Nếu DNBH không đưa ra các điều khoản này thì không thểlàm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên tham gia hợp đồng.Loại điều khoản mẫu thứ này có ý nghĩa lớn đối với các b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ ĐÀO TRÂM ANH
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ ĐÀO TRÂM ANH
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN BIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học
và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết cam đoan này và đề nghị Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi được bảo vệ Luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Người cam đoan
Vũ Đào Trâm Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT 7
VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ 7
1.1.1.2 Phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 12
2.1.5.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 34
2.2 Đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 42
2.2.2 Những hạn chế, bất cập 44
3.1 Yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 72
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nguyên nghĩa
BHNT Bảo hiểm nhân thọ
DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
HĐBHNT Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh doanh BHNT là một lĩnh vực kinh doanh phát triển khá lâu trên thếgiới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, tại Việt Nam,BHNT vẫn còn tương đối mới mẻ và được các doanh nghiệp bảo hiểm, các chuyêngia và các cơ quan quản lý đánh giá là thị trường đầy tiềm năng Với sự phát triển
ổn định của nền kinh tế, thu nhập, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện
và chú trọng thì hoạt động bảo hiểm càng có điều kiện phát triển, trở thành mộttrong những kênh huy động vốn quan trọng đầu tư trở lại cho nền kinh tế Đối vớitừng người dân, bảo hiểm đảm bảo về mặt tài chính nhằm khắc phục hậu quả khibất ngờ gặp phải rủi ro tai nạn hay bệnh tật như chi phí điều trị, viện phí,… Bảohiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng còn cung cấp những chương trìnhtiết kiệm và là người đại diện đầu tư mang lại lợi tức đầu tư cho khách hàng Bảohiểm chẳng những có tác dụng bồi thường tổn thất sau khi rủi ro phát sinh mà còngóp phần rất lớn cho vấn đề phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất Ngoài ra, bảohiểm nhân thọ còn mang ý nghĩa cộng đồng và tính xã hội cao vì mang lại một sự
an tâm cho con người, và để những người tham gia bảo hiểm có thể chia sẻ rủi rovới quy luật số đông bù số ít Dù bất cứ chuyện gì xảy ra, sẽ không có gánh nặng tàichính, tương lai con trẻ vẫn bảo đảm, tuổi già thêm thảnh thơi
Thị trường BHNT ở Việt Nam chính thức được ghi nhận về mặt pháp lý tạiNghị định 100-CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm Sau nghị định nàynhiều công ty bảo hiểm mới được cấp phép hoạt động Có thể nói, Nghị định 100-
CP ra đời là một bước ngoặt có tính cách mạng đối với thị trường bảo hiểm ViệtNam Từ đó đến nay, hệ thống pháp luật về lĩnh vực bảo hiểm nói chung và BHNTnói riêng luôn có sự thừa kế và phát triển nên đã từng bước điều chỉnh ngày càng tốthơn đối với thị trường BHNT Nếu ở Mỹ, hơn 90% dân số đều tham gia BHNT thì ởViệt Nam, con số đó chỉ là hơn 10% dân số tham gia BHNT (Báo cáo Bộ Tài chínhnăm 2020) Đây có thể coi là quá thấp, có thể vì thế mà BHNT được đánh giá là một
Trang 7Nam, nó vẫn được đánh giá là còn khá mới mẻ, và để đáp ứng những đòi hỏi củanền kinh tế và hội nhập quốc tế thì pháp luật về kinh doanh BHNT vẫn cần đượctiếp tục hoàn thiện hơn nữa.
Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phát sinh các quan hệ đặc biệt giữa doanhnghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Quan hệ này chính là quan hệ hợpđồng Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, ngoài đặc tính của một hợp đồng nói chung,còn có một số dặc trưng riêng do mang những đặc tính của dịch vụ tài chính, cónghĩa là liên quan đến quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểmnhân thọ Luật Kinh doanh bảo hiểm đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09/12/2000, đánh dấu mộtbước tiến quan trọng trong việc xây dựng pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kinh doanhbảo hiểm trong đó có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Bên cạnh những tác dụng tíchcực, thực tế áp dụng cho thấy những quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểmnhân thọ ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp, gây khó khăn cho cácdoanh nghiệp bảo hiểm, khó khăn cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thậmchí khó khăn cho cả phía người tiêu dùng sản phẩm và hạn chế sự phát triển lànhmạnh của thị trường bảo hiểm Cụ thể là hệ thống pháp luật về hợp đồng bảo hiểmnhân thọ vẫn thiếu các chế tài cần thiết đối trong việc giải quyết những tranh chấp
về giao dịch bảo hiểm xuất phát từ các hoạt động thiết kế, phân phối sản phẩm
BHNT, hoạt động đầu tư và quản lý tài chính… Vì vậy, tôi chọn đề tài “Hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam” làm đề tại Luận văn của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Với sự phát triển hàng trăm năm trên thế giới và hơn 20 năm ở Việt Nam thìnhững công trình nghiên cứu liên quan đến bảo hiểm nhân thọ cũng tương đối đadạng Có thể tạm chia các công trình nghiên cứu thành hai nhóm là công trình nướcngoài và các công trình trong nước Các công trình nghiên cứu của nước ngoài, chỉtập trung vào những vấn đề pháp lý của nước ngoài, hoặc trên bình diện khái quátchung, rất ít công trình đề cập đến thị trường BHNT Việt Nam cũng như hệ thốngpháp luật Việt Nam về hợp đồng BHNT, tuy vậy những nội dung lý luận cũng có
Trang 8giá trị tham khảo Đối với các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đềtài, các tác giả thường đề cập đến một hoặc một số khía cạnh về BHNT và pháp luậtkinh doanh BHNT với những mức độ khác nhau phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu
và công trình khoa học ấy
Ở Việt Nam, sau khi Luật Kinh doanh bảo hiểm ra đời năm 2000, các côngtrình nghiên cứu trong nước về BHNT lần lượt xuất hiện Trong đó phải kể đến các
tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm” của
GS.TSKH Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001), Nhà xuất bản Thống
kê, Hà Nội và “Giáo trình Bảo hiểm nhân thọ” của Đoàn Minh Phụng và Hoàng
Mạnh Cừ (2011), Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội Bên cạnh những tác phẩm trêncòn có một số công trình nguyên cứu là các luận văn, luận án của những học viên,
nghiên cứu sinh về kinh doanh BHNT và HĐBHNT, kể đến là “Một số vấn đề pháp
lý về hợp đồng bảo hiểm” của Nguyễn Văn Tó – Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2001,
Trường đại học Luật Hà Nội, “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn” của Trần Vũ Hải – Luận văn Thạc sĩ luật học 2005, Nhà xuất bản Tư
pháp, Hà Nội, “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam Những vấn
đề lý luận và thực tiễn” của Trần Vũ Hải – Luận án Tiến sỹ Luật học 2014, Trường
Đại học Luật Hà Nội, “Bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam” của Trịnh Thị
Bích Thủy - Luận văn Thạc sĩ ngành Luật kinh tế 2014, Khoa Luật – Trường Đạihọc Quốc Gia Hà Nội
Có thể thấy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án, bài viết liênquan đến BHNT nhưng những công trình này chủ yếu đề cập đến pháp luật vềBHNT nói chung hoặc pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nói riêng, rất ít công trìnhnghiên cứu về pháp luật về HĐBHNT, phải kể đến là các công trình nghiên cứu củatác giả Trần Vũ Hải Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của tác giả Trần Vũ Hải
về HĐBHNT chưa nghiên cứu một cách tổng quát, chuyên sâu, đánh giá một cáchtoàn diện về thực trạng xây dựng, áp dụng pháp luật, thực tế thực hiện HĐBHNT
Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ theo pháp
luật Việt Nam” với mong muốn có một công trình khoa học phân tích và tổng hợp
Trang 9một cách hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về HĐBHNT ở Việt Nam;đánh giá một cách toàn diện về thực trạng xây dựng và áp dụng pháp luật, từ đó đưa
ra một số kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về HĐBHNT cho phù hợp vớithực tế, góp phần để hoạt động quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểmđược thực hiện hiệu quả hơn trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận về hợpđồng BHNT, dựa trên cơ sở lý luận đó để đánh giá về thực trạng các quy định phápluật hiện hành Bên cạnh đó luận văn nêu và phân tích một số ví dụ thực tiễn vềtranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với mục đích phát hiện vàphân tích những khiếm khuyết của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở ViệtNam hiện nay để; từ đó, có những đề xuất, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng BHNT nhằm đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế và hội nhập quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng BHNT: khái niệm BHNT, kháiniệm và đặc điểm hợp đồng BHNT, nội dung, hình thức của hợp đồng BHNT vàchủ thể tham gia hợp đồng BHNT
- Đánh giá các nội dung pháp luật về hợp đồng BHNT, bao gồm những ưuđiểm và hạn chế, những bất cập của các quy định hiện hành về hợp đồng BHNT.Bên cạnh đó luận văn nêu và phân tích một số ví dụ thực tiễn về tranh chấp liênquan đến hợp đồng BHNT với mục đích phát hiện và phân tích những khiếm khuyếtcủa pháp luật về hợp đồng BHNT ở Việt Nam hiện nay để từ đó có những đề xuấtkiến nghị hoàn thiện
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về hợp đồng BHNT.Những giải pháp này cần bám sát và thể hiện đúng chủ trương của Đảng Cộng sảnViệt Nam và chính sách của Nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật nhằm thúcđẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm đáp ứng quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:
Trang 10- Hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng BHNT bao gồm: LuậtKinh doanh bảo hiểm, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm
và các văn bản khác có liên quan như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, LuậtThương mại,
- Các quan điểm khoa học các được các tác giả cá nhân và tổ chức công bốtrong các công trình nghiên cứu về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nói chung vànghiên cứu về hợp đồng BHNT nói riêng trong nước và quốc tế
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống quy định phápluật về hợp đồng BHNT ở Việt Nam kể từ khi có Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật học mang tính lý luận và dựatrên các quy định pháp luật hiện hành gắn với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đồngthời sử dụng một số phương pháp cơ bản như sau: Phương pháp tiếp cận và phântích các quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng; phương pháp thống kê; phươngpháp luật học so sánh; phương pháp lịch sử
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về mặt pháp lý và tổng kết thực tiễn vềHợp đồng BHNT ở Việt Nam chưa nhiều Đa số các công trình nghiên cứu chỉ đềcập đến một số khía cạnh về pháp luật kinh doanh BHNT mà chưa được nghiên cứuchặt chẽ về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Với những lý do trên, việc nghiên cứu cácquy định pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam và đưa ra nhữngđịnh hướng cũng như giải pháp nhằm hoàn thiện chế định pháp luật trong lĩnh vựcnày là vô cùng cần thiết, có ý nghĩa cả về phương diện lý luận và thực tiễn
Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồngbảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam Luận văn có thể làm tài liệu tham khảocho những công trình nghiên cứu tiếp theo, trong hoạt động giảng dạy và học tập.Bên cạnh đó, những kiến nghị của Luận văn cũng góp phần tác động đến những nhà
Trang 11hiểm nhân thọ Đồng thời, Luận văn cũng là cẩm nang pháp lý hữu ích cho nhữngcác chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam.
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT
VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng và phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Thị trường bảo hiểm là một bộ phận của thị trường tài chính, có vai tròquan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh cũng như cáclĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội Một bộ phận không thể thiếu của thịtrường bảo hiểm chính là thị trường bảo hiểm nhân thọ BHNT là nghiệp vụ bảohiểm cho trường hợp người bảo hiểm sống hoặc chết trong thời gian nhất địnhtheo thỏa thuận giữa bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Khái niệm BHNT đượchiểu tương đối thống nhất trong các tài liệu khoa hoặc và trong pháp luật của cácquốc gia trên thế giới [8]
Ở Việt Nam, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm
2010 và 2019 (sau đây gọi tắt là Luật kinh doanh bảo hiểm), khoản 12, Điều 3 cóđưa ra định nghĩa BHNT như sau: “BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trườnghợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” BHNT cũng đã từng xuất hiện trongthời kỳ Pháp thuộc và ở miền Nam trước năm 1975, tuy nhiên thì sau khi thốngnhất đất nước thị trường BHNT mới chính thức được tái lập Về mặt pháp lý,BHNT bắt đầu được quy định tại Nghị định số 100/NĐ-CP ngày 18/12/1993 củaChính phủ về kinh doanh bảo hiểm, nhưng trên thực tế, hoạt động kinh doanhBHNT chỉ thực sự được triển khai khi Quyết định số 281/BTC-TCNN của Bộtrưởng Bộ Tài chính ngày 20/2/1996 cho phép Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam làdoanh nghiệp được thí điểm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ với các nghiệp vụBHNT năm năm, mười năm và bảo hiểm trẻ em Cũng như đa số các sản phẩmbảo hiểm khác, nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được thực hiện thông qua
cơ chế hợp đồng giữa DNBH và bên mua bảo hiểm Về mặt lý thuyết, HĐBHNT làmột dạng của hợp đồng bảo hiểm
Trong pháp luật Việt Nam quy định về khái niệm hợp đồng bảo hiểm như
Trang 13sau: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệpbảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, DNBH phải trả tiềnbảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm” (Khoản 1 Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm) Tuy nhiên phápluật Việt Nam lại không đưa ra một khái niệm riêng cụ thể về HĐBHNT, do đó để
có thể đưa ra khái niệm về HĐBHNT ta cần xem xét những đặc trưng cơ bản củaloại hợp đồng này:
Thứ nhất, HĐBHNT có đối tượng là tuổi thọ của con người Đặc điểm nàyrất quan trọng và chi phối các đặc điểm khác Tuổi thọ của con người thể hiện ra bởiquá trình từ khi sống cho đến khi chết của người đó Trong hợp đồng bảo hiểm nhânthọ, nghĩa vụ khai báo đúng tuổi của người được bảo hiểm là rất quan trọng Căn cứvào độ tuổi của người được bảo hiểm, bên bảo hiểm sẽ xác định người đó có thuộcnhóm tuổi tham gia bảo hiểm hay không cũng như tính toán mức phí bảo hiểm phùhợp Về mặt lý thuyết, mức độ rủi ro sẽ khác nhau nếu người được bảo hiểm có độtuổi khác nhau Ngoài ra, tuổi thọ của con người còn phụ thuộc rất nhiều vào cácyếu tố khác nhau như sức khỏe, bệnh tật, gen di truyền, nếp sống, sinh hoạt hằngngày…, do vậy, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên, HĐBHNT thườngrất phức tạp, mà nguyên nhân chủ yếu là do tính phức tạp của đối tượng bảo hiểmtạo ra Bảo vệ cho tuổi thọ của con người trong nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ có haidạng cơ bản: Dạng thứ nhất là bảo vệ cho người thân của người được bảo hiểm vềmặt kinh tế, tức là nếu như người được bảo hiểm qua đời hoặc không còn khả nănglao động thì gia đình có được một khoản tiền bảo hiểm để bù đắp một phần nhữngthiếu hụt tài chính vì người được bảo hiểm mất đi hoặc mất đi sức lao động Dạngthứ hai là bảo vệ cho chính người được bảo hiểm sau khi kết thúc hợp đồng bảohiểm, tức là người được bảo hiểm sẽ nhận được một khoản tiền sau khi kết thúc hợpđồng và số tiền này được sử dụng để duy trì cuộc sống của họ hoặc để họ thực hiệnnhững mục tiêu nhất định
Thứ hai, trong HĐBHNT, sự kiện bảo hiểm không hoàn toàn gắn liền với rủi
ro Trong các hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền
Trang 14bảo hiểm của bên bảo hiểm chỉ phát sinh khi đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại Trongkhi đó, trong HĐBHNT, ngoài trường hợp khi người được bảo hiểm gặp rủi ro đượcbảo hiểm, trách nhiệm trả tiền của bên bảo hiểm còn phát sinh trong một số trườnghợp khác như hết thời hạn hợp đồng, hoàn phí hay trả giá trị hoàn lại.
Thứ ba, HĐBHNT là loại hợp đồng dài hạn Nếu thời hạn của các hợp đồngbảo hiểm phi nhân thọ có thể là dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn tùy theo sự thỏathuận của các bên và tùy thuộc vào đối tượng của hợp đồng thì hợp đồng bảo hiểmnhân thọ là loại hợp đồng dài hạn Tính dài hạn của HĐBHNT nhằm đảm bảo quyềnlợi cho các bên bảo hiểm trong hoạt động đầu tư đồng thời đáp ứng được mục đíchtiết kiệm của bên mua bảo hiểm Mặt khác, thời hạn hợp đồng dài hạn sẽ giúp bênmua bảo hiểm có khả năng nộp phí bảo hiểm
Thứ tư, HĐBHNT có tính tiết kiệm đối với bên mua bảo hiểm Tính tiết kiệmcủa HĐBHNT được thể hiện ở chỗ tham gia BHNT cũng giống như việc gửi tiếtkiệm, bên mua bảo hiểm dùng từng khoản tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, khi sựkiện bảo hiểm xảy ra, người thụ hưởng có thể có được khoản tiền lớn hơn Việc nộpphí bảo hiểm là nghĩa vụ theo thỏa thuận, đồng thời bên mua bảo hiểm không thểtùy tiên lấy lại các khoản phí đã nộp (điều này khác với việc gửi tiền tại ngân hàng),chính vì vậy tiết kiệm cho bên mua bảo hiểm những khoản chi tiêu không thật sựcần thiết Chính vì HĐBHNT có tính dài hạn và tính tiết kiệm, nên để đảm bảoquyền lợi cho các bên, HĐBHNT có nhiều điều khoản đặc trưng như thỏa thuận chovay của bên bảo hiểm, các quyền lợi của bên mua bảo hiểm để duy trì hợp đồng,việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm
Thứ năm, nội dung của HĐBHNT bao gồm các điều khoản mẫu TrongHĐBHNT, DNBH không hoàn toàn ban hành tất cả nội dung hợp đồng Một số nộidung trong hợp đồng vẫn có sự tham gia quyết định của bên mua bảo hiểm như sốtiền bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, người thụ hưởng, các sản phẩm bảo hiểm bổtrợ… Ngoài những nội dung trên, các nội dung còn lại trong HĐBHNT chi doDNBH đưa ra nên gọi là điều khoản mẫu, bên mua bảo hiểm nếu chấp nhận giao kếthợp đồng thì phải chấp nhận toàn bộ nội dung điều khoản mẫu Điều khoản mẫu có
Trang 15thể tạm chia thành hai loại là điều khoản mẫu theo luật và điều khoản mẫu theo ýchí của người ban hành Điều khoản mẫu theo pháp luật là điều khoản mẫu ghi nhậnnhững nội dung giống như quy định của pháp luật, trong trường hợp DNBH khôngđưa ra điều khoản mẫu này thì quyền và nghĩa vụ các bên vẫn thực hiện theo quyđịnh của pháp luật Điều khoản mẫu theo ý chí của người ban hành ghi nhận nhữngnội dung do chính ý chí người ban hành đưa ra mà pháp luật không quy định cụ thểnhưng cũng không cấm Nếu DNBH không đưa ra các điều khoản này thì không thểlàm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên tham gia hợp đồng.Loại điều khoản mẫu thứ này có ý nghĩa lớn đối với các bên, với DNBH, nội dungnhững điều khoản này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm bảo hiểm của họ so vớicác sản phẩm bảo hiểm tương tự của doanh nghiệp bảo hiểm khác, còn đối với bênmua bảo hiểm, đây là cơ đội để lựa chọn sản phẩm phù hợp nhất với mình.
Từ những đặc trưng riêng có trong HĐBHNT, cùng với bản chất của một loạihợp đồng bảo hiểm, có thể đưa ra khái niệm về HDBHNT như sau: Hợp đồng bảohiểm nhân thọ là văn bản ghi nhận sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm về việc DNBH cam kết bảo hiểm cho tuổi thọ của người được bảohiểm với điều kiện người mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúnghạn, DNBH sẽ trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởngnếu người được bảo hiểm sống hoặc chết trong thời gian thỏa thuận
Một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường bao gồm những văn bản, giấy tờ sau:
- Giấy yêu cầu bảo hiểm là một loại đơn yêu cầu bảo hiểm bao gồm tất cảcác thông tin cơ bản về nhân thân (tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, nghề nghiệp,sức khỏe và một số thông tin khác) của người được bảo hiểm hoặc người mua bảohiểm có liên quan đến việc yêu cầu mua bảo hiểm do đích thân hoặc đại diện hợppháp của bên mua bảo hiểm cung cấp cho DNBH Giấy yêu cầu bảo hiểm ghi nhận
sự chấp thuận giao kết hợp đồng của bên mua bảo hiểm thông qua việc điền đẩy đủcác thông tin nói trên, ký và ghi rõ họ tên của mình và của người được bảo hiểm(nếu có) Thông thường, các DNBH lưu lại bản gốc của Giấy yêu cầu bảo hiểmtrong bộ hồ sơ hợp đồng của mình và gửi bản sao cho khách hàng để có tài liệu đối
Trang 16chiếu khi cần thiết.
Giấy yêu cầu bảo hiểm là một bộ phận không thể thiếu của HĐBHNT và cógiá trị vô cùng quan trọng bởi nó chứa đựng các thông tin quan trọng về người đượcbảo hiểm và người tham gia bảo hiểm mà DNBH dựa vào các thông tin đó để đánhgiá rủi ro và ra quyết định chấp nhận bảo hiểm (bao gồm chấp nhận bảo hiểm vớimức phí tiêu chuẩn, chấp nhận với điều kiện: tính thêm phí phụ trội, thay đổi điềukiện hợp đồng…), trì hoãn chấp nhận bảo hiểm hay từ chối chấp nhận bảo hiểm.Điều đáng lưu ý ở đây là HĐBHNT phải dựa trên nguyên tắc “trung thực tuyệt đối”,DNBH hoàn toàn tin tưởng và căn cứ vào các thông tin mà người tham gia bảohiểm cung cấp, trong đó có thông tin về tuổi và sức khỏe của người tham gia bảohiểm cung cấp để giao kết và thực hiện hợp đồng Do vậy, khi mua bảo hiểm nếungười tham gia bảo hiểm kê khai thông tin không đầy đủ hoặc kê khai không trungthực về các thông tin mà DNBH đưa ra tại giấy yêu cầu bảo hiểm thì họ có thể sẽphải gánh chịu hậu quả bất lợi là hợp đồng bảo hiểm do họ đứng tên sẽ bị đình chỉthực hiện và DNBH có quyền không hoàn trả lại số phí bảo hiểm mà họ đã nộp
- Thông báo chấp nhận bảo hiểm (cũng có thể được thể hiện dưới hình thứcBìa hợp đồng): được phát hành sau khi doanh nghiệp bảo hiểm nhận được Giấy yêucầu bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, đánh giá rủi ro và chấp nhận bảo hiểm.Thông báo này thường có chữ ký của người đại diện hợp pháp của DNBH và conđấu của doanh nghiệp, là cơ sở pháp lý ghi nhận giới hạn phạm vi trách nhiệm củaDNBH trong việc thực hiện các cam kết của hợp đồng
- Điều khoản hợp đồng: đây là điều khoản mẫu được DNBH soạn sẵn vàđược cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm (Bộ Tài chính) phê chuẩn và đãđược khách hàng chấp nhận Nội dung của điều khoản mẫu sẽ không thay đổitrong suốt quá trình thực hiện hợp đồng (trừ khi có quy định của Nhà nước dẫnđến sự thay đổi)
- Điều kiện bảo hiểm: Văn bản này xác định rõ các điều kiện bảo hiểm cụthể của tưng hợp đồng như người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm,người được hưởng quyền lợi bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, ngày hợp đồng bắt
Trang 17đầu có hiệu lực, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm, định kỳ đóng phí và các thông
số, thông tin có liên quan khác
- Các phụ lục, giấy tờ khác kèm theo, các phụ lục này xác định rõ nhữngthông số về giá trị giao ước, số tiền bảo hiểm giảm, các loại trợ cấp theo hợp đồng
và các thay đổi trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng, các điều khoản bổ sung…
1.1.1.2 Phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Phân loại HĐBHNT có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định cơ chế điều chỉnhpháp luật đối với HĐBHNT HĐBHNT được phân loại theo nhiều cách khác nhau
và mỗi cách phân loại có ý nghĩa nhất định trong việc xác định quyền và nghĩa vụcủa các bên trong HĐBHNT
HĐBHNT có thể được phân loại theo tính chất của sự kiện bảo hiểm Theotiêu chí này, HĐBHNT bao gồm: bảo hiểm tử kỳ, hợp đồng bảo hiểm sinh kỳ vàhợp đồng bảo hiểm hỗn hợp
Hợp đồng bảo hiểm tử kỳ là loại HĐBHNT mà theo đó, nếu người được bảohiểm chết trong thời hạn thỏa thuận, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểmcho người thụ hưởng
Hợp đồng bảo hiểm sinh kỳ là loại HĐBHNT mà theo đó, nếu người đượcbảo hiểm sống đến hết thời hạn thỏa thuận, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảohiểm cho người thụ hưởng
Hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp là HĐBHNT kết hợp cả bảo hiểm tử kỳ và bảohiểm sinh kỳ Đây là loại sản phẩm chủ yếu trên thị trường bảo hiểm nhân thọ hiệnnay vì nó kết hợp được nhiều lợi ích dành cho bên mua bảo hiểm
HĐBHNT còn có thể được phân loại theo thời hạn hợp đồng, theo đó, HĐBHNT
có hai loại là HĐBHNT có thời hạn và HĐBHNT không xác định thời hạn
HĐBHNT có thời hạn là loại HĐBHNT mà các bên thỏa thuận trước thờihạn của hợp đồng Trong thời hạn đó hoặc khi kết thúc thời hạn, doanh nghiệp bảohiểm phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm
HĐBHNT không xác định thời hạn là loại HĐBHNT mà trách nhiệm bảohiểm của DNBH chỉ kết thúc khi người bảo hiểm chết hoặc người thụ hưởng đã
Trang 18nhận hết quyền lợi bảo hiểm Các nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng hợp đồng dạng này
là bảo hiểm trọn đời và bảo hiểm trả tiền định kỳ
Hợp đồng bảo hiểm trọn đời là HĐBHNT mà DNBH có trách nhiệm trả tiềncho người thụ hưởng nếu người được bảo hiểm chết vào bất cứ thời điểm nào
Hợp đồng bảo hiểm trả tiền định kỳ là loại HĐBHNT mà doanh nghiệp bảohiểm có trách nhiệm trả tiền định kỳ cho người thụ hưởng nếu người được bảohiểm sống hết thời gian đã thỏa thuận Việc trả tiền định kỳ này chỉ kết thúc khingười được bảo hiểm chết hoặc người thụ hưởng đã nhận hết quyền lợi bảo hiểm.Đây là nghiệp vụ bảo hiểm có một số nội dung tương tự như chế độ hưu trí trongbảo hiểm xã hội
1.1.2 Ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
HĐBHNT là một loại hợp đồng bảo hiểm trong đó DNBH cam kết chi trảmột khoản tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng nếu chẳng may người được bảo hiểmgặp phải các rủi ro liên quan đến sức khỏe, thân thể, tính mạng với điều kiện bênmua bảo hiểm đóng phí định kỳ đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.Mục đích chính của BHNT là bảo vệ con người trước những rủi ro bất ngờ, nhưngbên cạnh đó bảo hiểm nhân thọ còn kết hợp yếu tố tiết kiệm và đầu tư
BHNT đóng vai trò như tấm lá chắn của khách hàng trước mọi rủi ro bất ngờtrong cuộc sống Sở hữu một HĐBHNT sẽ giúp mỗi người có tinh thần thoải mái,gạt bỏ những lo lắng để hoàn thành và chinh phục những mục tiêu và kế hoạch đãđặt ra Bởi lẽ, khi có biến cố xảy ra, BHNT sẽ cùng chúng ta khắc phục những rủi ro
đó Trong cuộc sống, rủi ro là một điều không thể tránh khỏi, mỗi người cần trởthành trụ cột tài chính để vượt qua những khó khăn, thử thách để chủ động đối phóvới các tình huống xấu và tiếp tục thực hiện các kế hoạch trong tương lai Tham giaHĐBHNT là một cách đang thể hiện trách nhiệm với chính thân thể, sinh mạng củamình Bên cạnh đó, nếu một người biết cách tự chăm sóc bản thân cũng như lo chotương lai sau này của mình thì có lẽ người đó cũng sẽ làm tốt trách nhiệm của mìnhvới người thân trong gia đình Điều này thể hiện rất rõ khi tham gia HĐBHNT chongười trụ cột, nếu chẳng may rủi ro xảy ra, các DNBH sẽ thay mặt người trụ cột làm
Trang 19ra, việc đóng phí định kỳ sẽ giúp chúng ta hình thành thói quen chi tiêu tiết kiệm Vìkhông đóng phí đúng hạn, hợp đồng bảo hiểm sẽ bị chấm dứt, điều đó đồng nghĩavới việc mọi quyền lợi bảo hiểm cũng không được duy trì Nhận thức được điều đó,bản thân chúng ta sẽ có trách nhiệm hơn với việc đóng phí đúng thời hạn cũng nhưtiết kiệm cho tương lai Hơn nữa, nếu gắn việc tham gia bảo hiểm nhân thọ với một
kế hoạch tài chính dài hạn, quan trọng như cho con đi du học, mua nhà, mua xe,chuẩn bị cho cuộc sống sau khi về hưu… chúng ta sẽ có thêm động lực để duy trìthói quen tiết kiệm Vì vậy mà, ý nghĩa của HĐBHNT đối với cá nhân và gia đình làrất quan trọng:
- Bảo vệ tài chính của gia đình: Tham gia HĐBHNT là cách tốt nhất để dự
phòng tài chính của gia đình trước những rủi ro như bệnh tật, tai nạn, tử vong… Thực
tế cho thấy, chi phí khắc phục các rủi ro là một con số không hề nhỏ, đặc biệt các rủi
ro liên quan đến bệnh tật, tại nạn… phải nằm viện điều trị dài ngày Khi đó, BHNT sẽphát huy vai trò của mình, chi trả số tiền bảo hiểm kịp thời giúp người không maymắn và gia đình bù đắp tổn thất và nhanh chóng vượt qua được khó khăn
- Đảm bảo tài chính trong trường hợp rủi ro bất ngờ xảy ra: Lúc này,
BHNT sẽ lập tức biến thành trụ đỡ vững chắc thay thế khoản thu nhập bị mất đi củangười trụ cột
- Tạo dựng quỹ tiết kiệm cho tương lai: Nếu khách hàng may mắn không
gặp bất cứ rủi ro nào trong thời hạn hợp đồng, sẽ nhận lại quyền lợi đáo hạn Vớikhoản tiền nhận được từ quyền lợi này, khách hàng sẽ có một quỹ tích lũy để thựchiện các dự định trong tương lai như cho con đi du học, đầu tư, kinh doanh…
- Chuẩn bị tài chính cho hưu trí an nhàn: Sau những tháng ngày lao động
vất vả của tuổi trẻ, khi về già ai cũng mong muốn có những phút giây thư giãn đúngnghĩa bên con cháu mà không vướng bận về các chi phí hàng ngày BHNT sẽ giúpbạn có những ngày áp nghỉ dưỡng an nhàn thông qua việc chi trả một khoản tiềnbảo hiểm vào mỗi tháng Số tiền này có ý nghĩa rất lớn đối với độ tuổi nghỉ hưugiúp họ tự do về tài chính, tâm lý thoải mái mà không còn là gánh nặng của concháu khi về già
Ngoài những ý nghĩa đối với cá nhân và gia đình thì HĐBHNT còn có những
Trang 20ý nghĩa đặc biệt đối với xã hội, cụ thể:
- Huy động nguồn vốn nhàn rỗi: BHNT đã phát huy khả năng huy động
một nguồn vốn nhàn rỗi lớn của người tham gia để đầu tư dài hạn góp phần đáp ứngnhu cầu vốn cho nền kinh tế Với mô hình thu phí bảo hiểm trước và chi trả quyềnlợi bảo hiểm sau, một nguồn vốn lớn thu được từ phí bảo hiểm đã giúp cho cácDNBT đầu tư vào các lĩnh vực trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản, tiền gửi, góp vốnvào doanh nghiệp Khi nguồn vốn được sử dụng hiệu quả và tạo ra dòng luânchuyển nhanh sẽ giúp thúc đẩy kinh tế phát triển
- Góp phần kiểm soát rủi ro, hạn chế tổn thất và đảm bảo an toàn cho
nền kinh tế: Tham gia HĐBHNT là quyền lợi của mọi công dân, BHNT làm cho
cuộc sống con người được bảo đảm và phát triển một cách có kế hoạch Khi thamgia HĐBHNT chúng ta sẽ có một cuộc sống thoải mái hơn vì đã có sự đảm bảo nhấtđịnh của DNBH Hơn nữa, bằng cách tham gia, khách hàng sẽ được tiếp cận vớiđiều kiện khám chữa bệnh tốt hơn, chuẩn bị tài chính để nghỉ hưu an nhàn, cũngnhư chăm lo kế hoạch học vấn trong tương lai của các con Khi mỗi người trongcộng đồng ý thức hơn về sức khỏe và tài chính của mình thì xã hội được đảm bảo antoàn về con người và nền kinh tế
1.2 Cơ sở lý luận của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Pháp luật về HĐBHNT là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước banhành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng BHNT Pháp luật vềHĐBHNT có bản chất của luật tư Trong thị trường bảo hiểm, pháp luât vê HĐBHNTđóng vai trò là công cụ chính đảm bảo cho những hoạt động mua bán các sản phẩmBHNT được diễn ra trong trật tự Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnh cácquan hệ về HĐBHNT được quy định trong các văn bản pháp luật như: Luật kinhdoanh bảo hiểm, quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015, Trong hệthống các văn bản pháp luật về HĐBHNT, Bộ luật Dân sự chứa đựng những quyđịnh chung, áp dụng cho mọi quan hệ hợp đổng
Pháp luật về HĐBHNT mang đặc điểm chung của Luật hợp đồng, bao gồm:
Trang 21Thứ nhất, pháp luật về HĐBHNT mang tính chất luật tư điển hình: Pháp luật
về HĐBHNT thuộc lĩnh vực luật tư và mang tính điển hình bởi Nhà nước đặt ranhằm hướng dẫn, hỗ trợ và bảo vệ cho các quyền lợi của tư nhân và chỉ giới hạn cácquyền lợi này khi có lý do thực sự chính đáng từ phía cộng đồng
Thứ hai, pháp luật về HĐBHNT là một luật hỗ trợ Khi giao kết HĐBHNT,
các bên thiết lập luật giữa họ với nhau, khi hợp đồng đã được thiết lập, các bêntrong quan hệ hợp đồng đó phải tuân thủ các quy tắc xử sự mà họ đã đặt ra vớinhau Nếu vi phạm quy tắc xử sự đó, thì hợp đồng là nguồn đầu tiên để giải quyếttranh chấp và tòa án có thể áp dụng chế tài đối với người vi phạm
Thứ ba, pháp luật về HĐBHNT là một luật không đầy đủ HĐBHNT được
lập nên bởi ý chí của các bên, nên phạm vi của hợp đồng là rất rộng lớn Nhà làmluật không thể dự liệu được tất cả các loại HĐBHNT
Pháp luật về HĐBHNT điều tiết quan hệ giữa các bên trong HĐBHNT vàmang những chức năng, vai trò sau:
Thứ nhất, pháp luật về HĐBHNT trước hết có chức năng bảo vệ tự do lựa
chọn và tự định đoạt của con người Góp phần ngăn cản sự can thiệp bất chính đángcủa chính quyền vào quan hệ hợp đồng của các tư nhân
Thứ hai, pháp luật về HĐBHNT bảo đảm thực hiện các cam kết có trong HĐBHNT Thứ ba, pháp luật về HĐBHNT vô hiệu hóa các thỏa thuận không đủ tiêu
chuẩn Hợp đồng là nói tới tự do ý chí, tức là con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chícủa chính mình, tuy nhiên, sự tự do thái quá của một các nhân chống lại hoặc làmảnh hưởng đến cộng đồng Chức năng này góp phần quan trọng vào bảo vệ trật tựchung của cộng đồng và sự hợp tác giữa các cá nhân với nhau
Thứ tư, pháp luật về HĐBHNT cung cấp các giải pháp cho việc giải quyết
tranh nhấp bảo hiểm giữa các bên Việc xung đột quyền lợi là một vấn đề không thểtránh khỏi trong quan hệ hợp đồng và đôi khi diễn ra rất phức tạp và đa dạng vì vậynên pháp luật về HĐBHNT cung cấp các giải pháp cho các trường hợp tranh chấp
có thể xảy ra trong tương lai
Thứ năm, pháp luật về HĐBHNT đảm bảo sự công bằng giữa các bên Thông
Trang 22qua HĐBHNT các bên tham gia trao đổi lợi ích vì vậy mà sự ngang bằng về lợi ích
là cái mà mọi người đều hướng tới
Thứ sáu, pháp luật về HĐBHNT tạo điều kiện dễ dàng cho việc giao kết,
thực hiện HĐBHNT và giải quyết tranh chấp HĐBHNT [3]
1.2.2 Cấu trúc pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Mục tiêu của pháp luật về HĐBHNT là để bảo vệ người tiêu dung và đảmbảo những cam kết bảo hiểm của DNBH phải được thực hiện Do đó, các bộ phậnchính của pháp luật về HĐBHNT bao gồm các quy định về:
+ Chủ thể của HĐBHNT: Gồm bên mua bảo hiểm, DNBH và các chủ thểliên quan (người được bảo hiểm và người thụ hưởng)
+ Hình thức của HĐBHNT: Hình thức phải lập dưới hình thức văn bản.+ Nội dung của HĐBHNT: Quy định các điều khoản cơ bản phải có trongHĐBHNT và các điều khoản khác tùy theo mục đích của từ sản phẩm bảo hiểm
+ Hiệu lực của HĐBHNT: Pháp luật về HĐBHNT quy định rõ các trườnghợp HĐBHNT vô hiệu
+ Giao kết HĐBHNT: Pháp luật về HĐBHNT quy định các nguyên tắc khigiao kết HĐBHNT và quy trình giao kết với 3 bước (bên mua bảo hiểm thực hiện
kê khai thông tin, DNBH xác thực nội dung kê khai, DNBH ra quyết định có chấpnhận bảo hiểm hay không)
+ Thực hiện HĐBHNT: Pháp luật về HĐBHNT quy định về các quyền vànghĩa vụ của các bên khi HĐBHNT được xác lập và có hiệu lực
+ Chấm dứt HĐBHNT: Pháp luật về HĐBHNT quy định về các trường hợpchấm dứt hợp đồng
Trang 23dung thứ nhất bao gồm các nội dung Khái niệm, đặc trưng, phân loại và ý nghĩa hợpđồng bảo hiểm nhân thọ; nội dung thứ hai bao gồm các nội dung về khái niệm phápluật HĐBHNT, đặc điểm, vai trò của pháp luật về HĐBHNT; ngoài ra luận văn còn
đề cập đến cấu trúc pháp luật về HĐBHNT bao gồm các quy định về chủ thể, hìnhthức, nội dung và hiệu lực của HĐBHNT, giao kết, thực hiện và chấm dứt HĐBHNT.Nội dung chính của chương này đó là đưa ra những đặc điểm khác biệt của hợp đồngbảo hiểm nhân thọ với các loại hình bảo hiểm khác, phân loại các HĐBHNT và ýnghĩa của HĐBHNT đối với cá nhân và xã hội Bên cạnh đó, chương 1 còn đưa rakhái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về HĐBHNT và cấu trúc pháp luật vềHĐBHNT Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả dựa vào và tiến hành phân tíchthực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ởViệt Nam hiện nay
Trang 24Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
2.1 Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
2.1.1 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Chủ thể của HĐBHNT bao gồm hai bên là bên bảo hiểm và bên mua bảohiểm Ngoài ra, trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có các chủ thể liên quannhư người được bảo hiểm và người thụ hưởng
a Bên bảo hiểm
Bên bảo hiểm là chủ thể chấp nhận rủi ro của chủ thể khác trên cơ sở đượcnhận phí bảo hiểm Bên bảo hiểm trong HĐBHNT là DNBH kinh doanh trong lĩnhvực bảo hiểm nhân thọ Theo pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp kinh doanh bảohiểm nhân thọ không được đồng thời kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhânthọ, ngoại trừ các sản phẩm bổ trợ cho hoạt động kinh doanh chính (khoản 2 Điều
50 Luật kinh doanh bảo hiểm) Quy định này nhằm hạn chế những rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm
DNBH khi ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phải thỏa mãn các điều kiệnsau đây:
Thứ nhất, DNBH phải được thành lập và hoạt động hợp pháp ở Việt Nam.Điều kiện này xác định tư cách chủ thể của DNBH Doanh nghiệp phải được Bộ tàichính cấp giấy phép thành lập, hoạt động và giấy phép đó hiện còn có hiệu lực tạithời điểm giao kết hợp đồng
Thứ hai, người đại diện của DNBH phải có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ và có thẩm quyền đại diện cho doanh nghiệp bảo hiểm Người đại diện củadoanh nghiệp bảo hiểm thường có hai dạng là người đại diện giao dịch và ngườiđại diện ký kết
Người đại diện giao dịch là người cùng với bên mua bảo hiểm hoàn tất cả
thủ tục để ký kết hợp đồng Chủ thể này có thể là nhân viên của doanh nghiệp bảo
Trang 25hiểm hoặc đại lý bảo hiểm Về nguyên tắc, người đại diện giao dịch phải được đàotạo về chuyên môn và có sự ủy quyền từ DNBH.
Người đại diện ký kết là người có thẩm quyền ký vào văn bản hợp đồng để
xác nhận tính ràng buộc của hợp đồng đối với DNBH Chính vì vậy, người đại diện
ký kết thường là người đại diện đương nhiên của DNBH theo pháp luật (giám đốchoặc tổng giám đốc) hoặc người được sự ủy quyền của người đại diện
b Bên mua bảo hiểm
Bên mua bảo hiểm (hay còn được gọi là bên tham gia bảo hiểm) là chủ thểđứng tên trong HĐBHNT, đồng thời có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm Bên mua bảohiểm thường là cá nhân nhưng cũng không ngoại lệ bên mua bảo hiểm là tổ chức,nếu thỏa thuận các điều kiện đối với bên mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật.Các điều kiện này bao gồm:
Thứ nhất, bên mua bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Điều
kiện này đảm bảo rằng bên mua bảo hiểm phải là người thực sự có thể kiểm soátđược hành vi giao kết và thực hiện hợp đồng Được coi là có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ khi bên mua bảo hiểm từ đủ mười tám tuổi trở lên, không mắc các bệnhlàm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức Tuy nhiên, pháp luật một số quốc giacho phép người chưa thành niên ở độ tuổi nhất định được mua bảo hiểm nhưng phải
có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp, nếu như người này chứngminh được mình có khả năng tài chính để thực hiện việc này [1]
Thứ hai, bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm (hay
bên mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm) Quyền lợi có thể được bảo hiểm đượchiểu là những lợi ích của bên mua bảo hiểm về vật chất hoặc tinh thần đối với đốitượng được bảo hiểm Nếu đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại, thì đó được coi là tổnthất thực sự của bên mua bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm phải thỏa mãncác điều kiện sau đây:
Đầu tiên, quyền lợi có thể được bảo hiểm phải thực sự tồn tại tại thời điểmgiao kết hợp đồng Những quyền lợi đã chấm dứt không được coi là quyền lợi cóthể được bảo hiểm vì khi đó, bên mua bảo hiểm không thể có thiệt hại gì Ví dụ: Vợ
Trang 26cũ không thể mua bảo hiểm cho chồng đã ly hôn Những quyền lợi chưa phát sinhcũng không thể là quyền lợi có thể được bảo hiểm do không chắc chắn sẽ xảy ratrong tương lại.
Ngoài ra, quyền lợi có thể được bảo hiểm phải là quyền lợi hợp pháp Quyềnlợi không hợp pháp được hiểu là những lợi ích hình thành từ những quan hệ hoặchành vi không được pháp luật thừa nhận [9]
Điều kiện bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với hợp đồng bảo hiểm nói chung và HĐBHNT nói riêng.Mục đích của bảo hiểm chỉ đạt được nếu bên mua bảo hiểm có lợi ích bảo hiểm,tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm Điều kiện này trở thành một nguyên tắc tronghoạt động bảo hiểm trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Trong HĐBHNT, quyền lợi có thể được bảo hiểm được hiểu là lợi ích kinh tếhoặc lợi ích tinh thần của bên mua bảo hiểm Chính vì vậy, mối quan hệ giữa bênmua bảo hiểm và người được bảo hiểm có tính chất quyết định đến việc xác địnhxem bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm hay không Nếu giữa bênmua bảo hiểm và người được bảo hiểm là quan hệ thân thuộc gần gũi, thì mặc nhiênđược pháp luật thừa nhận là có lợi ích bảo hiểm Nếu không, chỉ được coi là có lợiích bảo hiểm nếu như bên mua bảo hiểm phải chịu tổn thất tài chính thật sự nếu rủi
ro xảy ra
Pháp luật Việt Nam chỉ rõ những người mà bên mua bảo hiểm có quyền lợi
có thể được bảo hiểm Theo quy định hiện hành (khoản 2 Điều 31 Luật kinh doanhbảo hiểm) bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây:
- Bản thân bên mua bảo hiểm
- Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;
- Anh, chị, em ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng;
- Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.Trường hợp “người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể đượcbảo hiểm” được hiểu là những người mà bên mua bảo hiểm có tổn thất thật sự khirủi ro xảy ra Ví dụ như người được giám hộ mà bên mua bảo hiểm là người giám
hộ, người lao động khi bên mua bảo hiểm là người sử dụng lao động, người đi vay
Trang 27khi bên mua bảo hiểm là người cho vay…
Thứ ba, bên mua bảo hiểm phải được sự chấp thuận của người được bảo
hiểm trong trường hợp bảo hiểm đối với cái chết của người này Đối với bảo hiểm
tử kỳ và bảo hiểm hỗn hợp, nếu người được bảo hiểm không đồng thời là bên muabảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chỉ được chuyển giao kết nếu có sựđồng ý của người được bảo hiểm Điều kiện này được đặt ra nhằm loại bỏ tìnhtrạng người thụ hưởng muốn trục lợi bất chính, có thể gây ra các rủi ro đạo đức.Bên cạnh đó, quyền sống của con người là quyền thiêng liêng, không ai có thểxâm phạm mà không có sự đồng ý của họ, trừ khi họ gánh chịu sự trừng phạt củapháp luật Chính vì vậy, tại khoản 1 Điều 38 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định:
“Khi bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường hợpchết của người khác thì phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong đó ghi rõ
số tiền bảo hiểm và người thụ hưởng”
Vì sự chấp thuận của người được bảo hiểm là sự thể hiện ý chí của người đó,
do vậy pháp luật thường cấm giao kết hợp đồng bảo hiểm con người trong trườnghợp chết mà người được bảo hiểm là những người không có năng lực hành vi dân
sự Điều kiện bên mua bảo hiểm phải có sự chấp thuận của người được bảo hiểmtrong trường hợp bảo hiểm tử kỳ được quy định khá phổ biến trong pháp luật cácnước Ví dụ tại Điều 42 Luật hợp đồng bảo hiểm Israel năm 1981 cũng quy định:
“Trong trường hợp bảo hiểm cho tử vong của người thứ ba không phải bên mua bảohiểm, hợp đồng phải có sự chấp thuận bằng văn bản của người đó, hoặc của ngườigiám hộ hợp pháp nếu người đó là trẻ em hoặc là người thiếu năng lực hành vi” [1]
c Những chủ thể liên quan trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Những chủ thể liên quan đến HĐBHNT là người được bảo hiểm và ngườithụ hưởng Những chủ thể này có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồngbảo hiểm nhân thọ giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, những chủthể này được coi là liên quan đến hợp đồng bởi lẽ những chủ thể này không phảinhững chủ thể ký kết hợp đồng, mà là những chủ thể có hành vi làm phát sinh quan
hệ hợp đồng Ngoài ra những chủ thể này được chỉ định cụ thể và có những quyền
Trang 28và nghĩa vụ nhất định, tuy nhiên những quyền và nghĩa vụ ấy chỉ phát sinh từ nhữngthỏa thuận của các bên ký kết hợp đồng.
Người được bảo hiểm là cá nhân có tuổi thọ là đối tượng bảo hiểm, ngườiđược bảo hiểm có thể đồng thời là bên mua bảo hiểm Nếu người được bảo hiểmkhông phải bên mua bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể đượcbảo hiểm đối với người được bảo hiểm Trong thực tế, độ tuổi của người được bảohiểm là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm Độ rủi ro
sẽ khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của người được bảo hiểm và sẽ luôn có độ tuổigiới hạn cho từng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Thậm chí, một số sản phẩm bảohiểm cũng chỉ áp dụng cho những độ tuổi xác định, vì vậy, Luật kinh doanh bảohiểm quy định về việc khai báo đúng tuổi là nghĩa vụ của người được bảo hiểm vàhậu quả của việc khai báo sai tuổi
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm, người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân đượcbên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm Khái niệm người thụ hưởng chỉ
có trong bảo hiểm con người vì trong nhiều trường hợp, đối tượng bảo hiểm gặp rủi
ro đồng nghĩa với người được bảo hiểm chết nên người được bảo hiểm không thểnhận tiền bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể chỉ định nhiều người thụ hưởng Hợpđồng bảo hiểm nhân thọ không nhất thiết phải chỉ định rõ người thụ hưởng, nếu hợpđồng không thỏa thuận về người thụ hưởng thì số tiền bảo hiểm sẽ được coi là tàisản của người được bảo hiểm
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm có thể thay đổi ngườithụ hưởng mà không nhất thiết phải có sự đồng ý của người này, chỉ cần có sự đồng
ý của người được bảo hiểm Tuy nhiên, những chủ thể được chỉ định là người đượcbảo hiểm hoặc người thụ hưởng có quyền từ chối tư cách này nếu họ không muốn
2.1.2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành có quy định về hình thức của hợp đồngbảo hiểm nói chung, trong đó có HĐBHNT Cụ thể quy định tại Điều 14, HĐBHNTphải được lập dưới hình thức văn bản, đồng thời quy định bằng chứng của việc giaokết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex,
Trang 29fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.
Quy định về hình thức văn bản đối với hợp đồng bảo hiểm có trong pháp luậthầu hết các quốc gia, ví dụ Theo Điều 13 Luật bảo hiểm Trung Quốc thì hợp đồngbảo hiểm phải được lập thành văn bản:
Doanh nghiệp bảo hiểm phải cấp cho người mua bảo hiểm trong thờigian hợp lý một hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm,trong đó phải chỉ ra các điều khoản và điều kiện theo thỏa thuận của cảhai bên Hợp đồng bảo hiểm cũng có thể có dạng văn bản khác với quyđịnh nêu trên nếu các bên đồng ý [1]
Như vậy, có thể thấy việc quy định hình thức văn bản đối với hợp đồng bảohiểm của pháp luật Việt Nam là phù hợp với quốc tế Tuy nhiên, quy định về hìnhthức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn những nhược điểm sau đây:
Một là, pháp luật còn thiếu sự ghi nhận những thành tố tạo nên hình thứccủa HĐBHNT Trên thực tế, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không chỉ có một vănbản duy nhất mà HĐBHNT thường bao gồm rất nhiều văn bản với những nội dungrất khác nhau như: Giấy đề nghị bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm chính, điều khoảnbảo hiểm riêng, đơn bảo hiểm, … Tổng hợp các văn bản này mới tạo thành hợpđồng bảo hiểm nhân thọ Do đó, pháp luật cần ghi nhận những loại giấy tờ nào làthành tố của HĐBHNT để đảm bảo cho người tham gia bảo hiểm biết rõ về quyền
và nghĩa vụ của mình
Hai là, pháp luật hiền hành không có quy định yêu cầu về cách thức in ấnHĐBHNT Trên thực tế, việc in cỡ chữ quá nhỏ hoặc màu sắc bị mờ trên các vănbản nhằm tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp bảo hiểm có thể làm người tham giabảo hiểm không chú ý, bỏ qua những điều khoản quan trọng, ảnh hưởng đến việcbảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm
2.1.3 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Bất kỳ một loại hợp đồng nào muốn có hiệu lực phải đảm bảo các điềukiện nhất đinh của pháp luật Thông thường, người ta quan tâm đến ba điều kiệnsau: điều kiện về năng lực chủ thể, nội dung và hình thức của hợp đồng Về mặt
Trang 30pháp lý, nội dung của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng bảo hiểm nóiriêng là các điều khoản qua đó xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bêngiao kết hợp đồng.
Điều khoản cơ bản là điều khoản ghi nhận nội dung cơ bản chủ yếu của hợpđồng Vì vậy, các bên phải thỏa thuận với nhau về điều khoản này thì hợp đồng mớiđược coi là giao kết Cơ sở để xác định điều khoản này là do các bên thỏa thuậnhoặc trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc dựa vào bản chất vànội dung của hợp đồng Điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm nói chung vàHĐBHNT nói riêng không phải do doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểmthỏa thuận mà do pháp luật quy định Điều khoản này đều được Luật bảo hiểm củacác nước đề cập đến mặc dù không hoàn toàn giống nhau Điều này xuất phát từ đặcđiểm của HĐBHNT và với mục đích cao nhất là bảo vệ người tiêu dùng sản phẩmnhằm tránh trường hợp DNBH đưa ra những điều khoản bất lợi cho bên mua bảohiểm Theo pháp luật Việt Nam, khoản 1 Điều 13 Luật kinh doanh bảo hiểm quyđịnh về điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm bảo gồm:
a) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, ngườiđược bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;d) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;
đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;
i) Các quy định giải quyết tranh chấp;
k) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Đây là những nội dung cơ bản, bắt buộc phải có trong một HĐBHNT, nếuthiếu một trong các nội dung này thì HĐBHNT không thể được coi là đã hình thành
và vì vậy quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng này chưa phát sinh
Trang 31Bên cạnh việc quy định về các nội dung cơ bản nói trên của hợp đồng bảo hiểm,Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam còn cụ thể hóa các điều khoản này bằngviệc quy định rõ về đối tượng được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, điều khoản loạitrừ trách nhiệm bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí và giải quyếttranh chấp, thời hạn và phương thức trả tiền bảo hiểm nhằm bảo vệ lợi ích chínhđang của bên mua bảo hiểm Cụ thể như sau:
- Tên, địa chỉ của Doanh nghiệp bảo hiểm; bên mua bảo hiểm; người đượcbảo hiểm và người thụ hưởng: Nội dung này nhằm xác định tư cách pháp lý của cácbên trong hợp đồng Đối với DNBH, phải ghi rõ tên giao dịch, địa chỉ trụ sở, tên vàchức vụ người đại diện kí kết Đối với bên tham gia bảo hiểm phải ghi rõ tên và địachỉ Ngoài ra, tên và địa chỉ về chủ thể liên quan khác trong hợp đồng như ngườiđược bảo hiểm (nếu không đồng thời là bên mua bảo hiểm và người thụ hưởng cũngphải được ghi nhận vào hợp đồng
- Về đối tượng được bảo hiểm được quy định tại Điều 31 của Luật kinhdoanh bảo hiểm xác định đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là tuổi thọ,tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người
- Về số tiền bảo hiểm của HĐBHNT: Thực chất đây là hạn mức trách nhiệmtối đa mà DNBH phải thanh toán cho khách hàng khi rủi ro được bảo hiểm phátsinh Điều 32 của Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Số tiền bảo hiểm hoặcphương thức xác định số tiền bảo hiểm được bên mua bảo hiểm và doanh nghiệpbảo hiểm thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm”
- Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm: Đây là các điều khoản xác địnhphạm vi của DNBH, các điều kiện đối với đối phương bảo hiểm và các điều khoảnliên quan khác Nội dung của điều khoản này phụ thuộc vào loại hình và đặc trưngriêng của từng sản phẩm
- Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm: Điều 16 Luật kinh doanh bảohiểm quy định:
1 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanhnghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảohiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm; 2 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo
Trang 32hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm Doanh nghiệp bảohiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng;Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong cáctrường hợp sau đây: a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý; b)Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo chodoanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Về thời hạn bảo hiểm: Đặc trưng của BHNT khác so với các loại hình dịch
vụ khác, đó là trách nhiệm bảo hiểm chỉ phát sinh sau khi DNBH đã nhận được phíbảo hiểm đầu tiên từ phía mua bảo hiểm và chấp nhận bảo hiểm, nói cách khác là sựđảm bảo của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trở thành điều ràng buộc khi bên doanhnghiệp đã nhận được phí bảo hiểm Điều này thể hiện rõ tại Điều 15 của Luật kinhdoanh bảo hiểm:
Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi có một trong những trường hợp sauđây: Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng
đủ phí bảo hiểm; Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏathuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên muabảo hiểm nợ phí bảo hiểm; Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đãđược giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm
- Về mức phí bảo hiểm và phương thức đóng phí bảo hiểm: Do đặc điểm củaBHNT là thời hạn bảo hiểm dài và việc đóng phí đại đa số được thực hiện theophương thức tích lũy dần dần, tức là đóng dần theo một định kỳ đã thỏa thuận trước(theo tháng, theo quý, nửa năm hoặc 1 năm), pháp luật cũng có những cơ chế tạođiều kiện thuận lời cho bên mua bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình
Đó là quy định cho phép bên mua bảo hiểm được gia hạn nộp phí trong một thờigian nhất định Bởi lẽ do thời hạn bảo hiểm dài và việc đóng phí cũng diễn ra trongmột thời gian rất dài, do vậy có nhiều trường hợp khách hàng vì bận công việc màquên đóng phí hoặc do khó khăn tạm thời về tài chính mà chậm trễ trong việc đóngphí, để tạo điều kiện cho khách hàng duy trì hợp đồng vì lợi ích chung của hai bên,doanh nghiệp bảo hiểm cần cho gia hạn một khoảng thời gian để khách hàng có thể
Trang 33đóng phí Tuy nhiên, pháp luật cho phép DNBH đình chỉ thực hiện hợp đồng nếukhách hàng vẫn không nộp phí sau khi hết thời gian gia hạn để đảm bảo lợi kích củadoanh nghiệp bảo hiểm Nội dung trên được quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật kinhdoanh bảo hiểm:
Trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảohiểm đã đóng một hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóngđược các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phươngđình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm không có quyền đòi lạikhoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đã đóng phí bảo hiểm dưới hainăm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
- Về thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường: Đây được coi
là một nội dung quan trọng vì nó có liên quan trực tiếp tới quyền lợi cơ bản của bênmua bảo hiểm, do vậy được pháp luật quy định khá chi tiết Luật kinh doanh bảohiểm quy định rất rõ về thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm và thời hạn trả tiền bảohiểm theo nguyên tắc giãn cách thời gian phù hợp để bảo vệ quyền lợi của ngườitiêu dung, đồng thời cho doanh nghiệp bảo hiểm một thời gian nhất định để có thểgiám định tổn thất và thực hiện giải quyết quyền lợi bảo hiểm, cụ thể quy định tạiĐiều 28 và Điều 29 Luật kinh doanh bảo hiểm
- Về các quy định giải quyết tranh chấp: Do tính chất đặc thù của bảo hiểmnói chung và BHNT nói riêng nên pháp luật các nước đều quy định một khoảng thờigian hợp lý thường là 3 năm để các bên tham gia có quyền khởi kiện về hợp đồng.Điều 30 Luật kinh doanh bảo hiểm cũng quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng
là ba năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp
- Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng: Đây là căn cứ nhằm xác định thời điểmgiao kết hợp đồng, từ đó xác định hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đối vớicác bên Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì thời điểm giao kết hợpđồng là một trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH
Ngoài các điều khoản cơ bản nói trên, các DNBH còn có thể đưa vào một số
Trang 34nội dung của HĐBHNT các điều khoản sau: khôi phục hiệu lực hợp đồng, khôiphục số tiền bảo hiểm, thay đổi người tham gia bảo hiểm, quyền lợi sau bảo hiểm…tùy theo từng sản phẩm bảo hiểm và mục đích thiết kế sản phẩm Tuy vậy, có mộtvài nội dung ít được pháp luật quy định cụ thể nhưng theo thông lệ quốc tế lại rấtphổ biến và thường được doanh nghiệp bảo hiểm đưa vào điều khoản được coi làcác điều khoản đặc thù của HĐBHNT, bao gồm:
- Thỏa thuận về thời gian cân nhắc: Đây là thỏa thuận trong HĐBHNT màtheo đó, sau khi hợp đồng có hiệu lực thì bên mua bảo hiểm có một khoảng thờigian để xem xét, cân nhắc về quyết định mua bảo hiểm của mình Bởi lẽ,HĐBHNT khá phức tạp và thời hạn thực hiện lâu dài, bên mua bảo hiểm sau khi
có được hợp đồng mới có điều kiện để nghiên cứu, xem xét và đôi khi nhận rarằng tham gia bảo hiểm là không thích hợp nên việc thỏa thuận về thời gian cânnhắc là phù hợp Nếu bên mua bảo hiểm quyết định không tham gia hợp đồng thìhợp đồng sẽ chấm dứt, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hoàn lại số phí đã nộp sau khitrừ đi các khoản chi phí hợp lý có liên quan Khoảng thời gian cân nhắc tùy thuộcvào từng doanh nghiệp bảo hiểm nhưng thường được quy định từ 14 đến 21 ngày
kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực Ví dụ như đối với sản phẩm
“Hành trình hạnh phúc” của công ty bảo hiểm nhân thọ Manulife Việt Nam quyđịnh về thời gian cân nhắc tại Điều 12:
Trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận Hợp đồng, Bên mua bảo hiểm cóquyền từ chối tham gia bảo hiểm bằng cách gửi văn bảo thông báo đếnManulife, kèm theo các hóa đơn thu phí bảo hiểm (nếu có) và Bộ hợpđồng Manulife sẽ hoàn trả phí bảo hiểm đã đóng, không có lãi, saukhi trừ đi chi phí khám, xét nghiệm y khoa (nếu có) Quyền lợi này chỉđược áp dụng khi Manulife chưa nhận được yêu cầu giải quyết quyềnlợi bảo hiểm [21]
- Thỏa thuận về miễn truy xét: Đây là thỏa thuận trong HĐBHNT mà theo
đó, sau một khoảng thời gian nhất định kể từ khi HĐBHNT có hiệu lực hoặc phụchồi hiệu lực, DNBH sẽ không truy xét trách nhiệm của bên mua bảo hiểm nếu bên
Trang 35mua bảo hiểm vô ý kê khai không chính xác khi giao kết hợp đồng bảo hiểm nhânthọ Thời hiệu miễn truy xét này thường được các DNBH quy định là 02 năm Thỏathuận này nhằm bảo đảm quyền lợi cho bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm,bởi lẽ những nội dung kê khai mà DNBH yêu cầu rất nhiều và phức tạp, không phảilúc nào các chủ thể tham gia cũng có thể kê khai một cách chính xác hoặc đầy đủ.
Ví dụ tương tự tại sản phẩm “Hành trình hạnh phúc” của Manulife Việt Nam, điềukhoản miễn truy xét quy định tại điều 25:
Ngoại trừ trường hợp kê khai sai về tuổi và/hoặc giới tính như quy địnhtại Điều 24 hoặc cố ý cung cấp thông tin không trung thực hoặc khôngđầy đủ như quy định tại điều 23, trong khi hợp đồng vẫn còn hiệu lực,việc Bên mua bảo hiểm và/hoặc Người được bảo hiểm kê khai khôngchính xác hoặc bỏ sót các thông tin trong Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm hoặccác mẫu đơn, bản kê khai liên quan đến việc thẩm định và chấp thuậnbảo hiểm của Manulife sẽ không làm cho Hợp đồng bị hủy bỏ nếu Hợpđồng đã có hiệu lực ít nhất hai mươi bốn (24) tháng kể từ ngày cấp hợpđồng hoặc kể từ ngày khôi phục hiệu lực hợp đồng gần nhất, tùy thuộcvào ngày nào đến sau Điều khoản này sẽ không áp dụng trong trườnghợp bên mua bảo hiểm và/hoặc người được bảo hiểm cố ý không kê khaihoặc không cung cấp đầy đủ và trung thực những thông tin mà nếu biếtđược các thông tin đó, Manulife sẽ tạm hoãn hoặc từ chối bảo hiểm [20]
- Thỏa thuận gia hạn nộp phí: Điều khoản gia hạn nộp phí là thỏa thuận màtheo đó, DNBH cho bên mua bảo hiểm chậm nộp phí sau khi đến hạn Luật kinhdoanh bảo hiểm có quy định tại Khoản 2 Điều 35, thời gian gia hạn nộp phí là 60ngày kể từ ngày đến hạn, nếu hết thời gian gia hạn mà bên mua bảo hiểm vẫn khôngnộp phí và không có thỏa thuận khác thì DNBH có quyền chỉ định hợp đồng
- Thỏa thuận về từ bỏ thu phí: Đây là thỏa thuận được DNBH đưa vào nộidung hợp đồng mà theo đó, bên mua bảo hiểm sẽ không phải tiếp tục nộp phí bảohiểm trong những trường hợp nhất định như bên mua bảo hiểm chết hoặc thương tậttoàn bộ và vĩnh viễn, người được bảo hiểm mắc bệnh hiểm nghèo, Điều khoản từ
Trang 36bỏ thu phí có thể được cung cấp trong sản phẩm bảo hiểm chính hoặc sản phẩm bảohiểm bổ trợ Có thể nói đây là điều khoản nhân văn, có tính bảo hiểm rất cao Mặc
dù bên mua bảo hiểm không phải nộp phí nhưng hợp đồng bảo hiểm vẫn duy trì hếtthời hạn bảo hiểm
- Thỏa thuận về giá trị hoàn lại: Giá trị hoàn lại là số tiền mà DNBH sẽ trảcho bên mua bảo hiểm khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực mà không thuộc trường hợptrả tiền bảo hiểm Về lý thuyết, do hầu hết các sản phẩm BHNT đều có tính tiếtkiệm nên khi đến một thời điểm nhất định, số tiền bảo hiểm đã nộp nhiều hơn so vớitổng mức phí bảo hiểm tự nhiên thì hợp đồng có giá trị hoàn lại Về bản chất thì sốtiền đó thuộc về bên mua bảo hiểm nên phải được trả cho bên mua bảo hiểm ĐểDNBH có thể bù đắp được chi phí khai thác và duy trì hợp đồng, pháp luật quy địnhbên mua bảo hiểm chỉ có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng và nhận giá trị hoàn lạisau một thời gian nhất định theo quy định pháp luật hoặc theo thỏa thuận Luật kinhdoanh bảo hiểm không quy định trực tiếp định nghĩa giá trị hoàn lại và khi nào hợpđồng bảo hiểm có giá trị hoàn lại, nhưng thông qua các quy định tại khoản 2 Điều
34, khoản 3 Điều 35, khoản 3 Điều 39 có thể nhận thấy hợp đồng bảo hiểm nhânthọ có giá trị hoàn lại sau 02 năm kể từ khi thực hiện việc đóng phí
- Thỏa thuận về việc cho vay giá trị hoàn lại: Đây l thỏa thuận mà theo đó,DNBH sẽ cho khách hàng vay một số tiền nhất định kể từ khi hợp đồng bảo hiểm đã
có giá trị hoàn lại Việc cho vay giúp cho bên mua bảo hiểm đảm bảo cuộc sốngnhưng vẫn duy trì được hợp đồng Số tiền vay thường không vượt quá một tỷ lệnhất định trên giá trị hoàn lại Một trong những thỏa thuận vay là việc nộp phí bảohiểm tự động Trong quá trình thực hiện hợp đồng, có thể có những khó khăn tàichính làm cho bên mua bảo hiểm chưa thể nộp phí bảo hiểm đúng hạn và trong thờigian gia hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tự động cho bên mua bảo hiểm vay tiềntrong phạm vi giá trị hoàn lại để nộp phí bảo hiểm
- Thỏa thuận khôi phục hiệu lực hợp đồng: Thỏa thuận này thường đượcDNBH ghi nhận mà theo đó, sau khi hợp đồng đã bị DNBH đơn phương đình chỉ(do bên mua bảo hiểm không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm trong thời
Trang 37gian thỏa thuận hoặc thời gian gia hạn đóng phí) được khôi phục lại nếu bên muabảo hiểm đề nghị được tiếp tục thực hiện hợp đồng và được DNBH chấp nhận Vì
đa số sản phẩm BHNT vừa có yếu tố bảo hiểm vừa có yếu tố tiết kiệm nên DNBHthường thỏa thuận về việc khôi phục hiệu lực trong HĐBHNT Việc khôi phục chỉđược thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định để đảm bảo những nội dunghợp đồng vẫn còn phù hợp với các bên Chính vì thế, Luật kinh doanh bảo hiểmcho phép các bên khôi phục hiệu lực hợp đồng trong thời hạn 2 năm kể từ ngàyhợp đồng bị đình chỉ (Khoản 4 điều 35 Luật kinh doanh bảo hiểm) Sau khi khôiphục hiệu lực thì hợp đồng được coi là luôn có hiệu lực kể từ ngày ký kết, tuynhiên bên mua bảo hiểm phải đóng đủ phí bảo hiểm và các nghiệp vụ tài chínhkhác phát sinh trong thời gian đình chỉ hợp đồng Tuy vậy, nếu bên mua bảo hiểmkhông thực hiện nghĩa vụ này thì vẫn có thể được DNBH chấp nhận khôi phụchiệu lực nhưng ngày có hiệu lực bị dời lại một khoảng thời gian tương ứng vớikhoảng thời gian không đóng phí
- Thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng: Đây là thỏa thuận mà theo đó, bênmua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng cho người khác Luật kinh doanhbảo hiểm quy định về việc chuyển nhượng hợp đồng chỉ có hiệu lực trong trườnghợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho DNBH về việc chuyển nhượng
và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừtrường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế Việc chuyểnnhượng tạo điều kiện cho bên mua bảo hiểm rời khỏi hợp đồng nhưng vẫn đảm bảoquyền lợi cho DNBH và người thụ hưởng Vì vậy, người nhận chuyển nhượng làbên mua bảo hiểm kể từ thời điểm chuyển nhượng và hội tụ đầy đủ các điều kiệncủa bên mua bảo hiểm theo quy định pháp luật
2.1.4 Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Luật kinh doanh bảo hiểm không có quy định cụ thể về hiệu lực củaHĐBHNT, có nghĩa là sẽ áp dụng các quy định chung của pháp luật về hợp đồngđối với HĐBHNT Theo như quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, thời điểm phátsinh hiệu lực là do các bên thỏa thuận, trong trường hợp các bên không có thỏa
Trang 38thuận thì là thời điểm giao kết hợp đồng Tuy nhiên, luật kinh doanh bảo hiểm lạiquy định rõ các trường hợp hợp đồng vô hiệu tại điều 22: (a) Bên mua bảo hiểmkhông có quyền lợi có thể được bảo hiểm; (b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảohiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại; (c) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảohiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra; (d) Bên mua bảo hiểmhoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm; (đ)Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm thì nếu một bên cố ýcung cấp sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên kia có quyền đơnphương đình chỉ thực hiện hợp đồng Nếu bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin sai
sự thật thì DNBH có quyền thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ hợp đồng Tuynhiên, trong trường hợp DNBH cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kếthợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiệnhợp đồng bảo hiểm; DNBH phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảohiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật Về bản chất, hành vi cố ý cung cấp saithông tin, sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm là hành vi lừa dối khi giaokết hợp đồng, theo Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định: “Lừa dối trong giao dịchdân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kiahiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sựnên đã xác lập giao dịch đó” Bên cạnh đó, Điều 22 của Luật kinh doanh bảo hiểmcũng quy định hợp đồng bảo hiểm vô hiệu khi bên mua bảo hiểm hoặc doanhnghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm và việc xử lýhợp đồng bảo hiểm vô hiệu được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự và cácquy định khác của pháp luật có liên quan Như vậy có thể thấy, đối với hành vi cungcấp sai thông tin sự thật có thể được điều chỉnh bởi Điều 19 hoặc Điều 22 của Luậtkinh doanh bảo hiểm, tuy nhiên hai cách xử lý của hai điều luật trên chưa trùng hợp,điều này gây lúng túng cho các bên tham gia HĐBHNT cũng như đối với các cơquan giải quyết tranh chấp [5]
2.1.5 Giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trang 392.1.5.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
- Các nguyên tắc chung trong giao kết hợp đồng dân sự
Theo Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, điều kiện có hiệu lực của giao dịchdân sự là (a) chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợpvới giao dịch dân sự được xác lập; (b) chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn
tự nguyện; (c) mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấmcủa luật, không trái đạo đức xã hội
Hợp đồng dân sự là kết quả của quá trình giao kết, do đó, việc giao kết hợpđồng dân sự phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Theo quy định tại Điều
3 “Bộ luật dân sự 2015” thì việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo nhữngnguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Cụ thể như sau:
- Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạođức xã hội Tham gia quan hệ hợp đồng, các chủ thể nhằm đạt được những lợi íchnhất định Xuất phát từ lợi ích mà chủ thể mong muốn được thỏa mãn, các chủ thểtham gia các hợp đồng dân sự khác nhau Pháp luật dân sự tôn trọng sự tự do giaokết hợp đồng của chủ thể và ghi nhận thành nguyên tắc Theo nguyên tắc này, cácchủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có sự tự do ý chí trong việc lựa chọn hợp đồng
mà mình giao kết, tự do lựa chọn chủ thể giao kết, tự do lựa chọn các quyền vànghĩa vụ trong quá trình giao kết Không một chủ thể nào được phép can thiệp tráipháp luật vào sự tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể tham gia hợp đồng
- Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngaythẳng khi giao kết hợp đồng Theo nguyên tắc này, khi tham gia giao kết hợp đồng,các bên hoàn toàn tự nguyện Khi giao kết hợp đồng, không bên nào được áp đặt,cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Mọi hành vi tác động làm ảnhhưởng đến sự tự nguyện của chủ thể có thể làm cho hợp đồng dân sự mà các chủ thểgiao kết bị vô hiệu
HĐBHNT cũng là một loại giao dịch dân sự vì thế để có hiệu lực theo phápluật thì HĐBHNT cũng cần thỏa mãn các nguyên tắc trên
- Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Đây là bổn phận khai báo đầy đủ và chính
Trang 40xác tất cả các yếu tố quan trọng, dù được yêu cầu hay không yêu cầu khai báo.Nguyên tắc trung thực tuyệt đối là một yêu cầu cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm nóichung, trong đó có BHNT Đối với các DNBH, nguyên tắc này sẽ giúp DNBH giảmchi phí điều tra rủi ro và tăng trách nhiệm của người được bảo hiểm Đối với ngườiđược bảo hiểm, họ sẽ đỡ mất thời gian và công sức tìm hiểu về DNBH và sản phẩmcần mua Theo nguyên tắc này, bên biết thông tin quan trọng liên quan đến giaodịch mua bán mà mình tham gia sẽ phải thông báo cho bên đối tác biết Ví dụ vềtình trạng sức khỏe của người được bảo hiểm, có mắc các bệnh hiểm nghèo hoặctiền sử bệnh của người được bảo hiểm Thông thường thì bên mua bảo hiểm vàngười được bảo hiểm (nếu đã thành niên) phải khai báo các yếu tố quan trọng khi cóyêu cầu bảo hiểm Việc khai báo phải hoàn thành trước khi hợp đồng bảo hiểm kýkết Ngược lại, DNBH cũng phải công khai những thông tin liên quan đến phạm vihoạt đồng, điều khoản sản phẩm và khả năng tài chính của mình.
- Nguyên tắc hợp đồng không được trái pháp luật hay nói cách khác là hợpđồng phải có mục đích hợp pháp, riêng với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nguyên tắcnày được hiểu là nguyên tắc “Quyền lợi có thể được bảo hiểm”, đây là một nguyêntắc riêng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và cũng là một trong những điều kiện đểtrở thành bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Để được cấp hợpđồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm phải đáp ứng quy định
về quyền lợi có thể được bảo hiểm đã được quy định trong luật Nếu doanh nghiệpbảo hiểm xác định thấy giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm không cóquyền lợi bảo hiểm theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽkhông phát hành hợp đồng
Ngoài quy định của pháp luật, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm lại có hệ thốngcác tiêu chuẩn riêng trong đó có nội dung về quyền lợi có thể được bảo hiểm vàthường được quy định dưới dạng các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro Như vậy, nếu mộtyêu cầu bảo hiểm thỏa mãn quy định của pháp luật nhưng không thỏa mãn quy địnhriêng khắt khe của doanh nghiệp bảo hiểm về quyền lợi có thể được bảo hiểm thìcũng có thể bị từ chối chấp nhận bảo hiểm
Đối với trường hợp cá nhân mua bảo hiểm cho chính cuộc sống của mình,