1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015

82 29 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ thể bị kết án là người dưới 18 tuổi, bởi khi họ bị kết án và mang án tích gây ra nhiều bất lợi, làm hạn c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

GVHD: THS PHAN THỊ PHƯƠNG HIỀN

TP HỒ CHÍ MINH – 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Giảng viên hướng dẫn: ThS PHAN THỊ PHƯƠNG HIỀN

Giảng viên Khoa Luật Hình sự

TP HỒ CHÍ MINH – 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS Phan Thị Phương Hiền Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, những số liệu trong các bảng, biểu phục vụ cho việc nhận xét, đánh giá được thu thập từ các nguồn tài liệu và được trích dẫn nguồn, số liệu cụ thể Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng các quan điểm, nhận xét, đánh giá của các tác giả cũng được trích dẫn và nguồn chú thích Nếu có sao chép không hợp

lệ, vi phạm quy chế đào tạo hay gian dối tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP HCM, ngày 01 tháng 7 năm 2021 Tác giả

Lê Thị Li Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực hiện khóa luận tốt nghiệp thực sự là một điều kiện, một cơ hội tốt để bản thân tác giả có thể tổng hợp được phần lớn các kiến thức đã được lĩnh hội tại trường cũng như đã tìm hiểu, nghiên cứu suốt 4 năm Đại học, đặc biệt là kiến thức

về chuyên ngành Luật Hình sự Nghiên cứu đề tài “Xóa án tích đối với người dưới

18 tuổi theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015” đã giúp cho tác giả hệ thống lại các kiến thức cơ bản về quy định án tích, xóa án tích

Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả có gặp nhiều khó khăn nhất định Song nhờ sự giúp đỡ, động viên của những người xung quanh đã giúp tác giả có thể hoàn thành tốt khóa luận này

Vì vậy tác giả muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và nhà trường đã tạo điều kiện cho tác giả học tập, rèn luyện; cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, chia sẽ; đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến ThS Phan Thị Phương Hiền, người đã dành nhiều thời gian, công sức định hướng, đưa ra ý kiến hướng dẫn giúp khóa luận được hoàn thiện

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 8

1.1 Khái niệm án tích, xóa án tích 8

1.1.1 Án tích và hậu quả pháp lý của việc mang án tích 8

1.1.2 Xóa án tích và ý nghĩa của xóa án tích 12

1.2 Khái niệm người dưới 18 tuổi bị kết án và chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi bị kết án 14

1.2.1 Khái niệm về người dưới 18 tuổi bị kết án 14

1.2.2 Chính sách pháp luật của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi bị kết án 19

1.3 Khái niệm, điều kiện, thủ tục xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 21

1.3.1 Khái niệm xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 21

1.3.2 Điều kiện xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 22

1.3.3 Thủ tục xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 23

1.4 Quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 24

1.4.1 Quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi…… 24

1.4.2 Quy định của pháp luật Nhật Bản về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi……… 25

1.4.3 Quy định của pháp luật Liên Bang Nga về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi…… 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 28

Trang 6

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 29

2.1 Khái quát quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015 29

2.1.1 Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trước khi ban hành BLHS năm 1985 29

2.1.2 Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS năm 1985 30

2.1.3 Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS năm 1999 34

2.2 Quy định của BLHS năm 2015 về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 36

2.2.1 Quy định về các trường hợp không có án tích đối với người dưới 18 tuổi 36

2.2.2 Quy định về đương nhiên xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 40

2.2.3 Quy định xóa án tích trong trường hợp đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi 46

2.2.4 Quy định về cách tính thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 51

CHƯƠNG III THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI, NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 52

3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 52

3.1.1 Đánh giá khái quát về việc xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 52

3.1.2 Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và áp dụng 56

3.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 69

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Cụm từ viết tắt Cụm từ đầy đủ

7 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

8 VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng thống kê số vụ án, số bị cáo và số bị cáo tái phạm, tái phạm nguy hiểm là người dưới 18 tuổi đã bị xét xử trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2014 đến năm 2018) 53 Bảng 3.2 Bảng thống kê tổng số người dưới 18 tuổi bị kết án được Toà án cấp giấy chứng nhận xoá án tích và quyết định xóa án tích trong giai đoạn 5 năm (từ năm

2014 đến năm 2018) 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, Đảng và nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện nguyên tắc trừng trị kết hợp với khoan hồng, cưỡng chế đi liền với giáo dục, thuyết phục Do đó, bên cạnh các quy định về tội phạm, hình phạt, án tích thì pháp luật cũng đặt ra quy định về xóa án tích, với mục đích giúp cho những người thành tâm hối cãi, cơ hội làm lại cuộc đời, xóa bỏ đi những hậu quả pháp lý bất lợi do việc phạm tội của mình gây ra, xóa bỏ mặc cảm, tự ti để dễ dàng hòa nhập lại cộng đồng Đặc biệt đối với đối tượng là người dưới 18 tuổi - lứa tuổi vô cùng nhạy cảm, có sự thay đổi lớn vể tâm sinh lý, chính sách xử lý của nhà nước ta đối với những thế hệ tương lai của đất nước chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành một công dân có ích cho xã hội

Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ thể bị kết án là người dưới 18 tuổi, bởi khi họ bị kết án và mang án tích gây ra nhiều bất lợi, làm hạn chế một số quyền công dân, đồng thời họ có thể phải đối mặt với sự xa lánh từ bạn bè, xã hội; khi chưa được xóa án tích sẽ là cơ sở để định tội,

cơ sở để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm,…

Trải qua các lần thay thế, sửa đổi, bổ sung đến BLHS năm 2015 cũng có quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều văn bản hướng dẫn về vấn đề này nên trong quá trình giải quyết có nhiều trường hợp vướng mắc phát sinh mà luật chưa giải quyết được

Đồng thời để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay thì nhiều nội dung trong Luật Hình sự, trong đó có xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi là một trong những nội dung cần được quan tâm, nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện bởi nó liên quan trực tiếp đế quyền lợi chính đáng của trẻ em - một vấn đề mang tính thời sự hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên cho thấy việc nghiên cứu một cách có hệ thống

về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi để trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị hoàn

Trang 10

thiện quy định của pháp luật Hình sự là một yêu cầu có tính cấp thiết.Với những lý

do đó, tác giả chọn đề tài “Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định

của Bộ luật Hình sự năm 2015” làm đề tài khóa luật tốt nghiệp cử nhân luật của

mình

2 Tình hình nghiên cứu

Nhìn chung đề tài “Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của

Bộ luật Hình sự năm 2015” là một đề tài tương đối mới, ít được các tác giả nghiên cứu, đa số các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các chế định xóa án tích chung chứ không nghiên cứu chuyên sâu về quy định riêng này

- Tài liệu nghiên cứu là giáo trình, sách chuyên khảo:

+ Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, Đại học Luật thành phố

Hồ Chí Minh (2019) có quy định về vấn đề xóa án tích tại Chương XIV- “Miễn, giảm trách nhiệm hình sự và xóa án tích”, đã nêu khái niệm về án tích, xóa án tích đồng thời phân tích cụ thể về các trường hợp đương nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Và vấn đề xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng đã được phân tích tại tiểu mục 2.5 Chương XV – “Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi”, phân tích về các trường hợp được coi là không có án tích, đương nhiên xóa án tích

+ Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 – Phần thứ nhất những quy định chung của tác giả Đinh Văn Quế (2015) có bình luận khoa học về các quy định xóa án tích; xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi như đưa ra quan điểm về định nghĩa xóa án tích, phân tích các trường hợp xóa án tích chung, xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

+ Bình luận khoa học BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung) của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa có phân tích các trường hợp được coi là không có án tích, quy định về hình thức và điều kiện xóa án tích đối với người dưới

18 tuổi trên cơ sở đó so sánh với BLHS năm 1999 về vấn đề này

- Tài liệu nghiên cứu là luận văn, khóa luận gồm có:

Trang 11

+ Nguyễn Cao Cường (2015) “Xóa án tích theo luật hình sự Việt Nam” Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả của luận văn này đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và nội dung cơ bản cũng như thực tiễn áp dụng chế định xóa án tích trong Luật hình sự Việt Nam Nghiên cứu khái quát về sự hình thành và phát triển của chế định này trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 1999 và trong BLHS năm 1999, đưa ra những nhận định, đánh giá về những ưu điểm, bất cập, đồng thời so sánh giữa chế định xóa án tích theo pháp luật hình sự Việt Nam với chế định xóa án tích theo Luật Hình sự một số nước trên thế giới.Từ những nghiên cứu khái quát đó, luận văn đi sâu vào nghiên cứu việc áp dụng chế định xóa án tích trong thực tiễn Luật hình sự Việt Nam Nghiên cứu, tổng hợp các tồn tại, vướng mắc khi áp dụng quy định của chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện

+ Nguyễn Quang Long (2020) “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích theo luật Hình sự Việt Nam”, Luận án tiến sỹ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả của luận án này đã nghiên cứu một cách đồng bộ, có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích theo luật Hình sự Việt Nam gồm: những vấn đề lý luận về chế định án tích theo luật hình sự, quy định của BLHS năm 2015 và một số nước về chế định án tích và thực tiễn áp dụng án tích trong giai đoạn 12 năm (2008-2019), những hạn chế tồn tại, đồng thời đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về án tích và các chế định khác có liên quan trong BLHS năm 2015

+ Trịnh Thị Hạnh (2019) “Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án theo quy định của BLHS năm 2015”, Luận văn Thạc sĩ, khoa Luật đại học quốc gia

Hà Nội, tác giả của luận văn này đã nghiên cứu các nội dung cơ bản về chế định án tích, xóa án tích chung và đối với người dưới 18 tuổi bị kết án riêng, đã nêu ra một

số vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên luận văn vẫn chưa đi sâu vào khai thác triệt để các quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi như các trường hợp không có án tích, cách tính thời hạn xóa án tích, thời hạn xóa án tích,…chưa

Trang 12

đánh giá được những vướng mắc gặp phải trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không

có án tích thì thời hạn xóa án tích được tính như thế nào

- Tài liệu nghiên cứu là bài viết đăng trên tạp chí có:

+ Đào Phương Thanh (2016) “Chế định xóa án tích trong BLHS năm 2015, Tạp chí Luật học số đặc biệt, tác giả Đào Phương Thanh phân tích bản chất, đặc điểm pháp lý của chế định xóa án tích và những điểm mới của quy định xóa án tích trong BLHS năm2015 trên cơ sở so sánh với quy định của BLHS năm 1999 Từ đó, tác giả chỉ ra quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi (phạm tội), bị kết

án tại Điều 107 BLHS số 100/2015/QH13 có một số điểm mới so với BLHS năm

1999 và có sự mẫu thuẫn với quy định tại khoản 2 Điều 70 về thời hạn xóa án tích khi chỉ quy định duy nhất một mức là 03 năm

+ Phạm Minh Tuyên (2017), “Xóa án tích theo quy định của BLHS năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 07, tác giả của bài viết đã nghiên cứu các quy định về đương nhiên xóa án tích theo BLHS số 100/2015/QH13 và đưa ra những vướng mắc, nhiều nội dung của quy định này còn có những nhận thức khác nhau gây khó khăn cho việc áp dụng

+ Đỗ Thị Thúy Lan (2016), “Lý lịch tư pháp và vấn đề xóa án tích”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 12/2016, tác giả đã nêu các quy định của BLHS năm 2015

về vấn đề xoá án tích, quy định của pháp luật về LLTP liên quan đến vấn đề xóa án tích

+ Phan Thị Phương Hiền (2017), “Hoàn thiện các quy định về xóa án tích đối với người bị kết án trong BLHS năm 2015”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 01, tác giả của bài viết đã tập trung phân tích những điểm mới của BLHS năm 2015 về xóa án tích đối với người bị kết án, nêu ra những điểm hạn chế, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này

+ Phan Thị Phương Hiền (2017), “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với

người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và

Trang 13

pháp luật số 01, tác giả của bài viết đã phân tích các quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong BLHS năm 2015, qua đó nêu ra một số hạn chế trong các quy định này và kiến nghị bổ sung

+ Nguyễn Quang Long (2018), “Quy định về án tích trong pháp luật Hình sự một số nước trên thế giới và việc tiếp nhận vào Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát số 09, tác giả của bài viết này đã phân tích một số quy định của BLHS một số nước trên thế giới như Liên Bang Nga, Đức, Pháp, Hoa Kỳ,…về chế định án tích và sự phù hợp khi tiếp nhận vào Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện khóa luận này tác giả mong muốn sẽ nghiên cứu một cách toàn diện quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS năm 2015, thông qua việc nghiên cứu các quy định trong văn bản, tài liệu có liên quan để đạt được mục đích trên, đồng thời xác định một số bất cập từ thực tiễn áp dụng quy định này để đưa ra những kiến nghị nhằm giải quyết những vướng mắc, hoàn thiện quy định này trong tương lai

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung nghiên cứu quy định riêng về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi, nhưng cũng đồng thời đặt trong mối quan hệ của các quy định xóa án tích chung để làm rõ và đầy đủ vấn đề đang nghiên cứu Bên cạnh đó, còn sử dụng các quy phạm trong các văn bản pháp luật khác có liên quan như BLTTHS, Luật LLTP để lý giải, làm rõ đối tượng đang hướng đến Ngoài

ra còn sử dụng các số liệu thống kê, bản án thực tế để nghiên cứu thực tiễn giải quyết vấn đề xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi, từ đó có thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quy định này

Trang 14

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của luật Hình sự Việt Nam, cụ thể là về: khái niệm xóa

án tích, các trường hợp được coi là không có án tích, đương nhiên được xóa án tích, điều kiện xóa án tích, thủ tục xóa án tích, cách tính thời hạn xóa án tích,…đối với chủ thể là người dưới 18 tuổi

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận dựa trên phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa nin về nhà nước và pháp luật, dựa trên nền tảng quan điểm của Đảng và nhà nước

Mac-le-về chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bị kết án

Các phương pháp nghiên cứu được dùng có tính chất điển hình trong lĩnh vực luật học gồm: phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc các quy định; phương pháp so sánh để làm nổi bật những điểm mới đã được sửa đổi, bổ sung; phương pháp chuyên gia để tham khảo quan điểm của các học giả có kinh nghiệm Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, logic, thống kê,…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần hoàn thiện hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra những đề xuất, định hướng góp phần hoàn thiện các quy định này

- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa to lớn đối người dưới 18 tuổi bị kết án, cho họ cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay Đây là cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp thực tiễn phù hợp với tình hình Đồng thời khóa luận cũng là một nguồn tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các hoạt động thực tiễn về xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi

Trang 15

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,

phần nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

Chương I Một số vấn đề chung về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Chương II Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong Luật

Hình sự Việt Nam

Chương III Thực tiễn áp dụng các quy định về xóa án tích đối với người

dưới 18 tuổi, những vướng mắc và một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 16

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI

NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1.1 Khái niệm án tích, xóa án tích

1.1.1 Án tích và hậu quả pháp lý của việc mang án tích

Tội phạm, hình phạt là những vấn đề quan trọng trong pháp luật Hình sự Việt Nam Trên cơ sở hành vi phạm tội sẽ bị Tòa án kết tội và họ phải chấp hành các biện pháp cưỡng chế của nhà nước đồng thời sẽ phải mang những dấu vết bất lợi -

án tích Vấn đề án tích đã được đề cập lần đầu tiên trong BLHS năm 1985 và vẫn tồn tại đến nay Tuy nhiên vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa về nó

Do đó khái niệm và nội hàm của nó vẫn chưa được hiểu thống nhất

Theo từ điển Luật học, án tích là “là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của người bị kết án và áp dụng hình phạt được ghi và lưu lại trong LLTP trong thời gian luật định” [16-tr.14] Nghĩa là khi người phạm tội bị kết án về tội danh nào đó trong BLHS và bị Tòa án áp dụng hình phạt thì sẽ bị lưu lại trong LLTP, sau khi người đó chấp hành xong hình phạt thì có thể được xóa án tích nếu đủ các điều kiện

mà BLHS quy định

Quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa: “Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của người đã bị kết án và áp dụng hình phạt, được ghi và lưu lại trong LLTP trong thời gian nhất định, là hậu quả pháp lý bất lợi cho người có đặc điểm đó Mặt khác “án tích được hiểu một cách bao quát và trước hết ở chỗ chủ thể đã bị kết án

và áp dụng hình phạt về một tội phạm nhất định và chưa được xóa án tích” tr.10]

[12-Đây là quan điểm chỉ khá rõ bản chất của án tích cũng như các đặc điểm pháp lý của án tích Quan điểm này chú trọng đến vấn đề đặc điểm nhân thân của người mang án tích Trong thực tế, án tích là một đặc điểm xấu về nhân thân của người phạm tội, trong đó dấu hiệu “có tiền án” chính là đặc điểm để nhận diện người đó có án tích hay không Việc một người mang án tích có thể sẽ mang lại nhiều hậu quả pháp lý bất lợi cho người đó

Trang 17

Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Hồng Hải thì án tích được hiểu là: “Hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khi tội phạm được thực hiện trong thời gian người ấy mang án tích” [27-tr.14]

Quan điểm này đã chỉ ra được án tích là hậu quả pháp lý bất lợi chỉ áp dụng cho người phạm tội thông qua bản án kết tội của Tòa án Nhưng điểm bất lợi thể hiện ở chỗ nó sẽ được coi là một điều kiện để đánh giá mức độ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đó là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, nếu như người đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích

TS Nguyễn Tuyết Mai: “Án tích là một trong những hậu quả pháp lý của việc bị kết án, gắn với người bị kết án” [10-tr.367] Quan điểm này có nhiều nét tương đồng với quan điểm nêu trên, chưa phản ánh đúng bản chất của án tích Cần được hiểu án tích là hậu quả pháp lý phát sinh đối với người bị kết án, nhưng người

đó phải chịu hình phạt, khi chấp hành xong hình phạt đó và có đủ các điều kiện thì được xóa án tích

Th.S Nguyễn Cao Cường có quan điểm: “Án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi người phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản

án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi án tích đó được xoá bỏ theo quy định của pháp luật” [18-tr.15]

Như vậy, ta thấy có rất nhiều các quan điểm khác nhau về khái niệm án tích Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa

khoa học về án tích như sau: Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội

bị kết án và áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, buộc người bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể

Trang 18

từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi hậu quả pháp lý đó được xóa bỏ theo quy định của pháp luật Hình sự

Tuy các quan điểm về khái niệm án tích của các tác giả là không thống nhất, nhưng có thể thấy được một số đặc điểm cơ bản chung về án tích như sau:

Thứ nhất, án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi người phạm tội bị

kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật

Án tích chỉ nên coi là sự kiện pháp lý hình sự, bởi lẽ sự kiện đó có quá trình phát sinh, hình thành và mất đi Một người có hành vi phạm tội và bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án và phải chịu hình phạt thì mới phát sinh án tích Còn những trường hợp người bị kết án nhưng thuộc trường hợp không có án tích như: được miễn hình phạt, bị áp dụng các biện pháp tư pháp tại Điều 96 BLHS năm 2015, thì sẽ không làm phát sinh sự kiện pháp lý về án tích

Thứ hai, án tích tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định

Án tích mang lại rất nhiều hậu quả pháp lý bất lợi nên không thể buộc người

bị kết án phải chịu suốt đời, bằng chính sách nhân đạo của mình pháp luật hình sự

đã quy định, án tích chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định và khi đáp ứng đủ điều kiện luật định sẽ được xóa bỏ Như vậy, án tích chỉ tồn tại từ khi bản án đó có hiệu lực pháp luật cho đến khi người phạm tội được xóa án tích theo quy định của pháp luật (đương nhiên xoá án tích hoặc xóa án tích theo quyết định của Tòa án)

Thứ ba, thời gian mang án tích đó chính là thời gian “thử thách” đối với

người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt

Việc quy định trong khoảng thời gian nhất định nếu người bị kết án chấp hành xong bản án mà không phạm tội mới thì sẽ được xoá án tích theo quy định và người bị kết án đó được coi như chưa bị kết án Đó được xem như khoảng thời gian thử thách với người bị kết án để xem xét ý thức cải tạo của họ, họ đã thật sự hoàng lương hay chưa, nếu không phạm tội mới trong thời gian này thì sẽ được đương nhiên xóa án tích, còn trong trường hợp ngược lại thì họ vẫn phải mang án tích

Trang 19

Thứ tư, người mang án tích phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi

nhất định

Đối với chế tài hình sự thì sau khi chấp hành xong hình phạt, trách nhiệm pháp lý của họ vẫn chưa chấm dứt, họ vẫn bị coi là có án tích trong một khoảng thời gian nhất định Việc đặt ra án tích sẽ gây ra rất nhiều bất lợi cho người bị kết án Sự bất lợi đó được thể hiện ở các phương diện sau:

Một là, án tích để lại đặc điểm xấu về nhân thân cho người bị kết án, làm hạn

chế một số quyền công dân của họ Án tích như một “vết nhơ” trong lý lịch của người phạm tội, có thể phải chịu sự kì thị, xa lánh từ xã hội Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra một số quy định đối với những người mang án tích, làm hạn chế một số quyền của họ Ví dụ: người chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác thì sẽ không được nhận nuôi con nuôi (Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010), người chưa được xóa

án tích thì không được đăng ký dự tuyển công chức (Điểm c khoản 2 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008)

Hai là, án tích là cơ sở để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm (theo Điều

53 BLHS năm 2015), để xác định tình tiết tăng nặng TNHS, định khung hình phạt hoặc định tội danh trong một số trường hợp

Ví dụ như: Dấu hiệu tái phạm nguy hiểm là một trong những dấu hiệu định khung tăng nặng của Tội cố ý gây thương tích (khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015) hoặc có thể là cơ sở định tội đối với một số trường hợp phạm tội chưa đủ yếu tố cấu thành nhưng có tình tiết chưa được xóa án tích (Điểm b khoản 1 Điều 172, 173, 174,…BLHS năm 2015)

Ba là, án tích còn làm hạn chế quyền của một số người liên quan Ngoài việc

gây ra những hậu quả bất lợi cho chính bản thân người bị kết án thì trong một số trường hợp nó cũng làm hạn chế quyền của một số người liên quan.Ví dụ như nếu muốn dự tuyển vào ngành công an nhân dân mà có người thân (cha, mẹ) đã từng có tiền án, kể cả trường hợp đã được xóa án tích thì vẫn không được xét tuyển, sơ

Trang 20

tuyển vào lực lượng Công an nhân dân1 Cụ thể, như trường hợp của em Trương Hương L (Nghệ An) trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học năm 2017 em đạt số điểm là 26.5, số điểm cao nhất của khối D nhưng vì lý do mẹ của em đã từng phạm tội và bị kết án nên em không được xét tuyển vào trường Công an nhân dân, mặc dù

mẹ em đã được xóa án tích trước đó.2

1.1.2 Xóa án tích và ý nghĩa của xóa án tích

Nếu như án tích đã để lại cho người bị kết án rất nhiều hậu quả pháp lý bất lợi thì quy định xóa án tích lại thể hiện đều ngược lại, nó nhằm tạo điều kiện cho những người thành tâm hối cãi, muốn trở thành con người lương thiện cơ hội xóa bỏ

đi những “dấu vết” bất lợi đó Xóa án tích là một quy định quan trọng, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với sự nỗ lực cải tạo của người bị kết án, nhằm xóa bỏ đi quá khứ đã từng phạm tội, xóa bỏ những định kiến của xã hội, giúp

họ tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích Với những ý nghĩa quan trọng như vậy thì việc nghiên cứu cụ thể, có hệ thống về xóa án tích là cần thiết, có ý nghĩa không chỉ mang tính lý luận mà còn mang tính thực tiễn sâu sắc

Cũng giống như vấn đề án tích, mặc dù được hình thành từ khi ban hành BLHS đầu tiên, tuy nhiên đến nay khái niệm này vẫn chưa được định nghĩa trong một văn bản pháp lý nào mà nó tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau

Th.S Đinh Văn Quế: “Xóa án tích là xóa bỏ bản án hình sự đối với một người đã bị tòa kết án Chế định xóa án tích thể hiện nguyên tắc “người đã chấp hành xong hình phạt, khi có đủ các điều kiện thì được xóa án tích”, người được xóa

án tích coi như chưa bị kết án và được cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp giấy chứng nhận, nếu họ phạm tội mới thì không bị tính là tái phạm, tái phạm nguy hiểm” [15-tr.361]

Trang 21

Quan điểm này thể hiện được tính nhân đạo của nhà nước, người được xóa

án tích sẽ trở thành như người chưa bị kết án Tuy nhiên quan điểm này lại có điểm chưa hợp lý, vì xét về mặt bản chất án tích không phải là bản án hình sự nên xóa án tích không thể là xóa bỏ bản án hình sự

TS Uông Chu Lưu: “Xóa án tích là sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết

án không còn mang án tích và vì vậy, không còn chịu hậu quả bất lợi nào do việc

kết án mang lại” [14-tr.222] Quan điểm này đã chỉ ra được bản chất quan trọng

của xóa án tích, đó là sự “thừa nhận về mặt pháp lý” không còn án tích, sẽ được coi như chưa từng phạm tội, không bị xem là một tình tiết để đánh giá tái phạm hay tái phạm nguy hiểm

TS Nguyễn Tuyết Mai: “Xóa án tích là xóa bỏ việc mang án tích, là sự công nhận coi như chưa bị kết án đối với người trước đó đã bị Tòa án xét xử, kết tội” [10-tr.367].TS Nguyễn Tuyết Mai đã đưa ra định nghĩa xóa án tích xuất phát từ khái niệm án tích, quan điểm này phần nào phản ánh đúng bản chất của xóa án tích

ThS Mai Khắc Phúc: “Xóa án tích có nghĩa là xóa đi hậu quả sau cùng của việc phạm tội, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được cấp giấy chứng nhận” [11-tr.410]

Tuy trong hệ thống pháp luật Hình sự Việt Nam chưa có một điều luật nào định nghĩa cụ thể về xóa án tích nhưng bản chất pháp lý của nó đã được thể hiện tại

Điều 69 BLHS năm 2015: “người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”

Do đó, từ các quan điểm trên ta có thể rút ra khái niệm xóa án tích như sau:

“Xóa án tích là xóa bỏ hậu quả pháp lý bất lợi của việc mang án tích khi có đủ các

điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự và khi đó họ được xem như người chưa từng bị kết án”

Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm về xóa án tích như sau:

Một là, xóa án tích chính là xóa bỏ hậu quả pháp lý bất lợi của việc mang án

tích khi có đủ điều kiện luật định Án tích sẽ gây rất nhiều khó khăn đối với người

Trang 22

mang nó, là một “dấu vết” trên đặc điểm nhân thân, gây ra nhiều bất lợi khi tham gia các quan hệ pháp luật, xã hội-mặt cảm, tự ti, bị xã hội xa lánh Người phạm tội phải gánh chịu án tích này kể từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi

đủ điều kiện để được xóa bỏ theo quy định của pháp luật

Hai là, người bị kết án được xem như người chưa từng bị kết án sau khi án

tích được xóa bỏ Tức họ trở thành một người bình thường như những người khác, không còn phải gánh chịu bất kì sự bất lợi gì từ việc đã mang án tích trước đây

Như vậy, việc một người bị kết án được xóa án tích có ý nghĩa rất quan trọng

cả về mặt pháp lý và xã hội:

- Xoá án tích thể hiện sự công nhận của Nhà nước, người bị kết án trở thành người bình thường về mặt tư pháp và họ không bị hạn chế về quyền lợi do đã từng

bị kết án, khôi phục một số quyền công dân vốn có của mình

- Sau khi đã được xóa án tích, không bị coi là căn cứ để xác định là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, họ trở thành người có LLTP sạch và nếu có phạm tội mới thì cũng coi như phạm tội lần đầu

- Xóa án tích là một chế định nhân đạo của luật hình sự, giúp người bị kết án xóa bỏ mặc cảm tội lỗi, tránh được sự kì thị, tái hòa nhập cộng đồng

- Xóa án tích nhằm khuyến khích, động viên người đã bị kết án tuân thủ pháp luật, sớm trở thành người tốt có ích cho xã hội, xóa bỏ đi “vết nhơ” trong LLTP của mình

- Mặc khác, xóa án tích còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng ngừa

tội phạm

1.2 Khái niệm người dưới 18 tuổi bị kết án và chính sách pháp luật hình

sự của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi bị kết án

1.2.1 Khái niệm về người dưới 18 tuổi bị kết án

Trẻ em là đối tượng cần được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, ở nước ta trước đây và hiện nay luôn coi trọng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục NCTN

Trang 23

là sự nghiệp lớn của dân tộc, được đúc kết bởi tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục:

“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Tiếp thu tư tưởng trên của Người, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ

em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức”

Theo quy tắc tối thiểu phổ biến về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do của

Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990 nêu rõ: “Người chưa thành niên là

người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định

và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” Với quy định này thì

người dưới 18 tuổi được gọi là NCTN

Tại Điều 1 công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 (UNCRC)

lại xác định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp

dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Quy định này giúp ta nhận

thấy, UNCRC xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi và cũng như pháp luật quốc tế, UNCRC cho phép các quốc gia tùy vào chính sách pháp luật của mình mà quy định mức tuổi cụ thể trong luật

Thông qua đó ta có thể nhận thấy trong các văn bản pháp lý, các tài liệu của các tổ chức quốc tế về vấn đề trẻ em, khái niệm “NCTN” và “trẻ em” là đồng nhất, được sử dụng để thay thế cho nhau và đều dùng để chỉ người dưới 18 tuổi

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng tồn tại song song hai khái niệm

“NCTN” và “trẻ em” ở các văn bản khác nhau Tuy nhiên khác với pháp luật quốc

tế, hai khái niệm này không đồng nhất, cụ thể:

Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 quy định : “Trẻ em quy định trong Luật này là

công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”

Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực vào ngày 1/1/2017 tại Điều 21: “Người

chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” Như vậy, trong Bộ luật dân sự

khái niệm NCTN được dùng để chỉ những đối tượng là người chưa đủ 18 tuổi

Trang 24

Bộ luật lao động năm 2019 có hiệu lực ngày 01/01/2021 quy định tại khoản 1

Điều 143: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”

Nhận thấy khái niệm “NCTN” theo pháp luật Việt Nam có sự đồng nhất với khái niệm NCTN trong công ước của Liên Hợp Quốc Nhưng khái niệm “trẻ em” theo pháp luật Việt Nam lại không đồng nhất với khái niệm của Liên Hợp Quốc Theo đó, trong phạm vi quốc gia, nếu theo Luật trẻ em thì người dưới 16 tuổi (trong

đó bao gồm nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi) được coi là trẻ em nhưng theo pháp luật hình sự, nhóm người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến duới 16 tuổi lại được coi là NCTN Như vậy, cùng một độ tuổi nhưng tên gọi lại khác nhau, đều này dẫn đến những khó khăn vướng mắc trong nhận thức và áp dụng pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể này

Do đó, BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” thay cho thuật ngữ “NCTN” Sự thay đổi như vậy trong pháp luật hình sự là phù hợp, không chỉ thống nhất với các văn bản chuyên ngành mà còn hài hòa với chuẩn mực quốc tế mà trước hết là công ước về quyền trẻ em, vì về bản chất, người dưới 18 tuổi và NCTN không khác nhau về trách nhiệm pháp lý, quyền

và nghĩa vụ, mà chỉ khác nhau ở thuật ngữ

Kết án là việc Tòa án ra bản án tuyên bố một người phạm tội do hành vi của mình gây ra theo quy định của BLHS Do đó, một người coi là bị kết án khi người

đó bị Tòa án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật Một trong các yếu tố cấu thành của tội phạm là chủ thể thực hiện tội phạm, chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS và đạt một độ tuổi nhất định Pháp luật Hình sự Việt Nam quy định

cụ thể về độ tuổi phải chịu TNHS tại Điều 12 BLHS năm 2015 Theo đó, một người phạm tội bị Tòa án tuyên bố là có tội thì ít nhất phải đủ 14 tuổi, đây là độ tuổi tối thiểu mà luật quy định để một người có thể bị xem là người phạm tội và họ chỉ phải chịu TNHS với một số tội nhất định quy định tại khoản 2 Điều này, còn với người dưới 18 tuổi nhưng rơi vào nhóm tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên đương nhiên phải chịu

Trang 25

TNHS với mọi tội phạm mà mình gây ra, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Người dưới 18 tuổi bị kết án là người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị Tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật

Định nghĩa trên chứa đựng các cụm từ như: "Người dưới 18 tuổi bị kết án",

"Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi’ Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần xác định tuổi (dưới 18 tuổi, đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) là vào thời điểm nào? Khi họ bị đưa ra xét xử, bị kết án hay thời điểm khi người đó phạm tội Trong thực tế, có một số vụ án có khi người phạm tội thực hiện hành vi khi nằm trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhưng đến giai đoạn xét xử đã đủ 18 tuổi trở lên Như vậy, trường hợp này có được áp dụng quy định tại Điều 107 BLHS năm 2015 về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi không hay phải áp dụng Điều luật về xóa án tích chung được quy định tại Chương X của BLHS năm 2015 Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này, cụ thể:

Cách hiểu thứ nhất: Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi theo Điều 107

BLHS năm 2015 là vào thời điểm người đó bị kết án, tức vào thời điểm bị xét xử Theo quan điểm này: cấu trúc từ ngữ trong câu tại Điều 107 BLHS năm 2015 quy định rõ: “người dưới 18 tuổi bị kết án” ở đây quy định là kết án chứ không phải là phạm tội Như vậy, chỉ khi bị kết án mà người đó dưới 18 tuổi mới được hưởng các quy định tại Điều 107 BLHS năm 2015; còn khi người khi phạm tội dưới 18 tuổi

nhưng khi bị kết án đã trên 18 tuổi thì không áp dụng quy định này

Ví dụ: Nguyễn Văn A sinh ngày 10/11/2001, ngày 12/05/2019 (khi chưa đủ

18 tuổi) trộm cắp tài sản trị giá 30.000.000 đồng Ngày 12/9/2019, A bị xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, vào thời điểm xét xử

A dưới 18 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng nên A coi như không có án tích Tuy nhiên, trong trường hợp này nếu xét xử vào sau ngày 10/11/2019 tức khi kết án A trên 18 tuổi thì A bị coi là có án tích và áp dụng các quy định về xóa án tích quy

Trang 26

định tại Chương X của BLHS chứ không áp dụng Điều 107 về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Cách hiểu thứ hai: Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là vào thời điểm

người đó phạm tội BLHS năm 2015 quy định “người dưới 18 tuổi bị kết án” Tuy điều luật không nêu cụ thể thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội hay thời điểm bị kết án nhưng theo hướng có lợi cho người phạm tội, đồng thời để đảm bảo sự công bằng trong xử lý thì cần coi thời điểm để xác định độ tuổi dưới 18 là vào thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội

Tác giả đồng tình với cách hiểu thứ hai là xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là vào thời điểm phạm tội, bởi những lý do sau:

Thứ nhất, hành vi phạm tội họ gây ra khi dưới 18 tuổi nên có những hạn

chế về nhận thức, tâm sinh lý như: trạng thái cảm xúc chưa ổn định, dễ nảy sinh vô

cớ, sự kích động; nhu cầu độc lập của bản thân muốn khám phá cái mới lạ, muốn

tự quyết định và hành động theo ý chí của mình; chưa nhận thức đầy đủ về pháp luật,…nên họ chỉ phải chịu trách nhiệm đúng với mức độ, tính chất phạm tội ngay tại thời điểm đó

Thứ hai, về kỹ thuật lập pháp, Điều 107 thuộc chương XII “Những quy định

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” nên quy định này vẫn được hiểu là áp dụng cho đối tượng dưới 18 tuổi phạm tội Còn bản thân Điều 107 BLHS quy định về việc xóa án tích nên đối tượng điều chỉnh đặc thù của nó được gọi tên là “người bị kết án”, do không thể đặt ra vấn đề xóa án tích với người chưa bị kết án được

Thứ ba, nếu áp dụng theo quan điểm thứ nhất thì phải đến thời điểm bị kết án

mà chưa đủ 18 tuổi mới được hưởng quy định tại Điều 107 BLHS năm 2015 Do đó

nó sẽ phụ thuộc vào các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh hay chậm vụ án, phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, chủ quan khác, từ đó tạo nên sự không công bằng, thống nhất trong áp dụng pháp luật

Trang 27

Thứ tư, khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015 quy định thời hạn đương nhiên

xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (ngắn hơn người từ đủ

18 tuổi trở lên) Nếu hiểu chỉ thời điểm bị kết án, người dưới 18 tuổi mới được hưởng quy định này, thì người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm phạm tội không được hưởng chính sách gì về xóa án tích (như vậy sẽ bất lợi so với quy định đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của BLHS năm 1999).3

Thứ năm, ngoài ra để đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong thực thi pháp luật

Bởi lẽ, về mặt nội dung, khi đã áp dụng các quy định khác trong BLHS cho người dưới 18 tuổi căn cứ vào thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội (tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hình phạt…), không phân biệt thời điểm phát hiện, xử lý như thế nào thì cũng cần áp dụng quy định xóa án tích theo tinh thần đó mới đảm bảo sự thống nhất và phù hợp

Do đó, từ những phân tích trên theo quan điểm của tác giả, khi xác định tuổi của người dưới 18 tuổi bị kết án để hưởng những quy định về xóa án tích, cần xác định thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là vào thời điểm phạm tội

1.2.2 Chính sách pháp luật của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi bị kết án

Con người là một tế bào của xã hội, là một nhân tố quan trọng góp phần xây dựng nên một đất nước giàu đẹp, tiến bộ, văn minh Trong đó tầng lớp thanh niên là những mầm non, là nhân tố quyết định đến sự bền vững, phát triển của đất nước

trong tương lai Như Bác Hồ đã từng nói: “Thanh niên là một cái nguồn vô tận, từ

nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt cho hiện tại và tương lai của nước nhà”4 Qua lời của Bác, chúng ta thấy Người nhận rõ đặc điểm và thế mạnh của lực lượng thanh niên Việt Nam, là lực lượng chủ đạo, thiết yếu Do đó, Đảng và nhà

3

Khoản 1 Điều 77: Thời hạn để xoá án tích đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 của Bộ luật này

4Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài "Thanh niên nông dân", đăng trên báo Nhân Dân, số 159,

từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 01 năm 1954

Trang 28

nước ta luôn coi trọng công tác giáo dục đối với lứa tuổi này, đặc biệt là luôn dành những chính sách ưu tiên, nhân đạo cho đối tượng là người dưới 18 tuổi để tạo điều kiện cho họ phát huy hết tất cả khả năng của mình Đặc biệt nếu đối tượng này có phạm tội, có bị kết án đi chăng nữa thì nhà nước cũng có những chính sách dành riêng cho họ và có sự ưu ái hơn so với những người đã đủ 18 tuổi

Thứ nhất, BLHS năm 2015 dành một điều luật gồm 7 khoản quy định về các

nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, tại Điều 91 BLHS năm 2015 như việc xử phạt chỉ nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, không áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình, không áp dụng hình phạt bổ sung,…

Thứ hai, người dưới 18 tuổi bị kết án được hưởng các quy định về giảm mức

hình phạt đã tuyên hoặc tha tù trước thời hạn khi có đủ điều kiện được quy định trong BLHS 5 Đây là một chính sách nhân văn của pháp luật Hình sự Việt Nam, sự

ưu ái lớn cho đối tượng là người dưới 18 tuổi khi đã bị kết án bằng các hình phạt của Tòa án Đây chính là động lực, là nguồn khuyến khích đối tượng này cố gắng phấn đấu, nỗ lực hơn nữa để được sớm trả tự do, trở lại con người bình thường

Thứ ba, trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội bị kết án và bị áp dụng hình

phạt tù, Luật thi hành án hình sự năm 2019 đã dành một mục riêng gồm 04 Điều luật quy định về phạm nhân là người dưới 18 tuổi khác với phạm nhân là từ đủ 18 tuổi, phạm nhân là người dưới 18 tuổi có những chế độ ưu ái riêng khi chấp hành hình phạt tù tại các cơ sở giam giữ, có các chế độ riêng về quản lý, giam giữ, lao động, học tập, ăn mặc, chăm sóc y tế, vui chơi…, khi đủ 18 tuổi thì chuyển sang thực hiện chế độ quản lý giam giữ, giáo dục đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên.6

Thứ tư, về chính sách xóa án tích, người dưới 18 tuổi được hưởng chính sách

khoan hồng hơn rất nhiều so với đối tượng là người từ đủ 18 tuổi, trước tiên về thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi thấp hơn so với người từ đủ

Trang 29

18 tuổi và pháp luật còn quy định thêm các trường hợp không có án tích, các quy định về đương nhiên xóa án tích Những quy định này là hoàn toàn có lợi cho người dưới 18 tuổi bị kết án, tạo điều kiện cho người bị kết án

1.3 Khái niệm, điều kiện, thủ tục xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi 1.3.1 Khái niệm xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi là một phần trong quy định xóa án tích chung Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa được đề cập đến trong văn bản pháp luật, cũng ít được các tác giả nghiên cứu

Bởi lẽ nó là một phần trong quy định xóa án tích chung nên việc tìm hiểu các quy định này phải đặt trong mối quan hệ với các quy định xóa án tích khác của Phần thứ nhất BLHS năm 2015 Như vậy quy định về án tích, xoá án tích ngoài các quy định chung thì khi áp dụng xử lý trong thực tiễn đối với người dưới 18 tuổi còn phải tuân thủ theo các quy định khác mang tính nguyên tắc xử lý đặc thù, đó là nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi và phải phân định đối với nhóm tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo tinh thần chung về độ tuổi chịu TNHS mà pháp luật hình sự đã quy định [18-tr.67]

Mặc khác, đối với người dưới 18 tuổi bị kết án nếu thuộc độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi dù phạm tội gì cũng được coi là không có án tích (theo khoản

1 Điều 107 BLHS năm 2015) Do đó, chỉ đặt ra xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

Như vậy, từ định nghĩa xóa án tích đã nêu tại tiểu mục 1.1.2 và định nghĩa người dưới 18 tuổi bị kết án đã nêu tại tiểu mục 1.2.1 Chương này có thể rút ra định

nghĩa về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi như sau: “Xóa án tích đối với người

dưới 18 tuổi là xóa bỏ hậu quả pháp lý bất lợi của việc mang án tích đối với người

từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị Tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật, khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự, khi đó họ được coi như chưa bị kết án”

Trang 30

1.3.2 Điều kiện xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS năm 1999 được phân chia thành hai loại như đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên gồm: đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm

an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh Tuy nhiên BLHS năm 2015 đã bỏ quy định về xóa án tích theo quyết định của Tòa án đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội này

Do đó theo quy định của BLHS 2015, đối với người dưới 18 tuổi, chế định xóa án tích là chế định đương nhiên xóa án tích, không thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án cho dù họ phạm vào bất kỳ tội phạm nào trong BLHS Tuy nhiên xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi cũng phải kèm theo những điều kiện tương tự như xóa án tích đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên, đó là phải đồng thời đáp đứng điều kiện về mặt nội dung và điều kiện về mặt thời gian

- Điều kiện về nội dung: người bị kết án phải chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và không phạm tội mới trong thời hạn theo quy định của pháp luật

- Điều kiện về thời gian: thời hạn quy định là kể từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo đến khi hết một khoảng thời gian nhất định do luật quy định

Ngoài ra, thời hạn đương nhiên xóa án tích và thời hạn để Tòa án xem xét, quyết định xóa án tích có thể được rút ngắn trong trường hợp đặc biệt khi người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị

Trang 31

1.3.3 Thủ tục xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Để được xóa bỏ đi án tích của mình, trở thành như người chưa từng bị kết án thì ngoài việc phải đáp ứng đủ các điều kiện đặt ra còn phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định để đảm bảo tính hợp pháp

Điều 425 BLTTHS năm 2015 quy định: “Việc xóa án tích đối với người dưới

18 tuổi phạm tội khi có đủ điều kiện quy định tại Ðiều 107 của BLHS, được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này”

Theo quy định của BLHS năm 2015, đối với người dưới 18 tuổi chỉ có hình thức đương nhiên xóa án tích nên thủ tục xóa án tích chủ yếu do cơ quan quản lý dữ liệu LLTP thực hiện bằng việc cấp Phiếu LLTP trong đó ghi nhận “không có án tích” Việc này được thực hiện trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của họ và xét thấy có đủ điều kiện

Luật LLTP năm 2009 cũng có quy định liên quan đến vấn đề xóa án tích Theo Điều 33 Luật LLTP, Trung tâm LLTP quốc gia, Sở tư pháp có nhiệm vụ cập nhật xử lý thông tin LLTP trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích, cụ thể: (i) Khi nhận được giấy chứng nhận xóa án tích của Tòa án thì ghi “đã được xóa

án tích” vào LLTP của người đó và (ii) Khi xác định người bị kết án có đủ điều kiện đương nhiên được xoá án tích theo quy định của Bộ luật hình sự thì ghi “đã được xóa án tích” vào LLTP của người đó

Ngoài ra, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật LLTP tại Điều 17 cũng quy định trách nhiệm của Trung tâm LLTP quốc gia, Sở tư pháp trong việc xác minh về điều kiện đương nhiên xóa án tích của người bị kết án

Trung tâm LLTP quốc gia, Sở tư pháp có nhiệm vụ xác minh về việc người

đó có bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời hạn đang có án tích hay không Việc xác minh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc sau khi chấp hành xong bản án, nếu thấy cần thiết thì xác minh tại cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan Trình tự, thủ tục

Trang 32

xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích cũng được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 của Bộ Tư pháp, TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin LLTP (Điều 25) [32-tr.17]

Như vậy, theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành thì xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi chỉ có hình thức đương nhiên xoá án tích (khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015) nên họ không phải làm bất cứ thủ tục gì mà Cơ quan quản lý cơ

sở dữ liệu LLTP có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của họ khi

đủ điều kiện được xóa án tích Còn khi người dưới 18 tuổi muốn yêu cầu cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích khi có đủ điều kiện luật định thì chuẩn bị hồ sơ nộp lên Sở tư pháp để được cấp phiếu lý lịch tư pháp, trình tự thủ tục thực hiện căn

cứ vào các quy định của Luật LLTP năm 2009

1.4 Quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.4.1 Quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Vấn đề xóa án tích trong pháp luật nước Cộng hòa Pháp, được đề cập đến trong Chương III của BLHS nước này (BLHS năm 1992, có hiệu lực ngày 01/03/1994) các quy định về “xóa án tích” và “phục hồi” (các điều 133.1, 133.9, 133.12, 133.17)

Tại khoản 3 Điều 133.1 quy định: “Để được phục hồi các quyền công dân đòi hỏi phải có xóa án tích Tại nước này, bất kì một người nào đó cũng có thể bị xử

lý hình sự do hành vi phạm tội của mình thực hiện bằng bản án kết tội và họ có thể phục hồi được quyền công dân của mình đương nhiên theo luật hoặc theo trình tự, thủ tục của Tòa án phù hợp với quy định của luật tố tụng hình sự (Điều 132.12) Pháp luật của Cộng hòa Pháp cũng có quy định về thời hạn để cá nhân bị kết án

Trang 33

được phục hồi các quyền công dân nếu sau một khoảng thời gian nhất định họ không bị buộc tội hoặc thực hiện hành vi phạm tội mới, cụ thể như sau:

- Trường hợp bị áp dụng hình phạt tiền hoặc phạt tiền theo ngày thì trong vòng 3 năm kể từ ngày hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền phạt; hết thời hạn tạm giữ; hết thời gian bị quản chế (hạn chế cư trú)

- Trường hợp bị kết án lần đầu tiên và bị phạt tù không quá 1 năm hoặc bị áp dụng hình thức phạt bổ sung như: Cấm cư trú, phạt tiền hoặc phạt tiền theo ngày thì trong vòng 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt, hoặc từ thời điểm kết thúc thời hạn chịu án phạt

- Trường hợp bị kết án lần đầu tiên và bị phạt tù không quá 10 năm, hoặc bị kết án nhiều lần và bị áp dụng hình phạt bổ sung thì trong vòng 5 năm đến dưới 10 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt, hoặc từ thời điểm kết thúc thời hạn chịu

án phạt (Điều 133.13 BLHS Cộng hòa Pháp) [33-tr.54]

BLHS Cộng hòa pháp không có quy định riêng về vấn đề xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi Do đó, có thể hiểu các quy định trên là các quy định chung và cũng có thể áp dụng cho mọi đối tượng kể cả người dưới 18 tuổi và đủ 18 tuổi trở lên

Như vậy, qua nghiên cứu BLHS nước này nhận thấy khi một người bị kết tội cũng có thể xóa bỏ đi những hậu quả pháp lý bất lợi Pháp luật Cộng hòa Pháp cũng đặt ra các khoảng thời hạn xóa án nhất định đối với người bị kết án sau khi đã chấp hành xong hình phạt Ngoài ra BLHS nước này còn xem xét ân xá là căn cứ giúp xóa án tích (Điều 133.9 BLHS Cộng hòa Pháp)

1.4.2 Quy định của pháp luật Nhật Bản về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Cũng giống như BLHS Việt Nam năm 2015, BLHS Nhật Bản cũng không đưa ra khái niệm cụ thể về án tích hay xóa án tích và cũng không có quy định dành riêng cho đối tượng là người dưới 18 tuổi Về vấn đề này, chỉ có một quy định tại Điều 34.2 về “Hết hiệu lực của việc xử phạt” như sau:

Trang 34

1 Khi đã qua mười năm kể từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt

tù không có lao động bắt buộc hoặc hình phạt nặng hơn, hoặc đã được miễn chấp hành hình phạt đó mà không bị kết án phạt tiền hoặc hình phạt nặng hơn về tội khác thì việc kết án hết hiệu lực Cũng áp dụng tương tự như vậy khi đã qua năm năm kể

từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt tiền hoặc hình phạt nhẹ hơn, hoặc

đã được miễn chấp hành hình phạt đó mà không bị kết án phạt tiền hoặc hình phạt nặng hơn về tội khác

2 Trong trường hợp một người đã bị tuyên bố có tội nhưng được miễn hình phạt và không bị kết án phạt tiền hoặc hình phạt nặng hơn về tội khác trong vòng hai năm kể từ khi việc tuyên bố đó có hiệu lực pháp luật thì việc tuyên bố người đó

1.4.3 Quy định của pháp luật Liên Bang Nga về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Án tích (Đại xá, Đặc xá, án tích Điều 86, Chương 13 BLHS Liên Bang Nga) BLHS Liên Bang Nga dành một điều luật duy nhất quy định về án tích Quy định này đã xác đinh cụ thể khoảng thời gian bắt đầu và kết thúc nếu một người bị kết án

về một tội phạm bị coi là người có án kể từ ngày bản án kết tội có hiệu lực pháp luật

Trang 35

cho đến khi được xóa án và án tích chỉ tính trong trường hợp tái phạm khi quyết định hình phạt (khoản 1 Điều 86) [33-tr.50]

Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, theo loại hình phạt được Tòa án quyết định, BLHS Liên Bang Nga cũng quy định về khoảng thời gian để một người kết án được xóa án tích tại khoản 3 Điều 86 BLHS Liên Bang Nga còn

có quy định người được miễn hình phạt là người không có án tích (Điều 86 khoản 2), tại khoản 4 về trường hợp tính thời hạn xóa án tích khi người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt còn lại hoặc phần hình phạt còn lại được thay thế bằng hình phạt nhẹ hơn và một quy định tương tự như Điều 69 BLHS năm 2015 của Việt Nam là khi người bị kết án đã trả xong án tích hoặc xóa bỏ án tích sẽ hủy bỏ tất cả những hậu quả pháp lý liên quan đến án tích (khoản 6 Điều 86 BLHS Liên Bang Nga),…

Ngoài ra BLHS của nước này còn dành ra một điều luật riêng để quy định về thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 95: “Đối với những người phạm tội mà chưa đủ 18 tuổi, thời hạn xóa án tích sẽ được xem xét theo khoản 3 Điều 86 của Bộ luật này, được giảm đi và bằng:

a) Sáu tháng sau khi chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù

b) Một năm sau khi chấp hành xong hình phạt giam đối với những tội ít nghiêm trọng hoặc tương đối nghiêm trọng

c) Ba năm sau khi chấp hành xong hình phạt giam đối với tội nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng ”

Do đó, qua nghiên cứu BLHS Liên Bang Nga năm 1996 có hiệu lực 01/01/1997, thì pháp luật Hình sự Việt Nam có nhiều nét tương đồng với pháp luật nước này và chỉ có duy nhất BLHS Liên bang Nga năm 1996 mới có Điều luật quy định riêng liên quan đến vấn đề xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi còn BLHS của các nước khác chỉ đề cập đến xóa án tích chung chung chứ không phân định riêng đối với người dưới 18 tuổi

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Xóa án tích là một quy định có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật Hình sự Việt Nam đã được pháp điển hóa ngay trong BLHS năm 1985 và tồn tại đến hiện nay Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa được các nhà làm lập pháp định nghĩa cụ thể trong luật Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi là một phần trong quy định xóa án tích chung, BLHS cũng đã dành một điều luật riêng quy định về vấn đề này, nhưng khái niệm về nó vẫn không được định nghĩa cụ thể Do đó, trong chương này tác giả nghiên cứu và đưa ra những kết luận về người dưới 18 tuổi bị kết án, khái niệm xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi, cũng như phân tích các điều kiện, thủ tục để được xóa án tích Bên cạnh đó còn nghiên cứu quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về vấn đề này để có thể đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó sẽ làm định hướng tiếp thu, hoàn thiện BLHS Việt Nam trong tương lai về quy định xóa án tích đối với chủ thể phạm tội là người dưới

18 tuổi

Trang 37

CHƯƠNG II QUY ĐỊNH VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18

TUỔI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 2.1 Khái quát quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015

2.1.1 Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trước khi ban hành BLHS năm 1985

Mọi quy định pháp lý đều có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng của nó và vấn đề án tích, xóa án tích cũng như vậy Để quản lý, xây dựng trật tự xã hội nên ngay từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước ta đã chú trọng đến công tác xây dựng pháp luật Lúc này, những quy định liên quan đến xóa án tích đã được đề cập đến, tuy nhiên vẫn chỉ mang tính chung chung chứ chưa được quy định cụ thể cũng như chưa có sự phân hóa đối tượng theo độ tuổi.

Ở giai đoạn này quy định về xóa án tích không được định nghĩa cụ thể trong bất cứ một quy định pháp luật nào Nhưng ta có thể tìm thấy một số quy định có dấu hiệu của việc xóa án tích như tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14 tháng 2 năm

1946 quy định: “…Nếu trong 05 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị

Tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có…” Quy định này có dấu hiệu của việc đương nhiên được xóa án

tích nếu như người phạm tội sau khi bị tuyên án không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn 5 năm thì án đó sẽ được bỏ và sau đó họ được xem như người không có án Có thể thấy đây là một chính sách nhân đạo của nhà nước ngay từ bước đầu hình thành nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từng bước đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống

Tuy nhiên, quy định trên chỉ được duy trì đến năm 1954 Khi đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài hai miền Nam – Bắc nước ta Lúc này, các quy định về án tích, xóa án tích cũng chỉ được đề cập đến trong các văn bản pháp luật có tính chất hình sự, như: Thông tư 2308/NCLP ngày 01/12/1961 của TANDTC hướng

dẫn xóa án tích đối với người bị kết án được hưởng án treo, quy định như sau: “Nếu

Trang 38

hết thời gian thử thách mà người bị phạt án treo không phạm tội gì mới thì sẽ coi như không có tiền án Những hình phạt phụ mà Tòa án có thể đã tuyên như cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc cũng đương nhiên được xóa bỏ Nếu phạm tội mới không cùng tính chất và nhẹ hơn tội cũ thì khi hết thời gian thử thách, bản án treo cũ cũng vĩnh viễn không phải chấp hành nữa” [21-tr.77]; Công văn số 1082/NCLP ngày

05/7/1963 của TANDTC xác định các tình tiết tăng nặng TNHS để hướng dẫn áp

dụng thống nhất trong xét xử khi đưa ra yêu cầu: “Tòa án không thể coi một người

đã bị án treo nhưng đã được xóa bỏ, nay lại phạm tội mới, như là tái phạm”

[21-tr.77, 78]

Như vậy, nhìn chung vấn đề xóa án tích trong giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 1985 chưa được khái quát thành một điều luật cụ thể nhưng đã phần nào được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật có tính chất hình sự Qua đó cho thấy được sự chú trọng của nhà nước về vấn đề này ngay từ những giai đoạn đầu xây dựng nhà nước độc lập

Đối với vấn đề để xác định một tội phạm cụ thể thì ở giai đoạn này cũng đã đặt ra tuổi chịu TNHS, pháp luật thời kỳ này quy định NCTN là người chưa đủ 18 tuổi, tuổi chịu TNHS là từ 14 tuổi Tuy nhiên, các quy định về xóa án tích đối với chủ thể là người dưới 18 tuổi chưa được đặt ra mà chỉ có những quy định chung chung như đã nêu ở trên Qua đó cho thấy pháp luật trong giai đoạn này chưa có những quy định đối xử đặc biệt hay có lợi hơn cho đối tượng là người dưới 18 tuổi

2.1.2 Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS năm 1985

BLHS năm 1985 ra đời trong hoàn cảnh nước nhà đã độc lập, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Yêu cầu đặt ra trong thời kì này là cần phải có BLHS hoàn chỉnh để giải quyết những quan hệ xã hội phát sinh, khắc phục những vấn đề vướng mắc đang gặp phải BLHS năm 1985 về cơ bản đã nêu lên và giải quyết một cách tương đối về các vấn đề liên quan đến tội phạm, hình phạt,…Và các quy định liên quan đến án tích và xóa án cũng lần đầu tiên được nêu lên trong luật tại khoản 5

Trang 39

Điều 3, từ Điều 52 đến Điều 56 và Điều 67 Sau khi BLHS năm 1985 có hiệu lực trên thực tế, để giúp cho các quy định về xóa án được áp dụng cụ thể hơn, trách những vướng mắc, bất cập thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác như: thông tư, nghị định, nghị quyết,…để hướng dẫn thi hành vấn đề này Cụ thể như: Thông tư số 02 ngày 01/8/1986 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ nội vụ về việc hướng dẫn thi hành chế định xóa án trong BLHS; Hướng dẫn bổ sung thay thế bằng Thông tư số

03 ngày 15/7/1979; tiếp theo đó ngày 05/07/1990 Tòa án nhân dân ban hành Công văn số 140/NCPL/1990, hướng dẫn về việc xóa án đối với người được hưởng án treo; Công văn số 02/NCPL ngày 28/4/1989 của TANDTC quy định về lệ phí xóa án

Mặc dù, đây chỉ mới là BLHS đầu tiên của nước ta, các quy định là khá mới nhưng đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khá đầy đủ và ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể

Điều 52 BLHS năm 1985 quy định: “Người bị kết án được xoá án theo quy

định ở các Điều từ 53 đến 56 Người được xoá án coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận” Do đó, khi người bị kết đáp ứng được các điều kiện theo quy

định của luật thì sẽ được đương nhiên xóa án, xóa án theo quyết định của Tòa án, cũng có thể được xóa án trong trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật này Ngoài ra, một trường hợp thể hiện chính sách ưu ái đặc biệt của nhà nước

ta dành cho chủ thể đặc biệt-quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 67 BLHS năm 1985

Trước đây, khi chưa ban hành BLHS năm 1985 các quy định liên quan đến người dưới 18 tuổi nói chung, vấn đề xóa án tích nói riêng thường chỉ được quy định trong các văn bản riêng lẽ, quy định một cách chung chung Với xứ mệnh là BLHS đầu tiên của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quy định về

xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đã lần đầu tiên được quy định thành một chương hoàn chỉnh (chương VII), trong đó đã quy định khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến

Trang 40

các nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội Từ quy định chung đó, vấn đề xóa án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng được quy định ở một điều luật riêng biệt, Điều 60 BLHS năm 1985 quy định:

“1 Người chưa thành niên phạm tội được áp dụng những biện pháp tư

pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa quy định ở khoản 1 Điều 60 thì không bị coi là có án

2- Thời hạn để xoá án đối với người chưa thành niên là một nửa thời hạn quy định ở các Điều từ 53 đến 55.”

Như vậy, quy định trên chỉ đề cập đến trường hợp được coi là không có án tích khi người dưới 18 tuổi chỉ bị áp dụng các biện pháp tư pháp và thời hạn xóa án tích đối với họ nhưng lại không đề cập đến hình thức xóa án tích là đương nhiên xóa

án tích hay xóa án tích theo quyết định của Tòa án Tuy nhiên cách quy định tại

khoản 2 này, thời hạn xóa án đối với NCTN là “một phần hai thời hạn quy định từ

Điều 53 đến 55”, nghĩa là thời hạn xóa án tích bao gồm cả thời hạn đương nhiên

xóa án, xóa án do Tòa án quyết định và xóa án trong trường hợp đặc biệt

Do đó người dưới 18 tuổi được đương nhiên xóa án khi thuộc một trong các trường hợp như: được miễn hình phạt, người được hưởng án treo, người bị kết án không phải về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc về tội phạm quy định ở Chương XII Phần các tội phạm Bộ luật này với hình phạt tù đến năm năm, những án không phải phạt tù như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ; xóa án do Tòa án quyết định khi thuộc trường hợp bị phạt tù đến năm năm về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, bị phạt tù trên năm năm không kể

về tội gì; và cũng có thể được xóa án trong trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 55

Như vậy, đối với người dưới 18 tuổi để được xóa án cần đáp ứng điều kiện

về nội dung và thời hạn như sau:

- Điều kiện về nội dung: từ khi chấp hành xong thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành

Ngày đăng: 26/04/2022, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Uông Chu Lưu (2001), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, tập 1, phần chung, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, tập 1, phần chung
Tác giả: Uông Chu Lưu
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
15. Đinh Văn Quế (2017), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 – Phần thứ nhất những quy định chung, Nxb. Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 – Phần thứ nhất những quy định chung
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb. Thông tin và truyền thông
Năm: 2017
17. Nguyễn Văn Thuyết (2018), Bình luận những điểm mới của BLHS (Hiện hành) (sửa đổi bổ sung năm 2017), Nxb. Quốc gia Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận những điểm mới của BLHS (Hiện hành) (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Tác giả: Nguyễn Văn Thuyết
Nhà XB: Nxb. Quốc gia Sự Thật
Năm: 2018
18. Nguyễn Cao Cường (2015), Xóa án tích theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa án tích theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Nguyễn Cao Cường
Năm: 2015
19. Phạm Thị Dịu (2018), Xóa án tích theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa án tích theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định
Tác giả: Phạm Thị Dịu
Năm: 2018
20. Trịnh Thị Hạnh (2019), Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ, khoa Luật đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015
Tác giả: Trịnh Thị Hạnh
Năm: 2019
21. Nguyễn Quang Long (2020), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Long
Năm: 2020
22. Võ Thị Thắm (2003), Án tích-Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.4/ Các báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án tích-Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Võ Thị Thắm
Năm: 2003
23. Lê Cảm (2005), Chế định án tích và mô hình lý luận của nó trong Luật Hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (02), tr. 57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định án tích và mô hình lý luận của nó trong Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2005
24. Đỗ Văn Chỉnh (2018), Xóa án tích trong Bộ luật hình sự năm 2015 và những sửa đổi, bổ sung, Tạp chí toàn án nhân dân (16), tr. 45-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa án tích trong Bộ luật hình sự năm 2015 và những sửa đổi, bổ sung
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Năm: 2018
25. Đỗ Văn Chỉnh (2009), Xóa án tích với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, Tạp chí Tòa án nhân dân (02), tr. 25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa án tích với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Năm: 2009
26. Nguyễn Văn Đổng (2017), Thực hiện Luật lý lịch tư pháp và vấn đề xóa án tích bất cập và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân (23), tr. 32- 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Luật lý lịch tư pháp và vấn đề xóa án tích bất cập và kiến nghị hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Văn Đổng
Năm: 2017
27. Phạm Hồng Hải (2001), Một vài ý kiến về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân (04), tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2001
28. Phan Thị Phương Hiền (2017), Hoàn thiện các quy định về xóa án tích đối với người bị kết án trong Bộ luật hình sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (01), tr. 33-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định về xóa án tích đối với người bị kết án trong Bộ luật hình sự năm 2015
Tác giả: Phan Thị Phương Hiền
Năm: 2017
29. Phan Thị Phương Hiền (2017), Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật hình sự năm 2015, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (01), tr. 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật hình sự năm 2015
Tác giả: Phan Thị Phương Hiền
Năm: 2017
30. Lê Tiến Hoàng, Trịnh Duy Thuyên (2020), Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tạp chí dân chủ và pháp luật (08), tr. 60-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Lê Tiến Hoàng, Trịnh Duy Thuyên
Năm: 2020
31. Đỗ Thị Thúy Lan (2016), Lý lịch tư pháp về vấn đề xóa án tích, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (12), tr. 7-11, 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch tư pháp về vấn đề xóa án tích
Tác giả: Đỗ Thị Thúy Lan
Năm: 2016
32. Đỗ Thúy Lan (2020), Xác minh điều kiện đương nhiên xóa án tích để cấp phiếu lý lịch tư pháp – những vướng mắt từ thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 10, tr. 16-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác minh điều kiện đương nhiên xóa án tích để cấp phiếu lý lịch tư pháp – những vướng mắt từ thực tiễn
Tác giả: Đỗ Thúy Lan
Năm: 2020
33. Nguyễn Quang Long (2018), Quy định về án tích trong pháp luật Hình sự một số nước trên thế giới và việc tiếp nhận vào Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát (09), tr. 50-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về án tích trong pháp luật Hình sự một số nước trên thế giới và việc tiếp nhận vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Long
Năm: 2018
34. Nguyễn Thị Minh Phương (2020), Xóa bỏ thông tin trong Lý lịch tư pháp- Quy định của pháp luật và một số đề xuất, kiến nghị, Tạp chí Nghề luật (07), tr. 36-39, 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa bỏ thông tin trong Lý lịch tư pháp-Quy định của pháp luật và một số đề xuất, kiến nghị
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Phương
Năm: 2020

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1 BLHS Bộ luật Hình sự - Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015
1 BLHS Bộ luật Hình sự (Trang 7)
2 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự - Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015
2 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự (Trang 7)
Bảng 3.1. Bảng thống kê số vụ án, số bị cáo và số bị cáo tái phạm, tái phạm nguy hiểm là ngƣời dƣới 18 tuổi đã bị xét xử trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2014 đến - Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015
Bảng 3.1. Bảng thống kê số vụ án, số bị cáo và số bị cáo tái phạm, tái phạm nguy hiểm là ngƣời dƣới 18 tuổi đã bị xét xử trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2014 đến (Trang 61)
Nhìn vào Bảng 3.2 cho thấy trong 4 năm từ năm 2014 đến năm 2017 có tổng số  439  ngƣời  đƣợc  Tòa  án  cấp  giấy  chứng  nhận  xóa  án  tích,  năm  2014  có  143  ngƣời,  năm  2015  có  118  ngƣời,  năm  2016  có  99  ngƣời,  năm  2017  có  78  ngƣời - Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015
h ìn vào Bảng 3.2 cho thấy trong 4 năm từ năm 2014 đến năm 2017 có tổng số 439 ngƣời đƣợc Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích, năm 2014 có 143 ngƣời, năm 2015 có 118 ngƣời, năm 2016 có 99 ngƣời, năm 2017 có 78 ngƣời (Trang 62)
Bảng 3.2. Bảng thống kê tổng số ngƣời dƣới 18 tuổi bị kết án đƣợc Toà án cấp giấy chứng nhận xoá án tích và quyết định xóa án tích trong giai đoạn 5 năm (từ - Xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015
Bảng 3.2. Bảng thống kê tổng số ngƣời dƣới 18 tuổi bị kết án đƣợc Toà án cấp giấy chứng nhận xoá án tích và quyết định xóa án tích trong giai đoạn 5 năm (từ (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w