1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh lai châu

117 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đăng Ký Kinh Doanh Trên Địa Bàn Tỉnh Lai Châu
Tác giả Lấ Tiến Dũng
Người hướng dẫn TS. Phan Thị Thanh Thủy
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 678 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể gianhập thi trường trong nước, quốc tế và hoạt động sản xuất kinh doanh đòihỏi phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ĐKKD, theo đó quy định phảiđáp ứng được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học nhà trường, Khoa Đào tạo sau đại học và Ban Giám hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Tiến Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, thực hiện công trình nghiên cứu này, tôi đanhận được sự quan tâm, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo KhoaLuật - Đại học Quốc gia Hà Nội, sự giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợinhất từ lanh đạo, đồng nghiệp

Với lòng kính trọng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới cácthầy giáo, cô giáo của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, lanh đạo, đồngnghiệp cơ quan: Thanh tra tỉnh, Hội Luật gia tỉnh, Trung tâm Phục vụ hànhchính công tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Lai Châu Tôi xin gửilời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới Tiến sỹ Phan Thị Thanh Thủy - Ngườihướng dẫn khoa học trực tiếp truyền đạt những kiến thức và tận tình hướngdẫn tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học để hoàn thành Luận văn tốtnghiệp của mình

Với tình cảm thân thương tôi xin cảm ơn gia đình, những người thânluôn bên cạnh động viên, chia sẻ, dành thời gian cho tôi để hoàn thành khóahọc và công trình nghiên cứu này với kết quả cao nhất

Mặc dù có nhiều cố gắng song khả năng nghiên cứu của bản thân cònhạn chế vì đây là đề tài mới, nguồn tài liệu không nhiều, chưa có ngườinghiên cứu công trình trên địa bàn tỉnh Lai Châu, nhất là trong thời điểm giaothời giữa Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 mớiban hành (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020) dẫn đến luật cũ hết hiệulực, nên chắc chắn Luận văn không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế,thiếu sót nhất định, bản thân rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chânthành từ các thầy giáo, cô giáo, lanh đạo, đồng nghiệp để tôi tiếp tục hoànthiện công trình nghiên cứu này

Qua công trình nghiên cứu, tôi đa hiểu thêm, trau dồi được phươngpháp, kỹ năng nghiên cứu khoa học, điều đó giúp tôi làm chủ kiến thứcchuyên môn, bồi đắp thêm lòng tâm huyết yêu nghề và mong muốn có nhữngđóng góp thiết thực ít nhiều vào thực tiễn công tác trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 4.1 Đối tượng nghiên cứu 5 Nhà đầu tư (doanh nghiệp) Chủ thể thực hiện việc ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu 5

- Giới hạn nội dung: Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2020 5

- Giới hạn về thời gian: 05 năm, giai đoạn 2015 - 2019 5

- Giới hạn không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lai Châu .6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

3 Công ty TNHH Công ty Trách nhiệm hữu hạn

8 Giấy CNĐKDN Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

9 Giấy CNĐKKD Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

10 Luật Doanh nghiệp 2014 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày

26/11/2014

Trang 8

Bảng 2.2 Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn 08 đơn vị hành

chính tỉnh Lai Châu tính đến 31/12/2019

Error:Referencesourcenotfound

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh doanh là hoạt động buôn bán, môi giới, thương mại, … nhằm mụcđích sinh lợi nhuận nên đòi hỏi nhà đầu tư phải đáp ứng được các yêu cầutheo quy định của pháp luật Các nhà đầu tư có thể tiến hành hoạt động kinhdoanh dưới nhiều hình thức khác nhau: Dưới danh nghĩa cá nhân (hộ kinhdoanh cá thể) hoặc ĐKKD thành lập doanh nghiệp Chính vì vậy ĐKKD đượcnhìn nhận dưới nhiều phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xa hội, pháp

lý, Ở góc độ pháp lý ĐKKD được hiểu là một hoạt động pháp lý, theo đónhà đầu tư (doanh nghiệp) thực hiện việc đăng ký với cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền (cơ quan ĐKKD) nhằm ghi nhận sự ra đời của doanh nghiệp vàxác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp trên thị trường Nói cách khác,ĐKKD là hành vi pháp lý để gia nhập thị trường của các thương nhân Kinhdoanh dù lớn, nhỏ hay hoạt động dưới hình thức nào thì doanh nghiệp cũngcần phải ĐKKD, đây là quy định của pháp luật mang tính bắt buộc của Nhànước đối với doanh nghiệp Quy định này nhằm giúp cho thị trường nhanhchóng nhận diện được chủ sở hữu chính thức của doanh nghiệp để có biệnpháp tiếp cận xử lý các quan hệ trong kinh doanh ĐKKD còn giúp cho Nhànước quản lý hoạt động doanh nghiệp được dễ dàng hơn, tạo điều kiện chocác chủ sở hữu được quyền tự do kinh doanh, thúc đẩy các Chủ thể kinh

doanh tham gia vào “sân chơi chung”, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp chính đáng của mình Khi doanh nghiệp ĐKKD, nghĩa là doanh nghiệp

đó đang thực hiện đúng quy định của pháp luật Ngược lại nếu doanh nghiệphoạt động mà không ĐKKD thì đồng nghĩa với việc vi phạm pháp luật, còn bị

xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, đồng thời sẽ khôngđược hưởng bất kì chính sách, bảo hộ, ưu đai của Nhà nước dành cho doanh

Trang 10

nghiệp đó.

Điều kiện thành lập và ĐKKD được quy định không hoàn toàn giốngnhau cho từng loại hình doanh nghiệp, ngoài những điều kiện chung, mỗi loạihình doanh nghiệp lại đặt ra những điều kiện riêng, tuy vậy tất cả đều cần

phải ĐKKD, có thể coi Giấy phép ĐKKD là “giấy phép thông hành” của các

nhà đầu tư Trong quá trình thực thi trình tự, thủ tục ĐKKD, cả cơ quanĐKKD và doanh nghiệp đều chịu sự tác động, điều chỉnh của pháp luật vềĐKKD Do đó pháp luật về ĐKKD có nội dung, đặc điểm riêng được thựchiện theo những nguyên tắc cơ bản trên cơ sở các QPPL điều chỉnh mối quan

hệ xa hội giữa Chủ thể ĐKKD với cơ quan ĐKKD trong việc ĐKKD, trình

tự, thủ tục ĐKKD, các chế tài để đảm bảo việc ĐKKD được thực hiện đúngquy định pháp luật hiện hành

Là công chức hiện đang công tác tại địa phương, tôi nhận thấy mặc dù

đa có rất nhiều CCHC trong công tác ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp số68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, nhưnghiện tại các quy định hiện hành của pháp luật về ĐKKD vẫn còn nhiều bấtcấp, chồng chéo, mâu thuẫn, chưa có sự thống nhất, thường xuyên có sự thayđổi, bổ sung, bai bỏ, gây khó khăn cho các chủ đầu tư, cơ quan đăng kýkinh doanh, nhất là thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Lai Châu còn lúngtúng, không dễ thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật hiện hành,

do đó cần phải nắm vững nội dung cơ bản của pháp luật về ĐKKD và vậndụng đúng các quy định của pháp luật để áp dụng vào thực tiễn Bên cạnh đótập chung hướng đến bổ sung, hoàn thiện các giải pháp và kiến nghị nhằmhoàn thiện các quy định pháp luật về ĐKKD và nâng cao hiệu quả thực thitrên địa bàn tỉnh Lai Châu, điều này rất cần có sự nghiên cứu tâm huyết mangtính khoa học cả về lý luận và thực tiễn

Xuất phát từ yêu cầu trên, nhất là yêu cầu của pháp luật về ĐKKD nói

Trang 11

chung và thực tiễn áp dụng ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói riêng, tôi

mạnh dạn lựa chọn Đề tài “Đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lai Châu”

làm công trình nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh

tế (định hướng ứng dụng) là rất cần thiết, có cơ sở về lý luận và thực tiễn

“Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh; Nguyễn Thị Thu Thủy (2016), Luận án Tiến sĩ luật học “Pháp luật

về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”; Nguyễn Thị Thủy (2016), Luận văn Thạc sỹ luật học “Thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn

Hà Nội”; Nguyễn Thị Nga (2016), Luận văn Thạc sỹ luật học “Thủ tục đăng

ký thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”; Nguyễn Thị Thu Hà (2013), Luận văn Thạc sỹ luật học “Pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp”; Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Luận văn Thạc sỹ luật học

“Nghiên cứu so sánh pháp luật về thành lập doanh nghiệp”; Trần Tố Uyên (2005), Luận văn Thạc sỹ luật học “Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện”; Học viện Tư pháp (2012), Kỹ năng tư vấn pháp luật - Nhà xuất bản Công an nhân dân; Ts Trần Thị Hồng

Minh - Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (2019), Cải cách đăng ký

kinh doanh: “Những kết quả sau gần 4 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư”, trên Web: Cổng thông tin quốc gia đăng ký doanh nghiệp; Ngọc Khanh (2019), Luật sửa đổi vì đã lỗi thời, trên Web: Thời báo Ngân

Trang 12

hàng của cơ quan Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nguồn: www.mpi.gov.vn

(2019) “Tiếp tục hoàn thiện hơn nữa một số quy định của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp”, trên Cổng thông tin Ban Quản lý khu công nghiệp cao Hòa Lạc; Nguyễn Thanh Hòa (2018), “Cục Quản lý đăng ký kinh doanh tăng cường tuyên truyền, phổ biến quy định về các nội dung liên quan đến đăng ký doanh nghiệp” trên Cổng Thông tin quốc gia đăng ký doanh nghiệp; …

Ngoài ra còn có các báo cáo của UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư và các

cơ quan, tổ chức có liên quan cũng phản ánh về vấn đề này, nhìn chung cácLuận văn, công trình, tài liệu trên tập trung nghiên cứu mang tính vĩ mô, tổngthể, khái quát Có thể thấy các công trình nghiên cứu cụ thể trên đa đề cậpmột cách toàn diện pháp luật về ĐKKD cả về mặt lý luận và thực tiễn Đây làcác tài liệu tham khảo hết sức quý giá chủ yếu tập trung về ĐKKD, tuy nhiên,mới chỉ dừng lại ở những mức độ đóng góp khác nhau, xét về mặt lý luậnpháp luật về ĐKKD cơ bản là giống nhau nhưng xét về thực tiễn áp dụngpháp luật ĐKKD ở các tỉnh Biên giới Miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh LaiChâu (một trong những tỉnh khó khăn nhất trong cả nước) thì vẫn còn phải có

sự nghiên cứu sâu hơn Đây là đề tài mới, được nghiên cứu lần đầu tiên tạitỉnh Lai Châu cơ bản mang tính toàn diện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp, chính đáng của Chủ thể ĐKKD, đặc biệt là thực tiễn áp dụng pháp luật

về ĐKKD tại tỉnh Lai Châu còn có những tồn tại, hạn chế nhất định cần phải

có những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật vềĐKKD và nâng cao hiệu quả thực thi trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Qua nghiên cứu có thể khẳng định đến nay chưa có công trình nghiêncứu nào ở cấp độ Thạc sĩ về ĐKKD tại địa phương, nên việc nghiên cứu Đề

tài “Đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lai Châu” là không trùng lặp với

bất cứ đề tài nào trước đây Vì vậy tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài trên làm Luận

văn Thạc sỹ luật học Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện cả

Trang 13

về lý luận và thực tiễn về vấn đền này trên địa bàn tỉnh Lai Châu.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là hệ thống hóa những vấn

đề lý luận, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về ĐKKD ở ViệtNam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Lai Châu, qua đó đưa ra các giải

pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về ĐKKD và nâng

cao hiệu quả thực thi ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật vềĐKKD như: khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, ý nghĩa của ĐKKD; cácđiều kiện, yếu tố ảnh hưởng đến chủ thể ĐKKD; nội dung của pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhà đầu tư (doanh nghiệp) Chủ thể thực hiện việc ĐKKD trên địa bàntỉnh Lai Châu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nội dung: Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2020

- Giới hạn về thời gian: 05 năm, giai đoạn 2015 - 2019

Trang 14

- Giới hạn không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lai Châu.

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài lấy phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật làm nền tảng, các quan điểm chủ đạocủa Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực ĐKKD làm phương pháp luận cho việcnghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp sử dụng linh hoạt và hợp lý nhiềuphương pháp nghiên cứu giữa lý luận với thực tiễn cụ thể khác nhau phù hợpvới từng phần của đề tài như: Hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, thống kê, sosánh, đối chiếu, tọa đàm, trao đổi;

- Phương pháp thu thập tài liệu: Có hai nguồn tài liệu cần thu thập là tàiliệu đa công bố (tài liệu thứ cấp), tài liệu mới (tài liệu sơ cấp)

- Phương pháp phân tích: Có ba phương pháp phân tích là phương phápthống kê, phương pháp phân tích logic, phương pháp phân tích suy diễn

6 Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài

Đây là đề tài đa được một số nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độkhác nhau chuyên sâu về pháp luật trong hoạt động ĐKKD Tuy nhiên, xét vềmặt lý luận pháp luật về ĐKKD cơ bản là giống nhau nhưng xét về thực tiễnáp dụng ở các tỉnh Biên giới Miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Lai Châu(một trong những tỉnh khó khăn nhất trong cả nước) thì đây là đề tài mới,được nghiên cứu lần đầu tiên tại tỉnh Lai Châu cơ bản mang tính toàn diệnnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Chủ thể ĐKKD, đặcbiệt là thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐKKD tại tỉnh Lai Châu còn có nhữngtồn tại, hạn chế nhất định cần phải có những giải pháp thiết thực nhằm nângcao hơn nữa hiệu quả việc thực thi ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn giải quyết các yêu cầu của đề tài và có một số đóng góp nhấtđịnh về lý luận, thực tiễn thể hiện ở những nội dung cụ thể sau:

Trang 15

- Tiếp tục nghiên cứu hệ thống pháp luật về ĐKKD.

- Làm rõ thực trạng và phân tích thực tiễn ĐKKD trên địa bàn tỉnh LaiChâu, đặc biệt là việc áp dụng các quy định pháp luật về ĐKKD nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Chủ thể ĐKKD trên địa bàn tỉnhLai Châu

- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định

pháp luật về ĐKKD, đặc biệt là nâng cao hiệu quả thực thi ĐKKD trên địabàn tỉnh Lai Châu

- Làm nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

và cá nhân liên quan đến việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật vềĐKKD, nhất là việc ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về ĐKKD.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về ĐKKD và thực tiễn áp dụng trên

địa bàn tỉnh Lai Châu

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp

luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ

ĐĂNG KÝ KINH DOANH

1.1 Khái quát chung về đăng ký kinh doanh

1.1.1 Khái niệm đăng ký kinh doanh

Trong quan hệ quốc tế (đa phương, song phương) về kinh tế nói chung

và lĩnh vực thương mại nói riêng đóng vai trò rất quan trọng Để có thể gianhập thi trường (trong nước, quốc tế) và hoạt động sản xuất kinh doanh đòihỏi phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ĐKKD, theo đó quy định phảiđáp ứng được các điều kiện như: Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời hạn, … mộttrong những điều kiện đầu tiên, quan trọng là Chủ thể kinh doanh phải ĐKKDvới cơ quan quản lý Nhà nước, qua đó xác nhận sự ra đời của Chủ thể kinhdoanh trên thị trường đó

Trước đây kinh doanh và tự do kinh doanh không được thừa nhậntrong lý luận và thực tiễn pháp luật của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIInăm 1986, quyền tự do kinh doanh của công dân cũng đa được ghi nhận

trong Hiến pháp 1992, khái niệm “Đăng ký kinh doanh” đa được ghi nhận

trong Luật Công ty năm 1990 và tiếp tục được khẳng định trong Luật Doanhnghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 Tuy vậy mới chỉ quy định ĐKKDnhư một chế định về quyền, nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh, chưa quy định

cụ thể về thuật ngữ ĐKKD Do đó thuật ngữ “Đăng ký kinh doanh” chỉ đơn thuần được ghép lại từ hai cụm từ “Đăng ký” và “Kinh doanh” Tuy nhiên, chỉ

đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 vềĐKDN, qua đó thống nhất quy trình ĐKKD với đăng ký thuế, theo đó mỗidoanh nghiệp sẽ được cấp một ma số duy nhất gọi là ma số doanh nghiệp (ma

Trang 17

số này cũng chính là ma số thuế của doanh nghiệp) chính vì vậy thuật ngữ

“Đăng ký kinh doanh” được thay thế bằng thuật ngữ “Đăng ký doanh nghiệp”.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xa hội và Trung

tâm từ điển (năm 1994) giải thích từ ngữ thì “Đăng ký được hiểu là việc ghi vào sổ của cơ quan quản lý để chính thức công nhận cho hưởng quyền lợi, nghĩa vụ hay nói một cách khác đó là bằng chứng công nhận bắt đầu sự tồn tại hoặc chấm rứt một sự kiện hay một hiện tượng pháp luật” [30]

Theo Từ điển Tiếng Việt (năm 1998) do tác giả Hoàng Phê chủ biên,

giải thích từ ngữ thì “Kinh doanh” được hiểu theo hai nghĩa: “1 Kinh doanh

có nghĩa là mở mang thêm”, “2 Tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời” [31].

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp

do Nhà xuất bản Tư pháp phối hợp với Nhà xuất từ điển Bách khoa xuất bản

(năm 2006) giải thích từ ngữ thì “Kinh doanh được hiểu là các hoạt động đầu

tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ do các chủ thể kinh doanh tiến hành một các độc lập, thường xuyên trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận”

[60]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (năm 2011) giải thích từ ngữ thì

“Đăng ký được hiểu là chính thức ghi vào văn bản của cơ quan pháp luật những thông tin cần thiết của sự kiện làm cơ sở phát sinh hoặc chấm dứt những quan hệ pháp lý nhất định; bằng chứng công nhận sự bắt đầu tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện, hiện tượng theo pháp luật” [27]

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 giải thích từ ngữ thì “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [43, Điều 4, Khoản 16]

Hiện nay theo Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích từ ngữ thì “Kinh

Trang 18

doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” [48, Điều 4, Khoản 21].

Chính vì vậy kinh doanh còn được coi là một hoạt động sáng tạo củaloài người như sáng tạo ra sản phẩm mới và dịch vụ mới cho con người, cho

xa hội, tạo ra việc làm cho xa hội, tạo ra các khoản thuế nộp ngân sách để xâydựng đất nước và cuối cùng là tạo động lực thức đẩy xa hội phát triển, chínhnhờ tính chất này mà kinh doanh trở nên phổ biến, thu hút sự tham gia củahầu hết người dân trong xa hội

Như vậy ĐKKD là một trong những hoạt động của doanh nghiệp tuykhông trực tiếp tạo ra của cải vật chất, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận, nhưng đây

là hoạt động tạo tiền đề, cơ sở cần thiết để doanh nghiệp có thể được tiếnhành hoạt động Do đó thủ tục ĐKKD được xem như bắt buộc đối với doanhnghiệp khi mới thành lập Theo đó, các loại hình doanh nghiệp đều phải đến

Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương (hiệnnay là Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh) để làm thủ tục cấp Giấy phépkinh doanh nếu có đủ điều kiện để hoạt động kinh doanh Riêng loại hình kinhdoanh hộ gia đình chỉ có Giấy CNĐKKD do cấp huyện nơi đặt trụ sở chínhcấp Vì vậy việc ĐKKD để biết được doanh nghiệp đăng ký đúng với ngànhnghề được pháp luật cho phép không và các ngành nghề đăng ký sẽ khôngđược nắm trong danh sách cấm kinh doanh của pháp luật Ngoài ra ĐKKDnhằm quản lý các công việc kinh doanh của doanh nghiệp và thương nhân,Nhà nước bắt buộc phải hoàn thành một trong những TTHC đó là đăng kýGiấy phép kinh doanh Việc có trong tay Giấy phép kinh doanh cũng là cách

để doanh nghiệp có thể chứng mình được việc làm ăn kinh doanh của doanhnghiệp mình là hoàn toàn hợp pháp Tóm lại ĐKKD là một trong những thủtục quan trọng, bước đệm để được cấp Giấy phép kinh doanh và là hoạt động

Trang 19

để thông hành, một chứng từ chứng nhận cho chủ thể được quyền kinh doanhcác mặt hàng theo đúng quy định của pháp luật (Nghĩa là một trong nhữnggiấy tờ pháp lý rất quan trọng, nhờ có các giấy tờ này mà các cá nhân, tổchức, các hộ kinh doanh có thể kinh doanh các mặt hàng đa đăng ký - thể hiện

sự quản lý của Nhà nước liên quan đến ngành nghề kinh doanh, đồng thời biếtđược những mặt hàng nào bị cấm như kinh doanh) Thông qua hoạt động này,Nhà nước đa ban hành một hệ thống pháp luật chặt chẽ để các chủ thể thựchiện theo trình tự, thủ tục nhất định

1.1.2 Đặc điểm của đăng ký kinh doanh

* ĐKKD một trong những phương thức thực hiện quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh

Theo các quy định tại: Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền tự

do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [41, Điều 33]; Luật Doanh nghiệp năm 2014 “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm” [41, Điều 7, Khoản 1]; Bộ luật Lao động năm 2012

“Tạo điều kiện thuận lợi đối với các hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động” [39, Điều 4, Khoản 3] Như vậy quyền tự do kinh

doanh được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân; quyền

tự do kinh doanh được tổ chức, cá nhân thực hiện trong khuôn khổ nhữngngành, nghề không bị cấm, kinh doanh đơn ngành hoặc đa ngành (Riêng đốivới những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì việc kinh doanh được thựchiện sau khi đáp ứng đủ các điều kiện của ngành nghề đó); quyền được tự dolựa chọn mô hình kinh doanh cho mình từ việc quyết định về vốn đầu tư, chỉcần mức vốn đó đáp ứng quy định về vốn pháp định tối thiểu nếu là kinhdoanh một số ngành nghề đặc thù theo quy định Bên cạnh đó, có thể quyếtđịnh điều chỉnh quy mô kinh doanh của mình thông qua việc huy động vốn;

Trang 20

được quyền tự lựa chọn loại hình tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu

tư kinh doanh, chỉ cần đảm bảo các quy định về loại hình đó như: Hộ kinhdoanh, DNTN, Công ty HD, Công ty TNHH, Công ty CP Quyền tự do lựachọn loại hình tổ chức kinh tế khi thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thểđược toàn quyền thực hiện những vấn đề liên quan như: Lựa chọn kháchhàng, thỏa thuận, ký kết hợp đồng, nội dung thực hiện, …; khi thực hiện hoạtđộng kinh doanh, các chủ thể được tự do cạnh tranh một cách lành mạnh Khiphát sinh tranh chấp, các chủ thể có thể lựa chọn hình thức giải quyết tranhchấp được pháp luật quy định như: Thương lượng, hòa giải, trọng tài thươngmại hay tòa án, …; việc tự do kinh doanh này còn được thể hiện qua việc họ cótoàn quyền tự chủ trong việc kinh doanh, toàn quyền lực chọn về hình thức,ngành, nghề liên quan và vấn đề khác có liên quan như: Địa bàn, quy mô, sốlượng người đầu tư, vốn đầu tư, phương thức, cách thức huy động vốn, Nhưvậy kinh doanh là hoạt động sản xuất, dịch vụ và trao đổi hàng hóa nhằm mụcđích tìm kiếm lợi nhuận

Đặc điểm cơ bản của quyền tự do kinh doanh đó là:

Quyền tự do kinh doanh dưới góc độ pháp lý là quyền của các chủthể kinh doanh trong việc lựa chọn các lĩnh vực ngành nghề để đầu tư vốn,sức lao động, máy móc thiết bị, cách thức quản lý, … nhằm tiến hành hoạtđộng kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh có cơ sở pháp lý là toàn bộ các quy định củaNhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các Chủ thể kinh doanh thực hiệnhoạt động kinh doanh một cách hợp lý Quyền tự do kinh doanh của các chủthể kinh doanh có nội dung rất rộng bao gồm nhiều nội dung khác nhau:Quyền chủ động mở rộng quy mô ngành nghề kinh doanh; quyền chủ độngtìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; quyền tuyển, thuê sửdụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; quyền từ chối, tố cáo mọi yêu cầu

Trang 21

cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kỳ các cơquan, tổ chức hay cá nhân nào … ở mỗi loại hình chủ thể kinh doanh, phápluật có những quy định cụ thể, chi tiết về quyền của chúng trong các VBQPPLtương ứng.

Việc thực hiện quyền tự do kinh doanh chỉ được thực hiện trong phạm

vi khuôn khổ những ngành, nghề được pháp luật cho phép, nghiêm cấm mọihành vi kinh doanh đối với các ngành, nghề kinh doanh cấm đầu tư kinhdoanh Điều này có thể hiểu khi thực hiện hoạt động kinh doanh, chủ thể kinhdoanh cần loại trừ những ngành nghề mà pháp luật cấm Những ngành, nghề

mà pháp luật cấm kinh doanh được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật Đầu tư2014; một số ngành, nghề kinh doanh đặc thù, cá nhân, tổ chức có quyền tự

do kinh doanh nhưng chỉ khi đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luậtđặt ra nhằm đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xa hội, sức khỏe,đạo đức (Những ngành, nghề đầu tư kinh doanh đặc thù cần có điều kiện đượcquy định rõ trong danh mục ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014 Điềukiện để được kinh doanh đối với một số ngành nghề đặc thù được quy định rõtrong các VBQPPL do Việt Nam ban hành và điều ước quốc tế mà Việt Nam

là thành viên)

Như vậy khái niệm “Kinh doanh” gắn liền với quyền tự do kinh doanh

với tư cách là một bộ phận cấu thành của phạm trù quyền tự do của công dân,

nó tồn tại như một nhu cầu tất yếu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường Cóthể nói trong hoạt động quản lý kinh tế, Nhà nước quy định chủ thể kinhdoanh nhiều quyền có ý nghĩa tác dụng rất lớn, góp phần tạo lập hành langpháp lý, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh, hạn chế

những “nhũng nhiễu”, “sách nhiễu” từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước.

* ĐKKD một trong những phương thức đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh

Trang 22

Hiện nay về mặt pháp lý khái niệm “Chủ thể kinh doanh” không được

định nghĩa và quy định tại bất kỳ VBPL nào Tuy nhiên, căn cứ vào nghĩa của

từ, nghĩa rộng là tất cả các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi kinh doanh theoquy định của pháp luật, nghĩa hẹp là bất kỳ những đối tượng nào (tổ chức, cánhân, hợp tác xa, hộ gia đình…) đa làm các thủ tục theo quy định và được cơquan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy CNĐKKD hay Giấy CNĐKĐT vàthực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh, thu lợi nhuận từ hoạt động sản xuấtkinh doanh trong những ngành, nghề, lĩnh vực theo quy định của pháp luật

Với tư cách là một chủ thể pháp lý độc lập, các chủ thể kinh doanhkhông chỉ tham gia vào các quan hệ xa hội khác do các ngành luật khác nhauđiều chỉnh Do vậy, quyền của chủ thể kinh doanh trong các quan hệ pháp luậtkhác nhau là khác nhau, có thể được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng: Quyền của chủ thể kinh doanh là các quyền về tự dokinh doanh, quyền được Nhà nước bảo hộ về sở hữu tài sản, quyền bình đẳngtrước pháp luật giữa các loại hình kinh doanh

Theo nghĩa hẹp: Quyền của chủ thể kinh doanh là các quyền mà cácbên có được ghi nhận trong các cam kết, thoả thuận do các bên ký kết trongquá trình hoạt động kinh doanh, đó là các hợp đồng có mục đích kinh doanh

về sản xuất, mua bán, trao đổi, ký gửi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ … hoặccác bản điều lệ về góp vốn thành lập công ty, về phân chia lợi nhuận hoặcnhững văn bản thoả thuận về việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu, …

Theo đó các quyền của chủ thể kinh doanh luôn được Nhà nước bảođảm thực hiện trong môi trường ổn định, lành mạnh như: Công nhận sự tồntại và phát triển; công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thunhập, Bên cạnh đó còn thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế đadạng như: Thuế, hỗ trợ, ưu đai, … qua đó đảm bảo cho chủ thể kinh doanhthực hiện quyền hiệu quả nhất

Trang 23

Thông thường pháp luật quy định về quyền là cơ sở để Nhà nước xácđịnh phương pháp, cách thức, công cụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cácchủ thể kinh doanh một cách phù hợp khi chúng bị xâm hại, thì cũng đi kèmtheo đó là nghĩa vụ bắt buộc hoặc nhất định đối với chủ thể kinh doanh hướngcác quan hệ kinh doanh phát triển tích cực, đặt chúng trong mối quan hệ hàihoà với lợi ích chung của nền KTXH, đó là nghĩa vụ về thống kê, tài chính kếtoán, kinh doanh đúng ngành nghề đa đăng ký, … cũng như tuân thủ các quyđịnh về an ninh, quốc phòng, bảo vệ tài nguyên môi trường, di tích lịch sử vănhoá, danh lam, thắng cảnh.

Như vậy pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ của chủ thể khi ĐKKD thểhiện giới hạn có được khi được công nhận là tổ chức kinh tế, Nhà nước cótrách nhiệm đảm bảo cho chủ thể yên tâm kinh doanh trong môi trường tựchủ, lành mạnh và tự chịu trách nhiệm

* ĐKKD một trong những thủ tục đầu tiên để gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh

Theo Từ điển Tiếng Việt (năm 1998) do tác giả Hoàng Phê chủ biên

giải thích từ ngữ thì “Gia” nghĩa là cho thêm, tăng thêm, gia tăng “Nhập” nghĩa là vào, do đó “Gia nhập” được hiểu là thêm vào, cho vào chỉ có tăng

mà không có giảm [31].

Về mặt pháp lý: Gia nhập thị trường là một quá trình mà chủ thể kinhdoanh phải thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết để có thể kinh doanh được.Khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: ĐKKD; đăng ký ma số thuế (hiệnnay đa gộp ĐKKD với đăng ký ma số thuế vào thành một); đăng ký giấy phépkhắc dấu (hiện nay việc thông báo mẫu con dấu đa được bai bỏ)

Một trong những yếu tố có tác động không nhỏ đến việc gia nhậpthị trường của các chủ thể kinh doanh là chi phí gia nhập thị trường, mộttrong những chỉ số được đo, tính bằng thời gian qua chi phí chính thức,chi phí không chính thức để chủ thể kinh doanh có thể hoàn tất thủ tục để

Trang 24

gia nhập thị trường.

Như vậy việc quy định thủ tục để gia nhập thị trường của các chủ thểkinh doanh là nhằm thừa nhận, bảo vệ địa vị pháp lý của doanh nghiệp tronghoạt động ĐKKD

* ĐKKD một trong những việc chủ thể kinh doanh được cấp Giấy CNĐKDN (Công ty TTHH; Công ty CP; Công ty HD; DNTN)

“Giấy CNĐKDN là văn bản giấy hoặc văn bản điện tử mà cơ quan ĐKKD cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về ĐKDN” [43, Điều 4, Khoản 12]

“Giấy CNĐKDN là văn bản bằng bản giấy hoặc bản điện tử ghi lại những thông tin về ĐKDN mà cơ quan ĐKKD cấp cho doanh nghiệp”

[48, Điều 4, Khoản 15]

Giấy CNĐKDN về bản chất là loại văn bản mang tính chất pháp lý do

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép, công nhận, đồng ý cho chủthể kinh doanh cá nhân, tổ chức thực hiện một hay nhiều hoạt động kinhdoanh Thông qua việc cấp Giấy CNĐKDN giúp Nhà nước quản lý, nắm bắt,tổng hợp tất cả các chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường để thựchiện chức năng cơ bản là thu thuế, bước khởi đầu của công tác quản lý, qua

đó tạo điều kiện cho chủ thể gia nhập thị trường, đảm bảo sự bình đằng giữachủ thể mới và chủ thể cũ Đây là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp cùnghoạt động, tham gia theo quy định chung, tạo môi trường cạnh tranh bìnhđẳng, lạnh mạnh Bên cạnh đó Nhà nước còn điều chỉnh việc quản lý hoạtđộng kinh doanh cho đúng định hướng, phù hợp với từng thời kỳ, phù hợp vớiyêu cầu biến đổi của nền kinh tế thị trường, từ đó chủ thể kinh doanh đóng vaitrò quan trọng, tạo đòn bẩy quyết định tốc độ phát triển, tăng trưởng nền kinh

tế của đất nước, là thước đo quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp bắt buộc

phải có hai loại giấy phép đó là “Giấy phép thành lập” và “Giấy phép hoạt

Trang 25

động”, cụ thể:

“Giấy phép thành lập” (hay còn gọi là Giấy CNĐKDN, đồng thời là

Giấy đăng ký thuế của doanh nghiệp) là Giấy phép được cấp cho doanhnghiệp thành lập, hoạt động, theo đó chứng nhận việc doanh nghiệp thực hiệnviệc đăng ký Giấy được ghi trên cơ sở thông tin trong hồ sơ đăng ký doanhnghiệp Tuy nhiên không được công nhận là Giấy phép ĐKKD [54]

“Giấy phép hoạt động” là Giấy phép có ghi điều kiện áp dụng đối với

doanh nghiệp khi đi vào hoạt động phải thỏa man những điều kiện cụ thể, trên

cơ sở pháp luật quy định đối với những ngành nghề, lĩnh vực doanh nghiệphoạt động kinh doanh [54]

Hiện nay theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 thì chỉ bắt buộcdoanh nghiệp phải có Giấy CNĐKDN bản giấy hoặc bản điện tử [48] Do đóchủ thể kinh doanh muốn hoạt động được phải thực hiện quy trình ĐKKD thìmới được cấp Giấy phép ĐKKD để tránh tình trạng vì mục đích kiếm lợinhuận mà kinh doanh các lĩnh vực ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự antoàn xa hội, vi phạm truyền thống, thuần phong, mỹ tục, văn hóa, đạo đức,ảnh hưởng đến giá trị cảnh quan, ô nhiễm môi trường, Qua đó giúp Nhànước nâng cao quyền trong việc bảo vệ lợi ích cộng đồng, chủ động điềuchỉnh, hạn chế những lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, sản xuất không có lợi,đồng thời giúp Nhà nước giám sát, kiểm tra chặt chẽ trên cơ sở các điều kiệnđược đặt ra cụ thể, rõ ràng, minh bạch, … yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứngmới chính thức được công nhận có tư cách pháp nhân để đi vào hoạt độngtrên thương trường

Như vậy Nhà nước (cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự địnhđặt trụ sở chính) không chỉ cấp Giấy CNĐKDN cho các chủ thể kinh doanh

để thực hiện các hoạt động kinh doanh, mà còn thực hiện việc giám sát, kiểmtra thường xuyên, định kỳ, đột xuất mọi hoạt động của chủ thể kinh doanhtheo nội dung đa đăng ký để kịp thời xử lý, góp phần đảm bảo sự bình đẳng

Trang 26

giữa các chủ thể kinh doanh, lợi ích cộng đồng, lợi ích của Nhà nước.

* ĐKKD một trong những dịch vụ hành chính công do cơ quan Nhà nước trực tiếp thực hiện

Theo United Nations Development Programme – UNDP “Tái thiết nềnhành chính công cho thế kỷ 21” (năm 2009):

Dịch vụ là những hoạt động mang tính phục vụ chuyên nghiệpnhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, của xa hội Dịch vụcông là những hoạt động phục vụ lợi ích chung, thiết yếu, cácquyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do Nhà nướctrực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho các cơ sở ngoài Nhà nướcthực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng [58]

Theo tác giả Lê Như Thanh “Những thách thức đối với nền hành chínhcông Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” (năm 2014):

Dịch vụ hành chính công là một loại hình dịch vụ do các cơ quanhành chính Nhà nước thực hiện để các quyền, nghĩa vụ cơ bản của

tổ chức, công dân hoặc có thể hiểu đây là những hoạt động phục vụcác quyền, nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức, công dân do các cơquan hành chính Nhà nước thực hiện theo đúng thẩm quyền đượcNhà nước giao [51, tr 18-22]

Đặc điểm riêng biệt để nhận biết ĐKKD một trong những dịch vụ hànhchính công, đồng thời phân biệt với loại hình dịch vụ công khác đó là việccung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền mang tính quyềnlực pháp lý, gắn với các hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước trongviệc cấp các loại giấy phép như Giấy phép ĐKKD, nên loại hình dịch vụ nàychỉ có thể do các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện Tuy nhiên dịch vụhành chính công cấp Giấy phép ĐKKD không có chức năng quản lý Nhànước, mà chỉ được xem là hoạt động phục vụ, Nhà nước bắt buộc và khuyếnkhích người dân phải làm, nhu cầu được cấp các loại giấy tờ trên không xuất

Trang 27

phát từ nhu cầu tự thân của họ mà xuất phát từ những quy định có tính chấtbắt buộc của Nhà nước Đây là một trong những loại hình trong hoạt động cấpGiấy phép ĐKKD cho chủ thể kinh doanh khi chủ thể này thành lập doanhnghiệp, một trong những giấy tờ chứng minh chủ thể này có đủ khả năng,điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.

Như vậy việc cung ứng dịch vụ hành chính công nói chung, trong đó códịch vụ cấp Giấy phép ĐKKD nói riêng là trách nhiệm của Nhà nước trước xahội, thể hiện trực tiếp vai trò của Nhà nước trước tổ chức, công dân Do đó cảicách dịch vụ hành chính công đa và đang trở thành nội dung quan trọng trongcải cách bộ máy Nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động củaNhà nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công dân

1.1.3 Nguyên tắc của đăng ký kinh doanh

* Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh là quyền cơ bản của con người, là nền tảng cho

sự phát triển của xa hội được Nhà nước Cộng hòa xa hội chủ nghĩa Việt Nam

ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [41, Điều 33] Trên cơ sở

đó Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 đa cụ thểhóa quyền tự do kinh doanh, theo đó các thành phần kinh tế có quyền tự chỉ,

tự chịu trách nhiệm trong phạm vi đa ĐKKD, được lựa chọn, bổ sung, thayđổi hình thức tổ chức, đầu tư, hoạt động cho phù hợp với điều kiện của mình,trước những biến đổi của thị trường và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệquyền tự chủ kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp, phổ biến áp dụng rộng

rai hình thức đăng ký thay cho cấp phép, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, gây phiền

hà, nhũng nhiễu đối với doanh nghiệp

Hiện nay theo Luật Doanh nghiệp 2020 quy định “Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm” [48, Điều 7, Khoản 1] “Tự chủ kinh doanh

Trang 28

và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh” [48, Điều 7, Khoản 2] “Tự do tìm kiếm thị trường, khách hàng và

ký kết hợp đồng” [48, Điều 7, Khoản 4] một trong những quyền của doanh

nghiệp khi tham gia thị trường, do đó ĐKKD sẽ đảm bảo quyền tự do kinhdoanh trong khuôn khổ pháp luật của các chủ thể tham gia, Nhà nước khôngkìm ham, siết chặt quyền tự do ĐKKD, chỉ xây dựng cơ sở pháp lý, tạo hànhlang thông thoáng, thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh, đồng thời kiểm soátquá trình hình thành, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp theo hướngtích cực, loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường Đây là điềukiện bắt buộc đối với chủ thể kinh doanh tham gia vào quan hệ thành lập,quản lý và vận hành doanh nghiệp

* Nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh

Quyền bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh vừa là nguyên tắc, vừa làgiá trị phổ biến của kinh tế thị trường, theo đó mọi chủ thể kinh doanh hoạtđộng trong cùng một môi trường pháp lý đều có vị thế ngang nhau trước phápluật, chịu sự điều chỉnh trong cùng một chế định pháp luật về ĐKKD, sẽ cócác quyền, nghĩa vụ như nhau, không có sự phân biệt về quy mô, loại hình,ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, … chỉ trong điều kiện cạnh tranh bình đẳngdoanh nghiệp mới có cơ hội kinh doanh bằng chính thực lực của mình Từ đâynhững doanh nghiệp có năng lực được thừa nhận, còn những doanh nghiệpyếu kém sẽ bị đào thải, góp phần lành mạnh hóa, đảm bảo môi trường kinhdoanh cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

* Nguyên tắc công khai, minh bạch trong kinh doanh

Công khai, minh bạch trong kinh doanh là nguyên tắc nhất quán thểhiện bản chất dân chủ của xa hội, giúp chủ thể kinh doanh dễ dàng tiếp cậncác quy định của pháp luật về kinh doanh, nắm bắt kịp thời các quy trình,

Trang 29

trình tự, thủ tục, điều kiện về ĐKKD, góp phần đẩy lùi các hành vi cửa quyền,hách dịch, quan liêu, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Nhà nước, từ đócủng cố lòng tin của tổ chức, người dân đối với Đảng và Nhà nước.

Như vậy pháp luật về ĐKKD phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản, vừa

có tính chất ổn định tương đối, đồng thời có sự thay đổi theo sự phát triểnKTXH trong từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau Đây được xem là một chếđịnh quan trọng của pháp luật đối với doanh nghiệp

1.1.4 Ý nghĩa của đăng ký kinh doanh

ĐKKD có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ với việc bảo đảmquyền lợi cho bản doanh nghiệp, mà còn có ý nghĩa khi đánh giá tính cạnhtranh của môi trường kinh doanh ở địa phương, khu vực, quốc gia đó Hiệnnay việc xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai các quy định về quản lýĐKKD hiệu quả có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam đa và đang hội nhập sâurộng trên tất cả bình diện khu vực, quốc tế trong các lĩnh vực về chính trị, kinh

tế, văn hóa, xa hội, quốc phòng, an ninh, đó là việc gia nhập nhiều diễn đàn, tổchức quốc tế có phạm vi hợp tác về kinh tế như: ASEAN, APEC, WTO, TPP.Khi gia nhập vào những sân chơi chung, chúng ta cần phải tuân thủ nhữngquy tắc chung và gánh chịu hậu quả pháp lý nếu vi phạm luật chơi Việc cóđược hệ thống ĐKKD hiệu quả giúp cho chúng ta được đánh giá cao trongkhu vực, quốc tế và được đối xử công bằng khi tham gia kinh tế quốc tế.Chính vì lẽ đó, việc ĐKKD là hoạt động có ý nghĩa quan trọng không chỉ đốivới công tác quản lý Nhà nước, đối với chủ thể kinh doanh mà còn đối với xahội, đồng thời đây là một nhu cầu tất yếu, đòi hỏi mang tính nghĩa vụ đối vớiNhà nước, đối với chủ thể kinh doanh khi gia nhập thị trường

* Đối với Nhà nước

ĐKKD là sự công nhận về mặt pháp lý của Nhà nước đầu tiên đối với

sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp, do đó có thể nhận thấy có nhiều

Trang 30

cách thức để công nhận pháp lý về mặt Nhà nước đối với doanh nghiệp như:Khi doanh nghiệp làm thủ tục hải quan, làm thủ tục thuế,… tại các cơ quanNhà nước có thẩm quyền, đây được xác định rất rõ lần đầu tiên được gọi tên,được công nhận mẫu dấu, được mở tài khoản riêng và nhất là có người đạidiện theo pháp luật.

ĐKKD một trong những công cụ quan trọng giúp cơ quan Nhà nướcnắm bắt được các yếu tố mới trong kinh doanh để từ đó có những chủ trương,biện pháp khuyến khích hoặc hạn chế phù hợp; giúp cơ quan Nhà nước quản

lý nền kinh tế, thông qua hoạt động này, tất cả các thông tin về doanh nghiệp

sẽ được lưu giữa tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKKD, từ đó thuận tiện choviệc quản lý, nắm bắt được quy mô, số lượng, hình thức ngành nghề kinhdoanh, địa bàn của doanh nghiệp, đồng thời thống nhất quản lý doanh nghiệptrên phạm vi cả nước, thực hiện chức năng quản lý cơ cấu kinh tế xa hội, cũngnhư kiểm soát được hoạt động kinh tế theo định hướng, chiến lược, kế hoạch đa

đề ra Qua số liệu chính xác về tình hình doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để các

cơ quan Nhà nước hoạt định, xây dựng chính sách phát triển kinh tế xa hội phùhợp với quy luật phát triển của thị trường, đáp ứng hơn nữa nhu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế

Như vậy đây chính là công cụ quản lý kinh tế vi mô để Nhà nướckiểm soát sự hình thành, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp theohướng tích cực, loại bỏ các ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường Cònđối với các chủ thể kinh doanh sẽ là phương tiện để họ thực hiện quyền tự

do kinh doanh của mình, qua đó phát huy hiệu quả trong hoạt động kinhdoanh nhằm khai thác hợp lý tiềm năng kinh tế xa hội của đất nước Điềunày không những tạo ra môi trường và vị thế cạnh tranh mới cho các chủ thểkinh doanh trong và ngoài nước mà còn đánh dấu một bước tiến mới tronghoạt động ĐKKD cho các chủ thể kinh doanh trên toàn lanh thổ Việt Nam,

Trang 31

giúp Nhà nước can thiệp kịp thời và có mức độ vào nền kinh tế, đảm bảo cóđược một nền kinh tế hiện đại nhưng không xa rời chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước.

* Đối với chủ thể đăng ký kinh doanh

Sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy CNĐKKD, tức là doanh nghiệpđược pháp luật thừa nhận và được Nhà nước bảo hộ, do đó tư cách chủ thểcủa doanh nghiệp được xác lập, có ma số doanh nghiệp riêng, … Đây chính

là cơ sở pháp lý để chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanhmột cách hợp pháp, độc lập, bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác trênthị trường Việc thành lập doanh nghiệp là cơ sở để doanh nghiệp yêu cầu các

cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và được hướng dẫn đầy đủ

để thực hiện các nghĩa vụ theo quy định

ĐKKD cũng giúp cho chủ thể kinh doanh dễ dàng tiếp cận hơn với cácchính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhất là nguồn vốn vay Do đó có ý nghĩathen chốt thúc đẩy sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp, xác định đượcmức độ tăng trưởng, góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế

* Đối với xã hội

ĐKKD là thủ tục khai sinh ra doanh nghiệp, ứng với mỗi ngành nghềlĩnh vực khác nhau, doanh nghiệp sẽ cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, hậu maitương ứng cho các tổ chức, cá nhân trong xa hội, từ đó thúc đẩy nền KTXHcủa đất nước phát triển Việc ĐKDN không những giải quyết vấn đề thiết thực

về việc làm (giảm thiểu tỷ lệ lao động thất nghiệp, giảm bớt các tệ nạn trong

xa hội), nâng cao thu nhập mà còn góp phần ổn định đời sống cho người laođộng Cùng với đó chủ thể kinh doanh cũng sẽ có vai trò đóng góp quan trọngtrong việc thực hiện an sinh xa hội, hỗ trợ cộng đồng, …

ĐKKD nhằm công khai các hoạt động của doanh nghiệp trước côngchúng, nhờ đó công chúng có được các thông tin chính xác về tư cách pháp lý

Trang 32

của doanh nghiệp, qua đó niềm tin của các đối tác, khách hàng, người tiêudùng được nâng lên, thúc đẩy các bên có liên quan kiểm soát lẫn nhau khithiết lập, thực hiện các giao dịch.

Thông qua ĐKKD, toàn bộ thông tin cơ bản của doanh nghiệp đa đăng

ký với cơ quan ĐKKD được lưu trữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN vàđược đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về ĐKDN Từ những thông tinđược công khai, các đối tác, khách hàng, người tiêu dùng có thể có đượcnhững thông tin cơ bản, đầy đủ, chính xác về doanh nghiệp mình cần, qua đótạo dựng lòng tin trong hợp tác, kinh doanh, đây chính là điều kiện quan trọnggiúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển

1.2 Điều kiện để thực hiện đăng ký kinh doanh

1.2.1 Điều kiện về chủ thể kinh doanh

Kinh doanh không chỉ được Nhà nước ghi nhận là quyền của tổ chức,cá nhân mà còn được khuyến khích phát triển, bởi hoạt động sản xuất kinhdoanh của các chủ thể kinh doanh giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyếtđịnh đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế, đảm bảo sự tồn tại của xa hội Do

đó chủ thể kinh doanh bao gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hoạtđộng kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận từ hoạt độngkinh doanh có thể lâu dài và thường xuyên bằng cách xử dụng hợp lý cácnguồn lực trong kinh doanh và vận dụng các điều kiện lợi nhuận của môitrường kinh doanh, do đó chủ thể kinh doanh khi khởi nghiệp kinh doanh cơbản đều hướng đến lợi nhuận, việc tìm kiếm lợi nhuận là mục đích để đảmbảo quyền, lợi ích cho các chủ thể kinh doanh

Điều kiện về chủ thể ĐKKD được quy định cụ thể tại Luật Doanhnghiệp 2014, đó là các tổ chức, cá nhân có quyền thành lập, góp vốn, mua cổphần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam trừ các trường

Trang 33

hợp sau đây:

+ Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhànước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơquan, đơn vị mình [43, Điều 18, Khoản 2, điểm a]

Với quy định trên có thể hiểu đây là cơ quan thực hiện chức năngchuyên môn của Nhà nước, cơ quan có tính chất, nhiệm vụ đặc biệt được giaonhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh, quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xahội, do đó các cơ quan này không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệpbởi nếu cho các cơ quan này tham gia kinh doanh sẽ dẫn đến hiện tượngquyền lực chính trị thao túng nền kinh tế, dẫn đến không có sự bình đẳngtrong kinh doanh

+ Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán

bộ, công chức, viên chức [43, Điều 18, Khoản 2, điểm b]

Với quy định trên Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi, bổ sung một

số điều năm 2019); Luật Viên chức 2010 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm2019) Đặc biệt Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 cấm cán bộ, công

chức, viên chức không được thành lập doanh nghiệp “Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác” [46, Điều 20, Khoản 2, điểm b] Không được tư vấn cho doanh nghiệp “Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết” [46, Khoản 2, điểm c].

Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành các loại hình doanh

nghiệp, công ty, hợp tác xa “Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành DNTN, công ty TTHH, công ty CP, công ty HD, HTX thuộc lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý trong thời hạn nhất định theo quy

Trang 34

định của Chính phủ” [46, Khoản 2, điểm d].

+ Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viênchức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhândân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan,đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cửlàm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nướctại các doanh nghiệp [43, Điều 18, Khoản 2, điểm c]

Với quy định trên trên có thể hiểu đây là các chủ thể thực hiện chức năngnghiệp vụ liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xa hội,

do đó lợi ích quốc gia luôn được đề cao, tuyệt đối tôn trọng Việc cấm chủ thểtrên tham gia là tránh tình sự lấn át của quyền lực chính trị đối với quyền năngkinh tế, tránh phân tán trong việc thực hiện công vụ

+ Cán bộ lanh đạo, quản lý nghiệp vụ trong DNNN, trừ nhữngngười được cử đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp củaNhà nước tại doanh nghiệp khác [43, Điều 18, Khoản 2, điểm d] Với quy định trên Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 cấm các thànhviên trong DNNN giữ các chức danh, chức vụ quản lý trong DNNN:

Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủtịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, PhóGiám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lýkhác trong DNNN không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệpthuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; chophép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con,anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bốtrí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản

lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanhnghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng

Trang 35

cho doanh nghiệp [46, Điều 20, Khoản 5]

Việc quy định như vậy để tránh lạm quyền, đảm bảo sự bình đẳng chocác doanh nghiệp và không phương hại đến lợi ích chung của xa hội

+ Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sựhoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách phápnhân [43, Điều 18, Khoản 2, điểm đ]

Với quy định trên có thể hiểu đây là những người chưa đạt độ tuổipháp luật quy định, không thể tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp bởitính trách nhiệm chưa được đặt ra có thể bắt buộc phải thực hiện Trường hợp

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự khôngthể làm chủ được hành vi của mình thì cũng không thể thành lập, quản lýđược doanh nghiệp Còn đối với tổ chức không có tư cách pháp nhân có thểhiểu tổ chức này không có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịutrách nhiệm bằng tài sản đó, do đó không đủ điều kiện để thành lập, quản lýdoanh nghiệp, nhằm tránh rủi ro kinh doanh cho đối tác, bạn hàng và chochính họ, tránh gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế

+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hìnhphạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc,

cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh,đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đếnkinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theoquy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.Trường hợp cơ quan ĐKKD có quyền yêu cầu, người đăng kýthành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho cơ quanĐKKD [43, Điều 18, Khoản 2, điểm e]

Với quy định trên có thể hiểu quyền tự do của đối tượng này đa bị hoặc

có thể bị hạn chế, nếu kinh doanh sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư,phá vỡ trật tự trong kinh doanh, phương hại đến đối tác, bạn hàng và chính

Trang 36

họ, tránh gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.

Ngoài ra còn có một số trường hợp không được phép thành lập doanhnghiệp theo quy định tại Luật Phá sản 2014 thì:

Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xa bị tuyên

bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, Khoản

5 Điều 28, Khoản 1 Điều 48 của Luật này thì Thẩm phán xem xét,quyết định về việc không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợptác xa, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xa trong thời hạn

03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phásản [44, Điều 130, Khoản 3]

Việc quy định một số đối tượng không có quyền thành lập doanhnghiệp là hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sự bình đẳng củacác doanh nghiệp và lợi ích xa hội

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 thì những đối tượng bị cấmthành lập, quản lý doanh nghiệp vẫn có quyền góp vốn, mua cổ phần, muaphần vốn góp vào Công ty CP, Công ty TTHH, Công ty HD nếu không thuộccác trường hợp sau đây:

+ Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhànước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vịmình [43, Điều 18, Khoản 3, điểm a]

+ Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy địnhcủa pháp luật về cán bộ, công chức” [43, Điều 18, Khoản 3, điểm b].Theo quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng 2018:

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan Nhà nướckhông được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vingành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhànước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm

vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý Nhà

Trang 37

nước [46, Điều 20, Khoản 4].

Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủtịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, PhóGiám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lýkhác trong doanh nghiệp nhà nước không được ký kết hợp đồng vớidoanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh,chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặcchồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu củadoanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, emruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ,thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch

vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp [46, Điều 20, Khoản 5]

Hiện nay Luật Doanh nghiệp 2020 đa bổ sung thêm đối tượng khôngđược phép thành lập, quản lý doanh nghiệp, gồm:

+ Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhândân Việt Nam (trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền

để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp) [48, Điều

Như vậy điều kiện về chủ thể kinh doanh đối với tổ chức, cá nhân khithực hiện việc kinh doanh phải thỏa man các điều kiện pháp luật quy định.Việc quy định rõ chủ thể ĐKKD phải dựa trên đặc điểm, tính chất pháp lý,kinh tế của từng đối tượng để thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, … từ đó

Trang 38

mới có thể đảm bảo hiệu quả về thời gian, kinh tế của Chủ thể kinh doanh.

1.2.2 Điều kiện về vốn (tài sản)

Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh, thì bất kỳ chủ thể kinhdoanh nào cũng phải có vốn (nguồn tài chính quan trọng nhất) là công cụ,điều kiện bắt buộc để chủ thể kinh doanh triển khai các hoạt động kinh doanhtrên thực tế Vốn của doanh nghiệp sẽ luôn gắn liền với quyền lợi, tráchnhiệm của chủ thể kinh doanh và vốn sẽ được chuyển thành toàn bộ tài sảncủa doanh nghiệp Do đó nếu không có vốn thì chủ thể kinh doanh sẽ khôngthể hoạt động được, việc quy định như vậy để tránh tình trạng chủ thể kinhdoanh thành lập chỉ có tên gọi, con dấu dẫn đến có những hành vi lừa đảotrong kinh doanh

Theo Luật Doanh nghiệp 2014 giải thích từ ngữ thì “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn

để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập” [43, Điều 4, Khoản 13] Đây được hiểu góp vốn để tiến hành

sản xuất kinh doanh dưới các hình thức như góp vốn bằng tiền mặt, ngoại tệ,vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị sở hữu trí tuệ, … và các tài sản (độngsản, bất động sản) có giá trị khác theo quy định của pháp luật

Việc quy định bắt buộc chủ thể kinh doanh phải có số vốn nhất định cóthể do chủ thể bỏ ra hoàn toàn hay huy động sự đóng góp của nhiều ngườihoặc có thể được Nhà nước hỗ trợ trong quá trình kinh doanh do có thay đổichính sách, hỗ trợ, … với mục đích đảm bảo sự an toàn cho chủ nợ, nhà đầu

tư kinh doanh trong những ngành nghề đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, kinhdoanh trong một số lĩnh vực đặc thù, đồng thời còn đảm bảo về cơ sở vật chấtnhất định để chủ thể kinh doanh dễ dàng trong việc vận hành doanh nghiệp,chứng minh khả năng thanh toán các khoản nợ cho đối tác, khách hàng

Ngay từ khi chủ thể kinh doanh muốn hoạt động sản xuất kinh doanhthì phải chuẩn bị một khoản vốn tương xứng với quy mô, lĩnh vực, ngành

Trang 39

nghề kinh doanh, mô hình kinh doanh thích hợp, đồng thời phải dự báo sốlượng vốn đủ hoặc lớn hơn để giúp chủ thể kinh doanh dự tính được kế hoạchhoạt động sản xuất kinh doanh trong các năm trở về sau cho phù hợp vớilượng vốn mà chủ thể kinh doanh có, tránh trong quá trong trình hoạt động,sản xuất kinh doanh tăng nhưng số vốn đầu tư ban đầu của chủ thể kinh doanhvẫn không thay đổi, tránh thừa, thiếu, lang phí, làm ảnh hưởng đến quy trìnhsản xuất kinh doanh [54].

Theo Luật Doanh nghiệp 2020 giải thích từ ngữ thì “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập” [48, Điều 4, Khoản 18] Như vậy có thể thấy, việc góp vốn được thực

hiện trong hai thời điểm là: khi thành lập doanh nghiệp và sau khi thành lậpdoanh nghiệp Việc góp vốn sẽ làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp vàtăng bao nhiêu sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản mà tổ chức, cá nhân dùng đểgóp vốn So với quy định hiện hành, việc xử lý phần vốn góp trong một sốtrường hợp đặc biệt được sửa đổi, bổ sung như sau:

- Trường hợp thành viên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân

sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì quyền và nghĩa vụ của

thành viên đó trong công ty được thực hiện thông qua người đại diện (ngườigiám hộ) [48, Điều 53, Khoản 3]

- Trường hợp thành viên tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn gópcủa mình tại công ty cho người khác thì người được tặng cho trở thành thànhviên công ty theo quy định sau đây:

+ Người được tặng cho thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người này đương nhiên là thành viên công ty;

(vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứba ) [48, Điều 53, Khoản 6, điểm a]

Trang 40

+ Người được tặng cho không thuộc đối tượng quy định tại điểm a

Khoản 6 Điều 53 “Người được tặng cho thuộc đối tượng thừa kế theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người này đương nhiên là thành viên công ty” thì người này chỉ trở thành thành viên công ty khi được Hộiđồng thành viên chấp thuận [48, Điều 53, Khoản 6, điểm b]

- Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị tạm giam, đang chấp

hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cainghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc thì thành viên đó ủy quyền chongười khác thực hiện một số hoặc tất cả quyền và nghĩa vụ của mình tại công

ty [48, Điều 53, Khoản 8]

- Trường hợp thành viên công ty là cá nhân bị Tòa án cấm hành nghề,

làm công việc nhất định hoặc thành viên công ty là pháp nhân thương mại bịTòa án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thuộcphạm vi ngành, nghề kinh doanh của công ty thì thành viên đó không đượchành nghề, làm công việc đa bị cấm tại công ty đó hoặc công ty tạm ngừng,chấm dứt kinh doanh ngành, nghề có liên quan theo quyết định của Tòa án.[48, Điều 53, Khoản 9]

Hiện nay Luật Doanh nghiệp 2020 đa sửa đổi, bổ sung quy định về tàisản góp vốn, theo đó: Thay đổi thuật ngữ “giá trị quyền sử dụng đất, giá trịquyền sở hữu trí tuệ” thành “quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ” Vậynên thuật ngữ “giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ” trongLuật Doanh nghiệp 2014 là được sử dụng không đúng và không thuộc bất cứđối tượng nào được coi là tài sản Mà trong khi đó thuật ngữ “quyền sử dụngđất, quyền sở hữu trí tuệ” trong Luật Doanh nghiệp 2020 là một loại quyền tàisản và là một trong những đối tượng được coi là tài sản theo quy định tại BộLuật Dân sự năm 2015 Thay đổi từ chỉ có tổ chức cá nhân là “chủ sở hữu hợppháp” sang các tổ chức, cá nhân là “chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 10/4/2007), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày10/4/2007 về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tếcủa Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 10/4/2007)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2007
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Quyết định số 1852/QĐ-BKHĐT ngày 28/12/2012 về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành và khai thác Hệ thống thông tin ĐKKD (có hiệu lực từ ngày 28/12/2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1852/QĐ-BKHĐT ngày28/12/2012 về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành và khai thácHệ thống thông tin ĐKKD (có hiệu lực từ ngày 28/12/2012)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2007
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Quyết định số 1888/QĐ-BKHĐT ngày 22/12/2017 về việc quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý ĐKKD (có hiệu lực thi hành từ ngày 22/12/2017), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1888/QĐ-BKHĐT ngày22/12/2017 về việc quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của Cục Quản lý ĐKKD (có hiệu lực thi hành từ ngày22/12/2017)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2007
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Công văn số 4211/BKHĐT-ĐKKD ngày 26/6/2015 về việc hướng dẫn áp dụng quy định về đăng ký doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 26/6/2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 4211/BKHĐT-ĐKKDngày 26/6/2015 về việc hướng dẫn áp dụng quy định về đăng ký doanhnghiệp (có hiệu lực từ ngày 26/6/2015)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2015
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 15/01/2016), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày01/12/2015 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày15/01/2016)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2015
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 15/7/2016 quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong ĐKDN xã hội theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày15/7/2016 quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong ĐKDN xã hộitheo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quyđịnh chi tiết một số Điều của Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày01/7/2016)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2016
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày 08/01/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 20/2015/TT- BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về ĐKDN (có hiệu lực từ ngày 11/3/2019), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày08/01/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn vềĐKDN (có hiệu lực từ ngày 11/3/2019)
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2019
8. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 05/02/2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày05/02/2015)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
9. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 127/2015/TT-BTC ngày 21/8/2015 hướng dẫn về việc cấp mã số doanh nghiệp tự động theo phương thức điện tử và phân công cơ quan thuế quản lý đối với doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 10/10/2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 127/2015/TT-BTC ngày 21/8/2015hướng dẫn về việc cấp mã số doanh nghiệp tự động theo phương thứcđiện tử và phân công cơ quan thuế quản lý đối với doanh nghiệp (cóhiệu lực từ ngày 10/10/2015)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
10. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày 28/6/2016 hướng dẫn về đăng ký thuế thay thế Thông tư số 80/2012/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 12/8/2016), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 95/2016/TT-BTC ngày 28/6/2016hướng dẫn về đăng ký thuế thay thế Thông tư số 80/2012/TT-BTC (cóhiệu lực từ ngày 12/8/2016)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
11. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa (có hiệu lực từngày 01/01/2017)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
12. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 215/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí ĐKDN (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 215/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấpthông tin doanh nghiệp, lệ phí ĐKDN (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
13. Bộ Tài chính (2017), Thông tư số 130/2017/TT-BTC ngày 04/12/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 215/2016/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 20/01/2018), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 130/2017/TT-BTC ngày 04/12/2017sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 215/2016/TT-BTC (cóhiệu lực từ ngày 20/01/2018)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2017
14. Chính phủ (2010), Nghị định số 102/2010/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 102/2010/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiếtthi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
15. Chính phủ (2013), Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 hướng dẫn Luật Quản lý thuế và Luật Quản lý thuế sửa đổi (có hiệu lực từ ngày 15/9/2013), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013hướng dẫn Luật Quản lý thuế và Luật Quản lý thuế sửa đổi (có hiệulực từ ngày 15/9/2013)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
16. Chính phủ (2015), Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 về đăng ký doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/11/2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 vềđăng ký doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/11/2015)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
17. Chính phủ (2015), Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực ngày 08/12/2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quyđịnh chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực ngày08/12/2015)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
18. Chính phủ (2015), Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (có hiệu lực từ ngày 27/12/2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (cóhiệu lực từ ngày 27/12/2015)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
19. Chính phủ (2016), Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/6/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư (có hiệu lực từ ngày 15/07/2016), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/6/2016 quyđịnh về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư(có hiệu lực từ ngày 15/07/2016)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
20. Chính phủ (2016), Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/08/2016 hướng dẫn Luật Phí và lệ phí (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/08/2016 hướng dẫn Luật Phí và lệ phí (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - Đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh lai châu
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 8)
Bảng 2.1: Thống kê số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015 – 2019 - Đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh lai châu
Bảng 2.1 Thống kê số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015 – 2019 (Trang 88)
Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn 08 đơn vị hành chính tỉnh Lai Châu tính đến 31/12/2019 - Đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh lai châu
Bảng 2.2 Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn 08 đơn vị hành chính tỉnh Lai Châu tính đến 31/12/2019 (Trang 89)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w