1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài theo pháp luật việt nam

115 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Luận văn nghiên cứu thực trạng pháp luật về hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện từ năm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHAN THỊ PHƯƠNG THẢO

HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC

NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHAN THỊ PHƯƠNG THẢO

HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC

NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THANH

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

PHAN THỊ PHƯƠNG THẢO

Trang 4

CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI

VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI 8 1.1 Khái quát về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh

ngân hàng thương mại nước ngoài 8

1.1.1 Bản chất và đặc điểm của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài 8 1.1.2 Hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại

nước ngoài 16 1.1.3 Hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài 18

1.2 Pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh

ngân hàng thương mại nước ngoài 20

1.2.1 Cơ chế điều chỉnh pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay

của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài 20 1.2.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho

vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài 22 1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và cho vay của chi

nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài 30 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

VÀ CHO VAY CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 37 2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của chi nhánh ngân

hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 37

Trang 5

2.2 Thực trạng pháp luật qua thực tiễn hoạt động huy động vốn của

chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 40

2.2.1 Pháp luật về hình thức huy động vốn và chủ thể tham gia vào quan hệ huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam qua thực tiễn thực hiện 40

2.2.2 Pháp luật về trình tự thủ tục huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam qua thực tiễn thực hiện 44

2.3 Thực trạng pháp luật qua thực tiễn hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 46

2.3.1 Pháp luật về chủ thể, điều kiện, hình thức cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 46

2.3.2 Qui định về hợp đồng cho vay trong hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 54

2.3.3 Pháp luật về trình tự thủ tục cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 56

2.4 Đánh giá ưu và nhược điểm của pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 57

2.4.1 Ưu điểm 57

2.4.2 Nhược điểm 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 73

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 73

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam phù hợp chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển hệ thống tài chính ngân hàng 73

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam nhằm đảm bảo yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 75

Trang 6

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy vốn và cho vay của chi nhánh

ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam theo hướng khắc phục những bất cập, hạn chế về pháp luật phù hợp với thực tiễn trên cơ sở đó tạo tính

khả thi cho các văn bản pháp luật 77

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 78

3.2.1 Xem xét và sửa đổi, bổ sung quy định cho người nước ngoài được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, Việt Nam đồng 78

3.2.2 Sửa đổi, điều chỉnh quy định pháp luật về lãi suất cho vay 78

3.2.3 Sửa đổi quy định về hạn mức tín dụng của chi nhánh ngân hàng nước ngoài 80

3.2.4 Sửa đổi quy định về các đối tượng bị cấm cho vay, hạn chế cho vay 80

3.2.5 Cần quy định cụ thể trách nhiệm của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài về kiểm tra, giám sát khoản vay 82

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 83

3.3.1 Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam cần có những chính sách thu hút khách hàng để nâng cao hiệu quả huy động vốn 83

3.3.2 Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam cần thực hiện các chính sách lãi suất hợp lý, linh hoạt và có tính cạnh tranh cao đối với các nguồn vốn huy động để thu hút vốn, cho vay 84

3.3.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 85

3.3.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm tại chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 96

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu diễn ra sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Việt Nam tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1995, gia nhập APEC năm 1998, ký hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 Đặc biệt ngày 11/01/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tham gia hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) Đây là cột mốc quan trọng đánh dấu sự hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa Việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức, nhất là lĩnh vực ngân hàng

Trong quá trình hội nhập quốc tế về tài chính tiền tệ, Việt Nam đã ký các hiệp định tài chính đa phương với ngân hàng Đầu tư Châu Âu, ngân hàng Đầu tư Bắc Ấu, Quỹ OPEC Bên cạnh đó Việt Nam cũng ký các hiệp định song phương, hiệp định thương mại tự do trong lĩnh vực ngân hàng như Hiệp định khung kết nối kinh tế Việt Nam – Singapore, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), hiệp định song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Israel (VIFTA)

Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các ngân hàng nước ngoài

mở rộng hoạt động kinh doanh bằng cách thành lập ngân hàng con, các văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Việc mở cửa hội nhập đã kéo theo một lượng lớn các ngân hàng nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính ngân hàng nước ta, giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam trở nên đa dạng và hoàn thiện hơn Sự xuất hiện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài một mặt tạo tiền đề cho sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, làm gia tăng nguồn vốn tài chính trong nước, gia tăng sự cạnh tranh thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và tăng cường hợp tác quốc tế Các ngân hàng thương mại trong nước được học hỏi công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài, nâng cao năng lực quản trị, điều hành, nhất là nghiệp vụ ngân hàng Mặt khác sự hiện diện của chi nhánh ngân

Trang 9

hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam sẽ làm gia tăng rủi ro tác động đến thị trường tài chính trong nước, sự cạnh tranh gay gắt giữa ngân hàng nước ngoài và ngân hàng trong nước và các ngân hàng yếu kém có thể rơi vào tình trạng phá sản

Hoạt động huy động vốn và cho vay là hai hoạt động cơ bản của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài Trong những năm qua, hoạt động huy động vốn

và cho vay của CNNHTMNN ở Việt Nam ngày càng được mở rộng cả về quy mô,

số lượng và chất lượng dịch vụ và có ưu thế hơn so với các ngân hàng thương mại trong nước nhờ vào áp dụng các công nghệ tiên tiến hiện đại, có vốn nhiều hơn và

có phương thức quản trị tốt Để có vốn cho vay, để đáp ứng nhu cầu và chi trả cấp bách, ngân hàng phải thực hiện hoạt động huy động vốn Vốn huy động thường chiếm tỷ trọng nhiều nhất trong tổng vốn của ngân hàng, nó đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hoạt động huy động vốn mặc dù không đem lại lợi nhuận nhưng mang lại nguồn vốn để duy trì hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh còn hoạt động cho vay lại là hoạt động mang lại nguồn thu, tối

đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng cao

và ngược lại lợi nhuận thấp thì rủi ro sẽ thấp Chính vì vậy lợi nhuận và rủi ro luôn song hành trong hoạt động cho vay Từ các cuộc khủng hoảng trên thế giới cho thấy nguyên nhân dẫn đến các ngân hàng phá sản là do hoạt động cho vay không đảm bảo được nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi như việc cho vay dưới chuẩn Việc chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài phá sản ảnh hưởng rất lớn nền kinh tế và ảnh hưởng đến các khách hàng Do vậy cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay của CNNHTMNN để đảm bảo sự tồn tại phát triển của hệ thống ngân hàng, hạn chế sự phá sản của ngân hàng cũng như cần hoàn thiện những quy định của pháp luật điều chỉnh về họat động huy động vốn và hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Về mặt pháp lý, hệ thống các văn bản pháp luật dần được hoàn thiện hơn để điều chỉnh về loại hình ngân hàng này Tuy nhiên pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động huy động vốn và cho vay của các CNNHTMNN ở Việt Nam còn nhiều bất cấp, hạn chế khiến cho các CNNHTMNN ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi thực hiện hoạt động huy động vốn và cho vay

Trang 10

Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Hoạt động huy động vốn và cho

vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài theo pháp luật Việt Nam”

làm đề tài luận văn thạc sĩ Luận văn hệ thống lại và làm rõ hơn các quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động huy động và cho vay của CNNHTMNN và tìm ra được những ưu điểm, hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của CNNHTMNN tại Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến vấn đề hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến Một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại

có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Phương, Khoa luật – Đại

học Quốc gia Hà Nội đã khái quát sự hình thành của NHTM có vốn đầu từ nước ngoài (ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh) ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam, tập trung khái quát cấu trúc pháp luật của NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (chủ thể tham gia quan hệ cho vay, quy trình cho vay và các quy định về hợp đồng cho vay giữa NHTM có vốn đầu tư nước ngoài với khách hàng vay vốn Đồng thời luận án cũng đã đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy định cho vay NHTM có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng, đảm bảo thực hiện đúng các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính ngân hàng khi gia nhập WTO

- Luận văn thạc sĩ luật học (2015): “Hoàn thiện pháp luật về chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam” - Nguyễn Thị Thanh Huyền, Khoa luật – Đại học

Quốc gia Hà Nội đã khái quát được sự hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và tập trung đề cập đến điều kiện cấp phép để thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và nêu ra bất cập hạn chế của quy định của pháp luật về thủ tục cấp giấy phép để thấy được những khó khăn khi thành

Trang 11

lập chi nhánh ngân nước ngoài tại Việt Nam Đồng thời nêu một số biện pháp để đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động cấp phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Luận văn cũng đã đề cập một cách khái quát quy định của pháp luật về hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tuy nhiên luận văn chưa đề cập đến hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thúy (2011), “Pháp luật về ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam” Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà

Nội Luận văn này mới chỉ đưa ra các vấn đề lý luận về NHTM 100% vốn nước ngoài và đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về thủ tục cấp phép thành lập và hoạt động của NHTM 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam, trong đó có đề cập

sơ lược đến hoạt động cho vay của NHTM 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam Đồng thời, Luận văn cũng đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật về NHTM 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về NHTM 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam

- Luật văn thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Trang (2015) “Địa vị pháp lý của ngân hàng nước ngoài theo pháp luật của một số nước trên thế giới” Khoa Luật- Đại học

Quốc gia Hà Nội tập trung nêu địa vị pháp lý của ngân hàng nước ngoài theo pháp luật Trung Quốc và Mỹ Luận văn cũng nêu điều kiện thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong đó có hoạt động

huy động vốn và hoạt động cho vay theo pháp luật Trung Quốc và pháp luật Mỹ

- Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng chương trình định hướng nghiên

cứu (2019) “Ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam” Trần Thị Thùy

Linh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và đồng thời đưa ra một số kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

- Chuyên đề nghiên cứu của Dương Thanh Tâm (2009) “Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, Trường Đại học Kinh tế

Trang 12

Quốc dân Hà Nội đã đề cập đến lịch sử ra đời của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và đồng thời cũng đưa ra một số biện pháp giúp chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hoạt động hiệu quả

- Chuyên đề nghiên cứu của Phạm Thi ̣Hương (2013) “Phân loại cho vay của tổ chức tín dụng, ý nghĩa pháp lý của việc phân loại đó”, Đại học Luật Hà Nội

Chuyên đề này đã tập trung làm rõ việc phân loại các hình thức cho vay của TCTD theo từng tiêu chí và bên cạnh đó khái quát những quy định của pháp luật hiện hành

về hoạt động cho vay của TCTD, trong đó bao gồm cả hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Các công trình kể trên chỉ mang tính chất phân tích bình luận một số vấn đề liên quan đến hoạt động của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài Chưa có bài viết nào nghiên cứu một cách trực diện, toàn diện về hoạt động huy động vốn và

cho vay của CNNHTMNN ở Việt Nam Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Hoạt động

huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” là cần thiết và hữu ích Do đó tác giả chọn đề tài này làm đề

tài nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN

và pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN

- Pháp luật Việt Nam điều chỉnh đối với hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN và thực tiễn thực hiện hoạt động huy động vốn và cho vay của

Trang 13

- Luận văn nghiên cứu thực trạng pháp luật về hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện từ năm 2010

- Luận văn không nghiên cứu các nội dung khác như nội dung về pháp luật giải quyết tranh chấp trong hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN, quy định về xử lý hành vi vi phạm và chế tài xử lý trong hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là hệ thống lại và làm rõ hơn lý luận pháp luật về hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của CNNHTMNN; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN ở Việt Nam Rút ra những thành tựu, hạn chế của pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN Đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN ở Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN;

- Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam

về hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay của các CNNHTMNN tại Việt Nam;

- Đề xuất các giải pháp cụ thể, đồng bộ để hoàn thiện pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN tại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin

- Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp

so sánh luật học, phân tích, thống kê, tổng hợp

Trang 14

6 Những đóng góp mới của luận văn

Với mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra luận văn có một số đóng góp mới như sau:

- Luận văn phân tích và làm rõ khái niệm bản chất pháp lý, đặc điểm về hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của CNNHTMNN;

- Luận văn góp phần tạo ra cái nhìn toàn diện hơn hệ thống các quy định của pháp luật về hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay của CNNHTMNN;

- Luận văn làm rõ các quy định pháp luật từ đó đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về hoạt động huy động vốn và hoạt động vay của CNNHTMNN ở Việt Nam để thấy được những bất cập, hạn chế của pháp luật về huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN tại Việt Nam;

- Luận văn đưa ra một số kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh

về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN tại Việt Nam nhằm đảm bảo tính thực thi pháp luật, áp dụng được trên thực tế;

- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và cho

vay của CNNHTMNN tại Việt Nam

7 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh

ngân hàng thương mại nước ngoài và pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt

động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt

động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái quát về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

1.1.1 Bản chất và đặc điểm của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Ngân hàng nước ngoài được hiện diện thương mại tại các quốc gia dưới hình thức văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài là hình thức hiện diện của ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh ngân hàng và là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại nói chung và CNNHTMNN nói riêng gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, lưu thông hàng hóa và sự phát triển của nền kinh tế thế giới Nó được coi là sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá, là một bộ phận không thể tách rời và tồn tại như một tất yếu trong nền kinh tế hiện đại

Tiền tệ là phạm trù kinh tế khách quan, sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa

Sự phát triển của sản xuất trao đổi hàng hóa từ trao đổi hàng hóa trực tiếp (H-H) sang lưu thông hàng hóa (H-T-H) đã dẫn tới sự xuất hiện của tiền tệ Sự phát triển của tiền tệ trải qua nhiều hình thái khác nhau phù hợp với nhu cầu lưu thông hàng hóa trong từng thời kỳ: Hóa tệ, kim tệ, tiền giấy, bút tệ và tiền điện tử Dù với hình thái nào thì tiền luôn là vật trung gian cho quá trình trao đổi hàng hóa Tiền tệ ra đời đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế và các hoạt động kinh doanh dịch vụ tiền

tệ cũng dần xuất hiện và càng ngày phát triển Trên cơ sở đó ngân hàng ra đời thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tài chính đi vay và cho vay để kiếm lời Ngân hàng là chủ thể kết nối giữa bên có vốn nhàn rỗi với bên có nhu cầu vay vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh, tiêu dùng

Trang 16

Sự ra đời và phát triển của chi nhánh ngân hàng nước ngoài gắn liền với sự

ra đời và phát triển của nền kinh tế thế giới Một số ngân hàng nước ngoài tại Hoa

Kỳ và Châu Âu đã quyết định mở rộng ra quốc tế trong suốt những năm 1970 và

1980 một phần để phục vụ đồng tiền dầu mỏ, một phần để đa dạng hóa rủi ro trong nước và trở thành ngân hàng toàn cầu Đến những năm 1990 sau cuộc khủng hoảng kinh tế tiền tệ, hoạt động ngân hàng được quốc tế hóa mạnh mẽ hơn, sự hiện diện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại các quốc gia càng ngày càng gia tăng Toàn cầu hóa và tự do hóa các dịch vụ tài chính theo GATT/WTO, NAFTA, EU, v.v., đã khuyến khích các ngân hàng nước ngoài thâm nhập vào các thị trường mới

Ở Ba Lan, ban đầu các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép mua cổ phần với lượng nhỏ trong các ngân hàng ngoại bang lớn của Ba Lan Một số ngân hàng nước ngoài gia nhập thị trường ngân hàng Ba Lan thông qua việc mở chi nhánh, thành lập các công ty con Tính đến cuối năm 2000, 71% hệ thống ngân hàng là ngân hàng nước ngoài Tại Hungary, năm 1995 Chính phủ đã quyết định cho phép các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài "phù hợp và giàu có" được tiếp cận không giới hạn việc mua các ngân hàng hiện có Các ngân hàng nước ngoài được phép tham gia trực tiếp vào thị trường thông qua việc thành lập các chi nhánh Đến cuối năm 2000, hơn 90% hệ thống ngân hàng Hungary là ngân hàng nước ngoài [18, tr.217]

Theo quy định của pháp luật Mỹ, ngân hàng nước ngoài là tổ chức được thành lập theo pháp luật của quốc gia nước ngoài và có sự tham gia trực tiếp trong việc kinh doanh của ngân hàng bên ngoài nước Mỹ Theo đó ngân hàng nước ngoài có thể thực hiện đầu tư vào Mỹ và thực hiện hoạt động ngân hàng tại Mỹ dưới hình thức văn phòng đại diện, chi nhánh, đại lý, ngân hàng con Ở Hoa Kỳ, tính đến cuối năm 2007

có 205 ngân hàng từ 59 quốc gia tham gia hoạt động tại Hoa Kỳ dưới các hình thức văn phòng đại diện, đại lý, chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài [19]

Ở Nga, vào đầu những năm 1990 cơ quan điều hành cho phép sự đầu tư vốn nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp vào lĩnh vực ngân hàng Đến cuối năm 2000 đã

có 22 ngân hàng ở Nga có 100% vốn nước ngoài bên cạnh 31 ngân hàng có hơn 50% vốn nước ngoài và hơn 150 ngân hàng có tỷ lệ vốn nước ngoài nhất định [18]

Trang 17

Năm 2013 Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký luật cấm mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Nga, được Duma Quốc gia thông qua ngày 22/02/2013 và được Hội đồng Liên đoàn thông qua ngày 06/03/2013 [22] Việc hạn chế và kiểm soát các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Nga không chỉ là vấn đề cạnh tranh mà còn vì các ngân hàng Nga chưa đủ năng lực để giám sát dòng vốn khi Nga đang nỗ lực chống chủ nghĩa khủng bố, tham nhũng và nạn rửa tiền

Theo Luật quản lý ngân hàng nước ngoài của Trung Quốc thì ngân hàng nước ngoài là ngân hàng thương mại đã đăng ký thành lập bên ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc và được sự chấp thuận hoặc cấp phép của cơ quan quản lý tài chính của quốc gia hoặc khu vực nơi họ đặt trụ sở Ngân hàng có vốn nước ngoài (Foreign- funded bank) được hiểu là bất kỳ tổ chức nào dưới đây được chấp thuận để thành lập trong lãnh thổ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Quốc, phù hợp với quy định của pháp luật và quy định liên quan của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Quốc

1) Ngân hàng có toàn bộ vốn nước ngoài được làm chủ bởi ngân hàng nước ngoài hoặc có sự liên doanh với bất kỳ một tổ chức tài chính nước ngoài

2) Ngân hàng liên doanh Trung Quốc- nước ngoài với vốn có sự liên doanh giữa một tổ chức tài chính trong nước với một công ty Trung Quốc

3) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

4) Văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài [20]

Vậy ngân hàng nước ngoài là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài có hoạt động ngân hàng và thực hiện hoạt động ngân hàng Ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài

Theo Khoản 18 Điều 3 về Giải thích từ ngữ Luật ngân hàng thương mại Lào

năm 2006 thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài được định nghĩa như sau: “Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài là một bộ phận ngân hàng thương mại nước ngoài được cấp phép tiến hành kinh doanh ngân hàng tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo pháp luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [15]

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức đại diện phụ thuộc của ngân

Trang 18

hàng nước ngoài tại nước sở tại, được ngân hàng nước ngoài đầu tư vốn, bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ mà pháp luật của nước sở tại qui định, được hoạt động theo sự cho phép của pháp luật nước sở tại [17]

Vì vậy ta có thể hiểu chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài được thành lập, hoạt động theo pháp luật của nước sở tại và được ngân hàng nước ngoài cấp vốn để hoạt động, đảm bảo chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà pháp luật nước sở tại quy định

Ở Việt Nam, theo Luật các TCTD năm 2010 thì CNNHTMNN là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật các TCTD Theo Khoản 9 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết chi nhánh tại Việt Nam

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng nước ngoài, được thành lập và hoạt động ngân hàng tại Việt Nam theo giấy phép mở chi nhánh do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ do pháp luật Việt Nam qui định, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa

vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam và được ngân hàng nước ngoài cấp vốn

để hoạt động [4]

Đặc điểm của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Thứ nhất, hình thức pháp lý: Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài là

đơn vị phụ thuộc của ngân hàng mẹ, không có tư cách pháp nhân Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài không có tư cách pháp nhân bởi CNNHTMNN không độc lập về tài sản, tài sản của CNNHTMNN do ngân hàng mẹ cấp và ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm với mọi nghĩa vụ của CNNHTMNN

Theo Điều 12 và Điều 32-Quy định của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Quản lý Ngân hàng nước ngoài Trung Quốc thì chi nhánh ngân hàng nước ngoài được trụ sở chính cấp phát miễn phí không dưới 200 triệu NDT hoặc các ngoại tệ tự

Trang 19

do chuyển đổi tương đương để làm vốn lưu động và trách nhiệm của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Trung Quốc do trụ sở chính chịu trách nhiệm (tức là ngân hàng

mẹ chịu trách nhiệm) Ngoài các điều kiện về chi nhánh ngân hàng nước ngoài như

có khả năng kiếm lợi nhuận liên tục, có danh tiếng tốt không vi phạm pháp luật và các quy định; có kinh nghiệm trong hoạt động tài chính quốc tế, có hệ thống phòng chống rửa tiền hiệu quả, … thì ngân hàng mẹ phải đáp ứng các điều kiện như có tổng tài sản không ít hơn 20 tỷ USD vào cuối năm nộp đơn; tỷ lệ an toàn vốn tuân theo các quy định của cơ quan quản lý tài chính của quốc gia hoặc khu vực đặt trụ

sở và cơ quan quản lý ngân hàng của Hội đồng Nhà nước (Điều 9, Điều 12 Luật quản lý ngân hàng nhà nước)

Ở Mỹ, chi nhánh không là thực thể pháp lý riêng biệt theo pháp luật Mỹ Nó

là sự mở rộng hoạt động của ngân hàng nước ngoài (ngân hàng mẹ) Một chi nhánh

có thể thực hiện đầy đủ các hoạt động của ngân hàng Ở Mỹ việc thành lập một chi nhánh ít tốn kém hơn thành lập ngân hàng con riêng lẻ Ngoài ra, một chi nhánh có thể cho vay lớn hơn một ngân hàng con vì giới hạn của nó dựa trên vốn của ngân hàng mẹ [16]

Ở Việt Nam, theo qui định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2015 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập Khoản

1 Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng ghi nhận, chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp Đối với chi nhánh của pháp nhân nước ngoài có trụ sở ở Việt Nam được quy định trong Luật

Thương mại năm 2005, theo đó: “Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập và hoạt động thương mại tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc

tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”

Trang 20

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Tuy nhiên, CNNHTMNN ở Việt Nam chưa hoàn toàn độc lập về tài sản, tài sản của CNNHTMNN phụ thuộc vào ngân hàng mẹ Trong một số trường hợp có thể nhân danh trụ sở chính thực hiện các quan hệ pháp luật chứ không nhân danh bản thân chi nhánh đó Do đó, CNNHTMNN không có tư cách pháp nhân

Thứ hai, về phạm vi hoạt động: Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

thuộc ngân hàng thương mại nên CNNHTMNN được thực hiện các hoạt động của ngân hàng thương mại như huy động vốn (nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài); hoạt động tín dụng (cho vay, chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, ) hoạt động trung gian (mở và sử dụng tài khoản, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ) Tuy nhiên, CNNHTMNN không có tư cách pháp nhân, phụ thuộc vào ngân hàng mẹ vì vậy mà hoạt động của CNNHTMNN phụ thuộc vào hoạt động của ngân hàng mẹ Tức chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài chỉ được phép thực hiện các hoạt động được ghi trong nội dung giấy phép và các hoạt động này thuộc các hoạt động

mà ngân hàng mẹ được phép thực hiện hoạt động ở nước ngoài

Ở Mỹ, chi nhánh được thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng bao gồm cả hoạt động kinh doanh và đầu tư, nhận tiền gửi bán buôn và ngoài nước, cấp tín dụng Với FED chấp thuận, ngân hàng nước ngoài có thể thành lập một chi nhánh theo một trong hai giấy phép liên bang hoặc tiểu bang nhưng chỉ trong một nhà nước mà pháp luật không cấm chi nhánh [16]

Ở Trung Quốc, theo Điều 31 Luật quản lý ngân hàng nước ngoài thì một chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, theo phạm vi kinh doanh đã được cơ quan quản lý ngân hàng của Quốc vụ viện phê duyệt, tiến hành một số hoặc tất cả các hoạt động kinh doanh ngoại hối và kinh doanh nhân dân tệ sau đây cho khách hàng không phải là công dân Trung Quốc:

(1) Thu hút tiền gửi của công chúng;

(2) Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;

Trang 21

(3) Xử lý việc chấp nhận và chiết khấu hóa đơn;

(4) Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu tài chính và kinh doanh chứng khoán bằng ngoại tệ không phải là cổ phiếu;

(5) Cung cấp dịch vụ thư tín dụng và bảo lãnh;

(6) Xử lý quyết toán trong và ngoài nước;

(7) Mua bán ngoại hối với tư cách đại lý;

(8) Bảo hiểm đại lý;

(9) Cho vay liên ngân hàng;

(10) Cung cấp dịch vụ két sắt;

(11) Cung cấp dịch vụ tư vấn và điều tra tín dụng;

Các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài có thể nhận tiền gửi cố định không dưới 1 triệu nhân dân tệ đối với mỗi ngân hàng từ công dân Trung Quốc Với sự chấp thuận của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể tiến hành thanh toán và bán ngoại hối [20]

Thứ ba, về pháp luật điều chỉnh: Chi nhánh ngân hàng thương mại nước

ngoài chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật nước sở tại (pháp luật của nước mà chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập) và pháp luật của nước nguyên xứ (pháp luật của nước mà ngân hàng mẹ thành lập) Ngoài ra CNNHTMNN còn chịu điều chỉnh bởi Điều ước quốc tế, các hiệp định song phương, đa phương

Ở Pháp, một ngân hàng nước ngoài chỉ được thực hiện một cách thường xuyên các hoạt động ngân hàng tại Pháp khi đã thành lập một cơ sở cư trú, tức là chi nhánh hoặc công ty con Các ngân hàng con và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động trên lãnh thổ Pháp phải tuân theo mọi quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng tại Pháp như Đạo luật Tiền tệ và tài chính, Tại Điều L.311-1 của Bộ luật Tài chính và tiền tệ của Pháp thì hoạt động của ngân hàng hàng bao gồm nhận tiền gửi hoàn lại từ công chứng, hoạt động tín dụng và dịch vụ thanh toán ngân hàng

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại Trung Quốc chịu sự điều chỉnh của pháp luật về ngân hàng Trung Quốc và các pháp luật liên quan khác như

Trang 22

Luật quản lý ngân hàng nước ngoài, Luật đầu tư, Luật chống rửa tiền, Bộ Luật dân

sự và cơ quan quản lý ngân hàng của Hội đồng nhà nước chịu trách nhiệm giám sát

và quản lý các ngân hàng có vốn nước ngoài và các hoạt động của họ

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam bao gồm pháp luật về ngân hàng (Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn Luật này) và các văn bản quy phạm pháp luật khác

có liên quan như Luật doanh nghiệp, Bộ Luật dân sư, Luật kinh doanh bất động sản, Bên cạnh đó bên nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam ở lĩnh vực ngân hàng thì tổ chức tín dụng đó phải đã được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài Tại Việt Nam, CNNHTMNN chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước (không thuộc đối tượng chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ kế hoạch và đầu tư)

Thứ tư, nguồn vốn: Bất kỳ một ngân hàng nào thì vốn dùng để thực hiện các

hoạt động của ngân hàng và cũng là tiêu chí để đánh giá sự uy tín của ngân hàng, sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng Nếu khách hàng không còn tin tưởng vào ngân hàng sẽ dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng đến nền kinh tế Vì vậy mà cần phải quy định về vốn pháp định hay là vốn điều lệ tối thiểu đối với ngân hàng khi thành lập Vốn điều lệ của CNNHTMNN do ngân hàng mẹ cấp và tùy vào quy định pháp luật của mỗi nước mà quy định vốn điều lệ tối thiểu của CNNHTMNN ở mỗi nước là khác nhau

Ở Mỹ, thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài ít tốn kém hơn thành lập ngân hàng con vì không đòi hỏi vồn điều lệ ban đầu Ngoài ra, một chi nhánh có thể cho vay lớn hơn một ngân hàng con vì giới hạn của nó dựa trên vốn của ngân hàng

mẹ Để thành lập chi nhánh, đại lý của ngân hàng nước ngoài tại Mỹ, một ngân hàng nước ngoài phải xin phép và được chấp thuận trước của FED và sự chấp nhận của OCC (Văn phòng Kiểm soát tiền tệ, một cơ quan thuộc Bộ Tài Chính Mỹ mà điều lệ quy định, giám sát kiểm tra của ngân hàng quốc gia, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài) hoặc cơ quan có thẩm quyền, tùy thuộc vào việc ngân hàng nước ngoài muốn có một giấy phép liên bang hoặc tiểu bang [16]

Hoạt động kinh doanh ngân hàng thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện

Trang 23

Pháp luật quy định rất chặt chẽ về vốn của CNNHTMNN khi thành lập tại Việt Nam Vốn điều lệ, vốn được cấp của CNNHTMNN ở Việt Nam tối thiểu bằng mức vốn pháp định (15 triệu đô la Mỹ) Vốn pháp định của CNNHTMNN ở Việt Nam ít hơn so với vốn pháp định của ngân hàng thương mại, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh là 3.000 tỷ Việt Nam đồng Ngoài ra khi thành lập CNNHTMNN ở Việt Nam thì tổng tài sản có của ngân hàng mẹ ít nhất tương đương

20 tỷ đô la Mỹ vào năm liền kề năm nộp hồ sơ xin đề nghị cấp giấy phép và đến thời điểm cấp phép

Hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay là hai hoạt động cơ bản của CNNHTMNN Vì vậy ngoài vốn điều lệ khi thành lập thì CNNHTMNN còn có vốn huy động Nguồn vốn huy động đặc biệt nguồn vốn từ hoạt động nhận tiền gửi

chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn CNNHTMNN

1.1.2 Hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Vốn tự có của CNNHTMNN là những giá trị tiền tệ do ngân hàng mẹ cấp và

do CNNHTMNN tạo lập được và thuộc sở hữu của ngân hàng mẹ Vốn tự có gồm vốn điều lệ và các quỹ Vốn điều lệ được tạo lập khi thành lập CNNHTMNN Vốn điều lệ phải đáp ứng ở mức vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật từng quốc gia Mỗi quốc gia thì quy định mức vốn pháp định của CNNHTMNN là khác nhau Vốn điều lệ phải cao hơn hoặc bằng vốn pháp định, vốn pháp định khi thành lập CNNHTMNN tại Trung Quốc là 200 triệu nhân dân tệ; mức vốn pháp định của CNNHTMNN tại Việt Nam là 15 triệu đô la Mỹ (USD) còn CNNHTMNN tại Mỹ lại không quy định vốn pháp định khi thành lập Vốn điều lệ chủ yếu để tạo ra cơ sở vật chất cho ngân hàng Vốn tự có còn được tạo thành từ các quỹ như quỹ dự phòng rủi

ro, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Hoạt động ngân hàng đặc biệt hoạt động cho vay

là hoạt động mang tính rủi ro cao vì vậy quỹ dự phòng rủi ro giúp CNNHTMNN hạn chế rủi ro do kết quả hoạt động kinh doanh không tốt xảy ra Vốn tự có tuy không phải là nguồn vốn chủ yếu để CNNHTMNN kinh doanh tiền tệ nhưng nó giúp CNNHTMNN chống đỡ những biến động thất thường của nền kinh tế tác động đến

Trang 24

ngân hàng Ngoài ra vốn tự có còn là cơ sở để CNNHTMNN thu hút các nguồn vốn khác Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia mà pháp luật quy định giới hạn cho phép

mở rộng huy động vốn căn cứ vào quy mô nguồn vốn tự có của ngân hàng

Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà CNNHTMNN huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh Vốn huy động thuộc sở hữu của nhiều chủ thể khác nhau, CNNHTMNN chỉ có

quyền sử dụng và phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn vì hoạt động kinh doanh của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, “đi vay để cho vay” nhằm mục đích kiếm lời Chi

nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài thực hiện hoạt động cho vay và các hoạt

động khác chủ yếu dựa vào vốn huy động

Ngoài nguồn vốn tự có, vốn huy động thì ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh có thể vay vốn từ định chế tài chính khác thông qua các hoạt động như chiết khấu, các hợp đồng mua lại, để điều hòa vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong quá trình hoạt động của ngân hàng Nếu như huy động từ các định chế tài chính vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng thì CNNHTMNN có thể vay Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái cấp vốn và cho vay thanh toán CNNHTMNN đi vay vốn để bổ sung vào nguồn vốn của mình để hoạt động kinh doanh trong các trường hợp bị thiếu hụt về vốn khả dụng CNNHTMNN có thể vay từ Ngân hàng Trung ương hoặc ngân hàng mẹ, các tổ chức tín dụng khác

Hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài là việc chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài huy động được các nguồn tiền nhàn rỗi từ các chủ thể khác trong xã hội giúp các cá nhân tổ chức có thể sinh lời

từ các khoản tiền chưa dùng đến đó và chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài sử dụng nguồn vốn đó để phục vụ cho các chủ thể cần vốn theo quy định của pháp luật

Đặc điểm của hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN:

- Hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN bản chất là việc chi nhánh này vay tiền hoặc nhận tiền gửi từ các chủ thể khác trong xã hội;

Trang 25

- Chủ thể tham gia vào hoạt động huy động vốn gồm CNNHTMNN và bên cho vay (khách hàng gửi tiền, tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng Trung ương…);

- Khách thể của hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN là một khoản tiền nhất định

- Hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN mang tính rủi ro Nếu chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài không có khả năng thanh toán nợ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người gửi tiền, người cho vay

- Tính chịu trách nhiệm của ngân hàng mẹ ở nước nguyên xứ đối với hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN Xuất phát từ bản chất của CNNHTMNN là không có tư cách pháp nhân, phụ thuộc vào ngân hàng mẹ và được ngân hàng mẹ đảm bảo chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, hoạt động của CNNHTMNN Nên nếu trong quá trình huy động vốn, CNNHTMNN không trả được gốc và lãi cho người cho vay, người gửi tiền thì ngân hàng mẹ có trách nhiệm phải trả thay cho CNNHTMNN để đảm bảo quyền lợi cho người cho vay, người gửi tiền tại CNNHTMNN Đây là đặc điểm riêng của CNNHTMNN trong quá trình huy động vốn

1.1.3 Hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài với vai trò là trung gian tài chính làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài cũng như các ngân hàng thương mại khác vừa là người đi vay vừa là người cho vay để hưởng các khoản chênh lệch lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay Chức năng này giúp ngân hàng tạo lập được nguồn vốn để kinh doanh

và người vay có nguồn vốn để thực hiện mục đích kinh doanh, tiêu dùng Hoạt động kinh doanh của CNNHTMNN là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Bên cạnh hoạt động huy động vốn thì hoạt động cho vay là một trong các hoạt động cơ bản mang tính truyền thống của ngân hàng nói chung và CNNHTMNN nói riêng Hoạt động này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự luân chuyển nhịp nhàng từ người thừa vốn đến người cần vốn để đảm bảo vốn cho các chủ thể kinh tế trong xã hội

Hoạt động cho vay của CNNHTMNN bản chất là việc chuyển nhượng quyền

Trang 26

sở hữu số tiền vay từ CNNHTMNN cho khách hàng đáp ứng các điều kiện nhất định nhằm mục đích sinh lời, khách hàng vay tiền với mục đích sản xuất kinh doanh, tiêu dùng Quan hệ cho vay là quan hệ giữa bên cho vay và bên vay Hoạt động cho vay mang bản chất là giao dịch hợp đồng theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định Bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau thời gian nhất định mà hai bên đã thỏa thuận Theo pháp luật Mỹ thời hạn cho vay ngắn hạn là 1 năm, trung hạn từ 1 đến 6 năm, dài hạn là 6 năm trở lên; theo pháp luật Anh thì thời hạn tương ứng cho các khoản vay này là đến 3 năm, từ 3 đến 10 năm và từ 10 năm trở lên [5, tr.25] Hoạt động cho vay luôn gắn liền với rủi ro vì vậy mà CNNHTMNN phải cần phán đoán, dự tính được khả năng trả nợ của khách hàng để hạn chế rủi ro

Hoạt động cho vay là một loại cấp tín dụng của CNNHTMNN và đồng thời

là một dạng nghiệp vụ của CNNHTMNN Đặc điểm của hoạt động cho vay của CNNHTMNN là:

- Hoạt động cho vay của CNNHTMNN luôn có hai bên chủ thể tham gia là bên cho vay và bên vay Trong đó bên cho vay chính là CNNHTMNN được cấp phép cho vay và bên vay là các cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều kiện vay vốn;

- Khách thể của hoạt động cho vay của CNNHTMNN là một khoản tiền nhất định Khoản tiền này là khoản tiền mà khách hàng mong muốn vay và CNNHTMNN có khả năng cho vay;

- Hình thức pháp lý của hoạt động cho vay là hợp đồng cho vay, ghi nhận sự thỏa thuận của CNNHTMNN và khách hàng có nhu cầu vay vốn tại CNNHTMNN;

- Hoạt động cho vay của CNNHTMNN luôn phát sinh bởi hành vi CNNHTMNN giải ngân cho khách hàng và bên vay hoàn trả số tiền vay sau một thời gian nhất định đã thỏa thuận;

- Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh có điều kiện Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài chỉ được thực hiện hoạt động này khi ngân hàng mẹ được thực hiện và được ghi nhận trong giấy phép;

- Hoạt động cho vay của CNNHTMNN mang tính rủi ro cao và khi CNNHTMNN cho vay khách hàng phải đáp ứng các điều kiện cho vay nhất định,

Trang 27

một số đối tượng bị cấm cho vay, hạn chế cho vay, nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay;

- Sự chịu trách nhiệm của ngân hàng mẹ ở nước nguyên xứ đối với hoạt động cho vay của CNNHTMNN Các ngân hàng thương mại có tư cách pháp nhân nên nếu xảy ra các vấn đề liên quan đến hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại thì ngân hàng đó tự chịu trách nhiệm Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

là ngân hàng không có tư cách pháp nhân, phụ thuộc vào ngân hàng mẹ nên nếu CNNHTMNN giải thể hay phá sản thì ngân hàng mẹ sẽ chịu trách nhiệm với các vấn đề liên quan đến hoạt động cho vay của CNNHTMNN Đây là đặc điểm riêng của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

1.2 Pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

1.2.1 Cơ chế điều chỉnh pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh bằng việc thâm nhập vào thị trường ngân hàng nước ngoài và thành lập các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài hoặc công ty con Nếu các hoạt động của CNNHTMNN không được điều chỉnh bởi pháp luật thì sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế trong đó hoạt động huy động vốn và hoạt động cho vay là hai hoạt động cơ bản của CNNHTMNN Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN gồm pháp luật của nước sở tại (pháp luật của nước mà CNNHTMNN thành lập), pháp luật của nước nguyên xứ (pháp luật của nước mà ngân hàng mẹ thành lập), các Điều ước quốc tế, các hiệp định song phương, đa phương

❖ Pháp luật về hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương

mại nước ngoài

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài thực hiện hoạt động huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, đi vay Nếu chi nhánh ngân hàng thương mại mất khả thanh toán, phá sản thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người gửi tiền tại

Trang 28

CNNHTMNN và người cho vay Vì vậy hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN cần được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN gồm: Các quy định chủ thể tham gia vào hoạt động huy động vốn, các hình thức huy động vốn của CNNHTMNN; các quy định

về trình tự thủ tục huy động vốn của CNNHTMNN (Quy trình huy động vốn)

Có thể hiểu: Pháp luật về hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài thực hiện hoạt động huy động vốn để kinh doanh kiếm lời

Pháp luật về hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng nước ngoài

có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đối tượng điều chỉnh của pháp luật hoạt động huy động vốn CNNHTMNN là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình CNNHTMNN thực hiện hoạt động huy động vốn dưới các hình thức nhận tiền gửi, phát hành các giấy

tờ có giá, vay các tổ chức tín dụng khác, vay Ngân hàng Trung ương;

Thứ hai, chủ thể tham gia vào quan hệ huy động vốn của CNNHTMNN đa dạng, trong đó luôn có CNNHTMNN là chủ thể cho vay vốn

Thứ ba, hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN được điều chỉnh bởi pháp luật nước sở tại và pháp luật nước nguyên xứ, các Điều ước quốc tế, các hiệp định song phương, đa phương

❖ Pháp luật về hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại

nước ngoài

Hoạt động cho vay là hoạt động mang tính rủi ro cao Vì vậy để đảm bảo an toàn cho các khoản vay, đảm bảo nguồn vốn cho vay không bị mất cân đối trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và CNNHTMNN nói riêng cũng như đảm bảo việc cho vay đúng đối tượng, đủ điều kiện vay, kiểm soát các rủi ro nên các quốc gia đều ban hành các qui định pháp luật về hoạt động cho vay Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của CNNHTMNN:

- Các quy định về chủ thể tham gia quan hệ cho vay giữa CNNHTMNN với khách hàng;

Trang 29

- Các quy định về hợp đồng vay vốn giữa CNNHTMNN với khách hàng vay vốn;

- Các quy định về trình tự thủ tục cho vay của CNNHTMNN với khách hàng vay vốn

Có thể hiểu: Pháp luật về hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điểu chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài cấp tín dụng cho khách hàng thông qua nghiệp vụ cho vay

Pháp luật về hoạt động cho vay của CNNHTMNN có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, đối tượng điều chỉnh của pháp luật hoạt động cho vay của CNNHTMNN

là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình CNNHTMNN thực hiện hành vi cho vay dưới hình thức hợp đồng cho vay

Thứ hai, chủ thể tham gia vào hoạt động cho vay của CNNHTMNN chính là chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài cho vay vốn và khách hàng vay vốn tại CNNHTMNN

Thứ ba, hoạt động cho vay của CNNHTMNN ngoài chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về ngân hàng còn chịu sự điều chỉnh của Điều ước quốc tế, tập quán thương mại về ngân hàng, truyền thống văn hóa kinh doanh của mỗi nước Nguồn luật điều chỉnh hoạt động hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN tại Việt Nam gồm pháp luật của nước sở tại, pháp luật của nước nguyên xứ, Điều ước quốc tế, các hiệp định thương mại song phương, đa phương

1.2.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Nhóm thứ nhất: Quy định về hoạt động huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Một là, quy định về các hình thức huy động vốn, chủ thể tham gia vào quan

hệ huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người gửi tiền, người cho vay Với mỗi hình thức huy động vốn khác nhau

Trang 30

thì chủ thể tham gia vào quan hệ huy động vốn của CNNHMNN là khác nhau Do

đó pháp luật cần điều chỉnh hoạt động huy động vốn của CNNHTMNN để bảo vệ quyền lợi của của các chủ thể tham gia vào quan hệ cho vay của CNNHTMNN

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài thực hiện hoạt động huy động vốn dưới các hình thức sau: huy động vốn thông qua nhận tiền gửi, huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá, huy động vốn thông qua việc vay các tổ chức tín dụng khác và Ngân hàng Trung ương, huy động vốn từ các nguồn vốn khác Trong các hình thức huy động vốn thì huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi là hình thức huy động vốn mang tính đặc thù rõ nét nhất của ngân hàng nói chung và CNNHTMNN nói riêng Bởi đây là hoạt động huy động vốn đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng, tốn ít chi phí và thường xuyên Bất kỳ ai có nhu cầu đều có thể đến CNNHTMNN mà mình lựa chọn để gửi tiền với hình thức gửi tiền phù hợp mà mình mong muốn

* Huy động vốn thông qua nhận tiền gửi

Hoạt động huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi của CNNHTMNN luôn có hai chủ thể tham gia là bên nhận tiền gửi và bên gửi tiền Bên nhận tiền gửi chính là CNNHTMNN được phép nhận tiền gửi mà khách hàng muốn gửi, còn bên gửi tiền là các khách hàng (cá nhân hoặc tổ chức) có tiền nhàn rỗi không sử dụng đến có nhu cầu gửi tiền

- Căn cứ vào mục đích của người gửi tiền có thể phân chia việc nhận tiền gửi thành nhận tiền gửi thanh toán và nhận tiền tiết kiệm

Tiền gửi thanh toán là khoản tiền gửi của các tổ chức cá nhân gửi vào chi

nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài với mục đích sử dụng là thanh toán Tài khoản tiền gửi thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện giao dịch ngay lập tức thông qua các phương tiện thanh toán như: Internet Banking, séc lĩnh tiền mặt, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử… Số tiền trong tài khoản dùng để thực hiện các giao dịch tiền tệ không sử dụng tiền mặt Các giao dịch này bao gồm: thanh toán hóa đơn mua hàng, hóa đơn sử dụng các dịch vụ, chuyển khoản, trong trường hợp cần thiết bạn vẫn có thể rút trực tiếp tiền mặt… Ngoài ra, đối với khách

Trang 31

hàng là các tổ chức có thể sử dụng kèm dịch vụ thấu chi trên tài khoản tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán là tiền gửi không rõ kỳ hạn của khách hàng được gửi vào CNNHTMNN để thực hiện thanh toán Khoản tiền này CNNHTMNN phải thanh toán bất kỳ lúc nào khi khách hàng có nhu cầu do đó CNNHTMNN luôn phải trong tư thế chủ động trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào Chính vì vậy lãi suất cho khoản tiền gửi này rất thấp và dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán rất cao Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài luôn bị động đối với việc quản trị khoản tiền này Nhưng với nền kinh tế chính trị ổn định thì CNNHTMNN luôn có một số

dư nhất định đối với tiền gửi không kỳ hạn này để cho vay do thường xuyên có người gửi và rút không cùng một lúc Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài luôn phải thận trọng vì nếu trong nền kinh tế chính trị bất ổn thì có thể dẫn đến việc người dân ồ ạt rút tiền

Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền để dành của các cá nhân gửi vào CNNHTMNN

để hưởng lãi suất theo quy định, tích lũy để dành Căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền thì tiền gửi tiết kiệm gồm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức mà người gửi tiết kiệm có thể gửi nhiều lần

và rút ra một phần hoặc toàn bộ theo yêu cầu sử dung Tuy nhiên, khác với tiền gửi thanh toán người gửi không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức huy động các khoản tiền nhàn rỗi mà khách hàng và CNNHTMNN đã thỏa thuận về thời hạn lãi suất theo quy định và khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

có lãi suất thấp trong khi đó tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có lãi suất cao Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn mang tính ổn định nên ngân hàng đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau và kỳ hạn càng dài lãi suất huy động càng cao và ngược lại

- Căn cứ vào thời hạn gửi tiền, tiền gửi chia thành tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn

Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền gửi mà không có sự thỏa thuận giữa

khách hàng và ngân hàng về thời gian rút tiền Nghĩa là khách hàng có thể rút tiền hoặc sử dụng để thanh toán bất kỳ lúc nào khi có nhu cầu và đây là khoản tiền chờ thanh toán Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp hơn so với tiền gửi có kỳ hạn

Trang 32

Tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi có sự thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng

về thời gian rút tiền nghĩa là khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn và được hưởng lãi đối với số tiền gửi đó Đối với quản trị khoản tiền này thì ngân hàng chủ động hơn trong việc quản trị tiền gửi không kỳ hạn vì ngân hàng chỉ phải trả cho khách hàng khi đáo hạn Tuy nhiên để thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi của khách hàng để gửi vào ngân hàng thì các ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền trước thời hạn với lãi suất không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi Mỗi loại kỳ hạn thì lãi suất khác nhau, thường kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao Loại tiền gửi này mang tính ổn định cao, an toàn vì vậy ngân hàng thường dùng khoản tiền này để cấp

các hạn mức tín dụng dài hạn

* Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong

đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác Giấy tờ có giá có ba thuộc tính: (1) Xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xác định; (2) Trị giá được bằng tiền; và (3) Có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao lưu dân sự Đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng, khái niệm giấy tờ có giá được hiểu theo nghĩa rất hẹp, chỉ bao gồm các phiếu nợ do ngân hàng phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu phiếu

nợ và nghĩa vụ trả một số tiền nhất định của ngân hàng phát hành vào một thời điểm xác định ghi trên phiếu nợ [14]

Các giấy tờ có giá do CNNHTMNN phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi trong đó CNNHTMNN cam kết trả gốc và lãi cho người mua sau một khoản thời gian nhất định

Chủ thể tham gia vào quan hệ huy động vốn bằng hình thức phát hành giấy

tờ có giá của CNNHTMNN gồm chủ thể phát hành giấy tờ có giá là CNNHTMNN đáp ứng được các điều kiện của pháp luật về phát hành giấy tờ có giá và chủ thể mua giấy tờ có giá

Trang 33

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài có thể huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá dưới các hình thức: Chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu

để huy động vốn của các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá CNNHTMNN phải trả lãi suất cao hơn với lãi suất tiết kiệm Việc phát hành giấy tờ có giá thường chỉ được huy động trong một thời gian nhất định khi đã huy động được số vốn cần theo dự kiến và sẽ dừng việc phát hành

* Huy động vốn vay từ tổ chức tín dụng khác, ngân hàng Trung ương

Nhiều quốc gia trên thế giới, thường quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc với nguồn tiền huy động và vốn chủ sở hữu của ngân hàng Do vậy trong những trường hợp cần thiết và trong các giai đoạn cụ thể nhiều ngân hàng trong đó có CNNHTMNN phải tiến hành vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế Khi chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài mất cân đối nguốn vốn huy động và sử dụng vốn, xảy ra hiện tượng thiếu hụt vốn đột xuất thì CNNHTMNN có thể vay các tổ chức tín dụng khác, vay ngân hàng Trung ương

Khi các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ

về các khoản huy động hoặc cho vay giảm sẽ sẵn sàng cho ngân hàng thương mại khác vay để hưởng lãi suất cao hơn Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chịu chi phí cao hơn vốn huy động vì vậy chỉ trong trường hợp CNNHTMNN thiếu vốn khả dụng trong thời gian ngắn nào đó thì CNNHTMNN mới tìm đến các tổ chức tín dụng khác để vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng Và khi các ngân hàng khác hết khả năng cho vay mà CNNHTMNN thiếu vốn hoặc mất khả năng thanh toán thì CNNHTMNN có thể vay từ Ngân hàng Trung ương

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài huy động vốn bằng hình thức vay từ tổ chức tín dụng khác, ngân hàng Trung ương thì có hai chủ thể tham gia vào quan hệ này gồm bên cho vay là tổ chức tín dụng khác hoặc Ngân hàng Trung ương

và bên vay là CNNHTMNN có nhu cầu vay vốn

Hai là, trình tự thủ tục huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại

nước ngoài

Trình tự thủ tục huy động vốn của CNNHTMNN sẽ do CNNHTMNN quy

Trang 34

định phù hợp với quy định của pháp luật Mỗi CNNHTMNN sẽ có những trình tự thủ tục nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá khác nhau Đặc biệt CNNHTMNN cần phải xây dựng quy trình phát hành giấy tờ có giá một cách chặt chẽ Đối với mỗi khách hàng khác nhau mà CNNHTMNN đòi hỏi các giấy tờ pháp lý khác nhau Bên cạnh đó pháp luật cần tạo điều kiện cho CNNHTMNN dễ dàng thực hiện hoạt động huy động vốn, giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà, không cần thiết

Vì chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài không có tư cách pháp nhân nên khi CNHHTMNN huy động vốn để đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền, người cho vay thì ngân hàng mẹ sẽ chịu trách nhiệm trả nợ cả gốc lẫn lãi thay cho CNHHTMNN

Nhóm thứ hai: Quy định về hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Thứ nhất, chủ thể tham gia vào quan hệ cho vay vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Trong hoạt động cho vay của CNNHTMNN luôn có hai chủ thể tham gia là bên cho vay và bên vay

Bên cho vay trong hoạt động cho vay là chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài đó Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài muốn thực hiện hoạt động cho vay phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật như có giấy phép hoạt động do cơ quan có thẩm quyền cấp phép, có đủ vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật, điều lệ tổ chức và hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật, Khi thực hiện hoạt động cho vay CNNHTMNN phải đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng dưới hình thức cho vay

Bên vay là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn tại CNNHTMNN và có khả năng trả nợ cho CNNHTMNN, đáp ứng được các điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật và quy định nội bộ về cho vay của CNNHTMNN Bên cho vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Đối với khách hàng là cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài thì phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự mà pháp nhân, cá nhân đó mang quốc tịch Vì vậy khi vay vốn bên

Trang 35

cho vay phải cung cấp các giấy tờ pháp lý cho CNNHTMNN Đối với từng chủ thể thì tư cách pháp lý là khác nhau nên tùy vào từng chủ thể mà CNNHTMNN yêu cầu các giấy tờ pháp lý là khác nhau

Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài vì không có tư cách pháp nhân, là đơn vị phụ thuộc vào ngân hàng mẹ nên pháp luật cần hạn chế việc CNNHTMNN cho ngân hàng mẹ ở nước ngoài Bởi nếu CNNHTMNN cho ngân hàng mẹ vay mà ngân hàng mẹ không thanh toán được nợ cho chi nhánh hay ngân hàng mẹ mà phá sản, giải thể thì tư cách pháp lý của CNNHTMNN không còn

Thứ hai, quy định về hợp đồng cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Hợp đồng cho vay của CNNHTMNN là sự thỏa thuận giữa bên cho vay là CNNHTMNN với bên vay là cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay vốn đáp ứng các điều kiện vay vốn theo đó CNNHTMNN cho bên vay vay một khoản tiền nhất định và bên vay có nghĩa vụ hoàn trả cả gốc lẫn lãi đã được thỏa thuận sau một khoảng thời gian nhất định

Hình thức của hợp đồng cho vay bắt buộc phải lập thành văn bản Trong hợp đồng cho vay của CNNHTMNN với khách hàng phải có các điều khoản thỏa thuận về: điều kiện vay vốn, khoản cho vay, thời gian sử dụng vốn, phương thức thanh toán tiền vay, mục đích sử dụng vốn, điều khoản về giải quyết tranh chấp…

Thứ ba, quy định về trình tự thủ tục cho vay của chi nhánh ngân hàng

thương mại nước ngoài

Trình tự thủ tục cho vay của CNNHTMNN do CNNHTMNN quy định Về

cơ bản trình tự thủ tục cho vay gồm các bước: lập hồ sơ, thẩm định hồ sơ và quyết định cho vay, giải ngân và giám sát việc thực hiện vốn vay, thu hồi vốn

Theo Hiệp ước quốc tế về vốn Basal II, việc thực hiện cho vay phải thực hiện dựa trên nguyên tắc như:

- Tiêu chuẩn cho vay phải đầy đủ, ngân hàng phải xác định và nắm rõ thông tin về người vay vốn, mục đích vay, cơ cấu cho vay, nguồn thanh toán nợ của người vay vốn (Nguyên tắc 4) Nguyên tắc này yêu cầu CNNHTMNN phải có những tiểu

Trang 36

chuẩn cho vay nhất định đối với mỗi khách hàng và cần thẩm định kiểm tra chặt chẽ

để hiểu rõ về đối tượng vay vốn xem mục đích của họ khi vay vốn là gì, họ có khả năng thanh toán nợ hay không

- Thiết lập hạn mức cho vay tổng quát cho từng khách hàng riêng lẻ, nhóm khách hàng vay có liên quan với nhau, trong và ngoài bảng cân đối kế toán (Nguyên tắc 5) Tức là đối với mỗi khách hàng khác nhau thì hạn mức CNNHTMNN có thể cho vay là khác nhau và khi cho vay CNNHTMNN phải đảm bảo an toàn trong hoạt vay

- Có quy trình rõ ràng được thiết lập cho việc phê duyệt các khoản cho vay mới, giới hạn các khoản cho vay hiện có (Nguyên tắc 6) Quy trình cho vay cần phải quy định rõ ràng để chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài xem xét, quyết định một cách chính xác có cho vay hay không cho vay đối với khoản vay đó, có thu hồi được vốn hay không

- Việc cho vay phải dựa trên cơ sở giao dịch thương mại thông thường, quản

lý chặt chẽ các khoản vay đối với các doanh nghiệp và cá nhân có liên quan, làm giảm bớt rủi ro cho vay (Nguyên tắc 7) Trong quá trình thực hiện hoạt động cho vay của CNNHTMNN sẽ có một số đối tượng tượng lợi dụng chức vụ quyền hạn để tạo ra các giao dịch nhằm mục đích tư lợi cá nhân và điều này làm gia tăng rủi ro trong hoạt động cho vay Vì vậy cần quy định một số đối tượng mà CNNHTMNN không được cho vay, hạn chế cho vay để hạn chế các rủi ro trong hoạt động cho vay của CNNHTMNN

Trong quá trình cho vay ngân hàng phải thực hiện việc quản lý, đo lường và theo dõi việc cho vay theo nguyên tắc: i) Áp dụng quy trình quản lý cho vay có hiệu quả và đầy đủ đối với các danh mục cho vay (nguyên tắc 8); ii) có hệ thống kiểm soát đối với các điều kiện liên quan đến từng khoản vay riêng lẻ, đáng giá tính đầy đủ của các khoản dự phòng rủi ro tín dụng (Nguyên tắc 9), iii) xây dựng

và sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ, hệ thống đánh giá cần phải nhất quán với các hoạt động của ngân hàng (Nguyên tắc 10); iv) Hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích phải giúp người quản lý đánh giá được các rủi ro tín dụng đối với các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế toán, cung cấp thông tin về cơ cấu

Trang 37

và thành phần danh mục cho vay, bao gồm cả việc phát hiện các tập trung rủi ro (Nguyên tắc 11); v) Có hệ thống nhằm kiểm soát đối với cơ cấu tổng thể của danh mục cho vay, chất lượng danh mục cho vay (Nguyên tắc 12); vi) Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện kinh tế có thể thay đổi về điều kiện kinh tế

có thể xảy ra trong tương lai trong những tình trạng khó khăn khi đánh giá danh mục cho vay (Nguyên tắc 13) [12, tr.63]

Các nguyên tắc trong Hiệp ước quốc tế về vốn Basal II nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng cũng như chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đảm bảo an toàn hệ thống tín dụng, ngân hàng

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

❖ Yếu tố pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Hoạt động huy động vốn và cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài có hiệu quả hay không thì yếu tố đầu tiên là các quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNNHNN có tạo điều kiện cho CNNNHNN thực hiện không Hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN mang tính rủi ro, mang tính dây chuyền, tác động ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Vì vậy mà bất kỳ

sự điều chỉnh nào của pháp luật về hoạt động huy động vốn và cho vay của CNNHTMNN đều ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn, cho vay của CNNHTMNN như các qui định về tỷ lệ bảo đảm an toàn của CNNHTMNN, quy định về lãi suất huy động vốn và cho vay buộc CNNHTMNN phải xem xét việc sử dụng vốn như nào có hiệu quả Nếu các quy định pháp luật về hoạt động huy động và cho vay của CNNHTMNN tạo điều kiện cho CHNNTMNN thực hiện huy động vốn, cho vay thì CNNHTNN thực hiện huy động vốn và cho vay một cách hiệu quả, dễ dàng huy động vốn, cạnh tranh công bằng trong hoạt động cho vay với ngân hàng trong nước, hạn chế được các rủi ro trong hoạt động cho vay và ngược lại

Trang 38

❖ Yếu tố về chính trị, kinh tế, xã hội

Sự ổn định chính trị hay chính sách ngoại giao cũng ảnh hưởng đến việc hoạt động huy động vốn, cho vay của CNNHTMNN Chính trị của một đất nước tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế Nếu chính trị ổn định thì đất nước

đó kinh tế phát triển và ngược lại, chính trị bất ổn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn đặc biệt

có thể khiến nhà đầu tư nước ngoài quay sang tìm kiếm cơ hội cả các nước khác có

sự ổn định về chính trị, kinh tế Bởi nền chính trị bất ổn là sự cạnh tranh vô cùng quyết liệt và chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ gặp khó khăn trong quá trình cạnh tranh để thực hiện hoạt động huy động vốn và cho vay Cuộc đảo chính tại Myanmar ngày 1/2/2021 đã làm cho nền kinh tế tại nước này bị ảnh hưởng một cách nghiệm trọng Chính trị bất ổn tại Myanmar đã tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tại đây khiến doanh thu của các doanh nghiệp và thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng Do đó các ngân hàng tại Myanmar cũng như chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Myanmar cũng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, cho vay

Mức độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến thu nhập của cá nhân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, … Nếu nền kinh tế phát triển ổn định thì thu nhập của người lao động tăng lên, hoạt động kinh doanh của các các cá nhân tổ chức cũng phát triển và họ sẽ có những nguồn tiền nhàn rỗi không dùng đến cũng nhiều hơn và CNNHTMNN dễ dàng huy động vốn hay những cá nhân tổ chức vay vốn sẽ có khả năng trả nợ cao hơn nợ xấu giảm xuống Ngược lại, nếu nền kinh tế bất ổn, lạm pháp thì CNNHTMNN sẽ khó huy động vốn và để huy động vốn CNNHTMNN bắt buộc tăng lãi suất huy động cao hơn chi phí huy động vốn lúc này rất lớn và chính vì vậy việc cho vay gặp khó khăn Điển hình, dịch Covid 19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cuộc sống của người dân, tác động lớn đến thương mại, dịch vụ, hoạt động ngân hàng, toàn bộ nền kinh tế trên thế giới Dịch Covid -19 khiến các ngân hàng thương mại nói chung và CNNHTMNN nói riêng huy động vốn khó khăn và ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc cho vay vì cầu tín

Trang 39

dụng giảm Vì vậy lãi suất giảm theo do không còn áp lực cạnh tranh Người vay vốn không có khả năng trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn do doanh thu bị thụt giảm Mặt khác, trong giai đoạn dịch Covid 19 giá vàng trong nước và quốc tế biến động lớn ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư của nhiều người Vì vậy mà nhiều ngân hàng gặp tình trạng khách hàng rút tiền tiết kiệm để chuyển sang đầu tư vàng hoặc bất động sản do lãi suất ngân hàng giảm Bên cạnh đó, nhu cầu vay vốn cũng giảm do doanh nghiệp hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, nhiều người lao động bị mất việc làm, hoặc cắt giảm lương, cắt giảm việc làm, thu nhập của người dân không ổn định

❖ Yếu tố về năng lực của chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Khách hàng thường đánh giá sự uy tín của một ngân hàng dựa vào sự an toàn, quy mô, chất lượng dịch vụ, công nghệ, … để đặt niềm tin gửi tiền, vay vốn tại một ngân hàng Ngân hàng tạo được sự uy tín với khách hàng sẽ dễ dàng thực hiện nghiệp vụ huy động vốn hoặc cho vay Các CNNHTMNN tại Việt Nam thường được khách hàng đánh giá uy tín hơn với ngân hàng thương mại trong nước vì vậy

mà CNNHTMNN sẽ dễ dàng huy động vốn hơn

Năng lực tài chính của CNNHTMNN được thể hiện ở vốn của CNNHTMNN Vốn là yếu tố tạo sức mạnh, khả năng cạnh tranh của CNNHTMNN, CNNHTMNN

có đủ vốn, vốn lớn sẽ đảm bảo CNNHTMNN đó hoạt động an toàn và khách hàng

sẽ đặt niềm tin vào CNNHTMNN đó do đó CNNHTMNN dễ dàng huy động vốn Với sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo ra bước đột phá trong cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng Ngân hàng nào nắm bắt xu hướng công nghệ mới, hiện đại, làm chủ được những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sẽ có lợi thế trong cạnh tranh Và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thường có lợi thế công nghệ, chất lượng dịch vụ tốt so với ngân hàng trong nước vì vậy mà khách hàng thường tin tưởng các CNNHTMNN, ngân hàng 100% vốn nước ngoài để gửi tiền Nếu CNNHTMNN nào không chịu phát triển công nghệ, nắm bắt

xu hướng thì sẽ đi lùi với sự phát triển của nền kinh tế và khó có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng có công nghệ hiện đại để huy động vốn, cho vay để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình

Trang 40

Năng lực và trình độ quản lý của cán bộ CNNHTMNN, nếu quản lý tốt CNNHTMNN sẽ đảm bảo an toàn vốn, nâng cao được năng lực cạnh tranh từ đó thu hút được các nguồn tiền nhàn rỗi của khách hàng, thực hiện hoạt động cho vay hiệu quả, giảm tình trạng nợ xấu Trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm việc tại CNNHTMNN càng cao thì công tác huy động vốn càng dễ dàng, hiệu quả và nhanh chóng đồng thời hoạt động cho vay hoạt động hiệu quả hơn, tránh được các rủi ro không đáng

có, hoạt động cho vay cũng được thực hiện một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn

Chiến lược kinh doanh của CNNHTMNN cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh thành công của CNNHTMNN trên thị trường Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra các cơ hội mới… Dựa trên cơ

sở một chiến lược kinh doanh được xác lập, CNNHTMNN sẽ chuyển nó thành hành động, lập ra những kế hoạch bộ phận cho từng thời kỳ đảm bảo cho những mục tiêu

đã đề ra; đặc biệt có kế hoạch ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cho vay, huy động vốn như: kế hoạch tăng trưởng tín dụng, kế hoạch marketing, chính sách nhân sự…

❖ Yếu tố khác

Yếu tố hội nhập: Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập ngành ngân

hàng cũng không nằm ngoài xu thế đó Việt Nam đã mở cửa lĩnh vực dịch vụ ngân hàng theo các hiệp định đã ký kết như hiệp định song phương Việt Nam- Hoa Kỳ, hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, hiệp định tự do, xúc tiến và bảo

hộ đầu tư Việt Nam – Nhật Bản, cam kết gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, gia nhập WTO, Hiệp định xuyên Thái Bình Dương, Việt Nam từng bước mở cửa thị trường dịch vụ, tăng cường hợp tác tiền tệ - ngân hàng khu vực và quốc tế, dần xóa

bỏ sự phân biệt đối xử ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài Vì vậy cần phải hoàn thiện pháp luật, tạo điều kiện cho ngân hàng nước ngoài, CNNHTMNN hoạt động kinh doanh và được đối xử công bằng như ngân hàng trong nước Các quy định pháp luật phải phù hợp với thông lệ quốc tế, khu vực Do đó, pháp luật ngày càng được hoàn thiện, đổi mới theo hướng thực thi đầy đủ các cam kết quốc tế

về mở cửa thị trường xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng, minh bạch giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1999), Nghị định 13/1999/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 1999 về tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 13/1999/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 1999 về tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1999
2. Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng (2009), Kinh tế Việt Nam - Thăng trầm và đột phá, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam - Thăng trầm và đột phá
Tác giả: Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2021), Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2021
4. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2016), Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Thông tư số 34/2013/TT-NHNN quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 34/2013/TT-NHNN quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2013
7. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2016), Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng
Tác giả: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Năm: 2016
8. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2018), Thông tư 42/2018/TT-NHNN ngày 28 tháng 12 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN ngày 08 tháng 12 năm 2015 quy định về cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 42/2018/TT-NHNN ngày 28 tháng 12 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2015/TT-NHNN ngày 08 tháng 12 năm 2015 quy định về cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú
Tác giả: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Năm: 2018
9. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2018), Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi tiết kiệm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi tiết kiệm
Tác giả: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Năm: 2018
10. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2018), Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi có kỳ hạn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2018 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi có kỳ hạn
Tác giả: Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Năm: 2018
12. Nguyễn Văn Phương (2016), Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về cho vay của ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Phương
Năm: 2016
13. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật các tổ chức tín dụng 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các tổ chức tín dụng 2010
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
14. Nguyễn Văn Tuyến (2008), “Bàn về giao dịch phát hành giấy tờ có giá của TCTD”, Tạp chí ngân hàng, (09), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giao dịch phát hành giấy tờ có giá của TCTD”, "Tạp chí ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyến
Năm: 2008
15. Trần Khánh Tuyết (2014), Về việc thành lập và hoạt động của ngân hàng nước ngoài tại CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thành lập và hoạt động của ngân hàng nước ngoài tại CHDCND Lào
Tác giả: Trần Khánh Tuyết
Năm: 2014
16. Nguyễn Thị Thu Trang (2015), Địa vị pháp lý của ngân hàng nước ngoài theo pháp luật của một số nước trên thế giới, Luận văn thạc sĩ luật học Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của ngân hàng nước ngoài theo pháp luật của một số nước trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Trang
Năm: 2015
17. Trường Đại học công nghiệp TP.Hồ Chí Minh, Khoa tài chính - ngân hàng (2008), Giáo trình Tín dụng ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tín dụng ngân hàng
Tác giả: Trường Đại học công nghiệp TP.Hồ Chí Minh, Khoa tài chính - ngân hàng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2008
18. Michael Jose Fuchs (2002), Building trust developing the Russian financial sector, The World Bank Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Building trust developing the Russian financial sector
Tác giả: Michael Jose Fuchs
Năm: 2002
19. PricewaterhouseCoopers (2007-2008), A regulatory guide for foreign banks in the United States Khác
20. Regulation of the People's Republic of China on Administration of Foreign- funded Financial Institutions Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w