ĐẠI HỌC QUỐC GIA – KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN Môn Luật thương mại 2 Đề bài Pháp luật về phá sản doanh nghiệp Họ và tên MSV Giảng viên TS Hồ Ngọc Hiển Nguyễn Đăng Duy Hà Nội – 2022 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Đối tượng nghiên cứu 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 3 Phương pháp nghiên cứu 1 NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP I Phá sản và pháp luật phá sản 2 1 Phá sản 2 a Khái niệm 2 b Phân loại phá sản 2 II Pháp luật về phá sản 3 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 5 I.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA – KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN Môn: Luật thương mại 2
Đề bài:
Pháp luật về phá sản doanh nghiệp
Họ và tên:
MSV:
Giảng viên: TS Hồ Ngọc Hiển Nguyễn Đăng Duy
Hà Nội – 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
5
I Quy định pháp luật hiện hành về luật phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam
II Thực trạng về phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam 8
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT VÀ THỰC THI
LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 10
Trang 3MỞ ĐẦU
Đối với một doanh nghiệp, phá sản là điều đáng sợ nhất Bởi phá sản sẽ gây ảnh hưởng không chỉ với người đứng đầu doanh nghiệp, thậm chí nó còn gây ảnh hưởng đến những đối tác làm ăn và những nhân công Theo Luật phá sản năm 2004, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, các chủ
nợ hoặc chính bản thân doanh nghiệp mắc nợ được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đến tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hoặc nơi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mắc nợ đặt trụ
sở giao dịch chính
Bên cạnh đó, phá sản doanh nghiệp là hiện tượng tất yếu của cơ chế kinh
tế thị trường Sự tác động tiêu cực như gây những xáo trộn, ảnh hưởng xấu đến việc phát triển sản xuất, ổn định đời sống, đến việc làm của người lao động, phá sản còn tác động tích cực trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, loại bỏ bớt những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh
Từ những lí do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Pháp luật về phá sản doanh nghiệp”
1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tìm hiểu về phá sản và pháp luật phá sản doanh nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ khái niệm về phá sản doanh nghiệp và pháp luật phá sản doanh nghiệp và những hậu quả pháp lý đối với nền kinh tế và xã hội
3 Phương pháp nghiên cứu:
Thu thập những thông tin, kiến thức từ giáo trình và các trang website pháp luật về phá sản và pháp luật về phá sản Sau đó đi đến kết luận
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN VÀ LUẬT PHÁ SẢN
I Phá sản và luật phá sản:
1 Phá sản:
a Khái niệm:
Về mặt kinh tế: Sự phá sản của doanh nghiệp dù trong thời buổi nào đều mang đến những hậu quả tiêu cực Nhiều doanh nghiệp đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề khi đối tác làm ăn bị phá sản Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động của ngành nghề đó càng sâu rộng, số lượng bạn hàng càng đông, thì sự phá sản của nó có thể dẫn tới sự phá sản hàng loạt các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng Domino" - phá sản dây truyền
Về mặt xã hội, phá sản doanh nghiệp để lại nhiều tiêu cực cho xã hội Trước hết, phá sản doanh nghiệp làm tăng số lượng những người thất nghiệp và làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn, đặc biệt là các đô thị lớn và các khu công nghiệp Và điều này sẽ là gánh nặng đối với Nhà nước Mặt khác, nếu không được giải quyết kịp thời sẽ là nguyên nhân của tệ nạn xã hội
Về mặt chính trị, phá sản dây truyền sẽ dẫn tới sự suy thoái
và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí là khủng hoảng kinh tế khu vực
và đây là nguyên nhân dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị
Nếu căn cứ vào nội dung của các tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào phá sản, thực tiễn điều chỉnh pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới hiện nay đã và đang tiếp tục sử dụng 3 tiêu chí sau đây:
Tiêu chí định lượng: theo tiêu chí này một doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không thanh toán được một món nợ đến hạn có giá trị tối thiểu được ấn định trong luật phá sản Ví dụ: Luật của Anh là
50 bảng, luật Singapore là 2000 đô la Singapore
Trang 5 Tiêu chí "kế toán": tiêu chí này được thực hiện thông qua sổ sách kế toán của doanh nghiệp mắc nợ Nếu như các sổ sách kế toán của doanh nghiệp cho thấy tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản Tiêu chí này phản ánh chính xác hơn tình trạng tài chính của doanh nghiệp mắc nợ
Tiêu chí định tính "mất khả năng thanh toán": quan tâm trực tiếp đến tính "tức thời của việc trả nợ", khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp mắc nợ mà không dành sự quan tâm của mình đến số lượng tài sản hiện có của doanh nghiệp mắc nợ tiêu chí này đã làm cho khả năng mở thủ tục phá sản đối với một doanh nghiệp đến sớm hơn để có thể có những giải pháp "phục hồi" hoặc cho phá sản doanh nghiệp đó một cách kịp thời để bảo vệ
có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân doanh nghiệp mắc nợ và các chủ nợ, ngăn chặn hiện tượng phá sản dây truyền
b Phân loại phá sản:
Trên thực tế, tuỳ thuộc vào mục đích và mức độ xem xét, có nhiều cách phân loại khác nhau Ở đây chỉ đề cập tới hai dạng phân loại chủ yếu thường gặp là: Phá sản trung thực và phá sản man trá; phá sản tự nguyện
và phá sản bắt buộc
Phá sản trung thực là hậu quả khách quan và trực tiếp của tình trạng không thích ứng của doanh nghiệp mắc nợ trước các đòi hỏi khắt khe
và nghiệt ngã của thương trường Doanh nghiệp có thể bị phá sản với nhiều nguyên nhân mang tính khách quan như: thiên tai, địch họa, bị ảnh hưởng của chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, những chênh lệch về tỷ giá hối đoái, sự chuyển đổi xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng, và cả những nguyên nhân chủ quan như: sự yếu kém trong năng lực quản lý, điều hành, cơ cấu đầu
tư của doanh nghiệp bị mất cân đối nghiêm trọng, bị mất uy tín trên thương trường,
Phá sản man trá hoàn toàn là hậu quả của những thủ đoạn, hành vi gian dối, có sự sắp đặt từ trước của chủ doanh nghiệp mắc nợ lợi dụng
cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của các chủ nợ
Trang 6 Phá sản tự nguyện là do chủ doanh nghiệp mắc nợ tự đề nghị khi thấy doanh nghiệp hoàn toàn mất khả năng thanh toán, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ
Ngược lại, phá sản bắt buộc được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các chủ nợ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp mắc nợ
II Pháp luật phá sản:
Pháp luật phá sản đều được điều chỉnh phù hợp cho mỗi nền kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, luật phá sản ở mỗi quốc gia đều có một điểm chung:
Chỉ có toà án mới có thẩm quyền tuyên bố phá sản
Sau khi mở thủ tục giải quyết phá sản, doanh nghiệp mắc nợ không có quyền quản lý tài sản của mình mà trao quyền quản lý này cho một chuyên gia do toà án chỉ định Người chuyên gia quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ phải chịu sự kiểm soát của tòa án hoặc của một người thẩm phán
Tất cả các hành động có tính chất gian lận và gây thiệt hại cho chủ nợ đều bị bãi bỏ
Thủ tục giải quyết phá sản thường chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn thi hành các biện pháp nhằm khôi phục khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp
Phá sản và thanh lý tài sản doanh nghiệp
Các chủ nợ được xếp theo thứ tự ưu tiên trong việc phân chia tài sản
Trong quá trình giải quyết phá sản, quyền lực của thẩm phán rất quan trọng: nó có thể ngăn chặn các vụ đòi nợ và tham gia một cách trực tiếp trong việc thiết lập và thi hành đề án hoà giải giữa các chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ
Vai trò của luật phá sản được thể hiện ở các điểm sau:
Đứng trước sức ép và việc đòi nợ mang tính tự phát, luật phá sản
là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mắc nợ Pháp luật đã tạo điều kiện cho phép doanh nghiệp mắc nợ áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục khó khăn về tài chính và quay lại thương trường
Trang 7 Pháp luật phá sản "thiết kế" sẵn một thủ tục đặc thù nhằm bảo đảm các quyền về tài sản của chủ nợ trước những rủi ro do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn của con nợ gây ra Mặt khác, vai trò bảo vệ chủ nợ còn thể hiện ở chỗ pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo đảm quyền bình đẳng công bằng cho các chủ nợ trong việc đòi nợ
Pháp luật phá sản còn có vai trò bảo vệ quyền lợi của người lao động Một doanh nghiệp khi rơi vào tình trạng phá sản, người lao động cũng sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp và ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của họ Luật đã đưa ra những quy định cụ thể, những nguyên tắc và căn cứ pháp lý cơ bản nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao động cũng trách nhiệm của các doanh nghiệp và các bên có nghĩa vụ liên quan Theo quy định của luật phá sản, người lao động không những có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà các quy định về thứ tự ưu tiên khi phân chia giá trị còn lại của doanh nghiệp, chế độ trợ cấp, bảo hiểm thôi việc, đều thể hiện tinh thần bảo vệ các quyền và lợi ích của người lao động khi doanh nghiệp bị phá sản
Pháp luật phá sản là công cụ tái tổ chức lại doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và góp phần cơ cấu lại nền kinh tế Theo quy định của luật phá sản doanh nghiệp Việt nam, sau khi toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản, doanh nghiệp được quyền xây dựng phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại kinh doanh để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Pháp luật phá sản có vai trò góp phần bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội Việc phá sản của một doanh nghiệp có thể kéo theo rất nhiều hậu quả ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội Vì vậy, thông qua việc giải quyết thỏa đáng về mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ, giữa chủ nợ với nhau, pháp luật phá sản góp phần hạn chế những mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các chủ thể
có liên quan, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội
Trang 8CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM:
I Quy định pháp luật hiện hành về phá sản doanh nghiệp:
1 Trình tự phá sản doanh nghiệp:
Trình tự phá sản của một doanh nghiệp có ba giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn điều tra khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp
Giai đoạn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Giai đoạn phá sản và thanh lý tài sản của doanh nghiệp
Tuy nhiên, nếu muốn tránh lâm vào tình trạng, doanh nghiệp cần có đủ bốn điều kiện sau trong một thời gian dài giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản:
Xây dựng một phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh
Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp thi hành đúng đắn phương án phục hồi sản xuất kinh doanh, tức là phải trả được tất cả các khoản nợ cũ hay mới
Trang 9 Sau 3 năm, doanh nghiệp phải khôi phục lại khả năng thanh toán nợ
2 Thủ tục tuyên bố phá sản:
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Bước 2: Hòa giải và chấp nhận Đơn xin Khởi xướng Thủ tục phá sản Tòa án tiếp nhận đơn và xem xét đơn yêu cầu thủ tục phá sản
Tòa án trả lại đơn, chuyển cho Tòa án có thẩm quyền, thông báo phá sản và yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn (hoặc trả lại đơn nếu người nộp đơn không sửa đổi, bổ sung, bổ sung đơn)
Trong trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản thì tuyên bố phá sản, trường hợp hòa giải thì thủ tục phá sản được hòa giải trước khi bắt đầu thủ tục phá sản
Tòa án quyết định có mở thủ tục phá sản hay không
Bước 3: Tiến hành thủ tục phá sản
Quyết định có bắt đầu thủ tục phá sản hay không
Thông báo quyết định mở thủ tục phá sản
Xác định nghĩa vụ tài sản và các biện pháp bảo quản tài sản: Kiểm
kê tài sản, lập danh sách các chủ nợ, lập danh sách những người mắc nợ
Bước 4: Họp chủ nợ (Hội nghị chủ nợ)
Triệu tập hội nghị chủ nợ
Cuộc họp chủ nợ lần đầu (Cuộc họp chủ nợ bị trì hoãn)
Cuộc họp chủ nợ lần 2:
Đình chỉ thủ tục phá sản khi không có người tham dự Hội nghị chủ nợ
Thông qua nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về giải pháp định hình lại hoạt động kinh doanh Về kế hoạch thanh toán cho chủ nợ
Bình thường hóa hoạt động kinh doanh hoặc phá sản thông qua cuộc họp chủ nợ
Bước 5: Khôi phục doanh nghiệp
Trang 10 Nếu kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh do một doanh nghiệp ban hành, kế hoạch đó để được khôi phục nếu được chấp thuận
Nếu không có kế hoạch mở lại hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp đó sẽ phá sản
Bước 6: Quyết định doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
Bước 7: Thi hành quyết định phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Thanh lý tài sản phá sản
Tiền bán tài sản của tập đoàn, hợp tác xã được chia cho đối tượng theo thứ tự phân chia tài sản
3 Hậu quả pháp lý:
Tình trạng của doanh nghiệp:
Căn cứ theo Điều 109 Luật Phá sản 2014 quy định về việc gửi và thông báo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản Tòa án phải gửi quyết định cho cơ quan đăng ký kinh doanh để xóa tên doanh nghiệp khỏi sổ đăng ký kinh doanh Như vậy theo quy định này có thể hiểu, sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp chính thức chấm dứt tồn tại về mặt pháp lý
Tuy nhiên, trong trường hợp Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị theo quy định tại Điều 113 của Luật này thì thời hạn có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao ra quyết định
Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp
Theo quy định tại Điều 110 Luật Phá sản 2014 có thể hiểu là mặc dù doanh nghiệp đã bị xóa sổ nhưng doanh nghiệp bị phá sản vẫn chưa hoàn toàn được giải phóng khỏi nghĩa vụ về tài sản Đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thì chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không được miễn trừ nghĩa vụ tài sản đối với chủ nợ chưa được thanh toán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Xử lý vi phạm
Trang 11Theo Điều 130 Luật Phá sản 2014 quy định cụ thể các cá nhân bị cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp phá sản cụ thể như sau:
Người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị không được đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước kể từ ngày doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản
Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước
Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều
48 của Luật phá sản 2014 thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản
II Thực trạng về phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam:
Trong điều kiện, tình hình các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, do hậu quả của dịch bệnh Covid-19 gây ra, việc mất khả năng thanh toán
và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản là điều tất nhiên Các doanh nghiệp, hợp tác xã nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã gặp rất nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ Với tinh thần quy định của Luật Phá sản 2014, nếu người có quyền nộp đơn không nộp đơn thì người có nghĩa vụ vẫn phải nộp đơn Vì thế, khả năng các doanh nghiệp phải chịu thêm áp lực, chấp nhận để doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản là rất cao Việc nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản hàng loạt sẽ khiến Tòa án nhân dân khó tránh khỏi tình trạng quá tải không chỉ để giải quyết các vụ việc phá sản mà các cơ quan tư pháp còn phải thực hiện giải quyết các vụ án, vụ việc bị tồn đọng do phải thi hành các quyết định áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế hậu quả lây lan của dịch bệnh
Rõ ràng, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trong hoàn cảnh này
về mặt pháp lý không sai nhưng nó đã không thể hiện mục đích và tính nhân