1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp theo pháp luật việt nam

107 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 207,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về bảo hiểm TNLĐ, BNN có thể kể đến các giáo trình củacác trường đại học như Giáo trình An sinh xã hội của trường Đại học Luật HàNội; Giáo trình An sinh xã hội của trường Đại

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ NGỌC TRANG

BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG

- BỆNH NGHỀ NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

Hà Nội – 2021

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ NGỌC TRANG

BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG

- BỆNH NGHỀ NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thúy Lâm

Trang 3

Hà Nội – 2021

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Ngọc Trang

Trang 5

MỤC LỤC Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 7

1.1 Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 7

1.1.1 Khái niệm tai nạn lao động 7

1.1.2 Khái niệm bệnh nghề nghiệp 8

Error! Hyperlink reference not valid.1.1.3 Phân biệt tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp .101010

1.2 Khái niệm và ý nghĩa của bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 11 1.2.1 Khái niệm 11

1.2.2 Ý nghĩa của bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 12

1.3 Sự Đđiều chỉnh pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp .14

1.3.1 Khái niệm và nguyên tắc điều chỉnhthực hiện pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 14

1.3.2 Nội dung điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 171718

Kết luận chương 1 252528 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN

Trang 6

THỰC HIỆN 262629

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp 2626292.1.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp2626292.1.2 Điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 2929322.1.3 Chế độ hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 3636382.1.4 Thủ tục hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 4242452.1.5 Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 4747492.1.6 Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 535355

Error! Hyperlink reference not valid.2.1.7 Đánh giá chung 5455572.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp 5757592.2.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểmtai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 5757592.2.2 Những tồn tại trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảohiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và nguyên nhân 606062

Kết luận chương 2 656567 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP 666668

3.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp 6666683.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp 7070723.2.1 Về đối tượng, điều kiện hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp 707072

Trang 7

3.2.2 Về các chế độ và mức hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

747475

3.2.3 Về thủ tục hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp .757576 3.2.4 Về xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 767677

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 777778

Kết luận chương 3 848485

KẾT LUẬN 858586

TÀI LIỆU THAM KHẢO 868687

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình TNLĐ từ năm 2015 đến năm 2020 ở nước ta [4] .28

Bảng 2.2 Danh mục các loại BNN [7] .34

Bảng 2.3 Số người tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2015 đến 2020 [9] 57

Bảng 2.4 Số thu từ Quỹ TNLĐ, BNN từ năm 2017 đến năm 2020 [9] .60

Bảng 2.5 Số chi từ Quỹ TNLĐ, BNN từ năm 2017 đến năm 2020 [9] .60

Bảng 2.1 Tình hình TNLĐ từ năm 2015 đến năm 2019 ở nước ta [28] Error! Bookmark not defined. Bảng 2.2 Danh mục các loại BNN [28] Error! Bookmark not defined. Bảng 2.3 Số người tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2015 đến 2020[28]

Error! Bookmark not defined Bảng 2.4 Số thu từ Quỹ TNLĐ, BNN từ năm 2017 đến năm 2020 [28] Error! Bookmark not defined.

Bảng 2.5 Số chi từ Quỹ TNLĐ, BNN từ năm 2017 đến năm 2020 [28] Error! Bookmark not defined.

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người trong các vụTNLĐ trong năm 2020 (tính theo số vụ) [4] .32Biểu đồ 2.2 Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người trong các vụTNLĐ trong năm 2020 (tính theo số người chết) [4] .32

Biểu đồ 2.1 Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người trong các vụTNLĐ trong năm 2020 (tính theo số vụ) [2810] .323235Biểu đồ 2.2 Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người trong các vụTNLĐ trong năm 2020 (tính theo số người chết) [2810] .323235

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm trên thếgiới, và cho tới nay, BHXH đã trở thành công cụ hữu hiệu mang tính nhânvăn sâu sắc để giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinhtrong cuộc sống cũng như trong quá trình lao động Vì vậy, BHXH ngày càngtrở thành nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội của mỗi quốc gia, của mọi thểchế Nhà nước và được thực hiện ở hầu hết các nước Bảo hiểm tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp là một trong những nội dung của BHXH, hướng đếnđối tượng người lao động bị tai nạn lao động (TNLĐ) hay nhiễm bệnh nghềnghiệp (BNN) trong quá trình lao động

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấukinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ thì số vụ TNLĐ, BNN cũngtăng nhanh qua các năm Tại Việt Nam, từ năm 2015 đến năm 2020 theothống kê đã xảy ra 48.691 vụ TNLĐ với số nạn nhân là 49.930 người; trong

đó số nạn nhân tử vong là 5.289 người TNLĐ, BNN gây ra những tổn thấtlớn lao cả về sức khỏe, tinh thần, thu nhập cho cá nhân người lao động (NLĐ)

và gia đình họ Người sử dụng lao động (NSDLĐ) cũng phải chịu những thiệthại như đình trệ sản xuất, chi phí bồi thường, uy tín… Chế độ bảo hiểmTNLĐ, BNN có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đời sống cho NLĐ khigặp phải TNLĐ, BNN dẫn đến việc thu nhập NLĐ bị giảm sút hoặc mất Bảohiểm TNLĐ, BNN sẽ hỗ trợ và đảm bảo thu nhập cho NLĐ trong nhữngtrường hợp này Do đó, việc thực hiện chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN đóng vaitrò quan trọng trong việc giúp NLĐ và NSDLĐ ngăn ngừa rủi ro và khắcphục khó khăn khi xảy ra TNLĐ, BNN

Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là vốn quý của xã hội, là lựclượng tạo ra của cải vật chất cho xã hội và là nhân tố quan trọng trong quá

Trang 12

trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Việc đảm bảo một môi trường

an toàn cho sản xuất cũng như có được chính sách hỗ trợ NLĐ khi họ gặpTNLĐ hay mắc BNN luôn được coi trọng Trong những năm qua, chính sách,chế độ BHXH đối với người bị TNLĐ, BNN đã nhiều lần được sửa đổi, bổsung cho phù hợp với thực tiễn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, đấtnước ta đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, chính vì vậy, một sốnhững quy định trong chế độ TNLĐ và BNN đã tỏ ra không phù hợp với tìnhhình mới Tình hình TNLĐ, BNN trên thực tế cũng không ngừng gia tăng.Việc nghiên cứu về mặt pháp lý cũng như thực tiễn tại Việt Nam về bảohiểm TNLĐ, BNN nhằm khắc phục những điểm yếu, loại bỏ những điểmkhông còn phù hợp với tình hình thực tế đang là yêu cầu cấp bách hiện nay

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo pháp luật Việt Nam” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để

hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo hiểm TNLĐ, BNN là chế độ bảo hiểm quan trọng, đặc biệt trongnền kinh tế thị trường bởi nguy cơ tai nạn, bệnh nghề nghiệp là điều khó tránhkhỏi Do đó bảo hiểm TNLĐ, BNN được quan tâm và nghiên cứu bởi nhiềucông trình khoa học ở các cấp độ khác nhau và nhiều tác giả khác nhau

Nghiên cứu về bảo hiểm TNLĐ, BNN có thể kể đến các giáo trình củacác trường đại học như Giáo trình An sinh xã hội của trường Đại học Luật HàNội; Giáo trình An sinh xã hội của trường Đại học Huế… Ngoài ra còn cómột số đề tài nghiên cứu khoa học như đề tài “Thực trạng và giải pháp về chế

độ chính sách bảo hiểm xã hội tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp đối vớingười tham gia bảo hiểm xã hội” (chủ nhiệm Hà Văn Chi).…

Trong những năm qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn

đề bảo hiểm TNLĐ, BNN ở các mức độ nghiên cứu khác nhau đã được công

bố như:

Trang 13

Đề tài khoa học cấp bộ: “Giải pháp xây dựng quỹ bồi thường TNLĐ tạiViệt Nam” do Nguyễn Đại Đồng làm chủ nhiệm, Bộ Lao động thương binh

và xã hội năm 1997 Đề tài khoa học cấp Bộ: “Thực trạng và giải pháp về chế

độ chính sách BHXH về TNLĐ, BNN đối với NLĐ tham gia BHXH” do HàVăn Chi chủ nhiệm, BHXH Việt Nam năm 2000

Luận án “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiệnkhung pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” của Nguyễn Hiền Phương,Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2009 và luận án “Hoàn thiện hệ thống tổchức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam” của Nguyễn ThịChinh, Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2010 cũng đề cập đến pháp luậtbảo hiểm TNLĐ, BNN

Luận văn Thạc sỹ “Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp– Thực trạng và giải pháp” của tác giả Vũ Thị La, năm 2010; Luân văn Thạc

sỹ “Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệptại Việt Nam” của tác giả Hoàng Bích Hồng, năm 2011; Luận văn Thạc sỹ

“Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong luật bảo hiểm xã hội ViệtNam” của tác giả Lê Thị Thanh Nhàn, năm 2013; Luận văn Thạc sỹ “Chế độbảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam – thực trạng và giảipháp hoàn thiện” của tác giả Vũ Tuấn Đạt, năm 2014; Luận văn Thạc sỹ “Bảohiểm tai nạn lao động theo pháp luật lao động” của tác giả Phạm Thị ThùyDung, năm 2017 và các luận văn Thạc sỹ định hướng ứng dụng, nghiên cứuchế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN và thực tiễn thi hành tại các địa phương trong

cả nước như: Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn,…

Ngoài ra còn một số bài viết như: “Tiêu chí pháp luật bồi thường tai nạnlao động” của tác giả Lê Kim Dung - Tạp chí Nhà nước và pháp luật số5/2011; “Giải quyết các tranh chấp về bồi thường tai nạn lao động” của tácgiả Phạm Công Bảy - Tạp chí Tòa án nhân dân số 9/1999; “Thực trạng pháp

Trang 14

luật an sinh xã hội ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện” của tác giả LêThị Hoài Thu, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số tháng 01/2014…

Những công trình nghiên cứu trên tuy có nghiên cứu về bảo hiểm TNLĐ,BNN tuy nhiên một số công trình đã không còn mang tính cập nhật, hầu hết lànghiên cứu bảo hiểm TNLĐ, BNN theo quy định cũ, rất ít công trình nghiêncứu về bảo hiểm TNLĐ, BNN theo Luật về an toàn vệ sinh lao động, hoặcnếu có nghiên cứu cũng chỉ ở mức độ nhất định Chính vì vậy, luận văn sẽ làcông trình khoa học mới nghiên cứu về vấn đề này, có ý nghĩa về cả lý luận

và thực tiễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về bảo hiểmTNLĐ, BNN mà cụ thể là Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Bảo hiểm xã hộinăm 2014 và đặc biệt là Luật An toàn vệ sinh lao động cùng các văn bảnhướng dẫn Đồng thời luận văn cũng nghiên cứu về thực tiễn thực hiện bảohiểm TNLĐ, BNN tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

Bảo hiểm TNLĐ, BNN là một lĩnh vực rộng, có thể nghiên cứu và tiếpcận ở nhiều góc độ khác nhau với phạm vi, nội dung rộng hẹp khác nhau Tuynhiên, luận văn này chỉ nghiên cứu bảo hiểm TNLĐ, BNN ở với tư cách làmột chế độ của BHXH, ở các khía cạnh: Đối tượng tham gia và điều kiệnhưởng bảo hiểm, các chế độ và mức hưởng bảo hiểm, thủ tục hưởng bảo hiểm

và quỹ bảo hiểm TNLĐ, các vấn đề về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểmTNLĐ, BNN Đối với các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp vềbảo hiểm TNLĐ, BNN sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn Bảohiểm TNLĐ, BNN từ khía cạnh thương mại cũng không thuộc phạm vinghiên cứu của luận văn

Trang 15

- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu, sử dụng các số liệu trong thờigian từ năm 2015 đến năm 2020.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ

những vấn đề lý luận về bảo hiểm TNLĐ, BNN, đánh giá thực trạng các quyđịnh của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm TNLĐ, BNN; trên cơ sởthực tiễn thực hiện Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằmhoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểmTNLĐ, BNN

Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích như trên, việc nghiên cứu sẽ có

nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo hiểm TNLĐ, BNN

- Nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành vềbảo hiểm TNLĐ, BNN

- Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, khó khănkhi thực hiện những quy định pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật bảo hiểm TNLĐ, BNN

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin;

tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; cácquan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về quyền conngười và quyền công dân trong xã hội; những luận điểm khoa học trong cáccông trình nghiên cứu và các bài viết đăng trong các tạp chí của một số nhàkhoa học Việt Nam

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm sáng tỏ

về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứunhư: phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…

Trang 16

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về bảohiểm TNLĐ, BNN, tạo cơ sở cho việc phân tích có hệ thống các nội dung củapháp luật hiện hành quy định về bảo hiểm TNLĐ, BNN cũng như đề xuất một

số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiệncủa pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về bảo hiểmTNLĐ, BNN đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luậtbảo hiểm TNLĐ, BNN

Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp kiến thức cho NLĐ, NSDLĐ đã vàđang tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN; cán bộ, người làm công tác thực tiễn

về BHXH nói chung và bảo hiểm TNLĐ, BNN nói riêng Các kết quả nghiêncứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu

ở, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu Luật học Đồng thời có thể sử dụng làm tàiliệu cho các doanh nghiệp, NSDLĐ, NLĐ, công tác quản lý về lĩnh vực chế

độ bảo hiểm TNLĐ, BNN

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Một sốNhững vấn đề lý luận về bảo hiểm tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về bảohiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thực tiễn thực hiện

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trang 17

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH

CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.1.1 Khái niệm tai nạn lao động

Tai nạn lao động (TNLĐ) xuất hiện cùng với quá trình lao động sản xuấtcủa con người, có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia Có nhiều cáchđịnh nghĩa khác nhau về TNLĐ

“Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TNLĐ được hiểu là tai nạnbất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thể gây tử vonghoặc gây cho cơ thể tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn haytạm thời” [2718]

“Từ điển Sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Lewis định nghĩa TNLĐ

là một sự kiện không được lập kế hoạch, không biết trước và không mongmuốn có thể hoặc không gây ra thiệt hại về thể chất và (hoặc) phá hủy tài sản,hoặc bất kỳ sự kiện nào không mong muốn gây trở ngại hoặc cản trở quy trìnhsản xuất hoặc một quá trình” [2317]

Điều 142 của Bộ luật Lao động năm 2012 định nghĩa TNLĐ là tai nạngây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tửvong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiệncông việc, nhiệm vụ lao động [12]

Có thể nói, dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt TNLĐ với tai nạnthông thường ở điểm tai nạn đó có gắn liền với thực hiện công việc, nhiệm vụcủa NLĐ (bị tai nạn) hay không Chỉ được coi là TNLĐ khi tai nạn đó xảy ratrong quá trình NLĐ thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy

Trang 18

định, nội quy, quy chế của đơn vị sử dụng lao động hoặc theo sự thỏa thuậncủa hai bên trong thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động… Nhữngtrường hợp khác đều được coi là tai nạn rủi ro và áp dụng chế độ bảo hiểm

ốm đau để giải quyết quyền lợi cho người lao động [2719]

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về TNLĐ nhưng nhìn chungđều thống nhất TNLĐ có các đặc điểm:

Thứ nhất, đó là những tai nạn xảy ra bất ngờ.

Thứ hai, tai nạn đó xảy ra trong quá trình lao động, làm việc của NLĐ,

gắn với việc thực hiện nhiệm vụ lao động TNLĐ xảy ra trong quá trình thựchiện công việc, nhiệm vụ theo sự phân công của NSDLĐ hoặc người đượcNSDLĐ ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động; hoặc TNLĐ xảy

ra đối với NLĐ khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết (nghỉ giảilao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc trongthời gian hợp lý…)

Thứ ba, tai nạn gây ra hậu quả tổn thất cho NLĐ, ảnh hưởng đến NLĐ

thậm chí cả gia đình họ, có thể gây tử vong, thương tích hoặc làm tổn thươngđến một bộ phận, chức năng nào đó trên bộ phận của cơ thể NLĐ

Như vậy, có thể định nghĩa TNLĐ như sau: TNLĐ là tai nạn xảy ra bấtngờ khi NLĐ đang thực hiện nhiệm vụ lao động, gây ra tổn thương đến cơ thểhoặc gây ra tử vong cho NLĐ

TNLĐ xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong laođộng gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể NLĐ hoặcgây tử vong trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc,nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thờigian làm việc như nghỉ giải lao, ăn giữa ca, thời gian chuẩn bị và kết thúccông việc…)

1.1.2 Khái niệm bệnh nghề nghiệp

Theo quy định của ILO thì một bệnh mà NLĐ mắc phải do ảnh hưởng

Trang 19

của một yếu tố có hại nào đó trong quá trình làm việc của mình được gọi làBNN Các yếu tố ảnh hưởng này có tính chất thường xuyên và kéo dài gâynên sự tích lũy tiềm năng về bệnh tật cho cơ thể.

Theo Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2012, BNN là bệnh phát sinh dođiều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với NLĐ [12]

Cũng tương tự như TNLĐ, dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt giữaBNN và bệnh thông thường là dấu hiệu gắn liền với việc thực hiện công việc,nhiệm vụ lao động Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp có thể là hệquả của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, các bức xạ có hại…,

do các yếu tố hóa học như các chất độc, các loại hơi, khí độc, bụi độc, chấtphóng xạ…, do các yếu tố sinh hóa như sinh vật, vi sinh vật, các loại khuẩn,siêu vi khuẩn, côn trùng… hoặc các yếu tố về tư thế lao động, độ tiện nghi vềkhông gian nơi làm việc, mất vệ sinh, các yếu tố tâm lý không thuận lợi…Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động dần dần, phá hủy các bộphận, chức năng của NLĐ và sinh ra bệnh.[2718]

Như vậy, BNN là bệnh mà NLĐ mắc phải do thường xuyên thực hiệnnhiệm vụ lao động trong môi trường có yếu tố độc hại Có thể gọi BNN làtình trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đếnnghề nghiệp mà nguyên nhân gây bệnh là do tác động thường xuyên và kéodài của điều kiện lao động xấu

BNN là bệnh mà nguyên nhân gây ra do tác hại của môi trường lao động,

là tất cả những yếu tố NLĐ gặp phải trong quá trình lao động ảnh hưởngkhông tốt tới sức khỏe của NLĐ, làm giảm khả năng lao động, gây nên tìnhtrạng bệnh lý từ nặng đến nhẹ Do vậy, việc chuẩn đoán BNN không chỉ dựavào triệu chứng bệnh mà còn phải dựa vào việc xác định các yếu tố độc hạitrong môi trường lao động để kết luận

BNN không phải là loại bệnh lý thông thường mang tính bẩm sinh hoặc

Trang 20

phát sinh từ điều kiện sống, môi trường sống tự nhiên và xã hội mà phải xuấtphát từ yếu tố nghề nghiệp BNN dứt khoát phải là loại bệnh lý do yếu tố độc,hại của nghề tác động vào cơ thể, qua các khí quan gây bệnh, có trường hợptích tụ trong thời gian dài sau đó gây bệnh (việc tích tụ bụi phôi, carbon,silicat nhiều năm gây ung thư, tiếp xúc TNT nhiều năm gây đục thủy tinh thểmắt…), có trường hợp gây bệnh nhanh chóng (ví dụ nhiễm độc, nhiễm trùngnghề nghiệp…)

Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh phát sinh có nguồn gốc từ nghềnghiệp đều được công nhận là BNN Nói cách khác, hiện đang có sự phân biệtgiữa bệnh nghề nghiệp pháp định và bệnh nghề nghiệp y khoa

Theo các nhà khoa học, số lượng và loại BNN trong thực tế nhiều hơn sốlượng các bệnh đã được pháp luật quy định để thực hiện chế độ bảo hiểm đốivới NLĐ Nói cách khác, chỉ những bệnh được pháp luật xác định, thừa nhậnmới được coi là BNN để NLĐ bị BNN được hưởng chế độ bảo hiểm

1.1.3 Phân biệt tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Từ các khái niệm trên, có thể nhận thấy TNLĐ và BNN tồn tại một sốđiểm khác nhau cơ bản giúp ta phân biệt:

Thứ nhất, TNLĐ xảy ra bất ngờ, phát sinh trong khoảng thời gian ngắncòn BNN xảy ra từ từ, phát sinh trong khoảng thời gian dài sau cả một quátrình tiếp xúc với yếu tố độc hại trong môi trường lao động Như vậy, nếuNLĐ tiếp xúc với yếu tố độc hại trong môi trường lao động trong thời gianngắn đã gây tổn thương cho một bộ phận cơ thể thì phải được coi là TNLĐchứ không phải BNN Việc đánh giá thời gian ngắn hay dài tùy thuộc vào quyđịnh của mỗi quốc gia hoặc yếu tố độc hại trong môi trường lao động

Thứ hai, di chứng do TNLĐ gây ra sau một thời gian điều trị dễ khỏi hơn

so với di chứng của BNN Di chứng của BNN rất dễ tái phát khi gặp điều kiệnnhư thời tiết, tiếng ồn… hoặc ảnh hưởng tới thế hệ sau

Thứ ba, TNLĐ nếu gây thương tật thì đó là những thương tật dễ nhận

Trang 21

biết hoặc ở bên ngoài cơ thể Còn BNN gây ra thương tật ẩn dấu trong cơ thể,sau một khoảng thời gian mới phát hiện ra.

Mặc dù có những điểm khác nhau cơ bản như vậy nhưng trong thực tếnhiều khi rất khó phân biệt giữa TNLĐ và BNN Tuy nhiên, dù khác nhau vềnguyên nhân, tính chất, biểu hiện lâm sàng… song giữa TNLĐ và BNN lại cóđiểm chung là đều làm suy giảm khả năng lao động của NLĐ hoặc gây tửvong; từ đó làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động của họ Chính vì vậy,NLĐ bị TNLĐ hay BNN đều là đối tượng được áp dụng chung một chế độBHXH

1.2 Khái niệm và ý nghĩa của bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.2.1 Khái niệm

Trong quá trình lao động sản xuất có thể xảy ra những rủi ro bất thườngngoài ý muốn của con người TNLĐ và BNN là loại rủi ro đặc trưng, gây ranhững hậu quả to lớn cho NLĐ; làm họ giảm sút sức khỏe, suy giảm khả nănglao động dẫn đến giảm hoặc mất nguồn thu từ lao động Nhiều trường hợp saukhi bị TNLĐ, BNN họ không có khả năng tự phục vụ bản thân, trở thànhgánh nặng cho gia đình Bên cạnh những tổn thất về kinh tế, NLĐ còn chịutổn thất nặng nề vì tinh thần, vì không ai muốn mình trở thành người tàn phế

Từ đó, nhu cầu được bảo hiểm của NLĐ và gia đình họ trong các trường hợpnày càng trở nên cần thiết

Sự ra đời của bảo hiểm TNLĐ, BNN trong lịch sử hình thành và pháttriển của BHXH không chỉ có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ đốivới những rủi ro xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với nghề nghiệp củaNLĐ mà còn thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước đối với lựclượng lao động và cộng đồng xã hội

Bảo hiểm TNLĐ , BNN có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.Theo nghĩa rộng, bảo hiểm TNLĐ, BNN là chế độ bảo hiểm nhằm bù

Trang 22

đắp hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ khi bị TNLĐ, BNN mà bịgiảm hoặc mất khả năng lao động Theo nghĩa này thì bảo hiểm TNLĐ, BNNcủa NLĐ không chỉ được đảm bảo từ quỹ bảo hiểm mà còn được đảm bảo từchính NSDLĐ NSDLĐ phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi phíkhám điều trị cũng như trả lương cho NLĐ trong suốt thời gian điều trị.

Theo nghĩa hẹp, bảo hiểm TNLĐ, BNN là một chế độ của BHXH, doquỹ BHXH chi trả nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập từ lao độngcủa NLĐ có tham gia BHXH khi bị giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặcmất khả năng lao động do bị TNLĐ, BNN

Bảo hiểm TNLĐ, BNN của NLĐ được đảm bảo từ nguồn quỹ BHXH,không bao gồm các khoản chi phí trực tiếp do NSDLĐ thanh toán Ở đây cầnlưu ý trong trường hợp NSDLĐ chưa tham gia BHXH bắt buộc cho NLĐ theoquy định của Nhà nước thì trách nhiệm chi trả của quỹ BHXH sẽ được dịchchuyển sang cho NSDLĐ để bảo vệ quyền lợi của NLĐ Trong trường hợpnày, NSDLĐ sẽ phải trả cho NLĐ một khoản tiền ngang với mức quy địnhtrong các văn bản pháp luật về BHXH

1.2.2 Ý nghĩa của bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

BHXH về TNLĐ, BNN được xác định trong hệ thống các chế độ BHXHvới mục đích đảm bảo cho NLĐ trong quá trình tham gia lao động bị TNLĐhoặc BNN được điều trị ổn định để phục hồi chức năng và khả năng lao động,được bố trí công việc phù hợp, được bù đắp về vật chất và tinh thần để ổnđịnh cuộc sống cho bản thân và gia đình khi bị mất toàn bộ hoặc một phầnkhả năng lao động Ngoài ra, BHXH về TNLĐ, BNN còn có ý nghĩa to lớn vềchính trị, xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an toàn và an sinh xãhội cho người lao động nói riêng và xã hội nói chung

Thứ nhất, đối với NSDLĐ: Bảo hiểm TNLĐ, BNN giảm chi phí cho

Trang 23

NSDLĐ khi xảy ra TNLĐ, BNN; nhanh chóng phục hồi sản xuất kinh doanh.Thông thường trách nhiệm bồi thường cho người bị TNLĐ, BNN thuộc vềNSDLĐ nhưng khi loại hình BHXH ra đời và phát triển, trách nhiệm nàyđược chuyển giao cho tổ chức BHXH với điều kiện NSDLĐ phải đóng mộtkhoản phí theo quy định Trách nhiệm này chuyển giao đến mức nào phụthuộc vào quy định của mỗi quốc gia, tuy nhiên khi tham gia BHXH, NSDLĐ

sẽ được tổ chức BHXH gánh một phần chi phí phải trả cho NLĐ khi xảy raTNLĐ, BNN Điều đó sẽ giúp NSDLĐ không rơi vào tình trạng nợ nần, phásản, nhanh chóng khôi phục sản xuất kinh doanh

Thứ hai, đối với NLĐ: Bảo hiểm TNLĐ, BNN quy định tất cả những vấn

đề liên quan đến TNLĐ và BNN như đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng,mức bồi thường, trợ cấp, đặc biệt là trách nhiệm của người sử dụng lao động

và cơ quan BHXH đối với NLĐ bị TNLĐ, BNN Qua đó giúp NLĐ biết đượcnhững quyền lợi nào họ sẽ được hưởng nếu xảy ra TNLĐ, BNN, mức hưởng

là bao nhiêu và ai là chủ thể bồi thường hay trợ cấp cho họ; biết được người

sử dụng lao động có thực hiện đúng những quy định của pháp luật hay không,nếu không thì kịp thời tiến hành các thủ tục pháp lý để bảo vệ quyền và lợiích chính đáng của mình Bảo hiểm TNLĐ, BNN đảm bảo ổn định thu nhậpcho người lao động bị TNLĐ, BNN So với một số rủi ro khác mà NLĐ cóthể gặp phải như ốm đau, thai sản, thất nghiệp – NLĐ có thể nhanh chóngphục hồi sức khỏe để quay lại làm việc hoặc tìm việc làm mới để có lại thunhập – thì rủi ro từ TNLĐ, BNN lại thường lấy mất đi một phần hoặc toàn bộkhả năng lao động của NLĐ Do đó, NLĐ khó có thể tìm kiếm việc làm hoặc

có việc làm nhưng với thu nhập thấp hơn trước Chính vì vậy, trợ cấp TNLĐ,BNN có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo đời sống cho NLĐ, giảm gánhnặng về vật chất cho gia đình NLĐ

Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội: Khi NLĐ được đảm bảo đời sống,

Trang 24

giảm bớt khó khăn thì họ sẽ yên tâm hơn, từ đó giúp ổn định xã hội Ngoài ra,cũng như các chế độ BHXH khác, bảo hiểm TNLĐ, BNN là sự cụ thể hóa rõnét nhất quyền con người trong xã hội, là công cụ góp phần nâng cao chấtlượng, hiệu quả, công bằng xã hội cho mọi thành viên trong xã hội Đây là cơ

sở pháp lý quan trọng để NLĐ được đảm bảo quyền lợi của mình đồng thờicũng thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với NLĐ gặp rủi ro trong quátrình lao động Đặc biệt trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, việc sửdụng máy móc công nghệ cao nếu không tuân thủ chặt chẽ quy trình sử dụng

sẽ dễ gây nên TNLĐ, BNN Khi đó NLĐ sẽ gặp nhiều khó khăn khi khả nănglao động bị suy giảm mà không có thu nhập do phải nghỉ việc Trong trườnghợp đó, bảo hiểm TNLĐ, BNN làm nhiệm vụ điều tiết thu nhập giữa nhữngNLĐ tham gia nhằm đảm bảo công bằng xã hội

1.3 Đ S ự đ iều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1.3.1 Khái niệm và nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Khái niệm pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN:

Các quan hệ BHXH nói chung và BHXH về TNLĐ, BNN nói riêng đượcthể hiện giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH,trong đó: Bên tham gia BHXH về TNLĐ, BNN là bên có trách nhiệm đónggóp BHXH theo quy định của pháp luật Bên BHXH là bên nhận bảo hiểmTNLĐ, BNN từ những người tham gia BHXH về TNLĐ, BNN

Các quan hệ BHXH về TNLĐ, BNN được hình thành trong quá trìnhđóng góp, chi trả các chế độ BHXH là một trong các chế độ BHXH bắt buộc

và được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Do đó các quan hệ này mang tínhbắt buộc và thường phát sinh trên cơ sở các quan hệ lao động

Trang 25

Từ đó, pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN có thể hiểu là một hệ thốngquy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa NLĐ,NSDLĐ trong việc đóng góp BHXH nhằm tạo lập ra một quỹ tiền tệ để bùđắp rủi ro cho NLĐ do TNLĐ, BNN trong quá trình NLĐ lao động, sản xuất,thực thi công việc được phân công.

Nguyên tắc cơ bản củathực hiện pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN:

- Thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải đảm bảo

tế - xã hội từng thời kỳ mà đối tượng tham gia, thụ hưởng bảo hiểm và cáctrường hợp hưởng bảo hiểm sẽ được xác định khác nhau Nền kinh tế càng pháttriển, khả năng mở rộng đối tượng tham gia và các trường hợp hưởng bảo hiểmcàng được đảm bảo mở một mức độ cao hơn, mặc dù vậy vẫn phải luôn đảmbảo được sự công bằng, bình đẳng giữa những NLĐ cùng tham gia chế độ Vìthế, với nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay, đây vừa là mộtnguyên tắc, vừa là một mục tiêu mà bảo hiểm TNLĐ, BNN cần đạt được

- Thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN trên cơ sở cân đối mức đóng và hưởng bảo hiểm, kết hợp với nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”

Nguyên tắc này được hiểu là phải đảm bảo hợp lý giữa đóng góp củaNLĐ cho xã hội thể hiện thông qua mức tiền công, tiền lương, thời gian đónggóp cho quỹ BHXH để từ đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởngtrợ cấp TNLĐ, BNN phù hợp với sự đóng góp cho xã hộiôi của NLĐ Tuy

Trang 26

nhiên, khi xem xét nguyên tắc này cần đặt chúng trong mối quan hệ phù hợpvới nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”.

Bởi vì NLĐ đóng góp vào quỹ BHXH không có nghĩa chắc chắn sẽhưởng mọi chế độ của BHXH cũng như mức hưởng bảo hiểm trong nhữngtrường hợp nhất định không hoàn toàn căn cứ vào mức đóng bảo hiểm củaNLĐ đó

- Thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN phải đảm bảo mức trợ cấp không được cao hơn mức tiền lương khi đang làm việc , nhưng không được thấp hơn mức bảo hiểm tối thiểu do Nhà nước quy định và trong những trường họp nhất định phải đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho NLĐ bị TNLĐ, BNN

Trợ cấp TNLĐ, BNN là nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhậpcủa NLĐ khi họ bị suy giảm hoặc mất đi khả năng lao động do bị TNLĐ,BNN Vì vậy, về nguyên tắc mức trợ cấp TNLĐ, BNN không được cao hơnmức tiền lương khi làm việc Nguyên tắc này vừa phản ánh tính cộng đồng xãhội, vừa phản ánh nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những NLĐ thamgia BHXH Tuy nhiên, cũng cần tính đến nhu cầu sinh hoạt tối thiểu chongười được hưởng bảo hiểm Do đó, Nhà nước cần phải có những quy địnhkhống chế mức trợ cấp TNLĐ, BNN tối thiểu nhằm bảo vệ quyền lợi chongười được hưởng bảo hiểm Mức trợ cấp tối thiểu được quy định, thay đổitùy theo điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể và thường căn cứ vào một số yếu tốliên quan như mức sống tối thiểu, tiền lương tối thiểu…

- Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN là quỹ thành phần của BHXH bắt buộc và được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập

Quỹ BHXH nói chung, quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN nói riêng được dựatrên sự đóng góp của chủ thể tham gia bảo hiểm Quỹ BHXH được quản lýtập trung, thống nhất và độc lập với ngân sách Nhà nước tức là về nguyên tắc

Trang 27

được hạch toán độc lập Do đó, quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạchtoán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúngmục đích nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụcho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh vềchính sách sao cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi; có như vậy mới đảmbảo được mục đích ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi gặp cácbiến cố rủi ro trong lao động Bảo hiểm TNLĐ, BNN là chế độ bảo hiểm bắtbuộc mục đích là hỗ trợ và bảo đảm cho NLĐ khi bị TNLĐ, BNN nên cầnphải tách thành quỹ riêng biệt song cần được dân chủ, công khai, minh bạch,

Trang 28

mục tiêu hoạt động của bảo hiểm TNLĐ, BNN lại là phi lợi nhuận và an sinh

xã hội nhằm góp phần ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thờimang tính chất bắt buộc

1.3.2 Nội dung điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

NLĐ là chủ thể trực tiếp tham gia quá trình lao động, sản xuất tạo ra củacải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội Tuy nhiên, trong quá trình laođộng khó tránh khỏi những nguy cơ TNLĐ, BNN; để bảo vệ NLĐ, Nhà nướcphải xây dựng, tổ chức thực hiện những quy định pháp luật về bảo hiểmTNLĐ, BNN đảm bảo quyền lợi của NLĐ bị TNLĐ, BNN

Tùy điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán mà các nước quy địnhkhác nhau về bảo hiểm TNLĐ, BNN Song nhìn chung pháp luật các nướcthường quy định bảo hiểm TNLĐ, BNN gồm các nội dung sau đây:

* Đối tượng tham gia và điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN

- Đối tượng được hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN: Việc quy định nhữngchủ thể nào thuộc đối tượng hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN là rất quan trọngbởi đây là cơ sở, tiền đề để tiến hành những bước tiếp theo

Đối tượng trước hết được hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN là NLĐ có thamgia BHXH bị TNLĐ, BNN làm suy giảm khả năng lao động ở một mức độnhất định Đây là lực lượng chủ yếu làm ra sản phẩm cho xã hội đồng thờicũng là đối tượng áp dụng chính Xét trên khía cạnh công bằng xã hội và thựchiện nguyên tắc “số đông bù số ít” thì mọi NLĐ đều thuộc đối tượng bảo vệcủa bảo hiểm TNLĐ, BNN Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia mà vấn đề này cũng được quy định khác nhau NLĐ ở đây cóthể thuộc mọi thành phần kinh tế nhưng cũng có thể chỉ là cán bộ, công nhânviên chức… Mỗi nhóm lao động có những đặc điểm khác nhau và có thể gặprủi ro khác nhau, vì vậy cần phải có nhiều hình thức, cơ chế bảo vệ đa dạng

Trang 29

Ví dụ:

Điều 33 Công ước 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm

1952 của ILO quy định những người được bảo vệ trong trường hợp TNLĐ,BNN phải bao gồm: Những loại người làm công ăn lương được quy định,tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương, và đối vớitrợ cấp tiền tuất thì bao gồm cả vợ và con của người làm công ăn lương thuộcloại đó Điều 4 Công ước số 121 của ILO nêu rõ: luật pháp quy định quốc gia

về trợ cấp TNLĐ cần phải bảo vệ tất cả NLĐ kể cả những người học việctrong khu vực tư nhân và Nhà nước, bao gồm các hợp tác xã và khi NLĐchính trong gia đình chết thì phải quy định rõ những người được hưởng trợcấp [27]

Pháp luật Đức quy định đối tượng áp dụng bảo hiểm TNLĐ là tất cảNLĐ, kể cả bị tai nạn trên đường đi giữa nơi ở và nơi làm việc; người bị mắcBNN thì được xử lý như người bị TNLĐ Trong khi đó pháp luật Thái Lan lạiquy định đối tượng áp dụng của bảo hiểm TNLĐ, BNN là tất cả BLĐ làmviệc trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, loại trừ người làm việc tronglĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; người làm việc trong các doanh nghiệp nhànước, nhân viên chính phủ thì thực hiện theo hệ thống riêng [15]

Từ các quy định của ILO và pháp luật một số quốc gia có thể thấy vềnguyên tắc những người được bảo vệ trong trường hợp bị TNLĐ, BNN baogồm tất cả những NLĐ, không phân biệt khu vực, qua đó thể hiện nguyên tắcbình đẳng giữa các đối tượng trong quan hệ lao động Có thể thấy, đốiĐốitượng tham gia và hưởng chế độ TNLĐ, BNN ở mỗi nước là khác nhau, tùythuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước Nhưng trước tiên đốitượng được hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN phải là NLĐ có tham gia BHXH.Bên cạnh NLĐ là đối tượng chính được hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNNthì thân nhân của NLĐ cũng là đối tượng được hưởng Thân nhân của NLĐ

Trang 30

thường được xác định là cha mẹ, vợ hoặc chồng và con của NLĐ Trongnhững trường hợp NLĐ đang làm việc bị chết do TNLĐ, BNN hoặc bị chếttrong thời gian điều trị lần đầu do TNLĐ, BNN thì thân nhân của họ sẽ đượchưởng bảo hiểm Đây là quy định phù hợp nhằm bù đắp cho một phần thiệthại về vật chất cũng như tinh thần cho gia đình NLĐ.

- Điều kiện hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN

Không phải mọi NLĐ tham gia BHXH khi bị TNLĐ, BNN đều đượchưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN Thông thường các hệ thống BHXH đều quyđịnh điều kiện để NLĐ được hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN là:

Thứ nhất, NLĐ tham gia BHXH đầy đủ

Thứ hai, NLĐ phải bị tai nạn, bị bệnh được xác nhận là TNLĐ, BNN

theo quy định pháp luật của quốc gia đó Việc xác định thế nào là TNLĐ, BNNđược pháp luật của mỗi quốc gia quy định khác nhau phụ thuộc vào điều kiệnkinh tế - xã hội của mình Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia khi xác định cáctrường hợp coi là TNLĐ, BNN đều gắn tai nạn hoặc bệnh đó với quá trình laođộng do NLĐ thực hiện, có thể trong hoặc ngoài giờ làm việc tiêu chuẩn Hiện nay có hai cách thường được sử dụng để xác định những BNNđược bảo hiểm Cách thứ nhất là xác định danh mục bệnh và chỉ rõ nhữngcông việc dễ gây ra từng loại BNN; NLĐ mắc bệnh do đã làm việc có trongdanh mục thì đương nhiên được bảo hiểm Cách thứ hai là theo yêu cầu đền

bù của người bệnh, sẽ xem có đúng vì nguyên nhân hoạt động nghề nghiệp

mà phát bệnh không Cách làm này khiến người bị bệnh phải qua kiểm tra,chuẩn đoán, giám định phức tạp để đi đến kết luận, nhưng cũng có mặt lợicho NLĐ nếu mắc BNN mà chưa có trong danh mục BNN Phần lớn phápluật các nước đều ấn định rõ một danh mục các BNN mà NLĐ mắc phải khitiếp xúc với công việc

Ví dụ:

Ở Trung Quốc, pháp luật có quy định điều kiện hưởng bảo hiểm

Trang 31

TNLĐ, BNN như sau:

NLĐ được hưởng bảo hiểm khi suy giảm khả năng lao động hoặc chết

do TNLĐ, BNN trong các trường hợp:

- Bị tai nạn trong khi kinh doanh, sản xuất tại đơn vị

- Bị tai nạn khi đang làm công việc do NSDLĐ yêu cầu

- Bị BNN do tiếp xúc với những vật độc hại nơi làm việc

- Bị tai nạn trong thời gian đi làm hoặc tan ca

Ở Thụy Điển, pháp luật Thụy Điển không có danh sách các BNN Đểđược trợ cấp, cần phải chứng minh thiệt hại là do một hay nhiều ảnh hưởngđộc hại ở nơi làm việc gây ra Tai nạn trên quãng đường giữa nơi làm việc vànơi ở cũng được bảo hiểm [27]

Thứ ba, TNLĐ, BNN phải gây thiệt hại về sức khỏe cho NLĐ

Khi xảy ra TNLĐ, BNN, NLĐ bị suy giảm ở một tỷ lệ nhất định tùy theoquy định pháp luật của các quốc gia hoặc mất khả năng lao động hoặc bị chếtdẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập thì mới được hưởng bảo hiểm TNLĐ, BNN

* Các chế độ và mức hưởng bảo hiểm tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp:

Các chế độ áp dụng đối với NLĐ bị TNLĐ, BNN có thể kể đến nhưgiám định y khoa, trợ cấp thương tật, bệnh tật và một số chế độ khác có liênquan Trong đó, trợ cấp thương tật, bệnh tật được xác định là chế độ có vai tròquan trọng đối với NLĐ bị TNLĐ, BNN Khi NLĐ bị TNLĐ, BNN họ có thể

bị mất một phần hoặc toàn bộ khả năng lao động, do đó bị giảm hoặc mất thunhập từ lao động Vì vậy NLĐ cần một khoản trợ cấp tương xứng để đảm bảocuộc sống cho bản thân, gia đình Tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả nănglao động mà NLĐ có thể được hưởng trợ cấập một lần hoặc hàng tháng

NLĐ bị TNLĐ, BNN sẽ được đi giám định mức suy giảm khả năng laođộọng sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định để xác định mứctrợ cấp Nếu như họ bị tái phát thì sẽ được giám định lại để xác định mức trợcấp cho phù hợp

Trang 32

Do bị TNLĐ, BNN nên NLĐ có thể bị tổn thương các chức năng hoạtđộng của cơ thể (chân, tay, tai, mắt…) vì vậy cần phương tiện trợ giúp nhưchân tay giả, máy trợ thính, xe lăn… Hơn nữa, nhiều trường hợp NLĐ bịthương tật nặng không thể tự phục vụ bản thân, kể cả những sinh hoạt thiếtyếu trong cuộc sống cho nên ngoài trợ cấp thương tật, bệnh tật thì NLĐ cònđược bảo đảm thêm các khoản trợ cấp khác để mua các phương tiện trợ giúpsinh hoạt và trợ cấp phục vụ.

Thu nhập của NLĐ được sử dụng để nuôi sống không chỉ bản thân NLĐ

mà cả thân nhân như cha mẹ, vợ hoặc chồng và con Khi NLĐ chết, đời sốngcủa những thân nhân này sẽ rất khó khăn, họ cần một khoản trợ cấp để ổnđịnh cuộc sống Chính vì vậy, pháp luật còn quy định về việc trợ cấp choNLĐ bị chết vì TNLĐ, BNN Đây là một quy định hết sức đúng đắn nhằmgiải quyết những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài của gia đình NLĐđồng thời khoản trợ cấp này cũng bù đắp được phần nào tổn thất về mặt tinhthần, giúp họ lấy lại niềm tin vào cuộc sống

NLĐ sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật do TNLĐ, BNN màsức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe Trường hợpNLĐ bị TNLĐ, BNN trở lại làm việc sau khi điều trị ổn định, NSDLĐ cótrách nhiệm sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe của NLĐ, nếu vị trí côngviệc mới đòi hỏi phải đào tạo lại NLĐ để đáp ứng nhu cầu công việc thì NLĐ

sẽ được cơ quan BHXH hỗ trợ học phí

Công ước số 121 của ILO cũng gợi ý các chế độ mà NLĐ được hưởnglà: chăm sóc sức khỏe và trợ cấp kèm theo cho người có tình trạng sức khỏeyếu (Điều 10); trợ cấp bằng tiền (Điều 13 đến Điều 22) Trong công ước số

121 cũng quy định các nước thành viên phải có trách nhiệm chung đối vớiviệc cung cấp các trợ cấp và phải thực hiện mọi biện pháp thực hiện mục tiêu

đó Các nước thành viên phải cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng để giúpngười tàn tật trở lại công việc trước đây (Điều 25, Điều 26)

Trang 33

- Thứ hai, trợ cấp một lần: Khi bị TNLĐ hoặc BNN, NLĐ sẽ đượchưởng trợ cấp một lần dựa trên cơ sở cấp độ thương tật, bệnh tật và mứclương trung bình của họ trong vòng 12 tháng trước khi bị TNLĐ, BNN.

- Thứ ba, phụ cấp TNLĐ, BNN: Sau khi bị TNLĐ, BNN, nếu NLĐ bịtàn tật vĩnh viễn, họ sẽ được hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng Mức trợcấp mà NLĐ được hưởng phụ thuộc vào mức độ thương tật, bệnh tật và mứclương trung bình của họ Người bị thương tật, bệnh tật từ cấp độ 1 đến cấp độ

4 được hưởng trợ cấp hàng tháng tương ứng bằng 90%, 85%, 80% và 75%mức lương trung bình của họ; người bị thương tật cấp 5 và cấp 6 thì mứchưởng là 70% mức lương trung bình Các cấp còn lại sẽ được hưởng trợ cấpthương tật một lần theo mức từ 6 đến 24 tháng lương tùy theo mức độ thươngtật của họ

- Thứ tư, trợ cấp tử tuất và quyền lợi của thân nhân: Khi NLĐ bị chết

do TNLĐ, BNN thì thân nhân của họ, những người mà NLĐ có trách nhiệmnuôi dưỡng khi còn sống sẽ được hưởng các quyền lợi là mai táng phí (bằng 6

Trang 34

tháng tiền lương trung bình của NLĐ); trợ cấp tử tuất (từ 48 đến 60 tháng tiềnlương trung bình của NLĐ trong năm trước khi chết); trợ cấp hàng tháng (nếu

vợ hoặc chồng hóa đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp hàng tháng thì đượchưởng mức trợ cấp hàng tháng bằng 40% tiền lương trung bình của NLĐtrước khi chết; cha mẹ già và các con chưa đến tuổi thành niên được nhận trợcấp hàng tháng bằng 30% mức lương trung bình của xã hội) [16]

Có thể thấy, trợ cấp TNLĐ, BNN được thực hiện trên cơ sở mức lươnglàm căn cứ đóng bảo hiểm của NLĐ hoặc một mức thu nhập nhất định do Nhànước quy định (ví dụ: mức lương tối thiểu) Mức trợ cấp TNLĐ, BNN đượcquy định khác nhau ở các quốc gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội củamỗi nước và trong những trường hợp cụ thể thì mức trợ cấp còn phụ thuộc vàotình trạng thương tật cũng như sức khỏe của NLĐ Tuy nhiên, mức trợ cấp baogiờ cũng đáp ứng mức sống tối thiểu cho người được hưởng trợ cấp

* Thủ tục hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

Việc quy định thủ tục thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN ở mỗi quốc gia làkhác nhau nhưng trách nhiệm thực hiện các thủ tục này cho NLĐ hưởng chế

độ bảo hiểm TNLĐ, BNN thì hầu hết các nước đều quy định thuộc vềNSDLĐ Sau khi NLĐ được giám định mức suy giảm khả năng lao động,NSDLĐ sẽ nộp hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN cho tổ chức bảohiểm Trong một thời gian nhất định cơ quan bảo hiểm có trách nhiệm giảiquyết cho NLĐ theo quy định của pháp luật

* Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

Thông thường ở một hệ thống BHXH, quỹ BHXH được hình thành do sựđóng góp của NLĐ, NSDLĐ, hỗ trợ của Nhà nước Tuy nhiên, do các nướcthường quy định việc đền bù cho người bị TNLĐ, BNN là trách nhiệm củaNSDLĐ nên quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN thường được hình thành từ các nguồn:

- Sự đóng góp của NSDLĐ: NSDLĐ đóng góp thể hiện trách nhiệm đốivới NLĐ mà mình sử dụng, hơn nữa làm cho NLĐ yên tâm làm việc, tạo sự

Trang 35

ổn định quan hệ lao động, góp phần tăng năng suất lao động và lợi nhuận chochính NSDLĐ.

- Hỗ trợ của Nhà nước: Nhà nước cũng tham gia đóng góp vào quỹnhưng với các vai trò khác nhau, có thể là đóng góp một phần, bù thiếu, hỗtrợ…

- Một số nguồn khác: lãi thu được từ hoạt động đầu tư quỹ, tiền tài trợ…

Ở Trung Quốc, trách nhiệm đóng góp vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN

là của NSDLĐ Theo quy định thì mức đóng góp của NSDLĐ là 1% so vớitổng quỹ lương của đơn vị Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN ngoài việc chi trả cácchi phí khi xảy ra TNLĐ, BNN còn bao gồm chi phí ngăn ngừa TNLĐ, BNNcũng như các chiến dịch thông tin tuyên truyền về an toàn lao động [27]

Ở Đức, trách nhiệm đóng góp vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN cũnghoàn toàn do NSDLĐ đóng góp Tỷ lệ đóng góp phụ thuộc vào mức độ rủi ro,nguy cơ bị TNLĐ, BNN của từng doanh nghiệp, đơn vị và phụ thuộc vào tổngquỹ tiền lương, tiền công Tỷ lệ đóng góp của NSDLĐ từ 0,2% đến 2% tổngquỹ tiền lương, tiền công theo sự phân loại công nghiệp (căn cứ vào nguy cơ,tần suất xảy ra TNLĐ, BNN hàng năm của doanh nghiệp) Tỷ lệ đóng góp sẽđược định kỳ xem xét theo tình hình TNLĐ, BNN và tình hình chi trả [15]

Ở Nhật Bản, nguồn quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN từ đóng góp củaNSDLĐ bằng 0,45% đến 11,8% quỹ lương dựa theo tỷ lệ tai nạn trong 03năm Chính phủ cung cấp các khoản trợ cấp, quy định trong giới hạn của ngânsách Nhà nước [24]

Cũng như các quỹ thành phần của quỹ BHXH, quỹ bảo hiểm TNLĐ,BNN được chủ yếu sử dụng để:

- Chi trả chế độ TNLĐ, BNN cho NLĐ:

Phần lớn quỹ được sử dụng để chi trả chế độ cho NLĐ khi gặp rủi ro doTNLĐ, BNN, các khoản chi cụ thể bao gồm: trợ cấp do suy giảm khả năng

Trang 36

lao động, có thể trả một lần hoặc hàng tháng; trợ cấp cho thân nhân người bịchết do TNLĐ, BNN; trợ cấp phục vụ; trang cấp phương tiện trợ giúp sinhhoạt; chi phí y tế trong trường hợp NLĐ phải điều trị do vết thương tái phát…

- Chi phí quản lý: Bao gồm các khoản chi để đảm bảo cho các hoạt độngnghiệp vụ bảo hiểm như chi quản lý hành chính (chi lương cho cán bộ bảohiểm, văn phòng phẩm, đào tạo); chi cho các hoạt động để đề phòng và hạnchế tổn thất (chi phí tuyên truyền, tập huấn về an toàn, vệ sinh lao động, cảithiện điều kiện lao động); chi hoa hồng cho đại lý hoặc các bên trung giantrong quá trình tổ chức thực hiện

- Đầu tư: Sản phẩm bảo hiểm có đặc điểm khác so với các sản phẩm dịch

vụ khác là có chu trình hạch toán ngược, giá thành sản phẩm được xác địnhtrước khi các chi phí phát sinh và người tiêu dùng phải trả tiền trước khi hưởng.Chính vì vậy mà các quỹ bảo hiểm nói chung và quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN nóiriêng luôn có một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng Lượng tiền này sẽđược dùng vào các hoạt đồng đầu tư nhằm sinh lời, tăng nguồn thu cho quỹ, đảmbảo chi trả chế độ cho người tham gia Trong đó việc chi trả trợ cấp cho NLĐ bịTNLĐ, BNN hoặc thân nhân của họ là khoản chi chủ yếu nhất

* Xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN sẽ khôngtránh khỏi sự xuất hiện của vi phạm pháp luật về bảo hiểm TNLĐ, BNN Các

vi phạm về bảo hiểm TNLĐ, BNN là vấn đề không thể tránh khỏi trong thựctiễn áp dụng Theo hệ thống pháp luật của mỗi nước thì cách thức xử lý viphạm được quy định khác nhau

Việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm TNLĐ, BNN nhằm mụcđích quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của hệ thống cơ quan có thẩm quyền và

có trách nhiệm trong lĩnh vực BHXH nói chung và bảo hiểm TNLĐ, BNN nóiriêng Xử lý vi phạm hành chính hay hình sự đều là những chế tài có tác dụng

Trang 37

bảo đảm cho các quy định của pháp luật trên thực tế được thực hiện hiệu quả

và bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ tham gia bảo hiểm

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm TNLĐ, BNN chính

là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hành chính(bao gồm xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý hành chính khác)đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm pháp luật về bảohiểm TNLĐ, BNN mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Tương tựnhư xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác của đời sống, xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm TNLĐ, BNN được đặt rakhi có hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản,

rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệmhình sự Việc xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo những trình tự,thủ tục do pháp luật hành chính quy định

Trong trường hợp những vi phạm có đủ các dấu hiệu để cấu thành tộiphạm, thì các cá nhân và tổ chức liên quan có hành vi vi phạm có thể phảichịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hình sự

Mục đích của việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm TNLĐ, BNNnhằm quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của hệ thống cơ quan có thẩm quyền

và có trách nhiệm trong lĩnh vực BHXH nói chung và bảo hiểm TNLĐ, BNNnói riêng Xử lý vi phạm hành chính hay hình sự cũng đều là những chế tài cótác dụng bảo đảm cho các quy định của pháp luật trên thực tế được thực hiệnhiệu quả và bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ tham gia bảohiểm

Ví dụ:

Theo pháp luật Trung Quốc, NLĐ hoặc NSDLĐ hoặc nhân viên BHXHnếu vi phạm quy định về chế độ TNLĐ, BNN đều bị xử lý kỷ luật từ phạt

Trang 38

hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự Những đơn vị sử dụng lao độngthực hiện tốt công tác ATVSLĐ, trong năm không để xảy ra TNLĐ, BNN dẫnđến thương tật, chết người sẽ được khen thưởng.

Theo quy định của pháp luật Đức thì mọi việc quản lý và tổ chức thựchiện được giao cho các hiệp hội nghề nghiệp, bao gồm các hiệp hội của cácnhánh nghề nghiệp xác định và các cơ quan bảo hiểm tai nạn công nghiệp ởcấp liên bản, cấp bang và cấp quận trên nguyên tắc tự quản về tài chính, tổchức và hoạt động phi lợi nhuận Các hiệp hội này có hai chức năng là phòngtránh TNLĐ, BNN và đền bù khi khi TNLĐ, BNN xảy ra; đồng thời đưa ra cơchế xử lý các vi phạm của các bên trong quan hệ bảo hiểm TNLĐ, BNN [26]

Trang 39

Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN do quỹ BHXH chi trả nhằm bù đắp mộtphần hoặc thay thế thu nhập từ lao động của NLĐ bị giảm hoặc mất do giảmhoặc mất khả năng lao động mà nguyên nhân là TNLĐ, BNN Bảo hiểmTNLĐ, BNN được đảm bảo từ nguồn quỹ BHXH, không bao gồm các khoảnchi phí trực tiếp do NSDLĐ thanh toán Thực hiện chế độ bảo hiểm TNLĐ,BNN luôn cần đảm bảo các nguyên tắc đảm bảo sự công bằng bình đẳng, trên

cơ sở cân đối mức đóng và hưởng bảo hiểm “lấy số đông bù số ít”, đảm bảomức trợ cấp không được cao hơn mức tiền lương khi đang làm việc., nhưngkhông được thấp hơn mức bảo hiểm tối thiểu và Nhà nước thống nhất quản lý.Mặc khác, Chương I cũng nghiên cứu bảo hiểm TNLĐ, BNN theo quy

Trang 40

định của ILO và của một số nước trên thế giới đã có những thành công nhấtđịnh trong việc thực hiện bảo hiểm TNLĐ, BNN Từ đó rút ra bài học kinhnghiệm trong hoàn thiện nội dung cũng như tổ chức thực hiện chế độ bảohiểm TNLĐ, BNN ở Việt Nam

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2020), Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
7. Bộ Y tế, Thông tư 15/2016/TT-BYT ngày 15/05/2016 quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 15/2016/TT-BYT
8. Bộ Y tế, Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/01/2019 ban hành quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH, chi trả các chế độ BHXH, BHTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 166/QĐ-BHXH
9. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Báo cáo Quyết toán tài chính hàng năm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam; các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quyết toán tài chính hàng năm củaBảo hiểm xã hội Việt Nam
11. Đỗ Thị Dung (2019), Kiến nghị sửa đổi một số quy định về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Tạp chí Luật học, số 12 năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến nghị sửa đổi một số quy định về chế độ bảohiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2019
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01-6- 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 15-NQ/TW
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2012
1013. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 23-5-2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 28/NQ-TW
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2018
14. Nguyễn Đại Đồng (Chủ nhiệm đề tài) (1997), Giải pháp xây dựng quỹ bồi thường tai nạn lao động tại Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp xây dựng quỹbồi thường tai nạn lao động tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đại Đồng (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 1997
1511. Trần Hoàng Hải – Ts Lê Thị Thúy Hương (2011), Pháp luật an sinh xã hội – Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật ansinh xã hội – Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàng Hải – Ts Lê Thị Thúy Hương
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 2011
16. Hoàng Bích Hồng (2011), Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tai nạnlao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Bích Hồng
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Kim Oanh (2019), Bệnh nghề nghiệp gia tăng: Ảnh hưởng an toàn Quỹ Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, ngày 29-01-2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nghề nghiệp gia tăng: Ảnh hưởngan toàn Quỹ Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh
Năm: 2019
18. Nguyễn Hiền Phương (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xâydựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hiền Phương
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.2: Tụ điện cao áp (Divider) - Bảo hiểm tai nạn lao động   bệnh nghề nghiệp theo pháp luật việt nam
Hình 3.2 Tụ điện cao áp (Divider) (Trang 4)
Bảng 2.2. Danh mục các loại BNN [287] - Bảo hiểm tai nạn lao động   bệnh nghề nghiệp theo pháp luật việt nam
Bảng 2.2. Danh mục các loại BNN [287] (Trang 50)
Bảng 2.3. Số người tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2015 đến 2020[ 289] - Bảo hiểm tai nạn lao động   bệnh nghề nghiệp theo pháp luật việt nam
Bảng 2.3. Số người tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2015 đến 2020[ 289] (Trang 74)
Bảng 2.4. Số thu từ Quỹ TNLĐ,BNN từ năm 2017 đến năm 2020[ 289] - Bảo hiểm tai nạn lao động   bệnh nghề nghiệp theo pháp luật việt nam
Bảng 2.4. Số thu từ Quỹ TNLĐ,BNN từ năm 2017 đến năm 2020[ 289] (Trang 76)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w