1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MÔN học NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG về LUẬT dân sự, tài sản, THỪA kế BUỔI THẢO LUẬN THỨ tư ( bảo vệ QUYỀN sở hữu ) GIẢNG VIÊN TH s lê THANH hà

19 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 193,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây: a Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; b Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; c Người được chuyển gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ

MÔN HỌC: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN,

THỪA KẾ BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ ( BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU ) GIẢNG VIÊN: TH.S LÊ THANH HÀ

DANH SÁCH NHÓM (nhóm 7)

1 Đinh Thị Mai Anh

(nhóm trưởng) 2153401020003

5 Phạm Thị Ngọc Diễm 2153401020047

7 Phạm Thị Hương Giang 2153401020071

8 Phan Nguyên Thế Hiển 2153401020090

Năm học: 2021-2022

Trang 2

Phần 1: Đòi động sản từ người thứ ba Tóm tắt Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa

án nhân dân tối cao

Nguyên đơn ông Tài gửi đơn khởi kiện lên Tòa án yêu cầu ông Thơ (bị đơn) phải trả lại trị giá 1 con trâu mẹ và 1 con nghé cho ông Tòa sơ thẩm xác định con trâu và con nghé là của ông Tài do đó ông Thơ phải hoàn trả giá trị 2 mẹ con con trâu cho ông Tài Tòa phúc thẩm lại quyết định ông Thơ phải hoàn trả giá trị con nghé cho ông Tài, còn con trâu mẹ ông Tài phải khởi kiện chủ sở hữu trâu hiện tại là ông Dòn Sau khi xem xét Tòa án tối cao đã hủy bản án phúc thẩm, giao lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm lại

Câu 1.1: Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?

- Theo Điều 107 của BLDS 2015 (Điều 174 của BLDS 2005) có quy định về động sản và bất động sản như sau:

“1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

 Như vậy Trâu không thuộc các trường hợp của bất động sản quy định tại Khoản

1 Do đó Trâu là động sản theo Khoản 2 Điều 107 BLDS 2015 (Khoản 2 Điều 174 BLDS 2005)

Câu 1.2: Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hay không? Vì sao?

- Theo Khoản 2 Điều 106 BLDS 2015 có quy định: “2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng

ký tài sản có quy định khác.” Hay Điều 167 BLDS 2005 quy định: “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

 Như vậy Trâu là động sản nên không phải đăng ký quyền sở hữu

Câu 1.3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?

- Đoạn trong Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài là: “Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22), và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ

cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con

Trang 3

nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài Ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật.”

Câu 1.4: Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp trên?

- Theo Khoản 1 Điều 179 BLDS 2015: “1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.”

- Trong hoàn cảnh có tranh chấp trên ông Dòn là người đang chiếm hữu trâu

Câu 1.5: Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh trên của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?

- Việc chiếm hữu của ông Dòn trong hoàn cảnh trên là không có căn cứ pháp luật, theo Khoản 1 Điều 165 BLDS 2015 (Điều 183 BLDS 2005):

“1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan; đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.”

- Vì theo quy định trên thì việc chiếm hữu của ông Dòn đều không rơi vào các trường hợp nêu trên Do đó việc chiếm hữu của ông Dòn là không có căn cứ pháp luât

Câu 1.6: Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Căn cứ theo Điều 189 Bộ Luật Dân Sự 2005:

“Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật này

là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.”

Câu 1.7: Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?

Trang 4

Người như hoàn cảnh của ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Vì trong bản án, theo lời ông Thơ thì ông đã bán trâu mẹ cho ông Thi được 3800000 VNĐ, sau đó ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi Và theo điều 180 Bộ Luật Dân Sự

2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” nên ông Dòn là chiếm hữu

ngay tình vì ông Dòn có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với con trâu đang chiếm hữu

Câu 1.8: Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong Bộ Luật Dân Sự?

Hợp đồng có đền bù: là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Lợi ích tương ứng ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang hàng vì các bên dành cho nhau không phải lúc nào cũng cùng một tính chất hay chủng loại Ví dụ: Hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mướn,

Hợp đồng không có đền bù: hợp đồng thực hiện khi có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Là loại hợp đồng mà trong đó một bên nhận được từ bên kia một lợi ích

mà không phải giao lại cho bên kia một lợi ích nào tương ứng với phần lợi ích mà mình đã nhận được Bên cạnh việc dùng hợp đồng làm phương tiện, bản cam kết cho giao dịch về lợi ích của các bên, các chủ thể còn dùng nó làm phương tiện để giúp đỡ nhau Vì vậy, hợp đồng không có đền bù thường được giao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tương trợ lẫn nhau Ví dụ: Hợp đồng tặng cho tài sản,

Câu 1.9: Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không

có đền bù? Vì sao?

Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch đền bù Hợp đồng có đền bù: là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Con trâu ông Dòn có được là do giao dịch với ông Thi, cụ thể là ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi, đây là giao dịch mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Do vậy, đây là hợp đồng có đền bù

Câu 1.10: Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?

Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài Vì theo lời ông Tài, tuy trâu của ông có thả rông trên bãi ruộng mèo nhưng ông không từ bỏ quyền sở hữu con trâu vì hàng tháng ông vẫn lên xem trâu, cũng không định giao dịch mua, bán, tặng, cho con trâu Khi ông Thơ dắt con trâu về qua nhà ông Tài, ông nhận ra là trâu, nghé của mình và nói với ông Thơ nhưng ông Thơ vẫn dắt trâu về sau đó bán cho ông Thi và được đổi cho ông Dòn và xảy ra tranh chấp Như vậy con trâu có tranh chấp là bị lấy cắp, bị mất hoặc bị chiếm giữ ngoài ý chí của ông Tài

Câu 1.11: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn

Trang 5

Thể hiện thông qua đoạn: “Tòa án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản lý nên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ trả lại giá trị con nghé là 900.000đ, bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng pháp luật.”

Câu 1.12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa

án nhân dân tối cao.

Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là phù hợp, thuyết phục

Điều 167 BLDS 2015 có quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký

quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không

có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”

Điều 180 BLDS 2015 quy định về chiếm hữu ngay tình: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”

Ông Dòn chiếm hữu con trâu là không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, và ông

có được con trâu đó thông qua hợp đồng có đền bù với ông Thi, mà ông Thi lại thông qua trao đổi mua bán với ông Thơ mà có được trâu mẹ với giá là 3.800.000đ rồi mới đổi với ông Dòn Từ đó cho thấy ông Dòn không hề biết con trâu trước đó

là của ông Tài Việc ông Tài mất con trâu nằm ngoài ý chí của ông, con trâu mẹ bị ông Thơ chiếm hữu rồi đem đi trao đổi mua bán với người khác không phải là mong muốn của ông Tài, thì ông Tài vẫn có quyền được đòi lại con trâu hiện tại do ông Dòn đang quản lý Nhưng việc đòi lại trâu từ chỗ ông Dòn sẽ làm tính chất vụ án trở nên rườm rà, phức tạp hơn Việc Tòa án không đồng ý ông Tài kiện đòi trâu từ chỗ ông Dòn chưa phù hợp với Điều 167 của BLDS 2015 nhưng cách giải quyết này có tính linh hoạt mang lại hiệu quả Đồng thời, Tòa án cũng đưa ra một hướng giải quyết khác mà vẫn đảm bảo quyền lợi của ông Tài và ông Dòn

Câu 1.13: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành

có quy định nào bảo vệ ông Tài không?

Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định có thể bảo vệ quyền của ông Tài Cụ thể:

- Khoản 1 Điều 116 BLDS 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”

- Điều 167 BLDS 2015 có quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký

quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không

Trang 6

có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”

- Điều 170 BLDS 2015 quy định về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.”

Câu 1.14: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị con trâu Thể hiện qua các đoạn sau:

“Tòa án cấp sơ thẩm xác định con trâu và con nghé đang tranh chấp là của ông Tài,

từ đó buộc ông Thơ bồi thường giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là đúng”

“Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và

đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật.”

Câu 1.15: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa

án nhân dân tối cao.

Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý, đúng đắn, thuyết phục

- Khoản 1 Điều 116 BLDS 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”

- Điều 170 BLDS 2015 quy định về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.”

Thông qua lời khai của nguyên đơn là ông Tài, các nhân chứng là anh Phúc, anh Chu, anh Bảo và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp thì có đủ cơ sở để Tòa xác định con trâu mẹ và nghé con thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Tài Ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật Từ những điều trên và dựa theo quy định của BLDS 2015 cho thấy ông Tài hoàn toàn có quyền đòi ông Thơ trả lại mẹ con trâu cho ông Trường hợp trâu mẹ đã bị ông Thơ bán đi với giá 3.800.000đ cho ông Thi và nghé con thì bị mổ lấy thịt thì ông Thơ phải bồi thường lại cho ông Tài với số tiền đúng với giá trị của con trâu Hướng giải quyết của Tòa trong tình huống này là hợp tình, nếu để ông Tài khởi kiện đòi trâu từ phía ông Dòn thì sẽ phát sinh thêm nhiều hệ quả, cụ thể là ông Dòn sẽ đòi lại vật đã đổi với ông Thi để lấy trâu và ông Thi sẽ đòi lại ông Thơ số tiền dùng để mua trâu Từ

đó làm cho vụ án trở nên phiền phức, rườm rà, tốn nhiều thời gian trong công tác xét xử Việc đòi lại giá trị con trâu từ chỗ ông Thơ - người có lỗi khi đã đánh cắp trâu của ông Tài sẽ khắc phục được các hạn chế trên, là phương án tối ưu, có lợi nhất cho đôi bên

Trang 7

Phần 2: Đòi bất động sản từ người thứ ba Quyết định số 07/2018/DS-GĐT của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nguồn gốc của nhà đất có tranh chấp (đất diện tích 1.518,87 m2 đo thực tế 1.466,1

m2) là của cụ Lê Thị Minh M Năm 1983, cụ M xuất cảnh sang Pháp nên lập giấy

ủy quyền cho con gái là bà T (bà T có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, đất, vườn) Năm 1989 bà T xuất cảnh sang Pháp phải cam kết không còn tài sản nên lập hợp đồng chuyển nhượng nhờ bà X đứng tên hộ, bà X được cấp GCN quyền sở hữu nhà trên nhưng bà T giữ toàn bộ giấy tờ Nay bà T và bà X không tranh chấp nên diện tích đất tranh chấp là thuộc quyền sở hữu của bà X Bà N theo giới thiệu của chồng bà X vào ở nhà bà X và bà N có cải tạo đất, giữ gìn và đóng thuế đầy đủ (bà

X thì từ khi được chuyển nhượng quyền sở hữu không ở, không đóng thuế) Bà X căn cứ theo Bản án phúc thẩm đã có hiệu lực đã xác lập giao dịch chuyển nhượng cho ông M, bà Q và con gái bà là chị L, chị L cũng chuyển nhượng đất cho ông Đ,

bà T Trong quá trình điều tra, Tòa án cấp sở thẩm buộc bà N trả cho nguyên đơn 237,6 m² và bà N được quyền sử dụng 1.228,5 m² đất là chưa đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn; còn Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà N trả tiếp cho nguyên đơn 914 m² đất là đúng nhưng không xem xét công sức của bà N trong việc quản lý, giữ gìn đất Tòa án cần xem xét phần đất Nhà nước đã thu hồi và cần làm rõ bà N đã nhận

từ Nhà nước số tiền bồi thường là bao nhiêu để tính toán công sức cho hợp lý Các bản án trước cũng không xem xét đến bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình nên Hội đồng thẩm phán tuyên bố giao hồ sơ vụ án cho Tòa nhân dân tỉnh B xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm

Câu 2.1: Đoạn nào của quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất

có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ 3 ngay tình?

- Đoạn “…có đủ cơ sở nguồn gốc nhà là của cụ Lê Thị Như M … cụ M xuất cảnh sang Pháp lập giấy ủy quyền cho con gái là bà T… bà T được cấp GCNQSD đất…

do bà T xuất cảnh phải cam kết không có tài sản nên lập hợp đồng nhờ bà X đứng tên hộ, thực tế không có việc chuyển nhượng… bà X được cấp GCNQSD đất nhưng

bà T giữ toàn bộ giấy tờ … bà X và bà T không tranh chấp …Như vậy toàn bộ diện tích đất thuộc sử dụng của bà X” là đoạn Tòa giám đốc thẩm cho thấy bà N có QSD đất

- Đoạn “Trên cơ sở Bán án dân sự phúc thẩm … có hiệu lực pháp luật, bà N được cấp GCNQSD đất… bà N chuyển nhượng cho ông M … ông M được cấp GCNQSD đất…diện tích đất còn lại bà N tặng cho con gái là chị L … chị L chuyển nhượng cho ông Đ và bà T … Căn cứ quy định … thì các giao dịch chuyển nhượng

và tặng đất của ông M, bà Q, chị L, ông Đ, bà T là giao dịch của người thứ ba ngay tình” là đoạn Tòa giám đốc thẩm quyền sử dụng đất đã được bà N chuyển cho người thứ ba ngay tình

Câu 2.2: Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

Trang 8

- Theo Điều 258 BLDS 2005 thì theo nguyên tắc, chủ sở hữu được đòi lại bất động sản (sau đây viết tắt là “BĐS”) Tuy vậy, có ngoại lệ là nếu người mà theo bản án, quyết định của CQNN có thẩm quyền là chủ sở hữu BĐS nhưng sau này không phải

là chủ sở hữu nữa do bản án, quyết định bị hủy, sửa bán đấu giá cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch không vô hiệu

- Theo Điều 168 và Điều 133 BLDS 2015 thì Bộ luật này vẫn giữ nguyên tắc ai là chủ sở hữu người đó được đòi lại tài sản, tức dù là người chiếm hữu ngay tình thì chủ sở hữu vẫn được quyền đòi tài sản nhưng có 2 trường hợp ngoại lệ mà chủ sở

hữu không được đòi lại tài sản Trường hợp 1, tài sản của giao dịch dân sự vô hiệu

nhưng được đăng ký tại CQNN có thẩm quyền và được chuyển giao cho người thứ

ba ngay tình, người này dựa trên đăng ký đó mà xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự không bị vô hiệu tức người thứ ba ngay tình không phải trả lại tài sản

Trường hợp 2, người thứ ba ngay tình mua tài sản thông qua bán đấu giá tại tổ chức

có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải

là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa

Câu 2.3: Để bảo vệ bà X, theo Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?

- Tòa án xác định bà X là chủ sở hữu hợp pháp nhà đất, nhưng bà N lại là người có công sức quản lý, giữ gìn nhà đất trong thời hạn dài, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đối với Nhà nước.Tòa án sơ thẩm buộc bà N trả cho nguyên đơn 237,6 m2 và bà N được quyền sử dụng 1.228,5 m2 đất là chưa đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn; còn Tòa án cấp phú thẩm buộc bà N trả tiếp cho nguyên đơn 914

m2 là đúng nhưng không xem xét công sức của bà N trong việc quản lý, giữ gìn đất

là chưa đảm bảo quyền lợi của bị đơn Khi xem xét tính công sức của bà N trong việc quản lý, giữ gìn đất thì tòa án cần xem xét đến phần đất Nhà nước đã thu hồi và làm rõ bà N đã nhận số tiền Nhà nước bồi thường là bao nhiêu để tính toán công sức cho hợp lý Tòa án đã bảo vệ quyền lợi cho bà X rất đầy đủ và rõ ràng tuy nhiên vẫn phải bảo vệ quyền lợi cho người có công là bà N Và để giải quyết tranh chấp này Tòa án đã hủy hết các bản án các cấp trước đó để đưa hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân

dâ tỉnh B xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật để xem xét lại Đưa tất cả những người có quyền và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng nhằm giải quyết triệt để tranh chấp một cách hợp tình hợp lý giữa nguyên đơn là bà

X và bị đơn là bà N

Câu 2.4: Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS chưa ?

- Về nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu thì BLDS 2015 có qui định Điều 580 thì khi chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản Về tài sản hoàn trả thì theo Điều 580 tài sản là vật đặc định thì phải hoàn trả đúng vật đó Ngoài ra pháp luật quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình tại khoản 2 Điều 133 Như vậy theo quy định của luật thì về nguyên tắc bà N phải hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất cho bà X, tuy vậy vì bà N đã chuyển nhượng tài sản cho bên thứ 3 ngay tình nên không thể hoàn trả lại đúng tài sản là diện tích đất tranh chấp trên nên Tòa xử theo hướng bà X trả lại giá trị quyền sử dụng, giá trị diện tích đất đã sử dụng không có căn cứ pháp luật

Trang 9

 Do đó hướng giải quyết của Tòa là chưa được quy định trong BLDS.

Câu 2.5: Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao?

Theo em, hướng giải quyết của Tòa là thuyết phục bởi các lý do sau:

- Bà N là chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật và không ngay tình vì bà N xác định thông qua giới thiệu của chồng bà X để vào ở trong căn nhà trong khuôn viên đất tức không lập hợp đồng thuê hay bất kỳ giao dịch nào chứng minh bà N có quyền chiếm hữu, sử dụng diện tích đất trên nên theo luật, theo lẽ công bằng bà N phải trả lại tài sản cho bà X là đúng

- Tuy nhiên bà N đã chuyển nhượng đất cho người thứ ba mà tại thời điểm chuyển nhượng bà N được Tòa phúc thẩm ngày 23/10/2009 xác định là chủ sở hữu nên theo khoản 2 Điều 133 thì Tòa giám đốc thẩm không thể để cho ông M, bà Q, chị L, ông

Đ, bà T trả lại diện tích đất mà họ được chuyển nhượng Như vậy, Tòa đã bảo vệ được lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình

- Hơn nữa để đảm bảo quyền lợi của bà N, Tòa khẳng định cần xem xét tính công sức của bà N trong việc quản lý, gìn giữ đất, xem xét đến phần đất bị thu hồi làm rõ

bà N đã nhận được số tiền là bao nhiêu để tính toán công sức cho hợp

 Từ các lý do trên, theo em việc Tòa có hướng giải quyết là hoàn toàn hợp lý, vừa bảo vệ được nguyên đơn (bà X), bảo vệ được những người thứ ba ngay tình (ông M, chị L, ông Đ, bà T) và cũng xem xét, ghi nhận công sức mà bà N đã bỏ ra để gìn giữ, bảo quản, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước

Phần 3: Lấn chiếm tài sản liền kề Tóm tắt Quyết định số 617/2011/DS-GĐT ngày 18/8/2011 của Tòa dân sự Tòa

án nhân dân tối cao:

Ông Trụ được để lại cho 320m2 đất và đã sử dụng từ trước năm 1975 đến nay Năm

1987, ông đi làm ăn ở nơi khác nên vợ chồng ông Hòa đã lấn 15,2m2 đất của ông

Vì vậy, ông khởi kiện và yêu cầu ông Hòa tháo dỡ công trình phụ và trả lại phần đất lấn chiếm Vào năm 1995, ông Hòa xin cấp giấy phép sửa nhà và được cấp giấy phép Nhưng khi sửa chữa thì ông Hòa có làm 4 ô văng cửa sổ, 1 máng bê tông và chôn dưới đất môt ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm không buộc ông Hòa tháo dỡ ống nước nên đã hủy bản án dân

sự phúc thẩm và sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật

Tóm tắt Quyết định số 23/2006/DS-GĐT ngày 07-09-2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Năm 1994, Ủy ban nhân dân huyện CN cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Trê với diện tích 4.700m2 Giáp với đất của ông Trê là đất của gia đình ông Hậu (ông Hậu nhượng lại của anh Kiệt vào năm 1994) Trong quá trình sử dụng, ông Hậu đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông Trê khoản 185m2 Khi ông Trê yêu cầu giải quyết thì ông Hậu đã chặt phá một số cây kiểng của nhà ông Vì thế nên gia đình ông Trê yêu cầu ông Hậu trả phần đất lấn chiếm và bồi thường số

Trang 10

cây kiểng bị chặt phá Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh CM giải quyết xét xử sơ thẩm lại theo đúng pháp luật

Câu 3.1: Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê, bà Thi và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?

- Đoạn cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê, bà Thi:

“Ông Hậu cho rằng diện tích đất trên do ông nhận chuyển nhượng lại từ anh Trần Thanh Kiệt; tuy nhiên, theo giấy biên nhận đề ngày 29-3-1994 giữa ông Hậu với anh Kiệt (giấy không có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) thì diện tích đất mà ông Hậu mua từ anh Kiệt không nêu vị trí cũng như tứ cận, mốc giới cụ thể, cũng không có xác nhận của các chủ đất liền kề Trong khi đó, gia đình ông Trê quản lý, sử dụng đất tranh chấp từ trước khi có việc sang nhượng giữa ông Hậu với anh Kiệt và năm 1994 ông Trê đã được Ủy ban nhân dân huyện CN cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Châu Kim Thi

-vợ ông Trê đứng tên); theo sơ đồ vị trí đất được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất này có mốc giới rõ ràng, đối chiếu sơ đồ này với sơ

đồ tranh chấp do Tòa án nhân dân huyện CN phối hợp với các cơ quan chức năng

đo vẽ ngày 28-3-2000 và tại Công văn số 01/XN-TNMT ngày 10-3-2006 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện CN gửi Tòa án nhân dân tỉnh CM vẫn khẳng định ranh giới đất đã cấp giấy chứng nhận cho bà Thi với đất ông Hậu đang sử dụng là

“ranh thẳng” thì có căn cứ xác định ông Hậu đã lấn đất cua ông Trê.”

- Phần lấn cụ thể: 132,8m2 đất lấn chiếm nhưng là đất trống, còn phần đất ông Hậu cũng lấn chiếm nhưng đã xây nhà là 52,2m2, 2 máng xối đúc bê tông có diện tích 10,71m2, căn nhà phụ có diện tích 18,57m2

Câu 3.2: Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?

- Đoạn cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên: “Khi sửa chữa lại nhà gia đình ông Hòa có làm 4 ô văng cửa

sổ, một máng bê tông và chôn dưới đất một ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà.” Việc nằm ngoài phía tường nhà là có nghĩa lấn sang phần đất của ông Trụ và

bà Nguyên

Câu 3.3: BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sửu dụng của người khác không?

Điều 174 Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng

Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.

Điều 175 Ranh giới giữa các bất động sản

Ngày đăng: 27/04/2022, 05:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w