TỔNG QUAN
Lý do chọn đề tài
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam đã dẫn đến việc nâng cao mức sống của người dân, đồng thời cũng làm gia tăng yêu cầu về chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, các vấn đề môi trường như ô nhiễm đất, nước và không khí đang trở thành mối quan tâm lớn Nhận thức của người dân về các thách thức này ngày càng cao, với 81% người tiêu dùng Việt Nam cho rằng bảo vệ môi trường là vấn đề hàng đầu, theo khảo sát của Nielsen năm 2012.
Trong những năm gần đây, xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng trở nên phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện ô nhiễm môi trường Các công ty lớn như Unilever, The Body Shop và Procter & Gamble đang điều chỉnh quy trình sản xuất và sản phẩm để hướng tới phát triển bền vững Các thương hiệu cam kết “xanh” và “sạch” ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 4%, với 80% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho sản phẩm thân thiện với môi trường.
“xanh” và “sạch” (Cổng thông tin điện tử Bộ Công thương, 2017)
Nghiên cứu về dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới, với nhiều công trình tiêu biểu như của Chan (2001) và Michaelidou & Hassan (2008) Tuy nhiên, tại Việt Nam, đặc biệt là TPHCM, nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn còn hạn chế Do đó, nhóm nghiên cứu đã quyết định tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các mục tiêu trọng tâm sau:
Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM
Đánh giá tác động của các yếu tố đó đến thái độ đối với sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM
Kiểm định những yếu tố ảnh hưởng đến dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM
Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đó đến dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM
Để thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh tại TPHCM, các doanh nghiệp sản xuất và phân phối sản phẩm xanh cần áp dụng một số chiến lược hiệu quả Đầu tiên, tăng cường truyền thông về lợi ích của sản phẩm xanh giúp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng Thứ hai, cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường với chất lượng cao và giá cả hợp lý để thu hút khách hàng Cuối cùng, khuyến khích các chương trình khuyến mãi và chính sách hỗ trợ cho những sản phẩm xanh nhằm tạo động lực cho người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm bền vững hơn.
Câu hỏi nghiên cứu
Những yếu tố nào tác động đến thái độ đối với sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM?
Tác động của các yếu tố đó đến thái độ đối với sản phẩm xanh của người tiêu dùng ở TPHCM như thế nào?
Những yếu tố nào tác động đến dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM?
Tác động của các yếu tố đó đến dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng ở TPHCM như thế nào?
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Thời gian thực hiện điều tra và thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2019, với địa điểm nghiên cứu nằm trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh.
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với sản phẩm xanh và những yếu tố ảnh hưởng đến dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng ở khu vực TPHCM.
Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích định lượng dựa trên dữ liệu từ bảng câu hỏi, sử dụng các kỹ thuật kiểm định thang đo như Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy nội tại, Composite reliability cho độ tin cậy tổng hợp, Average variance extracted (AVE) để phân tích phương sai, và Heterotrait – Monotrait (HTMT) cho tỉ lệ đặc điểm dị biệt Để kiểm định giả thuyết, nghiên cứu sử dụng phân tích PLS-SEM, với sự phù hợp của mô hình được xác định qua hệ số R².
Các phần mềm phân tích số liệu bao gồm Excel 2016 để mã hóa dữ liệu thô từ bảng khảo sát, SPSS 20.0 cho phân tích thống kê mô tả, và SMART-PLS 3.2.8 để thực hiện các kiểm định còn lại.
Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Theo Cherian & Jacob (2012), nghiên cứu định tính đã đề xuất khung lý thuyết giải thích hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh Khung lý thuyết này bao gồm các biến độc lập như thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm xanh, nhận thức về sự nghiêm trọng của môi trường, và trách nhiệm đối với môi trường Ngoài ra, còn có hai biến trung gian là hành vi tiêu dùng đối với các nhãn hàng xanh và thái độ của người tiêu dùng đối với quảng cáo về môi trường.
Nghiên cứu của Sharma, Sonwalkar & Kapse (2013) chỉ ra rằng các yếu tố như nhân khẩu học, tâm lý, mối quan tâm và lo ngại về môi trường, giá cả, chất lượng sản phẩm xanh, cảm nhận hiệu quả, thái độ đối với môi trường, thông tin, hoạt động và tính sẵn sàng đều ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm xanh Qua nghiên cứu định lượng với 390 mẫu, tác giả khẳng định sự tồn tại của mối liên hệ giữa các yếu tố này và ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại Ấn Độ.
Nghiên cứu của Kanchanapibul và cộng sự (2014) đã áp dụng phương pháp định lượng để phân tích hành vi tiêu dùng của người trẻ từ 18 đến 30 tuổi Kết quả cho thấy rằng thái độ cá nhân và kiến thức về hệ sinh thái môi trường có tác động đáng kể đến ý định mua sản phẩm xanh, cũng như hành vi thực tế trong việc mua sắm những sản phẩm này.
Mặc dù nhiều người bày tỏ sự quan tâm đến môi trường, nhưng có sự thiếu nhất quán giữa mối quan tâm này và hành vi mua sắm của khách hàng Nghiên cứu của Bamberg (2013) chỉ ra rằng sự không nhất quán này xuất phát từ giả định sai lầm về ảnh hưởng trực tiếp của mối quan tâm đến hành vi Khaola, Potiane, và Mokhethi (2014) đã tiến hành khảo sát 200 người tiêu dùng tại hai trung tâm thương mại ở Lesotho để đo lường mối quan hệ giữa sự quan tâm đến môi trường, thái độ đối với sản phẩm xanh và dự định mua sản phẩm xanh Phân tích dữ liệu bằng hồi quy và phân tích nhân tố cho thấy sự quan tâm đến môi trường có mối liên hệ mạnh mẽ với thái độ đối với sản phẩm xanh, nhưng chỉ có mối liên hệ yếu với dự định mua sản phẩm xanh Nghiên cứu cũng cho thấy thái độ đối với sản phẩm xanh là biến trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa sự quan tâm đến môi trường và dự định mua sản phẩm xanh.
Trong những năm gần đây, nhiều tạp chí đã công bố nghiên cứu về sản phẩm xanh, trong đó có nghiên cứu của Anvar & Venter (2014) tại Nam Phi Nghiên cứu này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi mua sắm sản phẩm xanh của thế hệ Y, bao gồm ảnh hưởng xã hội, ý thức về môi trường và giá cả Thông qua khảo sát 200 sinh viên từ 18 đến 23 tuổi, nghiên cứu cho thấy cả ba yếu tố này đều có tác động tích cực đến thái độ của cá nhân đối với sản phẩm xanh Hơn nữa, thái độ tích cực cũng thúc đẩy hành vi mua sắm, và nghiên cứu còn chỉ ra sự khác biệt trong hành vi mua sắm sản phẩm xanh giữa nam và nữ.
Nghiên cứu của Khoiriyah & Toro (2013) trên 200 phụ nữ có trình độ và hứng thú với sản phẩm xanh cho thấy rằng mối quan tâm đến sức khỏe, thái độ đối với môi trường và giá trị bản thân đều ảnh hưởng tích cực đến thái độ về sản phẩm xanh Thái độ này không chỉ thúc đẩy sự sẵn lòng mua sản phẩm mà còn ảnh hưởng đến ý định chi trả cho sản phẩm xanh của khách hàng.
Nghiên cứu của Lee (2008) về hành vi mua sắm sản phẩm xanh của thanh thiếu niên tại Hong Kong đã khảo sát 6010 người từ 48 trường trung học Các yếu tố được xem xét bao gồm hành vi mua sắm sản phẩm xanh, thái độ và sự quan tâm đến môi trường, cũng như cảm nhận về trách nhiệm và tính cấp thiết của các vấn đề môi trường Phân tích dữ liệu bằng hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy ảnh hưởng xã hội là yếu tố chính tác động đến hành vi mua sắm, tiếp theo là sự quan tâm đến môi trường, hình ảnh cá nhân và trách nhiệm với môi trường.
Nghiên cứu của Chen & Shang (2012) giới thiệu một khung nghiên cứu mới nhằm thúc đẩy ý định mua sản phẩm xanh, dựa trên bốn yếu tố: cảm nhận giá trị xanh, cảm nhận rủi ro xanh, niềm tin xanh và ý định mua sản phẩm xanh Kết quả từ khảo sát cho thấy cảm nhận giá trị xanh có ảnh hưởng tích cực đến niềm tin xanh, trong khi đó, ý định mua sản phẩm xanh và cảm nhận rủi ro xanh lại có tác động tiêu cực đến hai yếu tố này Hơn nữa, mối quan hệ giữa ý định mua sản phẩm xanh và hai yếu tố cảm nhận giá trị xanh, cảm nhận rủi ro xanh còn bị điều tiết bởi biến trung gian niềm tin xanh.
Nghiên cứu của Dagher, Itani, và Kassar (2015) đã khảo sát ảnh hưởng của mối quan tâm và thái độ đối với môi trường lên hành vi mua sắm sản phẩm xanh, với nhân tố giới tính đóng vai trò điều tiết trong bối cảnh người Li-băng Qua bảng câu hỏi trực tuyến với 326 câu trả lời, kết quả cho thấy nhân tố giới tính có ảnh hưởng thống kê đáng kể đến cả mối quan tâm về môi trường và thái độ mua sắm sản phẩm xanh.
Nghiên cứu của Tang, Wang và Lu (2013) về người tiêu dùng Trung Quốc cho thấy rằng sự quan tâm đến môi trường, hiệu quả niềm tin cảm nhận và giá trị chức năng có tác động tích cực đến thái độ của họ đối với sản phẩm xanh Thái độ này không chỉ ảnh hưởng tích cực đến ý định mua sản phẩm mà còn đóng vai trò là biến trung gian, điều tiết hoàn toàn ảnh hưởng của sự quan tâm đến môi trường đối với ý định mua, đồng thời điều tiết một phần tác động của hiệu quả niềm tin cảm nhận và giá trị chức năng lên ý định mua sản phẩm xanh.
Dựa trên các nghiên cứu đã thực hiện, nhóm nghiên cứu đã phát triển đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM".
Những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố tác động đến ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này.
Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất và phân phối sản phẩm xanh nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Qua đó, doanh nghiệp có thể xây dựng những chiến lược và phương pháp hiệu quả nhằm thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm xanh tại TPHCM.
Kết cấu đề tài
Đề tài gồm có 5 chương, kết cấu như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích dữ liệu nghiên cứu
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Giới thiệu
Chương 1 giới thiệu tổng quan về nghiên cứu Chương 2 này nhằmmục đích giới thiệu về cơ sở lý luận cho nghiên cứu Trên cơ sở này, mô hìnhnghiên cứu được xây dựng cùng với các giả thuyết về mối quan hệ giữa cáckhái niệm trong mô hình Chương này bao gồm ba phần chính, (1) tổng quanvề sản phẩm xanh (2) cơ sở lý thuyết và (3) giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Tổng quan về sản phẩm xanh
Theo Sehgal và Singh (2013), cụm từ "thân thiện với môi trường" thường được dùng để chỉ các hành vi tích cực đối với môi trường Các hành vi này có thể bao gồm cách sản xuất sản phẩm và thay đổi lối sống nhằm bảo vệ môi trường Mặc dù sản phẩm xanh vẫn có tác động nhất định đến môi trường, nhưng những tác động này được giảm thiểu so với sản phẩm thông thường Đôi khi, sản phẩm xanh còn mang lại lợi ích tích cực hơn, tùy thuộc vào cách doanh nghiệp kinh doanh Nhiều sản phẩm hướng tới việc thay đổi lối sống, giúp khách hàng thực hiện các hành động có lợi cho môi trường sau khi mua Ví dụ, bóng đèn thân thiện với môi trường cần năng lượng để sản xuất nhưng lại tiết kiệm năng lượng khi sử dụng Theo Chen và Chai (2010), sản phẩm xanh tích hợp các chiến lược tái chế, giảm thiểu bao bì và sử dụng nguyên liệu ít độc hại để giảm tác động đến môi trường Ngoài sản phẩm, các hoạt động như sử dụng phương tiện công cộng, làm vườn, tự sản xuất phân bón và tái chế cũng có tác động tích cực Nhiều người cho rằng sản phẩm xanh chỉ là bước khởi đầu, và cần điều chỉnh lối sống để thực sự cam kết bảo vệ môi trường.
Giả thuyết nghiên cứu và mô hình
2.3.1 Danh sách các nghiên cứu các nhân tố tác động lên dự định mua sản phẩm xanh
Bảng dưới đây trình bày 14 nghiên cứu liên quan đến dự định mua sản phẩm xanh, bao gồm các thông tin quan trọng như năm xuất bản, tên bài báo, các biến độc lập (X1 đến X7), biến phụ thuộc (Y1 đến Y3), loại nghiên cứu và kết quả tóm tắt Kết quả tóm tắt nêu rõ mối quan hệ giữa các biến, được ký hiệu bằng dấu “+” hoặc “-”, cùng với việc kiểm định các giả thuyết thông qua giá trị p hoặc giá trị tới hạn Nếu giá trị p nhỏ hơn 0,05, giả thuyết được coi là có ý nghĩa thống kê; ngược lại, sẽ bị bác bỏ Đối với giá trị tới hạn (Critical Ratio – CR), nếu lớn hơn 1,96, kiểm định cũng có ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
Bảng 1: Tổng hợp các nghiên cứu liên quan
STT Năm Tên bài báo Tên tác giả Tên tạp chí Biến độc lập Biến phụ thuộc 1 Loại bài nghiên cứu Kết quả
The role of health consciousness, food safety concern and ethical identity on attitudes and intentions towards organic food
International Journal of Consumer Studies
X1: Health Conciousness X2: Food-safety concern X3: Ethical self-identity
The study reveals a significant positive relationship between attitude and intention (p Willingness to purchase (p=0,844>0,05) (Không ủng hộ) H2: Eco-labeling -> Willingness to purchase (p Willingness to purchase (p Willingness to purchase (p Willingness to purchase (p Willingness to purchase (p=0,663>0,05) (Không ủng hộ)
Environmental concern, attitude towards green products and Green
Purchase intentions of consumers in Lesotho
Ethiopian Journal of Environmental Studies &
Y1: Green Purchase Intention Y2: Green Purchase Behavior Y3: Attitude Toward Green Product Định Lượng
H1: Environment Concern -> Attitude (p Green Purchase Intention (p Green Purchase Intention (p green product purchase intention (+) T value 2,177
H3: Green brand knowledge -> green product purchase intention (+) T value 7,869 H4: Green brand knowledge -> consumers’ attitude toward green brands (+) T value 21,541
H5: Green brand knowledge moderates the relationship between green brand positioning and green product purchase intention (-) T value 1,478
X1: Social influence X2: Attitude X3: Green consumption value
H1: Attitude -> Purchase intention (p Purchase intention (p Purchase intention (p = 0,093>0,05) (Không ủng hộ) H4: Green consumption values -> Attitude (p Attitude (p=0,887>0,005) (Không ủng hộ)
2.3.2 Dự định mua sản phẩm xanh
Theo Aizen (1991), dự định là động lực ảnh hưởng đến hành vi, thể hiện mức độ mong muốn thực hiện một hành động Khi dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng càng mạnh, sự thôi thúc dẫn đến hành động mua sắm càng mạnh mẽ.
Theo Chan (2001), dự định mua sản phẩm xanh là yếu tố dự báo quan trọng cho hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh, cho thấy rằng ý định này có tác động tích cực đến khả năng mua sắm của người tiêu dùng Ali & Ahmad cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của dự định trong việc thúc đẩy hành vi mua sắm sản phẩm thân thiện với môi trường.
Dự định mua sản phẩm xanh được định nghĩa là khả năng và sẵn lòng của người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường so với sản phẩm truyền thống Việc nghiên cứu thang đo này ngày càng quan trọng khi nhận thức về môi trường của con người ngày càng cao, cùng với sự hiểu biết về tác hại của việc không bảo vệ nó Hiểu rõ ý định mua sắm sản phẩm xanh của người tiêu dùng sẽ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững thông qua việc cung cấp các sản phẩm không gây hại cho môi trường.
2.3.3 Thái độ đối với sản phẩm xanh
Thái độ là xu hướng tâm lý thể hiện cách đánh giá một vấn đề, dựa trên niềm tin và sự đánh giá của cá nhân (Eagly & Chaiken, 1995; Assael, 1998) Mối quan hệ giữa giá trị, thái độ và hành vi được xác định theo thứ tự: giá trị ảnh hưởng đến thái độ, từ đó tác động đến hành vi (Thogersen & Olander, 2002) Ajzen (1991) cho rằng thái độ tích cực với hành động sẽ dẫn đến ý định thực hiện hành động đó, và nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ tích cực giữa thái độ và hành vi mua sắm (Lane & Potter, 2007) Niềm tin vào sản phẩm xanh chủ yếu dựa trên lợi ích sức khỏe và bảo vệ môi trường Các yếu tố như nhận thức về vệ sinh cá nhân, thái độ với môi trường và cảm nhận chất lượng quyết định thái độ đối với sản phẩm xanh.
H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa thái độ đối với sản phẩm xanh và dự định mua sản phẩm xanh
2.3.4 Sự quan tâm đến môi trường
Một số nhà xã hội học môi trường định nghĩa “thái độ đối với môi trường” như là “sự quan tâm tới môi trường” (Dunlap & Jones, 2002) Cụm từ này phản ánh tầm quan trọng của nhận thức và hành động của con người đối với các vấn đề môi trường hiện nay.
"Sự quan tâm tới môi trường" thường được sử dụng thay thế cho nhau trong nhiều nghiên cứu (Dunlap & Jones, 2002), nhưng một số nghiên cứu khác lại phân biệt hai cụm từ này (Schultz và cộng sự, 2004).
Theo Sharma, Sonwalkar & Kapse (2013), "thái độ đối với môi trường" được định nghĩa là xu hướng tâm lý thể hiện qua việc đánh giá và niềm tin về môi trường tự nhiên, bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của nó Schulz và cộng sự (2004) cho rằng thái độ này là tập hợp niềm tin, tác động và hành vi của cá nhân liên quan đến các vấn đề môi trường Lee (2009) bổ sung rằng thái độ đối với môi trường thường được hiểu như sự đánh giá hợp lý về giá trị của việc bảo vệ môi trường.
Theo Zelezny (2000), thái độ đối với môi trường bắt nguồn từ nhận thức cá nhân về bản thân và vai trò của mình trong hệ sinh thái Điều này thể hiện sự quan tâm đến môi trường, có thể được đo lường qua mô hình mới về môi trường (Milfont & Duckitt, 2004) Sự quan tâm này ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng (Jain & Kaur, 2004), với nghiên cứu cho thấy người tiêu dùng có ý thức về môi trường thường đánh giá tác động mua sắm của họ đến môi trường tốt hơn (Follows & Jobber, 2000; Nath và cộng sự, 2013) Schultz (2000) xác định ba yếu tố chính trong sự quan tâm đến môi trường: sự vị kỷ, lòng vị tha và yếu tố sinh học Stern & Dietz (1994) khẳng định rằng ba yếu tố này định hướng các giá trị môi trường, được định nghĩa bởi Thompson & Barton (1994) như là sự quan ngại về các vấn đề môi trường dựa trên nhận thức cá nhân Sự quan tâm đến môi trường càng cao sẽ thúc đẩy hành vi mua sắm sản phẩm thân thiện với môi trường (Kalafatis và cộng sự, 1999; Manakotla).
Tóm tắt
Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết về sản phẩm xanh và đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ở chương 2, nhóm tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết để từ đó làm nền tảng cho việc phát triển phương pháp ở chương 3.
Nội dung chính được đề cập ở chương 3 bao gồm
(1) Quy trình và phương pháp nghiên cứu định lượng
(2) Các thang đo liên quan
(3) Mẫu và cách thức lấy mẫu khảo sát
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật mô hình cấu trúc tuyến tính SEM thế hệ hai để kiểm định mô hình cấu trúc Kỹ thuật này được lựa chọn do tính phức tạp của mô hình đề xuất, bao gồm các mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp lẫn nhau Việc áp dụng kỹ thuật hồi quy bội có thể dẫn đến sai số hệ thống trong quá trình kiểm định.
Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng để khám phá các mối quan hệ giữa các biến thông qua mô hình phức tạp Trước đây, các kỹ thuật phân tích như hồi quy bội và phân tích nhân tố khám phá là công cụ chính cho nghiên cứu Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng PLS-SEM (Partial Least Square – Structural Equation Modeling) nhằm giảm thiểu sai số ảnh hưởng đến biến phụ thuộc và tối đa hóa giá trị R², từ đó cải thiện khả năng dự đoán của mô hình (Hair và cộng sự, 2016 dẫn từ Nguyễn Quang Anh & Cao Quốc Việt, 2018).
Hình 2: Quy trình nghiên cứu
3.3 Thang đo của các khái niệm
Nghiên cứu này sử dụng các thang đo dựa trên lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, đã được điều chỉnh để phù hợp với người tiêu dùng tại TP HCM Có tổng cộng 8 khái niệm chính được khảo sát, bao gồm: (1) Dự định mua sản phẩm xanh (ITBGP), (2) Sự quan tâm đến môi trường (EC), (3) Sự quan tâm đến sức khỏe (HC), (4) Cảm nhận hiệu quả của khách hàng (PCE), (5) Ảnh hưởng xã hội (SI), (6) Thái độ đối với sản phẩm xanh (ATGP), (7) Niềm tin xanh (GT), và (8) Cảm nhận rủi ro xanh (GPR).
3.3.1 Thang đo dự định mua sản phẩm xanh
Thang đo được điều chỉnh từ nghiên cứu của Michaelidou & Hassan (2008) bao gồm 4 biến quan sát, và đã được bổ sung thêm một biến quan sát thứ 5 là "giá" Biến này thể hiện quyết tâm mua hàng của người tiêu dùng, ngay cả khi sản phẩm xanh có giá cao hơn 10% so với sản phẩm thông thường Do đó, thang đo hiện tại bao gồm 5 biến quan sát, được ký hiệu từ ITBGP1 đến ITBGP5.
ITBGP1: Tôi có ý định sẽ mua sản phẩm xanh X trong trương lai
ITBGP2: Tôi có kế hoạch mua sản phẩm xanh X trong tương lai
ITBGP3: Có khả năng cao tôi sẽ mua sản phẩm xanh X
ITBGP4: Tôi sẽ mua sản phẩm xanh X khi thời điểm thích hợp
ITBGP5: Cho dù giá của sản phẩm xanh X cao hơn một ít (khoảng 10%) so với sản phẩm bình thường, tôi cũng sẽ chọn mua sản phẩm xanh X
3.3.2 Thang đo sự quan tâm đến môi trường
Nghiên cứu này sử dụng thang đo của Matthes và Wonneberger (2014) để đánh giá sự quan tâm đến môi trường, với ba biến quan sát được ký hiệu từ EC1 đến EC3.
EC1: Tôi quan tâm đến môi trường
EC2: Tình trạng môi trường có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của tôi
EC3: Tôi sẵn sàng thay đổi để bảo vệ môi trường
3.3.3 Thang đo sự quan tâm đến sức khỏe
Theo nghiên cứu của Michaelidou & Hassan (2008), sự quan tâm đến sức khỏe được đánh giá thông qua 6 biến quan sát, được ký hiệu từ HC1 đến HC6.
HC1: Tôi suy nghĩ rất nhiều về sức khỏe mình
HC2: Tôi rất có ý thức về sức khỏe của mình
HC3: Tôi nhạy bén với những thay đổi về sức khỏe của mình
HC4: Tôi thường chú ý đến sức khỏe của mình
HC5: Tôi tự chịu trách nhiệm với tình trạng sức khỏe của mình
HC6: Tôi quan tâm đến tình trạng sức khỏe của mình hằng ngày
3.3.4 Thang đo cảm nhận hiệu quả của khách hàng
Nghiên cứu của Theo Kim & Choi (2005) đã sử dụng năm biến quan sát, được ký hiệu từ PCE1 đến PCE5, nhằm đo lường thang đo cảm nhận hiệu quả của khách hàng.
Mỗi cá nhân có thể góp phần tích cực vào xã hội bằng cách ký kết đơn kiến nghị nhằm kêu gọi sự ủng hộ cho môi trường Hành động này không chỉ thể hiện trách nhiệm cá nhân mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.
PCE2: Tôi cảm thấy tôi có thể cải thiện các vấn đề tài nguyên thiên nhiên bằng cách tiết kiệm nước và năng lượng
PCE3: Tôi có thể bảo vệ môi trường bằng cách mua sản phẩm thân thiện với môi trường
PCE4: Tôi không thể làm gì nhiều để giúp môi trường (câu nghịch đảo)
PCE5: Tôi cảm thấy mình có khả năng giúp giải quyết các vấn đề về môi trường
3.3.5 Thang đo ảnh hưởng xã hội
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phát triển thang đo ảnh hưởng xã hội dựa trên thang đo gốc của Lee (2008), bao gồm 7 biến quan sát được ký hiệu từ SI1 đến SI7.
SI1: Những người có ảnh hưởng tới hành vi của tôi sẽ khuyến khích tôi mua các sản phẩm xanh
SI2: Những người quan trọng với tôi sẽ khuyến khích tôi mua các sản phẩm xanh
SI3: Gia đình tôi nghĩ rằng tôi nên mua các sản phẩm xanh
SI4: Bạn bè tôi nghĩ rằng tôi nên mua các sản phẩm xanh
SI5: Tôi đã từng đọc/thấy các thông tin về việc mua sản phẩm xanh có ý nghĩa đóng góp cho một môi trường tốt đẹp hơn
SI6: Các trang thông tấn báo chí hướng một góc nhìn tích cực về các sản phẩm xanh
SI7: Các tin tức báo đài đã khuyến khích tôi thử dùng sản phẩm xanh
3.3.6 Thang đo thái độ đối với sản phẩm xanh
Thang đo thái độ đối với sản phẩm xanh được xây dựng dựa trên mô hình của Matthes và Wonneberger (2014), bao gồm 4 biến quan sát từ ATGP1 đến ATGP4.
ATGP1: Tôi thích những sản phẩm xanh
ATGP2: Tôi có thái độ tích cực đối với sản phẩm xanh
ATGP3: Sản phẩm xanh tốt cho môi trường
ATGP4: Tôi thấy tự hào khi mua/sử dụng sản phẩm xanh
3.3.7 Thang đo niềm tin xanh
Chen (2010) đã phát triển thang đo niềm tin xanh dựa trên các nghiên cứu của Blau (1964), Schurr & Ozanne (1985), và Ganesan (1994) Thang đo này bao gồm 5 biến quan sát được ký hiệu từ GT1 đến GT5.
GT1: Tôi cảm thấy cam kết liên quan với môi trường của sản phẩm xanh nhìn chung đáng tin cậy
GT2: Tôi cảm thấy sự tác động đến môi trường của sản phẩm xanh nhìn chung có căn cứ
GT3: Tôi cảm thấy những lập luận về môi trường của sản phẩm xanh là tin tưởng được
GT4: Mối quan tâm đến môi trường của sản phẩm xanh đạt được kỳ vọng của tôi
GT5: Sản phẩm xanh hứa hẹn và cam kết bảo vệ môi trường
3.3.8 Thang đo cảm nhận rủi ro xanh
Thang đo cảm nhận rủi ro xanh được phát triển bởi Chen (2010) dựa trên nghiên cứu của Peter & Ryan (1976) và được đo lường theo các phương pháp của Jacoby & Kaplan (1972), Murphy & Enis (1986), cùng với Sweeney và cộng sự (1999) Thang đo này bao gồm 5 biến quan sát, được ký hiệu từ GPR1 đến GPR5.
GPR1: Sản phẩm xanh có nguy cơ không đáp ứng được một cách hiệu quả tới môi trường
GPR2: Sản phẩm xanh có nguy cơ hoạt động không đúng theo “thiết kế xanh” của nó
GPR3: Những hành động đem lại lợi ích cho môi trường mà tôi làm được có thể sẽ mất đi nếu tôi sử dụng sản phẩm xanh
GPR4: Sử dụng sản phẩm xanh có rủi ro gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường
GPR5: Sử dụng sản phẩm xanh sẽ gây tổn hại đến hình ảnh thân thiện môi trường của tôi
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, với 139 mẫu sơ bộ qua khảo sát trực tuyến trên Google Forms Mặc dù số lượng mẫu còn thấp có thể gây ra sai sót trong phân tích hồi quy, nhóm tác giả tập trung vào độ tin cậy và giá trị để điều chỉnh bảng câu hỏi chính thức Đối với 357 mẫu nghiên cứu chính thức, bảng khảo sát đã được phát cho sinh viên bán thời gian tại trường Đại học Kinh tế TPHCM.
Theo nghiên cứu của Cohen (1992), để xác định số lượng mẫu cần thiết cho một mô hình với 6 biến độc lập, mức ý nghĩa 5% và R² tối thiểu là 0,1, mẫu tối thiểu cần có là 147 Số lượng mẫu thu được cho nghiên cứu định lượng chính thức là
357, cho nên đã đủ yêu cầu để thực hiện những bước tiếp theo Đặc điểm của mẫu nêu trên sẽ được đề cập chi tiết hơn ở chương sau
Chương 3 thảo luận về phương pháp tiếp cận nghiên cứu cũng như trình bày về quy trình nghiên cứu đã được thực hiện như thế nào Từ đó đưa ra các cơ sở xây dựng thang đo và khái quát về công thức chọn mẫu đã được sử dụng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ trình bày các kết quả thu được từ quá trình thu thập dữ liệu, bao gồm những nội dung như sau:
(2) Mô hình nghiên cứu sau khi kiểm định
(3) Quá trình kiểm định thang đo
(4) Kết quả hồi quy đa biến
Trong tổng số 450 mẫu điều tra, đã có 400 mẫu được phản hồi, bao gồm 157 mẫu qua Google Form (39,25%) và 243 mẫu điều tra trực tiếp (60,75%) Sau khi thu thập, nhóm đã loại bỏ các bảng khảo sát không hợp lệ, như những bảng có nhiều câu hỏi chưa được trả lời Cuối cùng, số lượng mẫu còn lại sau khi rà soát là 357 mẫu.
Kết quả khảo sát cho thấy 34,6% người tham gia là nữ và 63,6% là nam, cho thấy sự chênh lệch giới tính trong việc tham gia mua sắm Điều này có thể giải thích bởi việc phụ nữ thường có xu hướng mua sắm nhiều hơn nam giới, đồng thời cũng cho thấy họ quan tâm đến các sản phẩm xanh nhiều hơn.
Hình 3: Cơ cấu giới tính trong mẫu 4.2.2 Độ tuổi
Tỷ lệ người tham gia khảo sát trong độ tuổi 20-29 chiếm 65%, trong khi đó, nhóm tuổi 30-39 chiếm 33%, và chỉ có 2% người tham gia ở độ tuổi từ 40 trở lên.
49 Nhóm độ tuổi từ 20-29 tuổi chiếm tỉ lệ cao như vậy là do họ là nhóm người tiêu dùng trẻ Xu hướng tiêu dùng xanh đặc biệt phổ biến và nhận được sự quan tâm của giới trẻ Họ nhận thức được những vấn đề về môi trường (Sheahan 2005) và họ đóng góp một tỷ lệ tiêu dùng cao (O’Donnell 2006), ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của gia đình (Morton
Nghiên cứu cho thấy thế hệ trẻ hiện nay có xu hướng chấp nhận các ý tưởng đổi mới và có ý thức mạnh mẽ về xã hội, môi trường và văn hóa hơn so với các thế hệ trước Điều này cho thấy họ có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền kinh tế.
Hình 4 Cơ cấu độ tuổi trong mẫu
Trong một cuộc khảo sát với 357 người tham gia, tỷ lệ trình độ học vấn cho thấy 0,8% có trình độ THPT, 11,2% có trình độ trung cấp và cao đẳng, 79% có trình độ đại học, và 9% có trình độ trên đại học Sự phân bố này phản ánh hợp lý theo độ tuổi của mẫu khảo sát.
Hình 5: Cơ cấu trình độ học vấn
Trung cấp - Cao Đẳng, 11,20% Đại học, 79%
4.2.4 Thu nhập Đối với thu nhập trung bình, mẫu khảo sát tập trung ở các đối tượng có thu nhập dưới 5.000.000 đồng (130 người chiếm 36,4%), thu nhập từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (103 người chiếm 28,9%) và thu nhập từ 10.000.000 đồng tới 15.000.000 đồng (74 người chiếm 20,7%) Điều này là hợp lý bởi số lượng người có trình độ học vấn THPT và Đại học chiếm phần lớn trong mẫu khảo sát Thu nhập của những người này sẽ nằm ở mức ở khoảng từ dưới 5.000.000 đồng tới 15.000.000 đồng Còn lại với thu nhập từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng có 37 người chiếm 10,4% Còn lại 13 người (chiếm 3,6%) có thu nhập trên 20.000.000 đồng
Để giúp đáp viên hiểu rõ hơn về sản phẩm xanh và dễ dàng thực hiện khảo sát, nhóm nghiên cứu đã đưa ra 12 lựa chọn sản phẩm xanh, bao gồm: xăng sinh học E5, băng vệ sinh vải, bình đựng nước bằng kim loại hoặc thủy tinh, ống hút làm từ kim loại, gỗ, tre, bột mì, túi vải thay thế túi ni lông, thiết bị gia dụng tiết kiệm điện, bàn chải tre, bao bì tự hủy, hộp đựng thực phẩm từ bã mía, sản phẩm làm đẹp từ thiên nhiên, xe máy điện, và một lựa chọn khác.
Theo khảo sát về nhận diện sản phẩm xanh, xăng sinh học E5 dẫn đầu với 233 lượt chọn (65,3%), tiếp theo là bao bì tự hủy với 213 lượt chọn (59,7%) Sản phẩm làm đẹp từ thiên nhiên và bình đựng nước bằng kim loại hoặc thủy tinh lần lượt đứng thứ 3 và 4 với 208 và 207 lượt chọn Xăng sinh học E5 được ưa chuộng nhờ tính phổ biến và sự khuyến khích từ chính phủ, trong khi sản phẩm làm đẹp từ thiên nhiên thu hút nhiều nữ giới, những người có nhu cầu cao về làm đẹp và ưa thích sản phẩm tự nhiên.
Theo khảo sát, xăng sinh học E5 là sản phẩm được ưa chuộng nhất với 25% người tiêu dùng lựa chọn Sản phẩm bao bì tự hủy đứng thứ hai với 19%, tiếp theo là sản phẩm làm đẹp từ thiên nhiên chiếm 15% Bình đựng nước bằng kim loại hoặc thủy tinh và thiết bị gia dụng tiết kiệm điện lần lượt chiếm 14% và 10% Kết quả cho thấy người tiêu dùng có xu hướng chọn sản phẩm quen thuộc thay vì thử nghiệm sản phẩm mới.
Hình 7: Các sản phẩm xanh có nhu cầu tiêu thụ nhất
Bình đựng nước làm bằng kim loại thủy tinh, 14% Ống hút làm từ kim loại, gỗ, tre, bột mình,
Túi thay thế túi ni lông, 0,10%
Thiết bị gia dụng có tính năng tiết kiệm điện, 10%
Hộp đựng thực phẩm từ bả mía, 1%
Sản phẩm làm đẹp từ thiên nhiên, 15%
4.3.1 Độ tin cậy nhất quán nội tại – Cronbach’s alpha Đối với chỉ số Độ tin cậy nhất quán nội tại Cronbach’s Alpha, các mức giá trị nằm trong khoảng 0,7 đến 0,8 được xem là thang đo sử dụng được Trong bước phân tích độ tin cậy này, kết quả kiểm định cho thấy các thang đo đều đạt giá trị Alpha lớn hơn điểm 0,7, một thang đo lường tốt, trừ thang đo Hiệu quả cảm nhận của khách hàng PCE chỉ đạt 0,655 Mặc dù vậy, sau khi cân nhắc về giá trị nội dung, nhóm cho rằng chưa cần loại thang đo này để đảm bảo sự biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích đúng trong giai đoạn sau của nghiên cứu
Bảng 2: Chỉ số Cronbach’s alpha của các thang đo
4.3.2 Hệ số tin cậy tổng hợp – Composite reliability
Hệ số Cronbach’s Alpha có độ nhạy cao với số lượng biến quan sát trong mỗi thang đo, vì vậy các nhà nghiên cứu đã đề xuất một phương pháp đo lường độ tin cậy khác, được gọi là hệ số tin cậy tổng hợp, nhằm khắc phục vấn đề này (Hair và cộng sự, 2016 dẫn từ Nguyễn Quang Anh).
Trong nghiên cứu của Cao Quốc Việt (2018), điểm cắt được sử dụng cho tiêu chí kiểm định là 0,7, yêu cầu các thang đo cần được đánh giá giá trị nội dung trước khi loại bỏ Kết quả kiểm định hệ số tin cậy tổng hợp cho thấy tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy nội tại, với chỉ số dao động từ 0,811 cho thang đo PCE đến 0,912 cho thang đo EC Điều này cho thấy thang đo PCE đạt yêu cầu và được đưa vào các bước phân tích tiếp theo, như được thể hiện trong bảng số liệu chi tiết dưới đây.
Bảng 3: Hệ số tin cậy tổng hợp của các thang đo
4.3.3 Giá trị hội tụ - Hệ số tải và Phương sai trích được trung bình Để đánh giá giá trị hội tụ của các khái niệm nghiên cứu, hay các khái niệm có mối tương quan cùng chiều với các khái niệm khác trong cùng một thang đo, nhà nghiên cứu đã kiểm định điều đó qua hệ số tải và phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted) (Hair và cộng sự, 2016 dẫn từ Nguyễn Quang Anh & Cao Quốc Việt, 2018).
Hệ số tải ngoài, hay còn gọi là hệ số tải nhân tố, phản ánh độ chính xác của việc đo lường khái niệm, với giá trị từ 0,4 đến 0,7 thường được xem xét để loại bỏ biến nếu điều này làm tăng độ tin cậy tổng hợp hoặc giá trị phương sai trích Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã chọn điểm cắt 0,4 nhằm đảm bảo các biến quan sát đo lường tốt hơn khái niệm Kết quả cho thấy các biến sát sát đều đạt yêu cầu, với chỉ số dao động từ 0,579 ở thang đo PCE5 đến 0,919 ở thang đo GT5.
Bảng 4: Hệ số tải ngoài của biến quan sát
ATGP EC GPR GT HC ITBGP PCE SI
KẾT LUẬN
Nghiên cứu này mang lại giá trị cả về lý thuyết và thực tiễn Về lý thuyết, nó đóng góp cho lý thuyết về dự định khách hàng và bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ cũng như dự định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM, làm phong phú thêm nghiên cứu về sản phẩm xanh ở Việt Nam Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quảng cáo và nghiên cứu thị trường về tác động của các yếu tố đến dự định mua sản phẩm xanh, từ đó giúp họ xây dựng chiến lược marketing hiệu quả và tăng giá trị doanh nghiệp Đồng thời, nghiên cứu cũng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát triển chiến lược thu hút và thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh Kết quả nghiên cứu còn nâng cao nhận thức của nhóm thực hiện về sản phẩm xanh, tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.
5.2 Hàm ý cho nhà quản trị
Doanh nghiệp sản xuất và phân phối sản phẩm xanh cần chú trọng không chỉ vào "thiết kế xanh" mà còn vào hình ảnh thân thiện với môi trường trong mắt người tiêu dùng Để phát triển bền vững, các công ty nên nhấn mạnh "trọng trách môi trường" của mình thay vì chỉ tập trung vào việc bán sản phẩm Việc truyền đạt rõ ràng giá trị môi trường và công dụng của sản phẩm đến khách hàng là rất quan trọng.
Để thực hiện hóa giá trị "xanh" của sản phẩm, việc đào tạo nhân viên và nhà bán lẻ là rất quan trọng, vì họ là cầu nối giữa khách hàng và sản phẩm Đội ngũ chuyên nghiệp sẽ giúp truyền tải thông điệp xanh một cách hiệu quả Các chiến lược marketing xanh cần được chú trọng để thuyết phục khách hàng tin tưởng vào giá trị sản phẩm, đồng thời khám phá nhiều phân khúc thị trường khác nhau Tăng cường sự hiện diện của sản phẩm xanh trên các phương tiện truyền thông như tivi, báo điện tử, Facebook và Youtube sẽ giúp mở rộng tầm với và tăng độ phổ biến Doanh nghiệp cũng nên xây dựng các chiến dịch tập trung vào những người có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, như người thân và người nổi tiếng, để nâng cao nhận thức về sản phẩm xanh Việc kết hợp các chương trình về sức khỏe và môi trường sẽ giúp cải thiện cái nhìn của người tiêu dùng và thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng sản phẩm xanh Cuối cùng, doanh nghiệp cần hiểu rõ giá trị mà khách hàng thực sự mong muốn để nâng cao trải nghiệm mua sắm, từ đó khuyến khích họ sử dụng sản phẩm xanh vì lợi ích cho môi trường.
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu này gặp một số hạn chế, bao gồm mức độ ảnh hưởng của biến độc lập đến các biến phụ thuộc chưa cao, cho thấy còn nhiều yếu tố khác như giá cả, chất lượng và thương hiệu tác động đến ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng tại TPHCM Phương pháp chọn mẫu thuận tiện chủ yếu thu thập dữ liệu từ sinh viên, dẫn đến mẫu không đại diện cho toàn bộ người tiêu dùng tại thành phố Hơn nữa, nghiên cứu chỉ tập trung vào thị trường TPHCM, trong khi các thị trường khác có thể có văn hóa tiêu dùng và thái độ khác nhau đối với sản phẩm xanh Cuối cùng, ý định mua sản phẩm xanh có thể khác nhau tùy thuộc vào loại sản phẩm, và nghiên cứu này chưa xem xét cụ thể từng sản phẩm, mở ra hướng phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo về hành vi mua sắm sản phẩm xanh.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT
Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Công thương Việt Nam (2017), có đến 80% người tiêu dùng sẵn sàng chi nhiều hơn cho các sản phẩm xanh và sạch Điều này cho thấy xu hướng tiêu dùng ngày càng chú trọng đến chất lượng và tính bền vững của sản phẩm.
16.html?fbclid=IwAR0WNu4ZxO1ScqYVsw6WotJ9gPblF4EQLxACrY3TAi_EvwTeFr g5eh7llVs > [Ngày truy cập: 8 tháng 3 năm 2019]
Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường (2019), “Nhận thức của người dân Việt Nam về ô nhiễm nhựa đang gia tăng”
[Ngày truy cập: 7 tháng 3 năm 2019]
Nguyễn Đình Thọ (2011), “Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh”, Tp Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Tài chính
Nguyễn Quang Anh và Cao Quốc Việt (2018) đã nghiên cứu việc áp dụng phương pháp hồi quy PLS-SEM để kiểm định mô hình nghiên cứu hành vi trong lĩnh vực quản trị Nghiên cứu này được công bố trong Tạp chí phát triển nhân lực, số 3, trang 56 Phương pháp PLS-SEM cho phép phân tích mối quan hệ giữa các biến trong mô hình một cách hiệu quả, đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về hành vi trong quản trị.
Nielsen conducted a survey in 2012 to understand consumer perspectives on global communities This research highlights the importance of consumer insights in shaping community engagement and marketing strategies The findings emphasize the evolving nature of consumer behavior and the necessity for brands to adapt to these changes to remain relevant in a globalized market For more details, you can visit the Nielsen press room.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH
Ajzen, I (1985), “From Intentions to Actions: A Theory of Planned Behavior”, Action
Ajzen, I (1991), “The theory of planned behavior”, Organizational Behavior and Human
Ajzen’s theory of planned behaviour : A cross-market examination”, Journal of
Ali, A & Ahmad, I (2012), “Environment friendly products: factors that influence the green purchase intentions of Pakistani consumers”, Journal of Consumer Marketing, 2(1),
Anvar, M & Venter, M (2014), “Attitudes and Purchase Behaviour of Green Products among Generation Y Consumers in South Africa”, Mediterranean Journal of Social
Assael, H (1998), Consumer Behavior and Marketing Action, International Thompson Publishing
Baker, J P & Ozaki, R (2008), “Pro-environmental products: Marketing influence on consumer purchase decision”, Journal of Consumer Marketing, 25(5), 281-293
Bamberg, S (2003), “How does environmental concern influence specific environmentally related behaviors? A new answer to an old question”, Journal of environmental psychology, 23(1), 21-32
Becker, M H., Maiman, L A., Kirscht, J P., Haefner, D P., & Drachman, R H (1977),
“The health belief model and prediction of dietary compliance: a field experiment”,
Journal of Health and Social Behaviour, 18(4), 348-366
Berger, I E & Corbin, R M (1992), “Perceived Consumer Effectiveness and Faith in Others as Moderators of Environmentally Responsible Behaviors”, Journal of Public
Chan, R Y K (2001), “Determinants of Chinese consumers’ green purchase behavior”,
Chang, H H & Chen, S W (2008), “The impact of online store environment cues on purchase intention: trust and perceived risk as a mediator”, Online Information Review, 32(6), 818-841
Chen, T B & Chai, L T (2010), “Attitude towards the Environment and Green
Products: Consumer’s Perspective”, Management Science and Engineering, 4(2), 2010, 27-39
Chen, Y S & Chang, C H (2012), "Enhance green purchase intentions: The roles of green perceived value, green perceived risk, and green trust", Management Decision, 50(3), 502-520
Chen, Y S (2010), “The drivers of green brand equity: green brand image, green satisfaction, and green trust”, Journal of Business Ethics, 93(2), 307-319
Cherian, J., Jacob, J (2012) , “Green Marketing: A Study of Consumers’ Attitude towards Environment Friendly Products”, Asian Social Science; 8(12)
Dagher, G., Itani, O & Kassar, A N (2015) “The Impact of Environment Concern and Attitude on Green Purchasing Behavior: Gender as The Moderator”, Contemporary
DeLamater, J D & Myers, D J (2010), Social psychology, United States: Cengage 70 Learning
Dunlap, R E & Jones, R E (2002), “Environmental concern: Conceptual and measurement issues”, Handbook of Environmental Sociology, 482-524
Eagly, A.H & Chaiken, S (1995), "Attitude Strength, Attitude Structure and Resistance to Change," in Richard E Petty and Jon A Krosnick (eds.), Attitude Strength:
Antecedents and Consequences, Hillsdale, NJ: Erlbaum
Eze, U C & Ndubisi, N O (2013), “Green Buyer Behavior: Evidence from Asia
Consumers”, Journal of Asian and African Studies, 48(4), 413-426
Follows, S B & Jobber, D (2000), “Environmentally responsible purchase behaviour: a test of a consumer model”, European journal of Marketing, 34(5/6), 723-746
Grankvist, G & Biel, A (2001), “The importance of belief and purchase criteria in the choice of eco-labelled food products”, Journal of Environmental Psychology, 21(4), 405–
Gregg, D.G & Walczak, S (2008), “Dressing your online auction business for success: an experiment comparing two e-Bay businesses”, MIS Quarterly, 32(3), 653-670
Hair Jr, J F., Hult, G T M., Ringle, C M., & Sartedt, M (2016), “A Primer on Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM) (2nd ed.)”, Los Angeles: SAGE Publications Ltd
Han, H., Hsu, L & Sheu, C (2010), “Application of the Theory of Planned Behavior to green hotel choice: Testing the effect of environmental friendly activities”, Tourism
Harris, L C & Goode, M M H (2010), “Online servicescapes, trust, and purchase intentions”, Journal of Services Marketing, 24(3), 230-43
Hart, P & Saunders, C (1997), “Power and trust: critical factors in the adoption and use of electronic data interchange”, Organizational Science, 8(1), 23-42
Henseler, J., Ringle, C M., & Sarstedt, M (2015), “A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling”, Journal of the
Jain, S K & Kaur, G (2004), “Green marketing: An attitudinal and behavioural analysis of Indian consumers”, Global Business Review, 5(2),187-205
Kalafatis, S P., Pollard, M., East, R & Tsogas, M H (1999), “Green marketing and
Kanchanapibul, M, Lacka, E Wang, X., & Chan, H K (2013), “An empirical investigation of green purchase behaviour among the young generation”, Journal of
Khaola, P P., Potiane, B., & Mokhethi, M (2014), “Environmental concern, attitude towards green products and green purchase intentions of consumers in Lesotho”,
Ethiopian Journal of Environmental Studies & Management, 7(4), 361-370
Khoiriyah, S & Toro, M J S (2013), “The Antecedents of Attitude toward Green
Product and Its Effect on Willingness to Pay and Intention to Purchase”, Asian Academic
Kim, Y., & Choi, S M (2005), “Antecedents of green purchase behavior: An examination of collectivism, environmental concern, and PCE”, Advances in consumer research, Association for Consumer Research (U.S.), 32(1), 592-599
Kraft, F B., & Goodell, P W (1993), “Identifying the health conscious consumer”,
Journal of Health Care Marketing, 13(3), 18-25
Kumar, P & Ghodeswar, B M (2015), “Factors affecting consumers' green product purchase decisions”, Marketing Intelligence & Planning, 33(3), 330 – 334
Lane, B & Potter, S (2007), “The adoption of cleaner vehicles in the UK: exploring the consumer attitude reaction gap”, Journal of Cleaner Production, 15(11-12), 1085 1092
Lee, J., Park, D H & Han, I (2011), “The different effects of online consumer reviews on consumers’ purchase intentions depending on trust in online shopping malls: an advertising perspective”, Internet Research, 21(2), 187-206
Lee, K (2008), "Opportunities for green marketing: young consumers", Marketing
Lee, K (2009), “Gender Differences in Hong Kong Adolescent Consumers Green
Purchasing Behavior”, Journal of Consumer Marketing, 26(2), 87-96
Lu, Y., Zhao, L & Wang, B (2010), “From virtual community members to C2C ecommerce buyers: Trust in virtual communities and its effect on consumers’ purchase intention”, Electronic Commerce Research and Applications, 9(4), 346-360
Magnusson, M K., Avrola, A., Hursti Koivisto, U K., Aberg, L & Sjoden, P.O (2001),
“Attitudes towards organic foods among Swedish consumers”, British Food Journal, 103, 209–226
Magnusson, M.K., Avrola, A., Hursti Koivisto, U.K., Aberg, L & Sjoden, P.O (2003),
“Choice of organic foods is related to perceived consequences for human health and to environmentally friendly behavior”, Appetite, 40(2), 109–117
Manakotla, K., & Jauhari, V (2007), “Exploring consumer attitude and behavior towards green practices in the lodging industry in India”, International Journal of Contemporary
Matthes, J., & Wonneberger, A (2014), “The Skeptical Green Consumer Revisited: Testing the Relationship Between Green Consumerism and Skepticism Toward
Michaelidou, N & Hassan, L M (2010), “Modeling the factors affecting rural consumers’ purchase of organic and free-range produce: a case study of consumers’ from the Island of Arran in Scotland, UK”, Food Policy, 35(2), 130-139
Milfont, T L & Duckitt, J (2004), “The structure of environmental attitudes: A first-and second-order confirmatory factor analysis”, Journal of environmental psychology, 24(3), 289-303
Mishra, D P., Heide, J B & Cort, S.G (1998), “Information asymmetry and levels of agency relationships”, Journal of Marketing Research, 35(3), 277-295
Mitchell, V W (1992), “Understanding consumers’ behavior: can perceived risk theory help?”, Management Decision, 30(3), 26-31
Mitchell, V.W (1999), “Consumer perceived risk: conceptualizations and models”,
Morton, L P (2002), “Targeting generation Y: Segmenting publics”, Public Relations
Nath, V., Kumar, R., Agrawal, R., Gautam, A., & Sharma, V (2013), “Consumer adoption of green products: Modeling the enablers”, Global Business Review, 14(3), 453-
Newsom, J T., McFarland, B H., Kaplan, M S., Huguet, N & Zani, B (2005), “The health consciousness myth: implications of the near independence of major health behaviours in the North American population”, Social Science and Medicine, 60, 433–
Nittala.R (2014), “Green consumer behavior of the educated segment in India”, Journal of International Consumer Marketing, 26(2), 138-152
According to O'Donnell (2006), Generation Y is at the forefront of the consumer food chain, characterized by their savvy shopping habits and significant financial influence This demographic not only possesses disposable income but also wields considerable power in shaping market trends and advertising strategies As a result, understanding the preferences and behaviors of Gen Y is crucial for retailers aiming to capture this lucrative audience.
Peter, J.P & Ryan, M.J (1976), “An investigation of perceived risk at the brand level”,
Rashotte, L - The Blackwell encyclopedia of sociology, 2007 ( không thấy bài báo)
Schlosser, A E., White, T.B & Lloyd, S M (2006), “Converting web site visitors into buyers: how web site investment increases consumer trusting beliefs and online purchase intentions”, Journal of Marketing, 70(2), 133-48
Schultz, P (2000), “Empathizing with nature: the effects of perspective taking on concern for environmental issues”, Journal of Social Issues, 56(3), 391-406
Schultz, P W., Shriver, C., Tabanico, J J., & Khazian, A M (2004), “Implicit connections with nature”, Journal of Environmental Psychology, 24(1), 31–42
Schurr, P H & Ozanne, J L (1985), “Influences on exchange processes: buyers’ preconceptions of a seller’s trustworthiness and bargaining toughness”, Journal of
Seguin, C., Pelletier, L., & Hunsley, J (1998), “Toward a model of environmental activism”, Environment and Behavior, 30(5), 628-652
Sehgal, P & Singh, N (2013), “Impact of Eco-Friendly Products on Consumer
Behavior”, CBS E-Journal, Biz n Bytes, Vol 6
Sharma, V., Sonwalkar, J., & Kapse, M (2013), “Consumer Purchase Behaviour for Green Products”, International Journal of Economics & Business Administration, 50-65
Sheahan, P (2005), “Generation Y: Thriving and Surviving with Generation Y at Work”,
Stern, P.C., Dietz, T., & Kalof, L (2005), “Value orientations, gender and environmental concern” in Kalof, L and Satterfield, T (Eds), The Earthscan
Stone, R.N & Gronhaug, K (1993), “Perceived risk: further considerations for the marketing discipline”, European Journal of Marketing, 27(3), 39-50
Straughan, R.D and Robberts, J.A (1999), “Environmental segmentation alternatives: A look at green consumer behavior in the new millennium” Journal of Consumer Marketing, 16(6), pp 558-75
Suki, N M (2016), “Green product purchase intention: impact of green brands, attitude, and knowledge”, British Food Journal, 118(12), 2893-2910
Tang, Y., Wang, X., & Lu, P (2014), "Chinese consumer attitude and purchase intent towards green products", Asia-Pacific Journal of Business Administration, 6(2), 84-96
Tesser, A and Shaffer, D.R (1990), “Attitudes and Attitude Change”, Annual Review of Psychology, 41, pp 479-523
Thogersen, J & Olander, F (2002) “Human values and the emergence of a sustainable consumption pattern: A panel study”, Journal of Economics Psychology, 23, 605-630
Thompson, S C (1981), “Will It Hurt Less If I Can Control It? A Complex Answer to a Simple Question,” in Advances in Consumer Research, Vol 9, Andrew Mitchell,ed., 306-
Thompson, S., & Barton, M (1994) Ecocentric and anthropocentric attitudes toward the environment Journal of Environmental Psychology, 14(2), 149-157
Thorgensen, J & Zhou, Y (2012), "Chinese consumers’ adoption of a ‘green’ innovation – The case of organic food", Journal of Marketing management, 28(3-4), 313-333
Van der Heijden, H., Verhagen, T & Creemers, M (2003), “Understanding online purchase intentions: contributions from technology and trust perspectives”, European
Varshneya, G., Pandey, S K., & Das, G (2017), "Impact of Social Influence and Green Consumption Values on Purchase Intention of Organic Clothing: A Study on Collectivist Developing Economy", Global Business Review, 18(1)
Wahid, N A., Rahbar, E., & Shyan, T S (2011), “Factors influencing the green purchase behavior of Penang environmental volunteer”, International Business, 5(1), 38-49
Zelezny, L C., & Schultz, P W (2000) Psychology of Promoting Environmentalism: Promoting Environmentalism Journal of Social Issues, 56(3), 365–371
PHỤ LỤC 1: BẢNG KHẢO SÁT DỰ ĐỊNH MUA SẢN PHẨM XANH TRÊN
NGƯỜI TIÊU DÙNG TP.HCM
Chúng tôi là sinh viên ngành Kinh Doanh Quốc Tế tại Đại học Kinh tế TP.HCM, hiện đang thực hiện nghiên cứu khoa học về "Dự định mua sản phẩm xanh" với đối tượng là người tiêu dùng trẻ.
Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến của anh/chị qua bảng câu hỏi dưới đây Ý kiến của anh/chị sẽ được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của anh/chị.
Sản phẩm xanh được định nghĩa là những sản phẩm được tái chế hoặc sử dụng vật liệu tái chế, đồng thời hạn chế bao bì và sử dụng nguyên liệu ít độc hại, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường.
G1 Anh/chị vui lòng nhận dạng và chọn () các sản phẩm xanh dưới đây mà Anh/chị cho rằng nó quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày
Xăng sinh học E5 ☐ Sản phẩm làm đẹp được chế tạo từ thiên nhiên ☐ Ống hút làm từ kim loại, gỗ, tre, bột mì ☐
Xe máy điện và thiết bị gia dụng tiết kiệm điện đang trở thành xu hướng tiêu dùng hiện đại Bình đựng nước được làm từ kim loại hoặc thủy tinh không chỉ an toàn mà còn thân thiện với môi trường Băng vệ sinh vải là một lựa chọn bền vững, giúp giảm thiểu rác thải Bao bì tự hủy cũng góp phần vào việc bảo vệ môi trường Những sản phẩm này phản ánh sự chuyển mình trong thói quen tiêu dùng, hướng tới sự bền vững và tiết kiệm.
Hộp đựng thực phẩm làm từ bã mía ☐ Bàn chải tre ☐
G2 Anh/chị vui lòng chọn () một (1) sản phẩm xanh dưới đây mà anh/chị cho rằng anh/chị có nhu cầu tiêu thụ/sử dụng nhất:
Xăng sinh học E5 ☐ Sản phẩm làm đẹp được chế tạo từ thiên nhiên ☐ Ống hút làm từ kim loại, gỗ, tre, bột mì ☐
Xe máy điện và thiết bị gia dụng tiết kiệm điện đang trở thành lựa chọn phổ biến Sử dụng bình đựng nước bằng kim loại hoặc thủy tinh không chỉ an toàn mà còn thân thiện với môi trường Băng vệ sinh vải và bao bì tự huỷ là những sản phẩm thay thế bền vững Hộp đựng thực phẩm làm từ bã mía và bàn chải tre cũng là những lựa chọn thông minh cho một lối sống xanh.
Với sản phẩm xanh (X) mà bạn đã chọn ở câu 2, xin vui lòng đánh giá các phát biểu sau theo ý kiến cá nhân của bạn, sử dụng mức độ quy ước tăng dần.
(1)-Hoàn toàn phản đối (2)-Phản đối (3)-Trung lập (4)-Đồng ý (5)-Hoàn toàn đồng ý
Tôi có ý định sẽ mua sản phẩm xanh X trong trương lai 1 2 3 4 5 Tôi có kế hoạch mua sản phẩm xanh X trong tương lai 1 2 3 4 5
Tôi có ý định mua sản phẩm xanh X khi thời điểm thích hợp, mặc dù giá của sản phẩm này cao hơn khoảng 10% so với sản phẩm thông thường Tuy nhiên, tôi vẫn sẽ ưu tiên chọn sản phẩm xanh X vì những lợi ích mà nó mang lại.
SỰ QUAN TÂM ĐẾN MÔI TRƯỜNG
Tôi quan tâm đến môi trường 1 2 3 4 5
Tình trạng môi trường có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của tôi 1 2 3 4 5 Tôi sẵn sàng thay đổi để bảo vệ môi trường 1 2 3 4 5
SỰ QUAN TÂM ĐẾN SỨC KHỎE
Tôi suy nghĩ rất nhiều về sức khỏe mình 1 2 3 4 5
Tôi rất có ý thức về sức khỏe của mình 1 2 3 4 5
Tôi nhạy bén với những thay đổi về sức khỏe của mình 1 2 3 4 5
Tôi thường chú ý đến sức khỏe của mình 1 2 3 4 5
Tôi tự chịu trách nhiệm với tình trạng sức khỏe của mình 1 2 3 4 5 Tôi quan tâm đến tình trạng sức khỏe của mình hằng ngày 1 2 3 4 5
CẢM NHẬN HIỆU QUẢ CỦA KHÁCH HÀNG