Vì vậy sử dụng phương pháp xung đột để lựa chọn pháp luật của một quốc gia nhất định để điều chỉnh một mối quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, cụ thể là sử dụng hệ thống pháp luật hôn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o -LỚP: 93-HS43B.1 NHÓM 2 BÀI THẢO LUẬN CHƯƠNG V MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Danh sách nhóm
Trang 2Bài tập 3:
Câu 1: Những quan hệ nào trong tình huống trên thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế?
- Quan hệ lao động giữa Xuân Hoa (công dân Việt Nam) và Công ty Blue (quốc tịch Anh) Đây là quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài cụ thể là có
một bên trong quan hệ là pháp nhân có quốc tịch nước ngoài (công ty Blule là pháp nhân có quốc tich Anh)
- Quan hệ hôn nhân giữa Xuân Hoa (công dân Việt Nam) và David (quốc tịch Anh) Đây là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cụ thể là có một bên trong quan hệ là cá nhân có quốc tịch nước ngoài ( David có quốc tịch Anh)
Câu 2: Hãy xác định phương pháp điều chỉnh nào của Tư pháp quốc
tế được vận dụng? Giải thích vì sao?
- Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế được vận dụng là: Phương pháp điều chỉnh gián tiếp (hay còn gọi là biện pháp xung đột)
- Giải thích: Năm 2015 Xuân Hoa và David đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Vì đối với quan hệ hôn nhân giữa Xuân Hoa (công dân Việt Nam) với David (công dân Anh) thì có 2 hệ thống pháp luật điều chỉnh về mối quan hệ hôn nhân này là hệ thống pháp luật Anh và hệ thống pháp luật Việt Nam Vì vậy sử dụng phương pháp xung đột để lựa chọn pháp luật của một quốc gia nhất định để điều chỉnh một mối quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, cụ thể là sử dụng hệ thống pháp luật hôn nhân Việt Nam để điều chỉnh mối quan hệ trên vì Xuân Hoa và David đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
Bài tập 4:
Công ty Xoan Đào ( quốc tịch Việt Nam, trụ sở tại Việt Nam) ký kết hợp đồng mua vật liệu xây dựng của công ty Bean (quốc tịch Nga,
Trang 3trụ sở tại Nga) Hợp đồng được ký kết tại Nga và được thực hiện tại Việt Nam Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên xảy ra tranh chấp và yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết.
1 Giả sử các bên muốn áp dụng Incoterm 2010 để điều chỉnh hợp đồng của họ, anh (chị) hãy cho biết trong trường hợp nào Incoterm
2010 có thể được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng nói trên? Vì sao?
- Incoterms (viết tắt của International Commercial Terms - Các điều khoản thương mại quốc tế) là một bộ các quy tắc thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Incoterm quy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên (bên bán và bên mua) trong một hoạt động thương mại quốc tế Incoterm
là một loại tập quán thương mại quốc tế hay tập quán quốc tế.
(Phần này để giải thích về Incoterm và xác định Incoterm là tập quán quốc tế Hiện tại đã có Incoterm 2020).
Để áp dụng Incoterm 2010 điều chỉnh hợp đồng giữa hai bên cần thuộc một trong các trường hợp:
- Trường hợp hai bên lựa chọn áp dụng tập quán quốc tế (Incoterm
2010) và:
Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng được xác định theo lựa chọn của các bên
Hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
- Trường hợp hai bên không lựa chọn pháp luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng trên và khi điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên và luật Việt Nam không có quy định về việc điều chỉnh hợp đồng nói trên Trong hai trường hợp trên, tập quán quốc tế Incoterm 2010 có thể được áp dụng
để điều chỉnh hợp đồng nói trên
Trang 42 Giả sử Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp trên, anh (chị) hãy cho biết trong trường hợp nào Tòa án Việt Nam có thể áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp trên? Vì sao?
Tòa án Việt Nam có thể áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết
trong trường hợp:
Khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu
Áp dụng trực tiếp để điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế tương ứng mà không cần quy phạm xung đột dẫn chiếu trong trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật quốc gia
Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn tòa
án Việt Nam
Bài tập 6:
Ông A, (quốc tịch Việt Nam), kí hợp đồng bán một tài sản cho ông B (quốc tịch Việt Nam).
1 Ông C cho rằng: Quan hệ này do ngành Luật Dân sự điều chỉnh Ông D cho rằng: Quan hệ này do ngành Luật Tư pháp quốc tế điều chỉnh.
Anh (chị) hãy đưa ra lập luận để chứng minh ý kiến của ông C, ông D là đúng.
- Trường hợp 1: ông D đúng Vì cả ông C, ông D đều có quốc tịch Việt
Nam nên Ông D chỉ đúng khi quan hệ dân sự đó có yếu tố nước ngoài, tức là thuộc một trong 2 trường hợp được quy định tại Điểm b, c Khoản 2 Điều 663 BLDS 2015:
Việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ hợp đồng đó xảy ra tại nước ngoài
Trang 5 Đối tượng của hợp đồng mua bán tức là tài sản được mua bán ở nước ngoài
- Trường hợp 2: ông C đúng Ông C đúng khi đáp ứng được hai điều
kiện sau:
Thỏa mãn quy định tại Điều 1 và Điều 4 BLDS 2015
Không thỏa mãn các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 663 BLDS 2015
2 Nêu ý nghĩa của việc xác định quan hệ này do ngành Luật Dân sự hay ngành Luật Tư pháp điều chỉnh?
- Xuất phát từ chủ quyền quốc gia và từ nghĩa vụ pháp lý của quốc gia
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, tổ chức của nước mình, các quốc gia đều cố gắng áp dụng pháp luật nước mình, trong điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có sự tham gia của công dân, tổ chức nước mình Trong khi đó, về mặt nguyên tắc, một quan hệ dân sự không thể chịu sự điều chỉnh đồng thời của hai hệ thống pháp luật Mặc dù có những trường hợp ngoại lệ, ví dụ, Điều 126 Luật HNGĐ 2014 quy định
áp dụng đồng thời cả pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà người nước ngoài mang quốc tịch nếu người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Tuy nhiên, những trường hợp này rất hiếm khi gặp Vì các hệ thống pháp luật thường quy định khác nhau khi điều chỉnh một quan hệ dân sự cụ thể, áp dụng hệ thống pháp luật này có thể sẽ đưa ra kết quả khác nếu áp dụng hệ thống pháp luật khác có liên quan Do đó, khi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh, cơ quan có thẩm quyền phải xác định được pháp luật quốc gia nào cần được áp dụng Việc xác định pháp luật áp dụng được tiến hành dựa trên các quy phạm của Tư pháp Quốc tế
- Về mặt nguyên tắc, bản án, quyết định của cơ quan tài phán chỉ có hiệu lực pháp luật trong lãnh thổ của quốc gia có cơ quan tài phán đó Điều này xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia Do vậy, để bản
Trang 6án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài được thi hành trên lãnh thổ của một quốc gia khá, phải có sự công nhận và cho phép thi hành bản án, quyết định đó từ phía thẩm quyền của nước nơi được yêu cầu
3 Giả sử hợp đồng này được kí tại nước M Hiệp định giữa nước M
và Việt Nam có nội dung quy định:
a) “Hợp đồng mua bán phải lập thành văn bản, có chứng thực của cơ quan công chứng nơi lập”
b) “Việc xác định hình thức hợp pháp của hợp đồng sẽ căn cứ vào pháp luật nước nơi hợp đồng được kí kết”
Hãy phân tích những phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Tư pháp quốc tế được thể hiện qua hai trường hợp trên.
a)
- Trường hợp trên sử dụng phương pháp thực chất Phương pháp thực chất là phương pháp áp dụng những quy phạm thực chất nhằm điều chỉnh trực tiếp các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT mà không phải thông qua một hệ thống pháp luật trung gian nào Trong đó, quy phạm thực chất là loại quy phạm mà nội dung của nó trực tiếp giải quyết vấn đề hoặc quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên, hoặc về biện pháp chế tài mà không cần phải thông qua hệ thống PL trung gian nào Trong quy định này, hợp đồng mua bán tài sản phải lập thành văn bản và phải có chứng thực, trực tiếp điều chỉnh mà không đưa ra bất cứ dẫn chiếu nào đến hệ thống pháp luật khác Vậy nên, trường hợp này sử dụng phương pháp thực chất
b)
- Trường hợp trên sử dụng phương pháp xung đột Phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng quy phạm xung đột nhằm xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng trong việc điều chỉnh quan hệ TPQT
cụ thể Trong đó, quy phạm xung đột là quy phạm không trực tiếp giải
Trang 7quyết các quan hệ pháp luật cụ thể mà chỉ quy định nguyên tắc chọn luật của nước này hay nước kia để giải quyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Trong quy định trên, muốn xác định hình thức của hợp đồng sẽ phải áp dụng pháp luật nơi hợp đồng ký kết, dẫn chiếu đến pháp luật nước M hoặc pháp luật Việt Nam chứ không điều chỉnh trực tiếp việc này Vậy nên, trường hợp này sử dụng phương pháp xung đột
4 Tại sao thực tiễn Tư pháp Quốc tế ở Việt Nam và các nước hiện nay đều sử dụng cả phương pháp thực chất và phương pháp xung đột trong việc điều chỉnh quan hệ của Tư pháp Quốc tế ?
- Phương pháp xung đột và việc áp dụng các quy phạm xung đột là phương pháp chủ yếu được sử dụng hiện nay bởi nó xuất phát từ thực tiễn
áp dụng trong TPQT, khả năng dễ xây dựng cũng như ít tốn kém vể chi phí vì chỉ thông qua thỏa thuận giữa hai bên mà thôi Mặc dù, phương pháp thực chất thể hiện được sự nhanh chóng, cụ thể trong việc áp dụng luật điều chỉnh một quan hệ pháp luật nào đó Tuy nhiên, phương pháp thực chất khó có thể xây dựng và đi đến thống nhất giữa các bên bởi hầu hết các quốc gia không có sự tương đồng về lịch sử, dân tộc, trình độ phát triển và lợi ích…
- Do đó, việc xây dựng được một quy phạm thực chất quả rất khó khăn Mặt khác, có thể nói việc thống nhất hóa các quy phạm xung đột cũng góp phần củng cố cho việc nhất thể hóa các quy phạm thực chất Khi QPXĐ dẫn chiếu tới một hệ thống pháp luật cụ thể mà các quy phạm thực chất được áp dụng để giải quyết quan hệ một cách dứt điểm, thì ở đây ta lại thấy tính chất “song hành” giữa QPXĐ với QPTC trong điều chỉnh pháp luật Có thể thấy mối quan hệ giữa hai phương pháp là ưu điểm của phương pháp thực chất là nhược điểm của phương pháp xung đột và ngược lại, mang tính bổ trợ cho nhau Như vậy, một hệ thống pháp luật muốn đạt hiệu quả tốt nhất cần phải sử dụng triệt để ưu điểm và hạn chế nhược điểm của phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
Trang 8Bài tập 7:
Tòa án nước A giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng giữa M (quốc tịch nước A) và N (quốc tịch nước B).
1 Khi xác định luật áp dụng, Tòa án đã áp dụng:
a Pháp luật của nước A Giả sử việc áp dụng pháp luật của Tòa án là không chính xác Anh (chị) hãy đưa ra lập luận để chứng minh.
- Việc áp dụng pháp luật của Tòa án trong trường hợp trên là không chính xác nếu trong trường hợp trên, M và N đã thỏa thuận sẽ áp dụng pháp luật của nước B (đã đáp ứng đủ điều kiện chọn luật) để giải quyết tranh chấp
về bồi thường thiệt hại trong trường hợp trên thì Tòa án phải áp dụng pháp luật nước B để giải quyết tranh chấp
b Điều ước quốc tế có liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại Giả
sử việc áp dụng pháp luật của Tòa án là chính xác Anh (chị) hãy đưa
ra lập luận để chứng minh.
- Việc áp dụng pháp luật của Tòa án là chính xác nếu trong trường hợp trên, M và N đã thỏa thuận lựa chọn điều ước quốc tế có liên đến vấn đề bồi thường thiệt hại (đã đáp ứng đủ điều kiện chọn luật) để áp dụng hoặc trong trường hợp trên, quốc gia A và B là thành viên của điều ước quốc tế
có liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại (trường hợp
cả hai bên không có thỏa thuận) thì việc Tòa án áp dụng điều ước quốc tế trên là chính xác
2 Hàng hóa của doanh nghiệp nước A khi nhập khẩu vào thị trường nước B phải chịu thuế cao hơn so với mặt hàng cùng loại được nhập khẩu từ thị trường nước C vào nước B Giả sử nhận định: “Có thể nước B vi phạm chế độ “Tối huệ quốc” khi áp thuế với các mức khác nhau đối với mặt hàng cùng loại từ lãnh thổ của hai nước khác nhau vào thị trường nước B” là đúng Anh (chị) hãy chứng minh.
- Tối huệ quốc” (MFN) là một trong những nguyên tắc pháp lý của Tổ chức thương mại thế giới WTO Nguyên tắc này được hiểu rằng MFN
Trang 9được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử
ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác
- Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác của mình
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: Mỗi thành viên của WTO phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác “ưu tiên nhất” Nếu một nước dành cho một đối tác của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương
tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được “ưu tiên nhất”
=>Vì vậy, giả sử cả 3 nước A, B, C đều là thành viên của WTO thì việc nước B đánh thuế mặt hàng của doanh nghiệp nước A cao hơn doanh nghiệp nước B dù nó cùng loại với nhau thì nước B đã vi phạm chế độ
“Tối huệ quốc” mà WTO đã đặt ra
3 Pháp nhân nước A ký hợp đồng bán lúa mì cho quốc gia B Anh ( chị) hãy tư vấn cho các bên ( ít nhất là 3 vấn đề) cần lưu ý khi ký kết và thực hiện hợp đồng này.
- Việc ký kết hợp đồng đôi khi cũng gặp nhiều rắc rối do hệ thống pháp luật khác nhau và bất đồng trong ngôn ngữ, văn hóa kinh doanh Để tránh xảy ra tranh chấp, các bên cần chú ý một số vấn đề khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như:
- Vấn đề xác định chủ thể ký kết hợp đồng: Chủ thể ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là một cá nhân hoặc một pháp nhân Tuy nhiên, tư cách chủ thểcủa các đối tượng này sẽ không tuân theo luật điều chỉnh hợp đồng, mà tuân theo luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch Điều này dựa trên nguyên tắc chủ quyền quốc gia Một chủ thể
Trang 10mang quốc tịch một quốc gia, trước hết phải tuân thủ pháp luật nước mình về tư cách chủ thể Pháp luật một quốc gia khác không thể điều chỉnh tư cách chủ thể của cá nhân hoặc pháp nhân mang quốc tịch nước khác Vì vậy, khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần thiết phải làm rõ tư cách chủ thể của cách bên Nếu một bên không có tư cách chủ thể, có khả năng hợp đồng sẽ bị vô hiệu
- Về hình thức hợp đồng: Hình thức của hợp đồng cũng là một điều cần lưu ý Theo Điều 27 Luật Thương mại Việt Nam 2005 thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được ký kết bằng văn bản hoặc hình thức khác
có giá trị pháp lý tương đương Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tuyên bố bảo lưu Điều 11 của Công ước Viên 1980 nên nhất thiết các hợp đồng được
ký kết phải được thực hiện dưới hình thức văn bản Nếu có sai phạm về hình thức, Tòa án Việt Nam hoặc Trọng tài tại Việt Nam có thể tuyên hợp đồng vô hiệu
- Phương án tốt nhất khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là nên soạn thảo hợp đồng bằng văn bản vì các nội dung sẽ được thể hiện rõ ràng, tiện lợi cho việc giải quyết tranh chấp sau này Vấn đề ngôn ngữ trong hợp đồng: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được ký kết giữa các bên tới từ các quốc gia khác nhau với ngôn ngữ khác nhau Mỗi ngôn ngữ có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau hoặc hiểu sai, nên tốt nhất các bên có thể sử dụng chung một ngôn ngữ Nếu không muốn sử dụng chung một ngôn ngữ, hai bên cần ghi nhận thêm điều khoản số lượng các bản hợp đồng và giá trị pháp lý Ví dụ: “Hợp đồng được lập thành 02 bản:
01 bản Tiếng Việt và 01 bản Tiếng Anh Hai bản này có giá trị pháp lý tương đương Khi có tranh chấp thì sử dụng bản Tiếng Anh để giải quyết