sản phẩm của họ khi họ có ý tưởngnhưng lại không có vốn để thực hiện dự án của mình Tất cả các thủ tục hỗ trợvốn này đều được các chủ thể hỗ trợ vốn thực hiện thông qua việc góp vốnhưởng lợi nhuận theo quy định pháp luật.
(2) Hỗ trợ tín dụng đối với DNKNST là phương thức hỗ trợ tài chínhgắn liền với phương thức hỗ trợ vốn nhưng chủ thể hỗ trợ tín dụng lại là cácNgân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác hoặc các Quỹ phát triển doanhnghiệp, Quỹ đầu tư khởi nghiệp do Nhà nước thành lập
Do bản chất của tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa ngườicho vay và người đi vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, nên chúng ta có thểhiểu hỗ trợ tín dụng cho DNKNST là phương thức đưa ra các khoản vay ưuđãi, giảm lãi vay, … theo tiêu chí riêng để các DNKNST có thể nhận cáckhoản vay phù hợp từ các chủ thể hỗ trợ tín dụng này nhằm phục vụ nhu cầuphát triển kinh doanh của doanh nghiệp mình
Có thể thấy rằng trong giai đoạn đầu, vốn của các DNKNST thườngđến từ nguồn như từ chính tiền của chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn vốn
hỗ trợ của bạn bè, gia đình, các nhà đầu tư hoặc các quỹ đầu tư Tuy nhiên,nguồn vốn này chỉ hỗ trợ được phần nào trong các giai đoạn khởi nghiệpnhưng chưa thực sự đủ mạnh để hỗ trợ các DNKNST phát triển Khi này,DNKNST có thể đi vay vốn từ các chủ thể hỗ trợ tài chính kể trên Để thựchiện thủ tục nhận vay vốn từ các chủ thể này, DNKNST phải tuân thủ nhiềuđiều kiện về thủ tục, hồ sơ trên cơ sở quy định của pháp luật và các quy địnhmang tính điều lệ, quy chế riêng của từng chủ thể Chính vì lẽ đó, việc hỗ trợtín dụng sẽ mất nhiều thời gian và khó khăn hơn so với hỗ trợ vốn từ gia đình,bạn bè, nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư thiên thần hoặc các quỹ đầu tư mạo
Trang 25hiểm do các nhà đầu tư cá nhân tự thành lập.
(3) Hỗ trợ qua thuế cho DNKNST là phương thức hỗ trợ tài chính màtheo đó hỗ trợ một cách trực tiếp cho các DNKNST thông qua ưu đãi thuếTNDN và hỗ trợ một cách gián tiếp cho các nhà đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm,
… vào DNKNST thông qua ưu đãi thuế TNDN hoặc TNCN
Hỗ trợ thuế bằng cách thức ưu đãi thuế không phải là công cụ quantrọng hàng đầu trong việc hỗ trợ tài chính cho các DNKNST nhưng nếu lựachọn hình thức ưu đãi thuế phù hợp thì cũng có tác động quan trọng hỗ trợDNKNST Theo khái niệm kinh tế thì thuế được tính là chi phí hợp lý củadoanh nghiệp Theo bảng cân đối P/L (còn được gọi là báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh) của một doanh nghiệp bất kỳ thì cách tính lợi nhuận củamột doanh nghiệp được tính bằng tổng doanh thu trừ đi chi phí Vậy nếu chiphí giảm do Nhà nước ưu đãi thuế mà doanh nghiệp kiếm được nhiều doanhthu thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên Vì thế việc ưu đãi thuế củaNhà nước sẽ giúp DNKNST giảm thiểu chi phí, gia tăng lợi nhuận
Trên thực tế, ưu đãi thuế trực tiếp bằng hình thức miễn thuế, giảm thuếTNDN có thời hạn trong thời gian mới thành lập thường không đem lại nhiềulợi ích cho DNKNST do đa phần các DNKNST không có lợi nhuận trong thờigian đầu hoạt động Tuy vậy, nếu thời gian miễn thuế được kéo dài ở mứcthích hợp hoặc áp dụng thuế suất ưu đãi cho DNKNST cũng tạo điều kiện đểnhững doanh nghiệp này mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh
Ngoài ra, đối với các nhà đầu tư là cá nhân, hình thức ưu đãi về thuếđược thực hiện là ưu đãi về thuế TNCN được thực hiện bằng cách miễn thuếthu nhập từ đầu tư vốn vào DNKNST, còn đối với các nhà đầu tư là tổ chức,pháp nhân thì hình thức ưu đãi được thực hiện là giảm thuế đối với thu nhập
từ đầu tư vào DNKNST hoặc cho bù trừ lỗ của khoản đầu tư vào DNKNSTvới các hoạt động kinh doanh khác Phương thức hỗ trợ thuế gián tiếp sẽ giúp
Trang 26cải thiện môi trường đầu tư khởi nghiệp, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư cóthể tập trung đầu tư vào các DNKNST mà không lo sợ phải gánh gồng nhiềuchi phí phát sinh từ mỗi quyết định đầu tư trong khi bản chất thực hiện việcđầu tư vào các DNKNST đã có rất nhiều rủi ro khác ngoài vấn đề thuế phí.
(4) Ngoài các phương thức hỗ trợ về vốn, tín dụng và thuế, DNKNSTcòn có thể nhận được các hỗ trợ tài chính khác như hỗ trợ trực tiếp từ ChínhPhủ cho các ý tưởng kinh doanh có tính mới của sinh viên khi còn đang họctrong các trường đại học; hỗ trợ trang trải chi phí trong giai đoạn đầu của cácDNKNST khi thu nhập do doanh nghiệp tạo ra còn thấp, tài trợ cho các chiphí sản phẩm mới hoặc hỗ trợ gián tiếp bằng cách hỗ trợ kinh phí thành lập,hoạt động, chính sách ưu đãi riêng đối với các vườn ươm khởi nghiệp
1.2 Khái quát về pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
1.2.1 Khái niệm pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Luật pháp liên quan đến vấn đề hỗ trợ tài chính là một công cụ quantrọng có tác động không nhỏ tới sự phát triển của DNKNST ở mỗi một quốcgia Điều này đã được chứng minh bởi các chính sách được thể chế hóa thànhcác văn bản pháp luật hỗ trợ tài chính hợp lý, đúng thời điểm ở nhiều quốc gianhư thực hiện đầu tư kinh phí để phát triển ý tưởng, hỗ trợ các DNKNST vềsản phẩm đầu ra, những sản phẩm từ công nghệ thử nghiệm cũng được hỗ trợ,Chính Phủ thực hiện hỗ trợ qua các quỹ hoặc theo vốn đối ứng với các nhàđầu tư, các quỹ đầu tư tư nhân, thông qua miễn, giảm thuế hoặc chính sách tíndụng và một số chính sách khác
DNKNST là một đối tượng mới mang trong mình nhiều lợi ích to lớn,tuy nhiên lại có tính rủi ro cao đặc biệt liên quan đến vấn đề tài chính, do vậy,
để có sự hỗ trợ tài chính hợp lý cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh, dù là
Trang 27một hệ thống pháp luật đơn giản.
Pháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST có thể được hiểu là tổng thểnhững quy phạm pháp luật điều chỉnh và quy định về địa vị pháp lý của đốitượng được hỗ trợ, các chủ thể hỗ trợ, về các quan hệ xã hội phát sinh trongquá trình hỗ trợ cũng như các quan hệ có liên quan đến hỗ trợ vốn, thuế, tíndụng và các hỗ trợ khác đối với DNKNST
Hiện nay pháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST ở các quốc gia chỉthể hiện thông qua từng chính sách, quy định pháp luật trong nhiều lĩnh vựckhác nhau như luật doanh nghiệp, luật thuế, luật an sinh xã hội, luật tín dụng
… Đồng nghĩa với việc các quy định pháp luật về hỗ trợ tài chính choDNKNST còn riêng rẽ chưa được quy định tổng thể trong một văn bản phápluật riêng biệt về hỗ trợ tài chính
1.2.2 Cấu trúc pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
1.2.2.1 Quy định về đối tượng và điều kiện để được hỗ trợ tài chính
Đối tượng để được hưởng hỗ trợ tài chính bao gồm đối tượng trực tiếp
là các DNKNST và các đối tượng gián tiếp là các cá nhân, pháp nhân có thựchiện đầu tư vào các doanh nghiệp này
Đối với đối tượng được hỗ trợ tài chính trực tiếp là các DNKNST thìcần phải có quy định xác định rõ và phân loại cụ thể để hỗ trợ Ví dụ như ở
Ấn Độ, Chính Phủ đã đưa ra định nghĩa và xác định rõ những lĩnh vực ưu đãiđối với một DNKNST, cụ thể:
Các DNKN đáp ứng điều kiện quy định trong Thông báo GSR 127 (E)[47] của Ấn Độ sẽ đủ điều kiện để đăng ký công nhận hưởng ưu đãi hỗ trợ.Tiêu chí đủ điều kiện để công nhận là một DNKN tại Ấn Độ là: (1) Đượcthành lập với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, công ty hợpdanh hoặc công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn; (2) Doanh thu phải nhỏ
Trang 28hơn 100 Crores INR trong bất kỳ năm tài chính nào trước đó; (3) Được thànhlập trong vòng 10 năm kể từ ngày thành lập; (4) Doanh nghiệp phải làm việctheo hướng đổi mới, cải tiến sản phẩm, dịch vụ quy trình hiện có và có tiềmnăng tạo ra việc làm, tạo ra của cải Một pháp nhân được thành lập bằng cáchtách ra hoặc xây dựng lại hoạt động kinh doanh hiện tại sẽ không được coi làDNKN.
Những DNKN đạt những tiêu chí trên ở Ấn Độ mới được nhận cáckhoản miễn thuế gồm: (1) Hoàn thuế 100% trên lợi nhuận trong thời gian 3năm liên tục với điều kiện doanh thu không vượt quá 100 Crores INR trongbất kỳ năm tài chính nào; (2) Miễn thuế đối với lãi vốn dài hạn; (3) Miễn thuếđối với các khoản đầu tư trên giá trị thị trường hợp lý; (4) Miễn thuế cho cánhân; (5) Trích lập các khoản lỗ chuyển tiếp và lãi vốn được phép trongtrường hợp thay đổi mô hình cổ phần
Trên cơ sở phân tích các đặc điểm của một DNKNST và điều kiện đểmột DNKNST được nhận hỗ trợ tài chính của một số quốc gia tiêu biểu như
Ấn Độ, chúng ta có thể xác định các điều kiện chung nhất cho các DNKNST
có thể nhận được hỗ trợ tài chính như sau:
- DNKNST phải là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quyđịnh của pháp luật Nếu vẫn là một cá nhân, hay một nhóm, một tổ chức chưađăng ký thành lập dù cho có ý tưởng đổi mới, sáng tạo hay hoạt động kinhdoanh đổi mới sáng tạo cũng sẽ không được nhận hỗ trợ tài chính
- Thời gian hoạt động kinh doanh của mỗi DNKNST được nhận hỗ trợkhông được quá dài được quy định cụ thể tại mỗi một quốc gia và được tính
Trang 29doanh nghiệp đã hoạt động kinh doanh lâu dài.
- DNKNST phải là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh đổi mớisáng tạo gắn liền với công nghệ, có thể nhận biết qua các cơ sở như ngành,nghề kinh doanh đã đăng ký; văn bằng bảo hộ sáng chế … hoặc hồ sơ nănglực chứng minh doanh nghiệp đó đang hoạt động trên cơ sở nền tảng côngnghệ có áp dụng vào hoạt động kinh doanh
Đối với các đối tượng được hỗ trợ tài chính gián tiếp là các cá nhân,pháp nhân có hoạt động đầu tư vào các DNKNST thường được xác định cụthể thông qua các văn bản pháp luật có quy định về việc xác lập tư cách pháp
lý, quyền lợi và nghĩa vụ của các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn trongdoanh nghiệp Đối tượng này đặc biệt vừa là chủ thể hỗ trợ tài chính nhưngcũng vừa là đối tượng cần được hỗ trợ từ Nhà nước trong quá trình đầu tư vàoDNKNST Một số nước thường đưa ra các văn bản pháp luật ưu đãi cho đốitượng này như ưu đãi thuế TNCN, thuế TNDN
1.2.2.2 Quy định về chủ thể hỗ trợ tài chính
Chủ thể hỗ trợ tài chính cho DNKNST bao gồm các Cơ quan Nhà nước
và các cá nhân, pháp nhân khác có liên quan đến hoạt động đầu tư cho khởinghiệp sáng tạo
Các Cơ quan Nhà nước giữ vai trò quan trọng chính yếu trong vấn đềhoạnh định chính sách, đưa ra các quy định pháp luật có hiệu lực thi hành ápdụng trực tiếp tới các cơ quan quản lý các cấp trong việc hỗ trợ tài chính choDNKNST như ưu đãi thuế theo đối tượng hỗ trợ, điều kiện hỗ trợ, bảo lãnh tíndụng, cấp vốn, hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ mô hình vườn ươm và thành lập sàngiao dịch vốn cho DNKNST Các Cơ quan Nhà nước như Ngân hàng nhànước, Cơ quan thuế, các Quỹ hỗ trợ Nhà nước và các cơ quan có liên quanđến hoạt động hỗ trợ DNKNST là các cơ quan có trách nhiệm cùng nhau phốihợp thực hiện việc hỗ trợ tài chính cho DNKNST trên cơ sở điều lệ hoạt động
Trang 30và quy định pháp luật điều chỉnh tương ứng với từng cơ quan trong việc thựchiện hỗ trợ tài chính mà Nhà nước ban hành.
Các cá nhân và pháp nhân khác có liên quan đến hoạt động đầu tư chokhởi nghiệp sáng tạo bao gồm: các nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư thiên thần,các công ty được thành lập để hoạt động đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo haycác quỹ đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo cũng đều có vai trò không nhỏ trongviệc hỗ trợ tài chính cho DNKNST
Các nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư thiên thần bỏ vốn đầu tư vào các dự
án khởi nghiệp của cá nhân, của nhóm hoặc các DNKN tiềm năng Dựa trên
sự đánh giá tiềm năng phát triển phù hợp với xu hướng trong và ngoài nướccủa các dự án khởi nghiệp, kinh nghiệm đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư cánhân thực hiện hoạt động đầu tư vào các dự án phù hợp Bên cạnh đó, dựavào sự tin tưởng và uy tín của cá nhân hay doanh nghiệp, các dự án khởinghiệp thu hút vốn đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần của cácDNKN, từ đó, các cá nhân có vai trò như một cổ đông; hoặc đầu tư vào cácnhóm cá nhân có ý tưởng khởi nghiệp để phát triển ý tưởng, hỗ trợ thành lậpdoanh nghiệp và hưởng tỉ lệ cổ phần trong DNKN Quyền lợi, nghĩa vụ vàtrách nhiệm các bên liên quan được điều chỉnh bằng pháp luật
Một số nhà đầu tư thành lập công ty theo quy định để thực hiện hoạtđộng đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo Ngoài ra, họ còn góp vốn với các nhàđầu tư cá nhân và nhà đầu tư thiên thần khác để thành lập ra quỹ đầu tư chokhởi nghiệp sáng tạo Các quỹ đầu tư này không giống với đầu tư chứngkhoán nói chung bởi mức độ rủi ro đặc thù đi kèm với mức tiềm năng pháttriển cao của các dự án khởi nghiệp
1.2.2.3 Quy định về nguồn tài chính hỗ trợ
Nguồn tài chính hỗ trợ cho DNKNST có thể được phân ra hai nguồnchính như sau:
Trang 31Nguồn tài chính hỗ trợ thuộc sở hữu riêng của các nhà đầu tư cá nhân,nhà đầu tư thiên thần, các công ty, quỹ đầu tư khởi nghiệp hoặc các công ty
do những chủ thể này thành lập Nguồn này được quản lý nội bộ trong công tyđặt dưới một chế độ kế toán theo chuẩn nhất định và chịu sự kiểm tra từ Cơquan thuế, Cơ quan đăng ký kinh doanh, Cơ quan kiểm toán
Nguồn tài chính hỗ trợ được trích từ Ngân sách Nhà nước để hỗ trợ cáchoạt động khởi nghiệp sáng tạo Nguồn này được Nhà nước chi cho các quỹđầu tư phát triển của các Cơ quan Nhà nước thành lập hoặc các Cơ quan cáccấp có thẩm quyền phụ trách lĩnh vực có liên quan đến các hoạt động đầu tưkhởi nghiệp trên cơ sở các quy định của pháp luật quản lý vốn Nhà nước theonguyên tắc bảo toàn vốn Ngoài ra, nguồn này cũng bao gồm cả nguồn thuế
hỗ trợ cho DNKNST do các doanh nghiệp này được miễn, giảm thuế khi thỏamãn điều kiện để được nhận hỗ trợ mà pháp luật có quy định
Việc phân ra các nguồn tài chính hỗ trợ tài chính như trên là do bảnchất nguồn gốc của nguồn tài chính hỗ trợ và chủ thể trực tiếp sở hữu sử dụng
và quản lý nguồn tài chính hỗ trợ này Ngân sách Nhà nước luôn giữ vai tròchủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia cũng như có vai trò quyết định đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong đó ngân sách có vai tròhuy động các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của Nhànước Nhận thấy sự quan trọng của nguồn tài chính này nên khi thực hiện việcthu, chi từ Ngân sách Nhà nước, các Quốc gia đã ban hành các văn bản phápluật quy định chi tiết về việc sử dụng, quản lý như: quy định về việc lập, chấphành, kiểm toán, quyết toán và giám sát Ngân sách Nhà nước, đồng thời, quyđịnh nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liênquan trong lĩnh vực Ngân sách Nhà nước
Việc sử dụng và quản lý nguồn tài chính Nhà nước để hỗ trợ cho cácDNKNST thường được chú trọng và quy định chặt chẽ hơn việc sử dụng và
Trang 32quản lý nguồn tài chính hỗ trợ từ các cá nhân hay doanh nghiệp đầu tư Dobản chất của nguồn tài chính hỗ trợ từ các cá nhân hay doanh nghiệp đầu tưđều thuộc sở hữu của các chủ thể này cho nên việc thu, chi nguồn tài chính đểthực hiện hỗ trợ sẽ do họ tự chủ động đưa ra quyết định đầu tư dựa trên sựthống nhất ý chí và đồng ý của các bên Pháp luật tại các quốc gia không quyđịnh cụ thể về việc sử dụng và quản lý nguồn tài chính của các cá nhân, doanhnghiệp đầu tư mà thường quy định về các ngành, nghề bị cấm đầu tư hoặc cácngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cũng như các quy định về thuế đểđảm bảo cho việc quản lý được thống nhất trong việc thu thuế từ các giaodịch có hóa đơn cũng như đảm bảo cho việc quyết toán và báo cáo tài chínhtại các doanh nghiệp đầu tư được đúng các chuẩn mực kế toán Trong thời đạiCách mạng Công nghiệp 4.0, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cá nhân,doanh nghiệp luôn được các quốc gia chú trọng đặt lên hàng đầu để từ đó luậthóa quy định quyền này trong các văn bản pháp luật về doanh nghiệp Theo
đó, các doanh nghiệp được tự do kinh doanh thực hiện đầu tư vào nhữngngành, nghề mà luật không cấm
1.2.2.4 Quy định về phương thức hỗ trợ tài chính
Các phương thức hỗ trợ tài chính của mỗi quốc gia được thực hiện đềutập trung vào việc giải quyết các nhu cầu về vốn của DNKNST Đồng thời,tạo điều kiện thuận lợi để DNKNST phát triển trên cơ sở điều kiện kinh tế xãhội, nguồn lực thế mạnh của mỗi quốc gia
Thứ nhất, hỗ trợ tạo lập vốn đầu tư, bổ sung vốn điều lệ cho DNKNST
Trong đó, có những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để các chủ thể
hỗ trợ thực hiện góp vốn nhằm sở hữu vốn góp hoặc cổ phần của mộtDNKNST mà họ muốn đầu tư Các quy định này giúp các chủ thể hỗ trợ nắmđược rõ ràng hơn cách thức đầu tư để thực hiện việc góp vốn trong từng vòngkêu gọi vốn của một DNKNST Tuy nhiên, một số quy định này nếu áp dụngtrên thực tế có thể gây khó khăn, rườm rà cho mỗi lần góp vốn của chủ thể hỗ
Trang 33trợ Vấn đề này sẽ được từng quốc gia nhận diện trên thực tiễn và tiến hànhthực hiện sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Với phương thức huy động vốn từ cộng đồng một số các quốc gia đãquy định cụ thể như Hoa Kỳ đã có một đạo luật quy định về gọi vốn cộngđồng; ở Anh, website gọi vốn cộng đồng phải được đăng ký, tại Pháp, ngườiquản lý website gọi vốn cộng đồng phải có chứng chỉ cố vấn đầu tư gọi vốncộng đồng sau khi đã vượt qua các kỳ sát hạch theo quy định Còn tại ViệtNam hiện nay chưa có quy định cụ thể về gọi vốn cộng đồng Phương thứchuy động vốn từ cộng đồng là một phương thức tiếp cận nguồn vốn từ xã hộihiệu quả đã đạt được nhiều kết quả tốt trên thực tiễn với ví dụ điển hình là dự
án gọi vốn cộng đồng xuất hiện đầu tiên trên website ArtistShare tại Mỹ năm
2003 cho việc sản xuất album “Concert in a Garden” của Maria Schneider Dovậy, các quốc gia chưa có những quy định về phương thức này cần quan tâm
và nhanh chóng đưa ra các quy định pháp luật để chính thức công nhận vàđưa phương thức này trở nên phổ biến hơn trên thực tế, từ đó tạo sự tin tưởngcho cả bên huy động vốn, bên hỗ trợ vốn và đặc biệt là bên trung gian cungcấp dịch vụ gọi vốn cộng đồng
Thứ hai, phương thức hỗ trợ tín dụng đối với DNKNST thường được
quy định trong các văn bản pháp luật về tín dụng và bảo lãnh tín dụng có tính
áp dụng chung hoặc trong các văn bản pháp luật được ban hành bởi ngânhàng, các tổ chức tín dụng khác và các quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹphát triển KH&CN quốc gia, quỹ phát triển DNNVV… Các quy định nàyđược ban hành bởi các pháp nhân riêng, độc lập với nhau nên thường có điềukiện, trình tự, thủ tục để nhận vay vốn khác nhau Cho nên, trên thực tế, cácquy định pháp luật về hỗ trợ tín dụng cho DNKNST thường có số lượng lớn,thay đổi nhanh do nhiều yếu tố tác động như tình hình kinh tế trong nước vàthế giới, chủ trương chính sách của Chính Phủ,… và đặc biệt các quy định về
Trang 34tiêu chí để được nhận vay vốn thường khá chặt chẽ bởi bản chất các bên chovay vốn thường sẽ cân nhắc đảm bảo nguồn vốn vay khi chi ra cho cácDNKNST là hợp lý để cân bằng chi phí cho chính họ tránh trường hợp rủi rotài chính xảy ra khiến bên cho vay vốn lâm vào tình trạng phá sản Tuy vậy,đây cũng chính là một nút thắt khó giải quyết một sớm, một chiều khi mà cácDNKNST muốn vay vốn nhưng mất quá nhiều thời gian, công sức để đượcnhận vốn vay trong khi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này rấtcần thiết phải có một nguồn vốn mới bổ sung nguồn vốn ban đầu.
Thứ ba, phương thức hỗ trợ qua thuế, thường được quy định trong văn
bản pháp luật thuế, tập trung chủ yếu là các quy định về miễn giảm thuếTNDN áp dụng cho các DNKNST hoặc các doanh nghiệp đầu tư cho cácDNKNST và các quy định về miễn giảm thuế TNCN áp dụng cho cá nhà đầu
tư là cá nhân khi thực hiện đầu tư với các DNKNST Ở nhiều quốc gia, do đãđịnh nghĩa được các đối tượng là DNKNST để nhận hỗ trợ nên các quy địnhpháp luật thường đi đúng trọng tâm, đúng đối tượng cần hỗ trợ Các quy định
về miễn giảm thuế TNDN, thuế TNCN cũng từ đó mà được xây dựng, banhành trên cơ sở chính sách riêng của mỗi quốc gia, trong đó đảm bảo các quyđịnh về thuế suất và các quy định miễn thuế, giảm thuế luôn ưu ái hơn cácdoanh nghiệp truyền thống Tuy nhiên, ở một số quốc gia khác như Việt Namlại chưa có quy định cụ thể để định nghĩa thế nào là DNKNST cho nên cácquy định pháp luật hỗ trợ thuế cho các đối tượng hỗ trợ này thường bị chồngchéo hoặc đan xen không rõ ràng với các hỗ trợ ưu đãi so với các doanhnghiệp thông thường khác Xác định được đúng đối tượng hỗ trợ là vấn đềtiên quyết, có tính chất quan trọng trong việc giúp cho các cơ quan quản lýnhà nước xây dựng và ban hành được các văn bản pháp luật về ưu đãi thuếdành riêng cho DNKNST, góp phần tách bạch với các ưu đãi thuế dành chocác hoạt động khởi nghiệp khác hoặc với các doanh nghiệp có hoạt động khoahọc, công nghệ cao mang tính chất thương mại khác
Trang 35Thứ tư, đối với các phương thức hỗ trợ tài chính khác nhằm cung cấp
vốn thông qua tạo môi trường kinh doanh, đào tạo, thị trường, thông tin, …cho các DNKNST thường sẽ được quy định cụ thể trong từng chương trình hỗtrợ tài chính riêng trên cơ sở xem xét tính khả thi của ý tưởng sáng tạo sau đótập trung tài trợ cho một nhóm sản phẩm, phương thức sản xuất, dịch vụ mới
để triển khai và ứng dụng rộng rãi trên thị trường Trong một số trường hợpphương thức hỗ trợ tài chính cho DNKNST còn được quy định gián tiếp trongcác quy định ưu đãi cho các vườn ươm khởi nghiệp
1.2.2.5 Quy định về giám sát, quản lý việc hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Giám sát và quản lý việc hỗ trợ tài chính cho DNKNST được hiểu làviệc giám sát và quản lý nguồn vốn hỗ trợ tài chính của các chủ thể thực hiệnviệc hỗ trợ
Đối với nguồn vốn hỗ trợ tài chính là nguồn vốn thuộc Ngân sách Nhànước thì hiện nay hầu hết đã có các Cơ quan tài chính chuyên biệt thuộc bộmáy của nhà nước giám sát và quản lý dựa theo cơ cấu tổ chức, quyền vànghĩa vụ đã được thể chế hóa trong luật Theo đó, chủ sở hữu vốn, Cơ quanquản lý nhà nước, chủ thể quản lý doanh nghiệp thông qua các hình thức,phương thức và các chỉ tiêu giám sát để thực hiện việc giám sát tài chính đốivới các hoạt động của cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp mình, nhằm đánhgiá hiệu quả hoạt động và phát hiện những rủi ro để cảnh báo cho công tácquản lý điều hành
Tuy nhiên, các nguồn vốn hỗ trợ tài chính thuộc sở hữu của các nhàđầu tư là cá nhân, doanh nghiệp không có vốn Nhà nước để giám sát, quản lýtại một số quốc gia hầu như chưa có quy định pháp luật cụ thể Theo đó,thường các quốc gia chỉ đề cập đến vấn đề thực hiện chế độ sổ sách kế toánchung trong đó một bộ phận, một cá nhân trong Cơ quan có quyền và nghĩa
vụ thực hiện giám sát, tài chính như Ban kiểm soát hoặc các Kiểm soát viên
Trang 36độc lập thực hiện giám sát việc thực hiện tài chính trong doanh nghiệp đó.Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp không có vốn Nhà nước ngoại trừ cácdoanh nghiệp lớn đã chào bán chứng khoán thì đều không có các bộ phận hay
cá nhân kể trên, thay vào đó là bộ phận kế toán sẽ thực hiện toàn bộ các vấn
đề tài chính của doanh nghiệp, kể cả việc giám sát và quản lý nguồn tài chính
1.2.2.6 Quy định về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm
Qua việc sử dụng và quản lý nguồn tài chính hỗ trợ cho DNKNST căn
cứ vào bản chất của các loại nguồn tài chính hỗ trợ cho DNKNST được nêutrên thì trong trường hợp xảy ra các tranh chấp và vi phạm thủ tục hành chínhkhi sử dụng, quản lý nguồn tài chính hỗ trợ thuộc sở hữu riêng của các nhàđầu tư cá nhân, nhà đầu tư thiên thần hoặc các công ty, quỹ đầu tư khởinghiệp do các chủ thể này thành lập thì việc giải quyết tranh chấp và xử lý viphạm thường sẽ được quy định trong luật doanh nghiệp Bởi đây là các hoạtđộng đầu tư giữa cá nhân, pháp nhân với một cá nhân, pháp nhân khác, việcđầu tư đồng nghĩa với việc bên đầu tư đi góp vốn và là một thành viên hoặc làmột cổ đông trong DNKNST đó
Còn trong trường hợp xảy ra các sai phạm khi sử dụng, quản lý nguồntài chính hỗ trợ được trích từ Ngân sách Nhà nước thì sẽ căn cứ vào luật vềtham nhũng, tổ chức cán bộ để xử lý các hành vi sai phạm của các cán bộ,công chức lợi dụng nguồn Ngân sách Nhà nước để trục lợi khi dùng Ngânsách Nhà nước đầu tư vào hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; nhất làtrong quyết định chuyển khoản đầu tư thành khoản tài trợ cho hoạt động khởinghiệp đổi mới sáng tạo Điều này nếu không có quy định xử lý cụ thể mangtính răn đe sẽ biến phần Ngân sách Nhà nước hỗ trợ hoạt động khởi nghiệpđổi mới sáng tạo là công cụ thương lượng và tác động tiêu cực, không hiệuquả đến quá trình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tăng cán cân đối với Ngân
Trang 37sách Nhà nước và không đạt mục tiêu tốt đẹp kỳ vọng ban đầu.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Pháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST thường sẽ bị ảnh hưởng bởinhiều yếu tố khác nhau như:
Thứ nhất, yếu tố bản chất và đặc điểm vốn có của DNKNST Do
DNKNST luôn có tính sáng tạo trong mô hình kinh doanh, tạo ra nhiều giá trịgia tăng cho xã hội, có khả năng tăng trưởng nhanh và mở ra một mô hình kinhdoanh mới cho nền kinh tế Do vậy, lợi ích của loại hình doanh nghiệp này đemlại cho nền kinh tế là rất lớn nếu hoạt động kinh doanh của DNKNST đó thànhcông Chính vì lý do đó, các quốc gia trên thế giới luôn chú trọng quan tâmphát triển một cách đặc biệt đối với DNKNST bằng các cách thức khác nhautrên cơ sở các chính sách ưu đãi và các văn bản pháp luật có liên quan đượcban hành để điều chỉnh và áp dụng trên thực tế Pháp luật hỗ trợ tài chính choDNKNST sẽ bị ảnh hưởng nếu như định nghĩa về DNKNST và các phươngthức hỗ trợ tài chính tại mỗi một quốc gia khác nhau
Ngoài ra, vì đặc điểm của DNKNST luôn gắn liền với công nghệ, sảnphẩm công nghệ hoặc sử dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh nên DNKNST luôn cần nguồn vốn lớn để duy trì, phát triển công việckinh doanh của doanh nghiệp; cũng như; DNKNST có tính rủi ro cao do cótính cạnh tranh trên thị trường lớn Do đó, pháp luật hỗ trợ tài chính tại mỗiquốc gia cũng luôn phải thay đổi không ngừng để có tính áp dụng phù hợp,nhanh chóng và hiệu quả hơn cho các DNKNST khi thực hiện thủ tục nhậnvốn đầu tư từ các nhà đầu tư hoặc vay vốn tại các ngân hàng, tổ chức tín dụngkhác và các quỹ đầu tư
Thứ hai, yếu tố về trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội và sự
Trang 38phát triển khoa học công nghệ Theo đó, trình độ phát triển của nền kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới đều ảnh hưởng lớn tới các chínhsách, quyết định trong từng lĩnh vực của mỗi quốc gia đó qua từng thời kỳ.Nền kinh tế thế giới đang dần phát triển thành một thể thống nhất theo đóngày càng có nhiều những vấn đề manh tính kinh tế toàn cầu, đòi hỏi sựhọc hỏi và phối hợp chung của các quốc gia với nhau Các quốc gia cótrình độ phát triển kinh tế - xã hội cao như Anh, Mỹ … thường có nhữngchính sách, quyết định tiên tiến đổi mới mang tính dẫn đầu Các chínhsách, quyết định này có thể bộc lộ những ưu và nhược điểm riêng để cácquốc gia có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn lấy đó làm kinhnghiệm thay đổi sao cho phù hợp với thực trạng nội tại diễn ra tại quốc gia
đó Các văn bản pháp luật về hỗ trợ tài chính cho DNKNST cũng sẽ thayđổi để phù hợp với tinh thần của các chính sách, quyết định về hỗ trợ tàichính mới của Chính Phủ được ban hành
Ngoài ra, dưới sự ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp 4.0, sự pháttriển của khoa học công nghệ đang ngày một thay đổi toàn bộ nền kinh tế củamỗi một quốc gia Nền kinh tế của các quốc gia dù thuộc chế độ chính trị nàocũng phải có những thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến trúc thượngtầng, nhưng theo cách riêng của mình để phù hợp với tình hình chung đangdiễn ra hiện nay Bất cứ quốc gia nào khi muốn đạt được sự phát triển và tiếnnhanh trên con đường hiện đại hóa đều phải tạo ra các phát minh mới trongcác lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao, sau đó áp dụng vào thực tế để sản xuất
và mở rộng phát triển Do đó, pháp luật của mỗi một quốc gia sẽ vì thế màthay đổi để phù hợp với sự phát triển của khoa học - công nghệ hơn Đặc biệt
do DNKNST là một đối tượng có đặc điểm gắn liền với công nghệ và có lợiích không nhỏ góp phần phát triển được nền kinh tế của mỗi một quốc gia nên
Trang 39những quy định pháp luật có liên quan đến đối tượng này kể cả là những quyđịnh pháp luật về hỗ trợ tài chính cho nó cũng sẽ luôn có tính thay đổi khôngngừng qua từng thời kỳ phát triển của khoa học – công nghệ.
Thứ ba, yếu tố hội nhập tài chính quốc tế về KH&CN cũng là một yếu
tố ảnh hưởng đến pháp luật hỗ trợ tài chính cho DNKNST Hình thức hộinhập tài chính quốc tế về KH&CN thường được thực hiện một cách đa dạng
và phong phú thông qua việc đàm phán, ký kết và triển khai các Hiệp định,hợp tác nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ, trao đổi chuyên gia, tổchức hội thảo, hội nghị, trình diễn công nghệ, hội chợ triển lãm công nghệ …Khi các quốc gia thực hiện hoạt động hợp tác tài chính quốc tế với nhau tronglĩnh vực KH&CN sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý về hỗ trợ tài chínhcho DNKNST được nhanh chóng và hiệu quả hơn do đã có các kinh nghiệmthực tiễn và các giải pháp được đúc rút ra được từ những khó khăn, vướngmắc của nhau Trên cơ sở các điều ước, hiệp định quốc tế được ký kết, cácquốc gia sẽ trao đổi trực tiếp với nhau được tốt hơn bao gồm các vấn đề vềcông nghệ chuyển giao hay những khúc mắc khó giải quyết trong vấn đề ápdụng pháp luật để từ đó hoàn thiện pháp luật sao cho phù hợp với các cam kếtchung cũng như trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia
Trang 40Kết luận Chương 1
DNKNST với đặc điểm vốn có của mình thường phát sinh nhu cầuvốn lớn để thành lập, hoạt động phát triển kinh doanh Trong quá trình tạolập nguồn vốn, DNKNST cần phải đi huy động vốn từ các cá nhân nhưngười thân, bạn bè tuy nhiên với nguồn vốn đó là chưa đủ để doanh nghiệp
có thể tiếp tục duy trì và phát triển nếu không thực hiện các hoạt động huyđộng vốn khác hoặc vay vốn từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặccác quỹ đầu tư phát triển
Pháp luật về hỗ trợ tài chính cho DNKNST được xây dựng và ban hành
có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra hành lang pháp lý quy định các trình
tự, thủ tục hỗ trợ tài chính kịp thời, nhanh chóng nhằm giải quyết các nhu cầu
về vốn cho các DNKNST Tuy nhiên, các quy định pháp luật về hỗ trợ tàichính này thường không tập trung tại một văn bản pháp luật độc lập màthường nằm riêng rẽ trong các văn bản pháp luật của từng lĩnh vực riêng nênkhi áp dụng trên thực tế còn chồng chéo và không đạt hiệu quả cao Hiệu quả
áp dụng các quy định này trên thực tế có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tốkhác nhau như sự khác nhau trong định nghĩa DNKNST, trình độ phát triểncủa nền kinh tế - xã hội, sự phát triển của KH&CN và quá trình hội nhập tàichính quốc tế về KH&CN của từng quốc gia Các yếu tố ảnh hưởng này giúpbộc lộ được rõ ràng vai trò quan trọng của pháp luật hỗ trợ tài chính choDNKNST trên thực tế