Thực tế cho thấy, khi chuyểnđối cơ chế kinh tế, phần lớn các DNNN làm ăn thua lỗ, hiệu quả không caomặc dù được giao đảm nhận vai trò chủ đạo rất lớn trong hoạt động sảnxuất kinh doanh,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LỆ QUYÊN
cæ phÇn hãa doanh nghiÖp nhµ níc
TR£N §ÞA BµN tØnh lai ch©u
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LỆ QUYÊN
cæ phÇn hãa doanh nghiÖp nhµ níc
TR£N §ÞA BµN tØnh lai ch©u
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình độc lập của riêng tôi mà không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng phân tích trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy
đủ, có xác nhận của cơ quan cung cấp số liệu Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi được thực hiện một cách khoa học, trung thực, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của các nguồn số liệu cũng như các thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Thị Lệ Quyên
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 9
1.1 Khái niệm cổ phần hóa 9
1.2 Đặc điểm của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 15
1.3 Những yêu cầu đặt ra đối với việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 18
1.4 Xu hướng tất yếu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước .20
1.5 Quan điểm, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 25
1.5.1 Quan điểm, chính sách của Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 25
1.5.2 Vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá .30
1.6 Kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số nước và bài học đói với Việt Nam 33
1.6.1 Kinh nghiệm cổ phần hoá ở một số nước 33
1.6.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TIỄN THỰC
Trang 5HIỆN TẠI TỈNH LAI CHÂU 42
2.1 Thực trạng pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và kết quả cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 42
2.1.1 Thực trạng pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 42
2.1.2 Một số kết quả đạt được trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 52
2.2 Tình hình thực hiện pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Lai Châu 60
2.2.1 Tình hình cơ cấu lại, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn 62
2.2.2 Những vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 64
2.3 Những khó khăn, rào cản trong tiến trình cổ phần hóa 65
2.4 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm chạp trong thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH LAI CHÂU 74
3.2 Các giải pháp pháp lý 76
3.3 Các giải pháp cụ thể 79
3.3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 79
3.3.2 Đối với các doanh nghiệp nhà nước trong diện cổ phần hóa .81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ĐVSNCL Đơn vị sự nghiệp công lập
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
ICOR Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
IPO Lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng KTTT Kinh tế thị trường
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TTCK Thị trường chứng khoán
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động củaDNNN là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm, tổchức triển khai thực hiện trong thời gian qua Thực tế cho thấy, khi chuyểnđối cơ chế kinh tế, phần lớn các DNNN làm ăn thua lỗ, hiệu quả không caomặc dù được giao đảm nhận vai trò chủ đạo rất lớn trong hoạt động sảnxuất kinh doanh, gây thất thoát tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đến ngườilao động, các chỉ số phát triển kinh tế-xã hội, … Chính vì vậy, vấn đề CPHcác DNNN là yêu cầu cần thiết để loại hình doanh nghiệp này trở thànhđộng lực chủ yếu của nền kinh tế Để tiếp tục thúc đẩy thực hiện CPHDNNN, bảo đảm trình tự quy định của pháp luật về CPHD NNN và đápứng yêu cầu thực tiễn, mỗi địa phương cần phải có những giải pháp cụ thểdựa trên cơ sở thực tiễn cũng như quy định của pháp luật để thực hiện CPHDNNN một cách hiệu quả
Tỉnh Lai Châu, tiến trình CPH DNNN thời gian qua đã có những tínhiệu tích cực Tuy nhiên, việc triển khai vẫn còn gặp nhiều khó khăn do phạm
vi hoạt động của doanh nghiệp đa dạng, việc xử lý tài chính và xác định giá trịdoanh nghiệp phức tạp, đòi hỏi các sở, ngành, đơn vị phải nỗ lực, quyết tâmcao hơn nữa để sớm tháo gỡ khó khăn, giải quyết dứt điểm những vấn đề phátsinh mới có thể hoàn thành việc CPH DNNN theo đúng yêu cầu, lộ trình đã
đề ra Để góp phần thực hiện CPH DNNN tại tỉnh Lai Châu cũng như đónggóp thêm một số giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong
quá trình CPH DNNN, em chọn đề tài: “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tại tỉnh Lai Châu” để làm luận văn tốt nghiệp cao học luật
kinh tế ứng dụng
Trang 92 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua đã có rất nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước, bộ,ngành có liên quan và của tỉnh Lai Châu nhằm hướng dẫn, triển khai thựchiện CPH DNNN Đây là vấn đề đã và đang được quan tâm đặc biệt trong lýluận và thực tiễn ở nước ta hiện nay Nhiều đề tài khoa học, luận án tiến sỹ,thạc sỹ, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học đề cập, luận giải và nghiêncứu về CPH DNNN Những vấn đề lý luận chung về CPH DNNN như quanđiểm và nguyên tắc, được khá nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nướcngoài quan tâm nghiên cứu Chẳng hạn, các cơ quan nghiên cứu chuyênngành như Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, các viện nghiên cứuthuộc bộ, ngành là cơ quan quản lý trực tiếp DNNN có nhiều công trình đãcông bố hướng tới một mục đích chung là tìm ra con đường đưa DNNN vàoquỹ đạo vận động của kinh tế thị trường, làm cho DNNN thích ứng được với
cơ chế mới, đều thống nhất ở sự cần thiết phải thực hiện CPH Chẳng hạn,
cuốn sách “Bàn về cải cách toàn diện DNNN của Trương Văn Bân, NXB Chính trị Quốc gia, 1996 hay cuốn về Cổ phần hóa DNNN những vấn đề lý
luận và thực tiễn, của PGS.TS Lê Hồng Hạnh, NXB Chính trị Quốc gia, 2004
đã thống nhất quan điểm, cho rằng CPH DNNN là tất yếu khách quan trongquá trình chuyển nền kinh tế từ vận động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trungsang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hộichủ nghĩa Một số tác giả đưa ra vấn đề có tính lý luận như trên gọi quá trìnhchuyển DNNN thành CTCP là CPH hay tư nhân hoá? hay CPH DNNN cólàm chệch hướng xã hội chủ nghĩa không?"; lợi ích của Nhà nước, lợi ích củangười lao động sẽ như thế nào? hayCTCP hoạt động có hiệu quả hơn DNNNkhông?; cũng được bàn khá nhiều trong các công trình đã công bố Tuynhiên, hầu hết các tác giả đều có chung một câu trả lời là: CPH DNNN không
hề làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa; các DNNN sau khi CPH đều hoạt động
Trang 10có hiệu quả hơn, thể hiện trên các mặt như doanh thu, lợi nhuận, thu nhập củangười lao động, lợi tức cổ phần đều tăng lên, … so với trước Trên cở sở thựctiễn đó, kết luận được rút ra là, khi chuyển DNNN thành CTCP thì không chỉloại bỏ tác ỷ lại, trông chờ, tác phong quan liêu, cửa quyền, sự tham nhũng,lãng phí, mà còn đáp ứng được lâu dài lợi ích của cả Nhà nước, tập thể vàlợi ích của người lao động được tăng lên.
Một số công trình nghiên cứu hoàn thiện cơ chế chính sách về CPHDNNN, có thể kể đến như: Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa DNNN quathực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội; Luận văn thạc
sỹ luật học của Hà Mạnh Thắng, 2005; “Thực trạng và các giải pháp đẩy
nhanh tốc độ cổ phần hóa DNNN ở nước ta hiện nay“; Trịnh Duy Tâm, tạp
chí Dân chủ & pháp luật, số 12 (153) - 2004 (Tr.31 - 38); Cổ phần hóa doanhnghiệp nhà nước: Chặng đường 2011-2015 và định hướng 2016-2020, Đặng
Quyết Tiến, Tạp chí Tài chính online (2016); “Một số vấn đề cổ phần hóa,
thoái vốn và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước“
Hoàng Anh, Tạp chí Cộng sản (điện tử) (2021); Tuy nhiên, các tác giảcũng lưu ý rằng, CTCP có nhiều ưu việt mà các loại hình kinh tế khác khôngthể nào có được nhưng không phải hoàn toàn hiệu quả hơn DNNN mà bảnthân CTCP cũng có những hạn chế nhất định Đó là vì, mặc dù CTCP có cấutrúc khá phức tạp, nhưng do tách bạch quyền sở hữu với quyền kinh doanh,chuyên môn hoá sản xuất nên CTCP đạt hiệu quả cao hơn các hình thức khác,
kể cả doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và doanh nghiệp 100% vốn Nhànước Vì vậy, việc chuyển DNNN thành CTCP là hợp quy luật xã hội hoánguồn vốn đầu tư và kinh doanh, là xu thế tất yếu khách quan ở nước ta và cáiđược sẽ nhiều hơn cái mất
Một số công trình đề cập cơ sở thực tiễn của việc CPH DNNN: Việnnghiên cứu quản lý kinh tể Trung ương (1994), Bộ Tài chính (1998) và Bùi
Trang 11Quốc Anh (2009), khi phân tích luận cứ khoa học của việc CPH DNNN trongquá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đều khẳng địnhrằng: sự thay đổi thể chế kinh tế đòi hỏi phải CPH, vì các thể chế kinh tế lầnlượt từ kinh tế thị trường tự do đến kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện tại
là kinh tế hỗn hợp Kinh tế hỗn hợp ra đời là cơ sở cho sự xuất hiện và pháttriển CTCP và CTCP chính là hiện thân bậc cao của kinh tế hỗn hợp Hay nóicách khác, so với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP có nhiều ưu điểmnhư khả năng huy động vốn với quy mô lớn cho đầu tư phát triển; mục tiêucủa những người góp vốn thống nhất; sự liên tục và không hạn định về thờigian hoạt động; phương thức quản lý khoa học chặt chẽ; khả năng phân tánrủi ro cao CPH DNNN là phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế của cácquốc gia, kể cả nước ta Đối với các nước phát triển đó là thay đổi theo hướng
mở rộng hơn sở hữu cộng đồng, giảm bớt tỷ trọng sở hữu Nhà nước và sở hữutập tập thể Đối với các nước đang phát triển và đặc biệt là những nước có nềnkinh tế chuyển đổi, đây là vấn đề quan trọng, nhạy cảm về chính trị
Một số khác lại khẳng định: CPH là một giải pháp tài chính quantrọng hiện nay, góp phần giải quyết khó khăn về vốn từng bước nâng caohiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các DNNN; đồng thời tạođiều kiện để Nhà nước tập trung nguồn lực cho sự phát triển các lĩnh vựckhác của nền kinh tế
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, do Ngô Quang Minh làm chủnhiệm (2001) đã đưa ra kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vấn đềCPH DNNN và phân tích tính khả thi của việc áp dụng kinh nghiệm đó vàođiều kiện Việt Nam Đánh giá tiến độ CPH các DNNN, khảo sát tình hình vàkết quả sản xuất kinh doanh của các DNNN đã CPH, trên cơ sở đó đề tài đưa
ra một số quan điểm định hướng và giải pháp chung nhất mang tính chiếnlược cho sự phát triển của DNNN trong thời gian tiếp theo Nhiều luận án tiến
Trang 12sĩ kinh tế đã được bảo vệ và tiếp cận quá trình CPH DNNN dưới các góc độkhác nhau Ví dụ như:
Luận án của Nghiên cứu sinh Trần Hồng Thái, với để tài "Các giải
pháp nhằm thực hiện có hiệu quả tiến trình CPH DNNN" (2001) đã tập trung
làm rõ: quá trình phát triển của kinh tế cổ phần và các loại hình doanh nghiệpmang tính cổ phần, khẳng định quá trình phát triển này có tính quy luật Quanghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống xí nghiệp quốc doanh,
“mổ xẻ" thực trạng hệ thống DNNN, luận án khẳng định nguyên nhân làmchậm tiến độ CPH là do “vai trò điều tiết của nhà nước và cơ chế chính sách".Trên cơ sở đó, luận án để xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy thựchiện có hiệu quả tiến trình CPH DNNN giai đoạn 2001-2010
Luận án Tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Đỗ Thị Phi Hoài với đề tài: “Tiếp
tục đẩy mạnh quả trình CPH DNNN ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2010"
(2003) đã đưa ra cái nhìn tổng thể về quá trình CPH DNNN ở Việt Nam sau
10 năm thực hiện (1992-2002); phân tích những khó khăn, vướng mắc cầntháo gỡ và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình CPHDNNN trong thời gian đến năm 2010
Hầu hết các công trình này phần lớn tập trung nghiên cứu pháp luật vềCPH DNNN nói chung với một số khía cạnh như vấn đề chuyển đổi cơ cấu
sở hữu; vấn đề định giá doanh nghiệp để CPH thường chưa sát với thịtrường; vướng mắc, khó khăn trong giải quyết nợ của các doanh nghiệp; cácchính sách đối với người lao động trong DNNN CPH; việc quản lý tài chínhcủa các doanh nghiệp sau CPH còn nhiều lúng túng; Đến nay, trên địabàn tỉnh Lai Châu chưa có công trình nghiên cứu theo định hướng ứng dụng
về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu”, em mong
Trang 13muốn cung cấp thêm thông tin thực tiễn việc thực hiện CPH DNNN từ mộttỉnh miền núi, góp phần nghiên cứu một cách toàn diện và làm rõ thêmnhững vấn đề lý luận về CPH DNNN cũng như thực tiễn thi hành để từ đóđưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc CPH DNNN tại tỉnhLai Châu sát với thực tế cuộc sống.
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu một cách khái quát và hệ thống một số vấn đềliên quan đến CPH DNNN Trên cơ sở lý luận, luận văn tập trung vào việcphân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về CPH DNNN qua thực tiễn tại tỉnhLai Châu Thông qua những phân tích đánh giá có thể góp phần làm sáng tỏthêm một số quy định về CPH đối với DNNN nói chung và tại tỉnh Lai Châunói riêng Đồng thời, trên cơ sở những tồn tại, hạn chế, bất cập để đề xuất một
số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác CPH đối vớiDNNN trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Nghiên cứu khái quát chung về CPH đối với DNNN nhằm làm sáng tỏkhái niệm, đặc điểm, đối tượng CPH đối với DNNN nói chung và tỉnh LaiChâu nói riêng; nhằm rút ra những điểm mấu chốt và những yếu tố tác độngsâu sắc đến hoạt động CPH DNNN tại tỉnh Lai Châu
Nghiên cứu một số quy định của pháp luật về CPH đối với DNNN.Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về CPH đốivới DNNN tại tỉnh Lai Châu Qua đó, tìm ra được những tồn tại, hạn chế, khókhăn, vướng mắc và đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm tăngcường hiệu quả việc CPH DNNN tại tỉnh Lai Châu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tiến trình CPH DNNN tại tỉnh
Trang 14Lai Châu (cơ sở lý luận, chủ trương, chính sách, tổ chức thực hiện, giải quyếtcác vấn đề có liên quan đến người lao động, quyền sử dụng đất, ).
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung thể hiện và xác định những vấn đề cơ bản nhất củaCPH đối với DNNN nói chung và tại tỉnh Lai Châu nói riêng Đây là nhữngvấn đề chưa được các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học đề cập đếnnhiều Đồng thời, luận văn cũng tập trung làm rõ những vấn đề cần sửa đổi,
bổ sung khi CPH đối với DNNN tại tỉnh Lai Châu thông qua việc tìm hiểu cácquy định của pháp luật, các hình thức hoạt động khác của nhà nước và thựctiễn CPH các DNNN tại tỉnh Lai Châu trong thời gian qua
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam,các nguyên tắc cơ bản lý luận về nhà nước và pháp luật, các quy luật kinh tế
để cụ thể hóa về CPH DNNN trong điều kiện tại tỉnh Lai Châu,
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích,tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê để giải quyết nội dung mà đề tài đã đặt ra
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn tạo cơ sở lý luận, có giá trị tham khảocho việc hoạch định, xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật về CPH DNNN
Luận văn đã phân tích đánh giá thực tiễn quy định và áp dụng pháp luậtchấm dứt hợp đồng lao động để đề ra những định hướng giải pháp nhằm hoànthiện pháp luật về CPH DNNN, góp phần duy trì sự ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội, đóng góp vào sự ổn định, phát triển và hoàn thiện môi trường phápluật về doanh nghiệp nói chung ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển và hộinhập quốc tế
Trang 157 Kết cấu của luận văn
Kết cấu Luận văn ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật về cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lai Châu
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Lai Châu
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm cổ phần hóa
Trong nền kinh tế kế hàng hóa tập trung của Việt Nam trước đây,DNNN giữ vai trò chủ yếu trong nền kinh tế, chi phối mọi lĩnh vực then chốt
và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế Vai trò đó vẫn tiếp tục được thể hiệntrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thông qua quátrình tồn tại và phát triển của mình, DNNN đã có nhiều đóng góp cho sự ổnđịnh và phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao thế và lực của Việt Nam trêntrường quốc tế
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các DNNN trong hoạt động sản xuất kinhdoanh bộc lộ một số hạn chế, nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tiêucực và lãng phí lớn, tính cạnh tranh thấp, nguồn lực con người chưa được chútrọng, phát huy một cách hiệu quả; vốn, tài sản của Nhà nước không có ngườilàm chủ trực tiếp nên chưa làm rõ được trách nhiệm rõ ràng đối với việc sửdụng hiệu quả đối với vấn đề này; cán bộ công nhân viên chức làm việckhông có động lực thường xuyên và bền vững để gắn bó thân thiết với sự pháttriển của doanh nghiệp; … Có thể nói, kết quả sản xuất kinh doanh củaDNNN chưa tương xứng với các nguồn lực mà Nhà nước đã hỗ trợ, đầu tư,tiềm năng thực tế Chính từ tình hình hoạt động phức tạp, kém hiệu quả củaDNNN đặt ra cho các nhà quản lý, nhà kinh tế, nhà khoa học những câu hỏi
nóng bỏng, cấp bách nhưng rất hóc búa: “Sửa giá? Sửa lương? Sửa tiền? Sửa
cơ chế quản lý? Hay sửa bản thân mô hình kinh tế?”.
Việc tìm ra một mô hình tổ chức mới nhằm nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, có sức cạnh tranh cao, đồng thời nâng cao đời
Trang 17nhập hội nhập kinh tế mạnh mẽ hiện nay Đây là cơ hội cho tất cả các doanhnghiệp nhưng cũng đẩy các doanh nghiệp vào một cuộc chơi đầy khắc nghiệtvới quy luật “mạnh thắng yếu thua” nếu không được chuẩn bị kĩ càng CPH làmột giải pháp quan trọng để tạo ra sự chuyển biến cơ bản cho các DNNNtrong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời thu hút thêm vốnđầu tư, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội được thực sự tham gia vàolàm chủ doanh nghiệp Từ trật tự Nhà nước quản lý toàn diện, nền kinh tế ViệtNam sẽ bước sang thời kỳ Nhà nước và Nhân dân cùng nhau thực hiên và
cuối cùng là đạt được mục tiêu “dân làm, nhà nước hỗ trợ”.
CPH là chủ trương đã được thực tế chứng minh là rất đúng đắn, có tácdụng rõ rệt nâng cao hiệu quả DNNN.Chủ trương này đã được quan tâm hoànthiện, luật hóa và gần đây tập trung chỉ đạo đạt kết quả khá hơn Song việcthực hiện vẫn còn chậm và còn khó khăn,vướng mắc cả trong quá trình tiếnhành lẫn sau CPH Đây là vấn đề nhạy cảm, đụng chạm đến lợi ích của nhiềuđối tượng, nhất là những người lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp; do đó việcthực hiện phụ thuộc rất lớn vào ý thức, đồng tình hay không của những ngườinày Quy trình CPH có nhiều khâu phức tạp, nhất là xác định giá trị doanhnghiệp, xử lý những vấn đề tồn đọng, cần phải chỉ đạo tính toán chặt chẽ,nếukhông sẽ sơ hở, thất thoát tái sản nhà nước Để có thể tìm ra phương thức bổkhuyết cho giải pháp hiện hành,cần phải nắm vững mục tiêu, yêu cầu và nộidung thực chất của CPH
Theo Nghị quyết TW 3 (khóa IX) của Đảng và Nghị định số
187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty Nhà nước thànhCTCP, ngoài việc huy động thêm vốn của xã hội để tăng cường năng lực tàichính, thì mục tiêu của CPH là nhằm sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản củaNhà nước, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của các DNNN và nền kinh tếnói chung, thông qua việc thay đổi cơ cấu sở hữu, tạo ra động lực mới vàchuyển DNNN sang phương thức quản lý mới năng động, chặt chẽ hơn
Trang 18Nhìn bề ngoài, CPH là quá trình: xác định lại mục tiêu, phương hướngkinh doanh, nhu cầu vốn điều lệ và chia ra thành cổ phần, đánh giá lại tài sảncủa doanh nghiệp, quyết định mức vốn Nhà nước cần nắm giữ và rao bánrộng rãi phần còn lại Qua đó làm thay đổi cơ cấu sở hữu, huy động thêm vốn,xác lập cụ thể những người tham gia làm chủ, được chia lợi nhuận và chuyểnDNNN thành CTCP, thuộc sở hữu của tập thể cổ đông và chuyển sang hoạtđộng theo Luật Doanh nghiệp.
Song để hiểu rõ thực chất của CPH, cần thấy rằng trong CTCP, trên cơ
sở vốn điều lệ được chia ra thành nhiều phần, thì quyền lợi và trách nhiệmđối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng được phân ra thành những đơn vị
và có cơ cấu xác định tương ứng với cơ cấu sở hữu Do đó, sỡ dĩ CPH có thểnâng cao hiệu quả của các DNNN là do qua CPH, cơ cấu sở hữu của doanhnghiệp được thay đổi, dẫn tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và tráchnhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo; từ đó tạo ramột cơ cấu động lực có chủ thể rõ ràng và hợp lực mới mạnh mẽ hơn; đồngthời, chuyển doanh nghiệp sang vận hành theo cơ chế quản lý mới, tự chủ,năng động hơn, nhưng có sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ hơn Cho nên,thực chất CPH nói chung chính là giải pháp tài chính và tổ chức, dựa trênchế độ cổ phần, nhằm đổi mới cơ cấu và cơ chế phân chia quyền lợi và tráchnhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn CPHtheo phương thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay đổi cơ cấu sở hữu,dẫn tới thay đổi cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm từ chỗchỉ có nhà nước nắm quyền và chịu trách nhiệm chuyển sang chia sẻ kết quảkinh doanh, cả quyền lợi và trách nhiệm, lợi nhuận và rủi ro cho nhữngngười tham gia góp vốn, qua đó tạo ra động lực, trách nhiệm và nâng caohiệu quả doanh nghiệp
Trang 19CPH DNNN được hiểu là quá trình chuyển đổi toàn bộ hoặc một phầnvốn, tài sản và quyền quản lý doanh nghiệp nhà nước sang thành phần kinh tếkhác dưới dạng CTCP Những DNNN thuộc đối tượng thực hiện chuyển đổithành CTCP gồm [10, Điều 2, Khoản 2 - 3]:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước bao gồm:
(1) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Công ty mẹ của Tổngcông ty nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước), Công ty mẹ trongnhóm công ty mẹ - công ty con
(2) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nướcnắm giữ 100% vốn điều lệ
(3) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ chưa chuyểnthành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thứ hai, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp
nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ
Có thê nói, CPH là một giải pháp quan trọng trong việc nâng cao hiệuquả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ và tậptrung vốn nhằm hiện đại hóa nền kinh tế
* Ưu điểm của việc chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần
Một là, do quan hệ sở hữu trong CTCP là thuộc về các cổ đông nên quy
mô sản xuất có khả năng được mở rộng to lớn và nhanh chóng, mà không cánhân riêng lẻ nào có thể thực hiện được
Hai là, kiểu tích tụ vốn dựa vào cá nhân riêng lẻ diễn ra vô cùng chậm
chạp; còn tập trung tích tụ theo kiểu CTCP bằng cách thu hút các nguồn vốncủa đông đảo các nhà đầu tư và nguồn tiết kiệm từ quảng đại của quần chúng,lại cho phép tăng rất nhanh
Trang 20Ba là, vốn huy động dưới hình thức CTCP khác với vốn cho vay trên
cơ sở tín dụng vì nó không cho vay hưởng lãi mà là kiểu đầu tư chịu mạohiểm và rủi ro Vì vậy, các CTCP có thể tồn tại được ngay cả trong trườnghợp chúng chưa đem lại lợi tức (lợi nhuận của CTCP mang hình thái lợi tức)
Bốn là, CTCP có thời gian tồn tại là vô hạn (nếu không có quy định
thời hạn hoạt động và loại trừ trường hợp bị phá sản hoặc giải thể) vì vốn góp
cổ phần có sự độc lập nhất định với cổ đông
Năm là, người bỏ tiền ra mua cổ phần của CTCP không có quyền rút
vốn mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu Các cổ phiếu có thể được tự do muabán trên thị trường và được quyền thừa kế Vì vậy, khác với loại công ty khác,vốn cổ phần đã được góp tồn tại với quá trình sống của công ty, còn chủ sởhữu có thể thay đổi Trong CTCP, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữucủa nó cho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp Giám đốc kinhdoanh trở thành một nghề không cần phải mang chức vụ hành chính CTCPtạo một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù: Chế độ TNHH đối với các khoản nợtrong mức vốn của công ty là san sẻ rủi ro cho các chủ nợ khi công ty bị phásản Vốn tự có của công ty huy động thông qua phát hành cổ phiếu là vốn củanhiều cổ đông khác nhau, do đó rủi ro được san sẻ Chính vì cách thức huyđộng vốn của công ty đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua
cổ phiếu, trái phiếu của các công ty nhiều ngành khác nhau để giảm bớt tổnthất khi bị phá sản so với đầu tư tài chính vào một hay một số công ty củacùng một ngành Việc ra đời của các CTCP với việc phát hành chứng khoán
và cùng với việc chuyển nhượng, mua bán chứng khoán đến một mức độ nhấtđịnh sẽ tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán ra đời TTCK là nơi các nhàkinh doanh có thể tìm kiếm được các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sảnxuất-kinh doanh; là nơi khai thông các nguồn tiết kiệm của những người tíchluỹ đến các nhà đầu tư; là cơ chế phân bổ nguồn đầu tư theo yêu cầu của nền
Trang 21kinh tế thị trường, và là cơ sở quan trọng để Nhà nước thông qua đó có thể
sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằmđạt được những mục tiêu lựa chọn Thiếu TTCK nền KTTT không pháttriển Song, sự ra đời của TTCK không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan củacon người mà là kết quả của sự phát triển chung về kinh tế-xã hội, trong đó
có sự ra đời, hoạt động và phát triển một cách hoàn hảo của các CTCP giữvai trò quyết định CTCP tạo điều kiện tập hợp nhiều lực lượng khác nhauvào hoạt động chung nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng cả về quyền, tráchnhiệm và lợi ích của các cổ đông theo mức góp vốn Mở rộng sự tham giacủa các cổ đông vào CTCP, đặc biệt là người lao động, là cách để tham giavào các hoạt động của công ty với tư cách là chủ sở hữu đích thực, chứkhông phải với tư cách là người làm thuê Điều này có ý nghĩa quan trọngtrong công tác quản lý
* Những hạn chế của việc chuyển đổi DNNN thành CTCP
Thứ nhất, CTCP với chế độ trách nhiệm hữu hạn đã đem lại những
lợi nhuận cho công ty, nhưng lại chuyển bớt rủi ro cho các chủ nợ Rấtnhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm, ít quan tâm tới côngviệc của doanh nghiệp Sự quan tâm đến lãi cổ phần này làm cho một sốlãnh đạo chỉ nghĩ đến lơi ích trước mắt chứ không phải mục tiêu phát triểnlâu dài Với nhiệm kỳ hữu hạn, Ban lãnh đạo chỉ có thể muốn bảo toànhay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân CTCP gồm đông đảocác cổ đông tham gia, nhưng trong đó đa số các chủ nhân không biết nhau
và nhiều người trong họ không hiểu kinh doanh, mức độ tham gia góp vốnvào các công ty có sự khác nhau, do đó mức độ ảnh hưởng của các cổđông đối với công ty không giống nhau Điều đó có thể dẫn đến việc lợidụng và lạm dụng hoặc xảy ra tranh chấp và phân hoá lợi ích giữa cácnhóm cổ đông khác nhau
Trang 22Thứ hai, CTCP tuy có tổ chức chặt chẽ nhưng việc phân công về quyền
lực và chức năng của từng bộ phận cho hoạt động của công ty có hiệu quả lạirất phức tạp Nó có tính dân chủ cao trong kinh tế, phụ thuộc vào tỷ lệ gópvốn, do đó quyền kiểm soát công ty trong thực tế vẫn trong tay các cổ đông
Thứ ba, CTCP bị đánh thuế 2 lần: đánh vào thu nhập của công ty và
đánh vào thu nhập của từng cổ đông Điều này dẫn đến một số CTCP chỉ trảlãi cổ phiếu cho đến những năm có mức thuế thu nhập thấp CTCP gắn liềnvới TTCK, mà TTCK lại thường gắn với nạn đầu cơ chứng khoản, một tệ nạnlớn trong nền kinh tế Việc khắc phục những hạn chế trên phụ thuộc vào trình
độ phát triển của nền kinh tế, trình độ dân trí, trình độ điều hành quản lý củaNhà nước và sự hoàn hảo của hệ thống pháp luật
1.2 Đặc điểm của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Qua khái niệm trên, có thể thấy CPH DNNN có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, CPH là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ DNNN
sang CTCP, Điều đó có nghĩa là sau khi hoàn tất quy trình CPH, doanh nghiệp
đó sẽ chuyển sang loại hình CTCP theo Luật Doanh nghiệp Toàn bộ các vấn
đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp từ bản chất pháp lý, quyền vànghĩa vụ, cơ chế quản lý đến quy chế pháp lý về thành lập, tổ chức lại, giảithể đều phải chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và các luật khác cóliên quan, đặc biệt là những quy định về CTCP
Thứ hai, CPH là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ hình thức sở hữu
Nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần Trước khi CPH, toàn bộvốn của doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước Doanh nghiệp không phải làchủ sở hữu mà được Nhà nước giao quyền quản lý và sử dụng tài sản mà Nhànước đã đầu tư để thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do Nhà nước giao.Khi CPH, giá trị doanh nghiệp được xác định (xác định phần sẽ chuyển đổi sởhữu), xác định số lượng cổ phiếu phát hành, Nhà nước bán cổ phiếu cho các
Trang 23cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế Những người mua cổ phiếu trởthành cổ đông của CTCP, có quyền sở hữu chung đối với công ty theo tỷ lệphần vốn góp, đồng thời phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công
ty tương ứng với phần vốn góp Đối tượng và điều kiện để mua cổ phần phảituân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành [10, Điều 6]
Thứ ba, CPH là biện pháp duy trì sở hữu Nhà nước đối với tư liệu sản
xuất dưới hình thức CTCP Khi thực hiện CPH, Nhà nước không tiến hànhchuyển tất cả các DNNN đang tồn tại thành CTCP thuộc sở hữu của các thànhphần kinh tế Nhà nước vẫn giữ lại một bộ phận DNNN giữ vị trí then chốt,trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tậpđoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam, Luận
điểm Nhà nước độc quyền, thống nhất quản lý là điều không thực tế, đó là “chủ
nghĩa duy ý chí, là ảo tưởng được trá hình bằng một hệ thống những luận đề cách mạng, những răn đe, húy kỵ, chứ không phải lý luận khoa học” [6].
Nhiều trường hợp DNNN CPH, Nhà nước là một cổ đông, chỉ trừcác CTCP mà Nhà nước không tham gia cổ phần Trường hợp DNNNCPH mà Nhà nước có cổ phần chi phối trong doanh nghiệp, Nhà nướcnắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theoquy định [22, Điều 4, Khoản 11] thì những doanh nghiệp đó thực chất vẫntrong sự kiểm soát, quản lý của Nhà nước và Nhà nước vẫn quyết định khánhiều công việc quan trọng liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
Thứ tư, CPH DNNN chỉ diễn ra đối với loại hình DNNN, đó là quá
trình chuyển các doanh nghiệp một chủ thuộc sở hữu Nhà nước thành cácCTCP thuộc sở hữu của các cổ đông từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau.Quá trình CPH được tiến hành thông qua các phương pháp sau:
Một là, Bán cổ phần cho công chúng: Nhà nước bán toàn bộ hay một
phần sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp cho công chúng, thường được
Trang 24thực hiện thông qua sở giao dịch chứng khoán hay một tổ chức tài chínhtrung gian Cũng có khi việc bán cổ phần cho công chúng được thực hiệncùng với các biện pháp khác như bản một phần nhất định cổ phần cho một
số nhà đầu tư được định trước Thông qua việc bán cổ phần cho công chúngcho phép các tầng lớp dân cư rộng rãi có thể mua được cổ phần, vì vậy việcbán cổ phần cho công chúng đòi hỏi doanh nghiệp phải có tỷ lệ sinh lợi hấpdẫn và đồng thời có các biện pháp bảo đảm độ an toàn tối thiểu cho côngchúng mua cổ phần
Hai là, Bán cổ phần cho tư nhân: Nhà nước bán một phần hay toàn bộ
số cổ phần của doanh nghiệp thuộc sở hữu một phần hay hoàn toàn của Nhànước cho một số cá nhân hay một nhóm nhà đầu tư tư nhân thông qua đấuthầu có tính cạnh tranh hay những người mua đã được xác định trước Phươngpháp này thường được ưu tiên sử dụng đối với các DNNN đang hoạt độngyếu kém, những DNNN cần những người lãnh đạo có trình độ và kinh nghiệm
về kỹ thuật, tài chính, quản lý và thương mại hay những doanh nghiệp có quy
mô nhỏ để có thể bán rộng rãi cho công chúng
Ba là, Những người quản lý và lao động mua doanh nghiệp: được lựa
chọn để thực hiện đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo sự khuyến khíchđối với việc tăng năng suất lao động, đồng thời cũng là cách giải quyết vấn đềlao động tránh giải thể doanh nghiệp Đây là hình thức được thực hiện với kếtquả rất hạn chế ở các nước nhưng lại được áp dụng rất phổ biến trong thờigian qua ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Lai Châu nói riêng
Bốn là, Gọi vốn góp cổ phần là hình thức làm giảm tỷ trọng vốn thuộc
sở hữu nhà nước, chuyển doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước sang doanhnghiệp thuộc sở hữu nhiều thành phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.Giá trị tài sản thuộc sở hữu nhà nước hiện có tại doanh nghiệp được giữnguyên, doanh nghiệp sẽ phát hành cổ phiếu để gọi thêm vốn, thu hút các
Trang 25thành phần kinh tế góp cổ phần để phát triển doanh nghiệp Mức vốn huyđộng thêm tuỳ thuộc vào quy mô và nhu cầu của CTCP, cơ cấu vốn điều lệcủa CTCP được phản ánh trong phương án CPH Theo quy định của pháp luậthiện hành, có 3 hình thức cổ phần hóa [10, Điều 5]:
(1) Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm
cổ phiếu để tăng vốn điều lệ
(2) Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợpvừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốnđiều lệ
(3) Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừabán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ
1.3 Những yêu cầu đặt ra đối với việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Ở nước ta, cũng giống như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thựchiện mô hình kế hoạch hóa tập trung, lấy mở rộng và phát triển khu vực kinh
tế Nhà nước bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nên DNNN được pháttriển một cách nhanh chóng, rộng khắp ở tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷtrọng tuyệt đối trong nền kinh tế bất kể hiệu quả đích thực mà nó mang lại.Điều đó làm cho đất nước ta có một số lượng khổng lồ DNNN; dẫn đến tìnhtrạng DNNN ở các ngành, các lĩnh vực, doanh nghiệp Trung ương, địa phươnghoạt động chồng chéo, cạnh tranh lẫn nhau một cách vô tổ chức, gây khókhăn cho nhau trong sản xuất kinh doanh Hơn nữa, với số lượng lớn DNNNtồn tại như vậy, đã làm vượt quá khả năng nguồn lực về vốn và cán bộ quản lý
có hiệu quả; khi nền kinh tế của nước ta chuyển sang hoạt động theo cơ chếthị trường, theo đó các chính sách về kinh tế, tài chính đối với DNNN đã đượcthay đổi theo hướng tự do hóa giá cả; chi phí ngân sách Nhà nước bù lỗ, bùgiá, bổ sung vốn lưu động cho DNNN đã bộc lộ yếu kém:
Trang 26Thứ nhất, Hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của các DNNN
còn thấp, tốc độ phát triển chưa cao; không ít doanh nghiệp còn ỉ lại vào sựbảo hộ, bao cấp của Nhà nước
Thứ hai, Doanh nghiệp nhà nước quy mô vẫn còn nhỏ, cơ cấu còn
nhiều bất hợp lý, dàn trải, chồng chéo về ngành nghề và tổ chức quản lý; tổchức quản lý trong các doanh nghiệp không phù hợp do quan niệm về sở hữuNhà nước và quyền quản lý kinh doanh của giám đốc và tập thể người laođộng trong doanh nghiệp
Thứ ba, Công nợ của các DNNN ngày càng tăng; lao động thiếu việc
làm và dôi dư còn lớn; trình độ quản lý phần lớn còn yếu kém
Thứ tư, Trình độ kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp nhà nước còn
hết sức lạc hậu, không đáp ứng về yêu cầu sản xuất trong nền kinh tế thịtrường Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ thì trình độ kỹ thuậtmáy móc, trang thiết bị của chúng lạc hậu so với thế giới từ 2 - 3 thế hệ
Thứ năm, Doanh nghiệp nhà nước kinh doanh không hiệu quả sẽ làm
lãng phí, thất thoát nguồn lực quốc gia-khi Nhà nước cấm dân kinh doanh thìDNNN không có đối thủ cạnh tranh, sản xuất trong cơ chế hành chính quanliêu, bao cấp (đầu vào - đầu ra) đã làm cho mọi người lầm tưởng là chỉ cóDNNN mới là lực lượng sản xuất quyết định, then chốt
Thứ sáu, Cổ phần hóa làm cho sở hữu doanh nghiệp trở nên đa dạng
hơn; xã hội hóa tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp thuộc một chủ - tạo ra
sự tương thích nhất định của các giải pháp quản lý vĩ mô và vi mô; tạo chonhững người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp - nền dân chủ cổphần Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cựccủa người lao động không chỉ đối với các vấn đề doanh nghiệp, mà cả đối vớicác vấn đề kinh tế-chính trị-xã hội đất nước
Trang 271.4 Xu hướng tất yếu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Hiện nay, kinh tế Nhà nước có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
và là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi nước Có thể nói,khu vực kinh tế Nhà nước giữ vai trò như một công cụ kinh tế của Nhànước, vừa thực hiện chức năng kinh tế vừa làm một phần chức năng xã hội,góp phần bảo đảm sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế mỗi nước Trênthực tế, không một nước nào lại không sử dụng các DNNN ở những lĩnh vựcquan trọng nhằm thực hiện chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt vì lợiích của toàn xã hội Tuy nhiên, khi kinh tế Nhà nước phát triển quá giới hạnhợp lý thì sẽ kim hãm sự tăng trưởng, làm cho nền kinh tế nhiều nước rơivào sự trì trệ kéo dài Cuối những năm 1970 và trong nhưng năm của thập
kỷ 80, xu hướng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới là đánh giá lạivai trò và hiệu quả kinh tế-xã hội của khu vực kinh tế Nhà nước Vì cơ cấu,
mô hình, cách thức tổ chức quản lý cũng như hiệu quả hoạt động sản kinh doanh của DNNN còn nhiều tồn tại yếu kém, hạn chế Ngân sách củacác quốc gia và Nhà nước không cần thiết phải đầu tư vào tất cả các lĩnh vựcsản xuất-kinh doanh mà chỉ cần tập trung đầu tư vào những sản phẩm,ngành, lĩnh vực giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh tế Việc này sẽ tạo điềukiện giúp Nhà nước tác động, can thiệp vào nền kinh tế khi cần thiết nhằmđảm bảo ổn định và phát triển sản xuất, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô,giữ vững an ninh-quốc phòng, an toàn xã hội, hoặc đầu tư vào các lĩnh vựccông ích mà các thành phần kinh tế khác chưa hoặc không muốn đầu tưnhưng là nhu cầu thiết yếu của xã hội Ngoài ra, sức ép các tổ chức quốc tếnhư IMF, WB đã dẫn đến xu hướng phổ biến là phải cải cách hệ thốngDNNN thông qua việc CPH và tư nhân hoá nhằm thu hẹp, thậm chí loại bỏDNNN trong nhiều ngành, lĩnh vực, hình thành mô hình kinh tế hỗn hợp.Tạo điều kiện để người lao động thực sự được làm chủ doanh nghiệp Thúcđẩy cho sự cân bằng hợp lý giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân
Trang 28xuất-Trong những năm 1980, quá trình chuyển đổi sở hữu Nhà nước đã trởthành một hiện tượng kinh tế chủ yếu trên toàn thế giới Chỉ tính từ năm 1984đến năm 1991, trên thế giới đã có 250 tỷ USD tài sản nhà nước đem bản vàchỉ riêng năm 1991 đã chiếm khoảng 50 tỷ USD Làn sóng CPH được khởiđầu từ Vương quốc Anh vào cuối những năm 1970 Sau đó quá trình này lầnlượt diễn ra ở tất cả các nước công nghiệp phát triển với nhiều hình thứcphong phú, trong đó CPH là hình thức được lựa chọn phổ biến nhất Đến nay,
đã có hơn 80 nước đang phát triển đều xây dựng và thực hiện các kế hoạchCPH một cách tích cực Đối với các nước đang chuyển đổi từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang nền KTTT nhiều thành phần kinh
tế với động lực phát triển là kinh tế tư nhân, thì trước đó, khu vực kinh tế nàylại chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí là không được phép tồn tại vàhoạt động Quá trình CPH diễn ra nhanh chóng và rộng lớn ở các nước này đãđược coi là giải pháp trọng tâm để khắc phục sự yếu kém trong hoạt độngkinh doanh của các DNNN Đây là một đòi hỏi khách quan nhằm đáp ứngnhững yêu cầu về đổi mới khu vực kinh tế nhà nước sao cho phù hợp với điềukiện và tình hình mới
Ở Việt Nam, xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần là một chủ trương mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta nhằmđẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Do những nguyên nhân lịch sử,
sự phát triển tràn lan các DNNN trong các ngành và các lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội, cùng với sự hoạt động kém hiệu quả của phần lớn các DNNN
đã cản trở trực tiếp việc phát huy vai trò của chúng trong cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần và tạo nên gánh nặng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế Bởi vậy,việc đổi mới, sắp xếp lại hệ thống DNNN theo hướng Nhà nước tập trungnắm giữ các doanh nghiệp then chốt, trọng điểm và cần thiết của nền kinh tếquốc dân Thực hiện các biện pháp chuyển đổi hình thức sở hữu đối với các
Trang 29DNNN khác, trong đó có CPH là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình đổimới và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Tính tất yếu của CPH DNNNđược thể hiện chủ yếu trên các mặt: (1) Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
là một trong những giải pháp quan trọng nhằm huy động các nguồn lực trong
và ngoài nước vào phát triển kinh tế (2) Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả tầm vĩ mô và vi mô (3) Cổ phầnhoá doanh nghiệp nhà nước tạo điều kiện cho người góp vốn thực hiện quyềnlàm chủ thực sự của mình với hoạt động của doanh nghiệp Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một trong những giải
pháp quan trọng nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào pháttriển kinh tế
CPH DNNN nhằm chuyển đổi một phần sở hữu Nhà nước trong doanhnghiệp cho các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoàinước, thu hút được nguồn vốn dồi dào để đầu tư phát triển đất nước Đồngthời, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, tạo sự cân bằng giữa kinh tếNhà nước và kinh tế tư nhân Nâng cao tính cạnh tranh và tạo động lực pháttriển cho toàn bộ nền kinh tế vốn là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển củamỗi doanh nghiệp cũng là chìa khoá cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.Hiện nay, có thực trạng là nền kinh tế và doanh nghiệp cần vốn để phát triển,nhưng phần lớn nguồn lực tài chính trong dân cư và nhiều tổ chức chưa đượchuy động để phục vụ yêu cầu phát triển Thị trường vốn của Việt Nam đãđược hình thành nhưng hiện nay nguồn vốn chủ yếu mà các doanh nghiệp cóthể huy động vẫn là vốn tín dụng, vốn vay từ các hệ thống ngân hàng (chủ yếu
là tín dụng ngắn hạn đáp ứng các chỉ tiêu thường xuyên của doanh nghiệp,nguồn tín dụng trung hạn và dài hạn cho đầu tư phát triển rất hạn hẹp)
Bên cạnh đó, việc tiếp cận với các nguồn vốn từ các ngân hàng thươngmại không phải dễ dàng Việc CPH là bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của
Trang 30các DNNN cho người lao động trong doanh nghiệp, cho các pháp nhân và thểnhân, thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tạo điều kiện để huy động vàthu hút vốn đầu tư sẵn có vào phát triển kinh tế CTCP có thể thu hút nguồnvốn lớn của các tổ chức, kể cả ngân hàng thương mại và công ty tài chính đếncác nguồn vốn nhỏ bé và phân tán của các thể nhân Vai trò của CTCP trongviệc huy động vốn sẽ được nâng cao hơn khi TTCK phát triển và hoạt động
ổn định Vì ở đó, cổ phiếu của các CTCP là hàng hoá được người mua quantâm Trong quá trình CPH, DNNN sẽ phát hành thêm nhiều cổ phiếu để gọivốn Do đó, để cho các cổ phiếu được mua bán, lưu thông thuận tiện trên thịtrường cần phải có một thị trường chứng khoán phát triển Việc TTCK đi vàohoạt động sẽ là điều kiện tốt để thúc đẩy quá trình CPH, thu hút vốn trong vàngoài nước Do quyền tự chủ kinh doanh của các CTCP được mở rộng và vìlợi ích thiết thân của mình, các thành viên của CTCP phải tích cực quan tâmđến công tác quản lý và hiệu quả sản xuất -kinh doanh, đầu tư đổi mới côngnghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nên hiệu quả kinh doanhcủa CTCP được bảo đảm và nâng cao Đây là điều kiện tiên quyết để thu hútvốn đầu tư Đến lượt mình, những điều đó lại là cơ sở để nâng cao hiệu quảsản xuất-kinh doanh
Thứ hai, Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tác động tích cực đến đổi
mới quản lý ở cả tầm vĩ mô và vi mô
Chuyển từ DNNN sang CTCP không chỉ là sự thay đổi về sở hữu, màcòn là sự thay đổi căn bản trong công tác quản lý ở mỗi doanh nghiệp và hoạtđộng quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân Ở doanh nghiệp, sự thay đổi nàythể hiện ở những khía cạnh sau:
(1) Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động sản xuất-kinh doanh thayđổi: Các cổ đông thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc lựa chọn vàbầu những người có đủ năng lực và uy tín vào Hội đồng quản trị và Ban kiểmsoát; Giám đốc điều hành được Hội đồng quản trị lựa chọn và bổ nhiệm
Trang 31(2) Công ty chủ động hơn trong việc quyết định những vấn đề liên quanđến đầu tư và hoạt động sản xuất-kinh doanh Những quyết định đó được đưa
ra trên cơ sở tính tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất-kinh doanh, tôntrọng pháp luật và sự biến động của môi trường kinh doanh, trong đó quantrọng hàng đầu là sự biến động của thị trường
(3) Năng lực, trình độ và bản lĩnh kinh doanh của đội ngũ cán bộ quản
lý phải ngày càng phải được nâng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường, khôngthể dựa dẫm, ỷ lại vào Nhà nước hoặc tập thể Quá trình sản xuất-kinh doanh,việc sử dụng lao động, tổ chức bộ máy quản lý được thực hiện hợp lý hơn,tinh gọn và có hiệu quả hơn, các chi phí sản xuất-kinh doanh, trong đó có chiphí quản lý được giảm thiểu
(4) Trong hoạt động của mình, CTCP vẫn phải thực hiện những mụctiêu xã hội nhất định, nhưng gánh nặng đó được giảm bớt đến mức hợp lý Doquyền lợi và trách nhiệm thiết thân, hiệu quả kinh doanh trở thành mối quantâm hàng đầu của các nhà quản lý, điều hành cũng như toàn thể cổ đông Đốivới quản lý nhà nước, sự thay đổi này thể hiện:
Thay đổi phương thức quản lý: Nhà nước không thể tác động trực tiếpđến doanh nghiệp với tư cách là người chủ sở hữu của doanh nghiệp, mà phảichú trọng hơn đến việc tạo khuôn khổ pháp lý và môi trường kinh doanhthuận lợi cho sự phát triển bình đẳng của các loại hình tổ chức kinh doanh
Thúc đẩy sự phân định rõ hơn chức năng quản lý Nhà nước về kinh tếvới chức năng quản lý sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp
(5) Thúc đẩy việc cải cách hành chính, nâng cao năng lực và tráchnhiệm của đội ngũ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế
Thứ ba, Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tạo điều kiện cho người góp
vốn thực hiện quyền làm chủ thực sự của mình với hoạt động của doanh nghiệp
Chuyển sang CTCP, vốn và tài sản thuộc sở hữu của tập thể các cổđông Một bộ phận trong các cổ đông trước đây là những người lao động
Trang 32trong DNNN trở thành người chủ sở hữu đích thực của công ty chứ khôngcòn là người chủ hình thức như khi còn là DNNN Họ cùng với những cổđông khác tham gia vào quá trình quản lý, điều hành hoạt động sản xuất -kinh doanh của công ty nhằm đạt được những mục tiêu đã định Đây vừa làquyền lợi trực tiếp, vừa là trách nhiệm thiết thân của họ Khi đầu tư mua cổphiếu của công ty tức là đầu tư vào CTCP, mỗi người đã có sự suy nghĩ, cânnhắc trên nhiều mặt mà mối quan tâm hàng đầu là đầu tư đó phải sinh lợi.Khả năng sinh lợi của đầu tư ấy lại phụ thuộc trực tiếp vào hiệu quả kinhdoanh của CTCP Là chủ đầu tư, chủ sở hữu, cổ đông quan tâm và có quyềntham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, điều hành của công ty theo đúng quyđịnh của pháp luật và Điều lệ CTCP Điều này góp phần xóa bỏ tư tưởng ỷ lạivào Nhà nước, kích thích mọi người phát huy hết khả năng của mình vì sựphát triển và hưng thịnh của doanh nghiệp Quá trình CPH tạo cho người laođộng được thực sự làm chủ doanh nghiệp thông qua việc mua cổ phần củadoanh nghiệp, đồng thời cũng xác định được người chủ của doanh nghiệp saukhi CPH, thúc đẩy người lao động hăng say làm việc góp phần vào việc tăngnăng suất, chất lượng, hiệu quả của doanh nghiệp.
1.5 Quan điểm, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
1.5.1 Quan điểm, chính sách của Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Chủ trương CPHDNNN lần đầu tiên đã được đề cập đến trong Nghịquyết Hội nghị lần thứ hai-BCH TW khoá VII (tháng 1/1991):
Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành CTCP
và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp
Trang 33Tiếp đó, tháng 1/1994, Nghị quyết Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữanhiệm kỳ khoá VII đã chỉ rõ:
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu qủa, tiêu cực, lãng phí là do tài sản của Nhà nước không có người làm chủ trực tiếp, có trách nhiệm và lợi ích rõ ràng đối với việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và mục đích
của CPH để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo nên động lực, ngăn
chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả; cần thực hiện các hình thức cổ phần hoá, có mức độ phù hợp với tính chất vả lĩnh vực sản xuất - kinh doanh; trong đó sở hữu Nhà nước chiếm
tỷ lệ cổ phần chi phối
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 17/3/1995 của Bộ Chính trị về tiếp tụcđổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của DNNN đã nêu rõ phương châm tiếnhành CPH, tỷ lệ bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên trong và ngoài doanh
nghiệp “tuỳ tỉnh chất loại hình DNNN mà tiến hành bản một tỷ lệ cổ phần
cho cán bộ, công nhân viên và cá nhân ngoài doanh nghiệp” Sau khi giá tình
hình CPH và kết quả hoạt động bước đầu của các CTCP, ngày 4/4/1997, BộChính trị đã có Thông báo số 63/TB-TW về triển khai tích cực, vững chắcviệc CPH DNNN Tư tưởng chỉ đạo cơ bản là CPH phải xuất phát từ yêu cầuphát triển DNNN Phải làm cho tiềm lực kinh tế của Nhà nước tăng lên, làmcho tài sản Nhà nước tăng lên Có chính sách khuyến khích cán bộ và côngnhân trong doanh nghiệp mua cổ phần, hỗ trợ cho công nhân nghèo mua cổphần Cần phân loại DNNN làm cơ sở áp dụng các hình thức đa dạng hoá cáchình thức CPH và tuỳ điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà xác địnhhình thức CPH phù hợp Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH TW khoá VIIItháng 12/1997 nhấn mạnh thêm về đẩy mạnh, đổi mới và quản lý có hiệu quảcác loại hình doanh nghiệp, tiếp tục chỉ rõ:
Trang 34Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100 % vốn, cần lập kế hoạch CPH để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn
có hiệu quả Sửa đổi, bổ sung các quy định, kiện toàn tổ chức chỉ đạo CPH các cấp Thí điểm việc bán cổ phần cho người nước ngoài Khuyến khích nông dân sản xuất nguyên liệu tham gia mua
cổ phần ở các doanh nghiệp chế biến nông sản
Hội nghị lần thứ 3 BCH TW (khóa IX) tháng 8/2001 đã ra Nghịquyết về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động củaDNNN, chỉ rõ:
Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của DNNN phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó, lấy hiệu suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích và “Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để DNNN có cơ cấu hợp lý, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu”; đẩy mạnh CPH những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100 % vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN
Nếu như những năm trước đây chỉ CPH những DNNN không giữ vaitrò trọng yếu, thì năm 2004 Nghị quyết 34/NQ-TW của Bộ Chính trị (khoá
IX) đã “mở rộng diện DNNN cần CPH, kể cả một số tổng công ty và doanh
nghiệp lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, hoá chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thôn, bảo hiểm ”, đã mở rộng cả ngành nghề trước đây giữ độc quyền Trên
cơ sở đánh giá 3 năm thực hiện, để đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới phát triển và
Trang 35nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong những năm tiếp theo, ngày22/10/2004, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 45-CT/TW về đẩy mạnh sắp xếp,đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trong 2 năm2004-2005, trong đó yêu cầu các cấp, các ngành, nhất là các DNNN phải xácđịnh việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động củaDNNN là một nhiệm vụ quan trọng cấp bách trong năm 2005 và những nămtiếp theo Phải đẩy nhanh tiến độ và mở rộng hơn diện doanh nghiệp CPH, kể
cả một số tổng công ty lớn trong một số ngành quan trọng Chỉ thị cũng đưa
ra những định hướng về cơ chế chính sách trong quá trình CPH, như: việc tiếnhành CPH phải trên cơ sở phương án đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh,
để xác định rõ nhu cầu vốn đầu tư, số cổ phần để lại bán cho người lao độngtrong doanh nghiệp và số cổ phần bán ra ngoài Việc bán cổ phiếu phải côngkhai trong doanh nghiệp cũng như trên thị trường, kiên quyết không CPHkhép kín trong nội bộ doanh nghiệp Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH
TW (khoá IX) tháng 2/2005 về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớnnhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảngthì quan điểm về CPH càng thông thoáng hơn:
Đẩy nhanh tiến độ CPH và mở rộng diện các DNNN cần CPH, kể
cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn Giá trị tài sản DNNN thực hiện CPH, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trường quyết định Việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội
bộ doanh nghiệp.
Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết công tác CPH Kịp thời rút kinhnghiệm, uốn nắn những lệch lạc, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiệnngày càng tốt hơn Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X củaĐảng tháng 4/2006 tiếp tục chỉ rõ:
Trang 36Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, trọng tâm là CPH Cơ cấu lại DNNN, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích Đẩy mạnh và mở rộng diện CPH, kể cả các tổng công ty nhà nước Việc xác định giá trị DNNN được CPH, kể cả giá trị quyền sử dụng đất, phải theo cơ chế thị trường Đề phòng và khắc phục những lệch lạc, tiêu cực trong quá trình CPH DNNN Làm cho doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất - kinh doanh và sở hữu.
Đến nay, công tác CPH DNNN vẫn luôn được Đảng và Nhà nước đặcbiệt quan tâm Các chính sách mới ban hành đều nhằm mục tiêu là đẩy mạnhquá trình CPH DNNN, gỡ bỏ những ách tắc trong công tác CPH tại cácDNNN Từ năm 2016 đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạocác Bộ, ngành nghiên cứu, xây dựng ban hành đầy đủ, đồng bộ hệ thống cơchế chính sách, pháp luật về cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN Chưakhi nào chính sách về tái cấu trúc, chính sách đổi mới hoạt động DNNN được
rõ ràng như hiện nay, từ chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Chính phủ, tớiquyết định của Thủ tướng Chính phủ như: Quyết định số 58/2016/QĐ-TTgngày 28/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại DNNN,doanh nghiệp có vốn Nhà nước và danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai
đoạn 2016-2020 (sau đây gọi tắt là Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg), trong đó
quy định cụ thể ngành nghề nào nhà nước giữ, ngành nghề nào nhà nước tiếnhành thoái vốn triệt để Năm 2016, cả nước đã cổ phần hóa được 66 doanhnghiệp; Năm 2017, đã cổ phần hóa 69 doanh nghiệp, trong 11 tháng đầu năm
2018 đã cổ phần hóa 12 doanh nghiệp Trong giai đoạn từ 2016 đến tháng11/2018, cả nước đã thoái được 17.826 tỷ đồng, thu về 155.735 tỷ đồng, đãchuyển 135.000 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp
Trang 37vào ngân sách nhà nước Trong năm 2017, theo báo cáo của 294 doanh nghiệp
có cổ phần, vốn góp của Nhà nước thì tổng tài sản theo báo cáo hợp nhất củacác doanh nghiệp cổ phần là 543.858 tỷ đồng, tăng 6% so với thực hiện năm2016; Vốn chủ sở hữu theo báo cáo hợp nhất của các doanh nghiệp cổ phầnnăm 2017 là 210.035 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2016; tổng doanh thu đạt482.545 tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2016; [13]
Tóm lại, CPH DNN là giải pháp quan trọng trọng sắp xếp, đổi mới, cơcấu lại DNNN Quan điểm của Đảng, Nhà nước là tiếp tục thực hiện nghiêmcông tác phòng chống tham nhũng tiêu cực, khắc phục khuyết điểm, hạn chếtrong cổ phần hóa, thoái vốn DNNN, Chính phủ sẽ chủ động chỉ đạo các bộngành tập trung rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách để khắc phục tình trạngnày Thủ tướng cũng yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty, DNNN phải tậptrung hơn nữa cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển sản xuất, kinh doanh,
không để ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Mục tiêu nhất
quán của CPH DNNN là để huy động vốn, tạo điều kiện để người lao độngđược làm chủ thực sự trong doanh nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổiphương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanhnghiệp, làm tăng tài sản Nhà nước và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Phươngchâm chỉ đạo của Đảng là đẩy mạnh và mở rộng diện CPH DNNN; đối tượngbán cổ phần bao gồm mọi cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp, các tổ chứcpháp nhân khác để huy động vốn cho đầu tư phát triển, không CPH khép kíntrong nội bộ doanh nghiệp; chú trọng tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân,viên chức trong doanh nghiệp có sở hữu cổ phần Giá trị tài sản DNNN thựchiện CPH, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất là do thị trường quyết định
1.5.2 Vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá
Để nhận thức rõ hơn về CPH, cần phân biệt CPH DNNN với tư nhânhóa CPH DNNN có phải là tư nhân hoá DNNN không? Hai khái niệm này,
Trang 38có chung một nội hàm hay không? Xung quanh vấn đề này hiện tại vẫn còn
ý kiến khác nhau Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, CPH DNNN thực chất là
tư nhân hoá?
Theo nghĩa rộng:
Tư nhân hoá là quá trình biến đổi mối tương quan giữa Nhà nước
và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo hướng ưu tiên thị trường [17] Theo đó, toàn bộ chính sách, luật lệ và thể chế nhằm khuyến khích mở rộng và phát triển khu vực tư nhân, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, giành cho thị trường vai trò điều tiết ngày càng lớn, đều có thể coi là biện pháp của tư nhân hoá
Còn theo nghĩa hẹp, với đối tượng là doanh nghiệp, theo quan niệmchung, tư nhân hoá được hiểu theo hai nghĩa: tư nhân hoá quản lý và tư nhânhoả sở hữu:
(1) Tư nhân hoá quản lý: Các hoạt động trong một doanh nghiệp nào đótrước do khu vực nhà nước điều hành này chuyển sang cho khu vực kinh tế do
tư nhân điều hành, nhưng Nhà nước vẫn còn giữ quyền sở hữu Đây là trườnghợp tư nhân được thuê hay nhận thầu khai thác doanh nghiệp đó
(2) Tư nhân hoá sở hữu: Nhà nước chuyển nhượng toàn bộ quyền sởhữu mọi tài sản của doanh nghiệp nào đó cho tư nhân, tức là chuyển quyền
sở hữu nhà nước thành sở hữu tư nhân, thì được coi là tư nhân hoả sở hữu.Loại ý kiến thứ hai cho rằng, tư nhân hoá và CPH là hai khái niệm hoàn toànkhác nhau không chỉ về thuật ngữ, hình thức, mà khác nhau về nội dung, bảnchất Loại ý kiến thứ hai này là được cho hợp lý và được thừa nhận một cáchchính thống ở nước ta, bởi giữa CPH và tư nhân hoá có những điểm khácnhau cơ bản sau:
Trang 39Tiêu thức Cổ phần hoá Tư nhân hoá
Số lượng chủ sở hữu Không hạn chế Tách rời
công cộng về tư liệu sản
xuất của phương thức sản
xuất XHCN (sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể)
Ngoài tầm kiểm soát Hoàn toàn tương đồng có khả năng dung nap
Trong tầm kiểm soát Không có khả năng tương đồng và dung nap
Như vậy, giữa CPH và tư nhân hoá có những mặt giống nhau và quan
hệ mật thiết với nhau nhưng cũng có ranh giới phân biệt CPH không phải
là tư nhân hoá, mà là chuyển thể một doanh nghiệp từ dạng doanh nghiệpchưa là CTCP trở thành CTCP Với ý nghĩa này, việc CPH không chỉ là quátrình chuyển hoá diễn ra riêng ở DNNN mà diễn ra cả doanh nghiệp tưnhân, ở công ty trách nhiệm hữu hạn hay CTCP, CPH DNNN chỉ được coi
là một giải pháp trong quá trình đổi mới, cải cách, nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các DNNN CPH DNNN không thể đồng nhất với tư nhân hoá,ngay cả trong trường hợp CPH hoàn toàn DNNN CPH DNNN hoàn toànkhông gắn với một chủ sở hữu riêng biệt nào mà là quá trình thực hiện đa
sở hữu, đồng sở hữu ngoài cổ phiếu của các nhà đầu tư còn có cổ phiếu củanhững người lao động làm việc trong CTCP Nhà nước sẽ lựa chọn hìnhthức bán cho phù hợp và nếu bán theo cách để cho người lao động có cổphần ưu đãi hay cổ phần không chia, thì rõ ràng không thể nói rằng đó là tưnhân hoá
Trang 401.6 Kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số nước và bài học đói với Việt Nam
1.6.1 Kinh nghiệm cổ phần hoá ở một số nước
Tính phí hiệu quả của DNNN đã trở thành một vấn nạn chung ở cácnước trên thế giới, đòi hỏi họ phải tiến hành cải cách các DNNN, mà tư nhânhoá là một trong những xu hướng được áp dụng rộng rãi Các nước trên thếgiới thường đồng nhất hai thuật ngữ và hai quá trình CPH và tư nhân hoá làmột Nói chính xác hơn, thuật ngữ quá trình tư nhân hoả là quá trình phi Nhànước hóa doanh nghiệp Các nước này ít đưa ra chương trình, kế hoạch CPH
mà hầu hết đều đưa ra chương trình tư nhân hoá, trong đó tư nhân hoá cácDNNN là một nội dung quan trọng Do vậy, khi tham khảo tài liệu các nước,
có thể hiểu quá trình tư nhân hoá bao gồm quá trình CPH và tư nhân hoá Cácquốc gia khi nhận thấy CTCP là một hình thức tổ chức quản lý ưu việt nênđều xúc tiến quá trình CPH DNNN Tuỳ theo điều kiện đặc thù và mục tiêucủa mình mà quy mô, phạm vi, tốc độ CPH diễn ra rất khác nhau
CPH là vấn đề khá phức tạp đối với Việt Nam nói chung, tỉnh Lai Châunói riêng Theo tiến độ CPH DNNN trong giai đoạn 2017-2020 thì phải hoànthành cổ phần hóa 128 doanh nghiệp Tuy nhiên tính đến hết tháng 7/2020mới tiến hành cổ phần hóa được 37 doanh nghiệp, chỉ bằng 28% kế hoạch [7].Tiến độ CPH hiện rất chậm so với mục tiêu đề ra Một số nguyên nhân dẫnđến tình trạng này là:
Thứ nhất, do sự bùng phát của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng toàn diện
đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trong nước và quốc tế, trong đó cóviệc triển khai công tác cổ phần hóa, thoái vốn và TTCK
Thứ hai, đối tượng cổ phần hoá, thoái vốn trong giai đoạn này bao gồm
một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, có tình hình tài chính phức tạp,phạm vi hoạt động rộng, sở hữu nhiều đất đai tại nhiều tỉnh, thành phố trong