1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về phá sản doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng tại việt nam (LTM2)

12 39 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 106,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN HỌC LUẬT THƯƠNG MẠI 2 ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn ThS Nguyễn Đăng Duy TS Hồ Ngọc Hiển Sinh viên Lớp MSV Lớp môn học BSL2002 3 Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2022 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 4 1 1 Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp 4 1 2 Vai trò của pháp luật phá sản doanh nghiệp 4 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT P.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN HỌC: LUẬT THƯƠNG MẠI 2

ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Đăng Duy

TS Hồ Ngọc Hiển

Sinh viên:

Lớp:

MSV:

Lớp môn học: BSL2002 3

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 4

1.1 Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp 4

1.2 Vai trò của pháp luật phá sản doanh nghiệp 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 5

2.1 Thực trạng pháp luật phá sản doanh nghiệp 5

2.1.1 Đối tượng áp dụng 6

2.1.2 Lí do phá sản 6

2.1.3 Các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 6

2.1.4 Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 7

2.1.5 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản 7

2.1.6 Thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản 8

2.2 Những kết quả đạt được khi áp dụng quy định pháp luật phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam 8

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 10

3.1 Liên quan đến quy định về xác định điều kiện nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 10

3.2 Bất cập trong quy định về quyền và nghĩa vụ nộp đơn theo quy định tại Điều 5 Luật Phá sản 2014 11

3.3 Quy định liên quan đến hoạt động thương lượng của các các chủ nợ và doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 11

KẾT LUẬN 12

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU Khi một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản đã làm nảy sinh nhiều mối

quan hệ phức tạp cần được giải quyết Chẳng những quan hệ nợ nần giữa các chủ

nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ giữa doanh nghiệp mắc nợ với người lao động do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gây ra Vì vậy việc giải quyết kịp thời các vấn đề đó có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thiết lập một trật tự cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo quyền chủ thể của các mối quan

hệ hay các bên liên quan

Trên cơ sở đó em quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về phá sản doanh nghiệp

và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” nhằm để tìm hiểu về luật phá sản của nước ta

hiện nay

Trong quá trình nghiên cứu và phân tích đề tài trên, em sẽ không tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô góp ý và bổ sung những thiếu sót để bài tiểu luận của

em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Pháp luật phá sản có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Pháp luật phá sản là một chế định đặc thù trong luật thương mại Tính đặc thù thể hiện ở chỗ trong chế định này vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luật nội dung, vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luật hình thức Là pháp luật nội dung, pháp luật phá sản điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ Là pháp luật hình thức, pháp luật phá sản điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa cơ quan nhà nước

có thẩm quyền với chủ nợ, con nợ và những người có liên quan, quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Như vậy, pháp luật phá sản điều chỉnh hai nhóm quan hệ: 1 Quan hệ tài sản giữa chủ nợ - con nợ và 2 Quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

1.2 Vai trò của pháp luật phá sản doanh nghiệp

Pháp luật phá sản có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội nói

chung và các chủ thể nói riêng, điều này được thể hiện ở những nội dung sau:

- Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ nợ, là cơ sở pháp lí để các chủ nợ thực hiện việc đòi nợ một cách hợp pháp

Trang 5

Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, chủ nợ là những người đầu tiên có nguy cơ không đòi được các khoản nợ Do vậy, pháp luật phá sản đã đặt yêu cầu bảo vệ lợi ích của các chủ nợ

Pháp luật phá sản qui định các chủ nợ có quyền chủ động yêu cầu mở thủ tục phá sản, đồng thời cho phép các chủ nợ được bảo vệ tối đa lợi ích của mình như: kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp,

- Pháp luật phá sản bảo vệ quyền và lợi ích cho doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ thông qua các qui định như: ấn định thời gian ngừng trả nợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã thương lượng với các chủ nợ để được xóa nợ, mua nợ, giảm nợ…

- Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người lao động

Bằng các qui định cụ thể, pháp luật phá sản xác định rõ cơ sở pháp lí để người lao động bảo vệ lợi ích của mình thông qua việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tham gia hội nghị chủ nợ, qui định thứ tự ưu tiên phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã

- Pháp luật phá sản góp phần tạo động lực cạnh tranh, cơ cấu lại nền kinh tế

Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật phá sản qui định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Khi việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh không khả thi thì thủ tục thanh lí doanh nghiệp, hợp tác xã và đi đến chấm dứt hoạt động kinh doanh là kết quả tất yếu

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng pháp luật phá sản doanh nghiệp

Trang 6

2.1.1 Đối tượng áp dụng

Theo Điều 2 Luật Phá sản năm 2014, đối tượng áp dụng của Luật này là:

“Doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật”

Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 chỉ áp dụng đối với:

+ Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2020;

+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012

2.1.2 Lí do phá sản

Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 thì:

“1 Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác

xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán

2 Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và

bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”

Như vậy, pháp luật phá sản của Việt Nam xác định lý do duy nhất dẫn đến phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, đó là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán

2.1.3 Các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần

Trang 7

- Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở

- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng

- Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã

(Theo Điều 5 Luật phá sản 2014)

2.1.4 Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã

- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh

(Theo Điều 5 Luật phá sản 2014)

2.1.5 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản

Hiện nay, theo Luật Phá sản năm 2014, thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản

doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc về Toà án nhân dân địa phương Dựa trên các nguyên tắc: theo trụ sở chính, theo nơi đăng ký kinh doanh và theo tính chất phức tạp của vụ việc phá sản, Điều 8 Luật Phá sản năm 2014 phân định thẩm quyền giải quyết vụ phá sản giữa các cấp Toà án nhân dân địa phương như sau:

Trang 8

Thứ nhất, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đãng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp: (1) Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài; (2) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau; (3) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau; (4) Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh mà Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc

Thứ hai, Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quy định thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh

2.1.6 Thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản

Thủ tục phá sản quy định trong Luật Phá sản năm 2014 bao gồm hai thủ tục

chính là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thủ tục tuyên bố phả sản Thanh

lý tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản chứ không còn là một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước khi ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản như Luật Phá sản năm 2004 Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ, không nhất thiết phải thực hiện lần lượt hai thủ tục này để được phá sản

2.2 Những kết quả đạt được khi áp dụng quy định pháp luật phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam

Trang 9

Sau khi có hiệu lực thi hành từ tháng 1/2015 đến nay, Luật phá sản 2014 đã có

bước cải cách lớn, khắc phục những hạn chế từ thực tiễn thi hành Luật phá sản

2004, tạo môi trường pháp lý lành mạnh, bình đẳng, hỗ trợ mọi loại hình doanh nghiệp cạnh tranh, tồn tại trong sự tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế

- Về tình hình giải quyết vụ việc phá sản tại Tòa án

Luật Phá sản 2014 đã có nhiều cải cách đáng kể, khắc phục được nhiều vướng mắc, bất cập của Luật Phá sản 2004, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc phá sản, nhiều vụ việc phá sản trước đây do vướng mắc quy định pháp luật đã được đưa ra giải quyết, số lượng vụ việc phá sản được thụ lý mới và ra quyết định tuyên bố phá sản tăng hàng năm

Theo kết quả tổng hợp báo cáo của các Tòa án nhân dân thì, từ khi Luật Phá sản

2014 có hiệu lực thi hành đến ngày 31/3/2020, bên cạnh việc tiếp tục giải quyết 229

vụ việc đã thụ lý từ những năm trước, Tòa án nhân dân các cấp thụ lý mới 587 vụ việc phá sản Trong đó, Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 287 vụ việc, ra quyết định không mở thủ tục phá sản 97 vụ việc, ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản 139 vụ việc, ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản 67

vụ việc, áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh 6 vụ việc Như vậy, so với 9 năm thi hành Luật Phá sản 2004 thì Tòa án các cấp chỉ thụ lý 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, ra 236 Quyết định mở thủ tục phá sản, trong đó ra 83 Quyết định tuyên bố phá sản

- Về số lượng Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Thực hiện Nghị định số 22/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, việc cấp Chứng chỉ hành nghề cho các Quản tài viên và đăng ký hoạt động cho doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã được thực hiện nhanh chóng, thuận lợi,

Trang 10

tạo điều kiện cho việc hình thành đội ngũ Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong thời gian ngắn Theo số liệu thông kê của Bộ Tư pháp, tính đến tháng 4/2020, cả nước có 270 Quản tài viên hành nghề với tư cách cá nhân; hơn 40 doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đang hoạt động Các Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã được cơ quan Tòa án chỉ định trong các

vụ việc phá sản doanh nghiệp mà Tòa án đã thụ lý giải quyết Đến nay, tổ chức và hoạt động của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã và đang bước đầu đi vào hoạt động, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã được Luật phá sản quy định, góp phần đưa các vụ việc phá sản theo đúng quy định của pháp luật

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

3.1 Liên quan đến quy định về xác định điều kiện nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Theo Khoản 1, Điều 4 Luật Phá sản 2014 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã

mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” Trong điều kiện, tình hình các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về mọi mặt do hậu quả của dịch bệnh Covid-19 gây ra, việc mất khả năng thanh toán và làm phát sinh quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là điều tất nhiên

Thực tế cho thấy, trong khoảng thời gian kể từ khi dịch bệnh Covid-19 xảy ra, các doanh nghiệp, hợp tác xã nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã gặp rất nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ Với quy định của Luật Phá sản 2014, nếu người có quyền nộp đơn không nộp đơn thì người có nghĩa

Trang 11

vụ vẫn phải nộp đơn Vì thế, khả năng các doanh nghiệp phải chịu thêm áp lực, chấp nhận để doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản là rất cao Việc nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản hàng loạt sẽ khiến Tòa án nhân dân khó tránh khỏi tình trạng quá tải

Ý kiến đề xuất: Ngoài quy định về trường hợp được xem là mất khả năng thanh toán như trong Luật Phá sản 2014 hiện nay, cần quy định thêm về mất khả năng thanh toán trong trường hợp như dịch bệnh, chiến tranh

3.2 Bất cập trong quy định về quyền và nghĩa vụ nộp đơn theo quy định tại Điều 5 Luật Phá sản 2014

So với cổ đông chiếm cổ phần lớn công ty cổ phần và thành viên hợp tác xã thì

thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên không có quyền này Như vậy, nếu thành viên chiếm vốn chi phối của công ty thấy được doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì cũng không có quyền nộp đơn mà chỉ trông chờ vào người đại diện theo pháp luật Điều này sẽ gây bất lợi cho thành viên, bởi nếu tình hình kéo dài có thể gây ảnh hưởng nhiều đến lợi ích của thành viên đó

Ý kiến đề xuất: Nên bổ sung thêm quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của thành viên có số vốn điều lệ chiếm từ 65% trên tổng vốn điều lệ của công ty

3.3 Quy định liên quan đến hoạt động thương lượng của các các chủ nợ và doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Luật Phá sản 2014 quy định về quyền đề nghị được thương lượng của doanh

nghiệp mất khả năng thanh toán và chủ nợ để được rút đơn Điều này đồng nghĩa với việc Tòa án phải luôn chấp nhận cho sự yêu cầu được thương lượng của các bên, nhưng không phải trong mọi trường hợp, thỏa thuận rút đơn đều được chấp

Trang 12

nhận Luật Phá sản đã cho các bên quyền thương lượng việc rút đơn nhưng lại quy định phải đề nghị tòa án để được rút đơn là chưa phù hợp

Ý kiến đề xuất: Luật Phá sản cần quy định rõ hơn thế nào là thỏa thuận trái với tinh thần của pháp luật về phá sản và hậu quả pháp lý của từng hành vi đó Tòa án vẫn là chủ thể quyết định cuối cùng sau khi xem xét kết quả thương lượng được gửi lên

KẾT LUẬN Trong bối cảnh nước ta đang bước vào giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế

giới; các doanh nghiệp, hợp tác xã ở nước ta hoạt động trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh khốc liệt, vấn đề phá sản đang đặt ra cho nền kinh tế nước ta những thách thức lớn; việc doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản là điều không thể tránh khỏi Pháp luật phá sản đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế

Để pháp luật phá sản có thể đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, cần phải hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về phá sản trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả áp dụng trong đời sống kinh doanh ở nước ta

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chế Văn Chung (2020), Pháp luật phá sản: Một số bất cập và giải pháp góp

phần hoàn thiện, Tạp chí Công Thương.

2 Thái Vũ – Cảnh Dinh (2020), Hội thảo Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014, Tạp chí Toà án nhân dân Điện tử.

3 https://www.google.com.vn/phap-luat-pha-san-bankruptcy-law-la-gi-vai-tro-cua-phap-luat-pha-san

Ngày đăng: 27/04/2022, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w