1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

104 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở phạm vi trong nước, giáo trình, sách chuyên khảo, tạp chí của một số họcgiả có uy tín như: Nguyễn Mạnh Hùng - Phan Nguyễn Phương Thảo - Mai Thị Lâm - Trần Thị Thu Hà 2013 - Quyền dân s

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trường Đại học Luật Tp Hồ ChíMinh đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tạitrường Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô Phan Nguyễn PhươngThảo - Giảng viên Khoa Luật Hành Chính – Nhà nước đã tận tình giúp đỡ, hướngdẫn cho em cách làm đề cương, thu thập tài liệu cũng như cách trình bày, bố cục vàngôn ngữ sử dụng trong khóa luận, từ đó tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luậnnày.

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu bằng nỗ lực bản thân em dưới

sự hướng dẫn của cô Phan Nguyễn Phương Thảo Các số liệu, thông tin trong khóaluận được sử dụng trung thực, trích dẫn nguồn rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa,phát triển từ các tạp chí khoa học, công trình nghiên cứu đã được công bố Em xinhoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Trang 5

Chữ viết tắt Tên đầy đủ

người, 1948 (Universal Decleration

of Human Rights)ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân

sự, chính trị, 1966 (InternationalConvenant on Civil and PoliticalRights)

quốc tế về quyền dân sự, chính trịnăm 1966

năm 2012Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ

sung năm 2001)Hiến pháp năm 2013 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ

sung năm 2013)

gia (National Human RightsInstitution)

Trang 6

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN DÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA VIỆT NAM 6

1.1 Một số vấn đề lý luận về quyền dân sự của công dân 6

1.1.1 Khái niệm quyền dân sự của công dân 6

1.1.2 Đặc điểm quyền dân sự của công dân 9

1.2 Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền dân sự của công dân 12

1.2.1 Khái niệm về bảo đảm quyền dân sự của công dân 12

1.2.2 Các biện pháp bảo đảm quyền dân sự của công dân 13

1.3 Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự trong các văn kiện pháp lý quốc tế 22 1.3.1 Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945 22

1.3.2 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) 23

1.3.3 Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) 26

1.3.4 Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012 (AHRD) 29

1.4 Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam 31

1.4.1 Hiến pháp năm 1946 31

1.4.2 Hiến pháp năm 1959 35

1.4.3 Hiến pháp năm 1980 38

1.4.4 Hiến pháp năm 1992 42

1.4.5 Hiến pháp năm 2013 45

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN DÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 51

2.1 Thực trạng bảo đảm thực hiện các quyền dân sự của công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 51

2.1.1 Thực trạng bảo đảm các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội trong việc thực hiện các quyền dân sự công dân 52

Trang 7

quyền dân sự của công dân 552.2 Một số kiến nghị 79

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là giá trị mang tính phổ quát của toàn thể nhân loại, là kếtquả của quá trình đấu tranh gian nan của các dân tộc, nhân dân trên toàn thế giới

Kể từ khi Hiến Chương Liên Hợp Quốc ra đời, quyền con người trở thành vấn đềthu hút sự quan tâm rộng rãi và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến dư luận trải dài trên cácquan hệ chính trị, dân sự và xã hội, ngay cả khi ở cấp độ quốc gia lẫn trong khu vực

và toàn thế giới Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới có thể đứng ngoài

sự tác động của các vấn đề, các cơ chế quốc tế về quyền con người Vấn đề đấutranh bảo vệ nhân quyền trong thời điểm hiện nay được quan tâm hơn bao giờ hết,con người dần đã quan tâm hơn về quyền lợi của mình Quyền con người là giá trịcao quý, thành quả đấu tranh chung, kết tinh của nền văn minh nhân loại Ở ViệtNam, việc bảo vệ và thúc đẩy sự hưởng thụ quyền con người của toàn thể nhân dân

là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay Trong những nămqua, cùng với những nỗ lực trong việc hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật quốcgia về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trươngđẩy mạnh việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền, đặc biệt việc tham giathực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người Cho đến nay, Việt Nam đã làthành viên của 7/9 Công ước cơ bản của Liên Hợp quốc và nhiều điều ước quốc tếkhác về quyền con người Mặc dù điều kiện về phát triển kinh tế của Việt Nam cònhạn chế so với nhiều nước trên thế giới nhưng Việt Nam đã tích cực tham gia cácđiều ước quốc tế về nhân quyền thể hiện quyết tâm, nỗ lực của nước ta trong việcbảo đảm các chuẩn mực chung về quyền con người Một trong những nguyên tắcnền tảng được tiếp tục kế thừa và ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 là bảo đảmquyền con người, quyền công Nguyên tắc này còn đặt ra trách nhiệm đối với Nhànước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyềncông dân trước nguy cơ các nhà chức trách lạm dụng quyền lực nhà nước để cắt xénchúng một cách tùy tiện Theo Karel Vasak, quyền dân sự thuộc thế hệ nhân quyềnthứ nhất của quyền con người, tầm quan trọng của quyền dân sự không những đượcđặt trên quyền kinh tế, xã hội (thế hệ quyền thứ hai) mà còn cả quyền chính trị(cùng thuộc thế hệ nhân quyền thứ nhất) Do đó, Nhà nước cần bảo đảm cho côngdân có thể thực hiện tốt các quyền hiến định trong lĩnh vực dân sự của mình trênthực tế Với sự ảnh hưởng của nhóm quyền dân sự đến đời sống cộng đồng, ta cóthể đánh giá mức độ dân chủ, trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát huy vị trí,vai trò của công dân đối với quyền lực nhà nước Việc bảo đảm thực hiện tốt cácquyền dân sự trong giai đoạn hiện nay ngày càng cần thiết Với trình độ nhận thức

Trang 9

ngày càng được nâng cao, con người nhận thức rõ những yêu cầu, đòi hỏi ngày càngthiết thực hơn về điều kiện bảo đảm thực thi quyền dân sự của mình vào đời sốngthực tế Trước những biến đổi ngày càng phức tạp trong khu vực và trên thế giới,cùng với nguyên tắc và mục tiêu đề ra trong tiến trình xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân càngphải được nghiên cứu một cách thận trọng Nhà nước phải tạo điều kiện làm sao đểquyền dân sự vừa có cơ sở để hiện thực hóa trên thực tế vừa phải phù hợp vớinhững điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong nước Đồng thời, Nhà nước phải cócách thức quản lý phù hợp, tránh việc lạm dụng, gây cản trở công dân thụ hưởngquyền của mình Vì vậy, nhu cầu bảo đảm thực hiện quyền dân sự hiện nay là thật

sự cần thiết

Ở nước ta hiện nay, cách thức tiếp cận, quy định, cụ thể hóa, thực thi và bảo

vệ các quyền dân sự của công dân còn tồn tại khá nhiều bất cập Mặc dù đã có nhiềucông trình nghiên cứu liên quan nhưng các công trình này chỉ nghiên cứu các quyềncon người, quyền công dân nói chung hoặc đi sâu vào một quyền cụ thể, chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về các vấn đề bảo đảmthực hiện quyền dân sự của công dân.Vì những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn:

“Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của mình

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Hiện nay, các đề tài liên quan đến quyền dân sự của công dân đã được nhiềutác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau

Ở phạm vi ngoài nước, các tác phẩm nghiên cứu cụ thể là GudmundurAlfredsson & Asbjorn Eide (2010) , Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948

- Mục tiêu chung của nhân loại, NXB Lao động - Xã hội; Jane McAdam (2011),

“An Intellectual History of Freedom of Movement in International Law: The Right

to Leave as a Personal Liberty”, 12 Melbourne Journal of International Law

Ở phạm vi trong nước, giáo trình, sách chuyên khảo, tạp chí của một số họcgiả có uy tín như: Nguyễn Mạnh Hùng - Phan Nguyễn Phương Thảo - Mai Thị Lâm

- Trần Thị Thu Hà (2013) - Quyền dân sự của công dân trong Hiến pháp: lý luận vàthực tiễn; Vũ Văn Nhiêm (2011) - Quyền dân sự của công dân trong lịch sử lập hiếnViệt Nam - Quá trình phát triển và phương hướng đổi mới ; Nguyễn Thị ThanhNga (2020) - Về bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam hiện nay, Tạp chíQuản lý Nhà nước, số 299; Ngô Hữu Phước (2011) - Quyền dân sự, chính trị trongCông ước của Liên hợp quốc năm 1966 và vấn đề nội luật hóa các quyền dân sự,chính trị vào pháp luật Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Khoa Luật Quốc tế; Ngoài ra, ở

Trang 10

phạm vi khóa luận tốt nghiệp của cử nhân như: Nguyễn Phương Nhung (2012) Quyền tự do đi lại và cư trú trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; NguyễnThị Minh Ngân (2017) - Bảo đảm các quyền dân sự trong Hiến pháp Việt Nam;Huỳnh Minh Quân (2017) - Quyền tự do ngôn luận trong lĩnh vực báo chí ở ViệtNam.

-Các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu về quyền dân sự nói chung hoặc chỉnghiên cứu một quyền cụ thể trong số các quyền dân sự hoặc nghiên cứu về bảođảm cả quyền con người và quyền công dân Hiện nay, có thể thấy chưa có một đềtài nào nghiên cứu về vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân về mặtpháp lý và thực tiễn một cách có hệ thống và toàn diện Chính vì vậy, tác giả lựachọn đề tài nghiên cứu “Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt các mục đích sau đây:

Thứ nhất, làm rõ các vấn đề mang tính lý luận về quyền dân sự của công dânnhư: khái niệm, đặc điểm quyền dân sự, khái niệm và các bảo đảm quyền dân sựcủa công dân

Thứ hai, khái quát vấn đề bảo đảm quyền dân sự trong các văn kiện pháp lýquốc tế và vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân Việt Nam trongcác bản Hiến pháp của Việt Nam

Thứ ba, đánh giá thực trạng bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân ởnước ta hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm góp phần hoàn thiệnhơn vấn đề bảo đảm thực hiện các quyền dân sự của công dân

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài “Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” được nghiên cứu dưới khía cạnh khác nhau nhưbảo đảm về mặt pháp lý, bảo đảm về mặt kinh tế, bảo đảm về mặt văn hóa - xã hội.Trong đó, tác giả tập trung phân tích các bảo đảm về mặt pháp lý trong quá trìnhbảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân, bởi bảo đảm pháp lý giữ vai tròquan trọng nhất, trực tiếp chi phối tính hiện thực của quyền công dân trong các hoàncảnh kinh tế, chính trị, xã hội nhất định Ngoài ra, với mục đích làm rõ các vấn đềliên quan đến quyền dân sự của công dân, tác giả nghiên cứu việc ghi nhận cácquyền dân sự trong những văn kiện chính trị, pháp lý quốc tế cơ bản như: Tuyênngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự,chính trị năm 1966, Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012 và các quy định vềquyền dân sự của công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam cũng như trong các

Trang 11

văn bản pháp luật khác có liên quan Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự,chính trị 1966 cũng không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê một loạt các quyền tự do

cơ bản của con người trên cả hai lĩnh vực dân sự và chính trị Do đó, trong khoa họcpháp lý việc phân định các nhóm quyền này còn nhiều quan điểm khác nhau Vì vậy,trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu quyền dân sựthuộc về công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 như sau: Quyền khôngthể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Điều 17); Quyền tự do đi lại và cư trú

ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 23); Quyền

tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều25); Quyền bình đẳng nam nữ (Điều 26) và Quyền xác định dân tộc của mình (Điều42)

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về một khung pháp lý bảo đảmkhả năng thực hiện quyền dân sự của công dân, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của công dân trong quá trình thực thi quyền dân sự

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là:

- Phương pháp liệt kê, so sánh, phân tích, chứng minh được sử dụng tạiChương 1 nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và pháp lý về những khái niệm về quyềncông dân, quyền dân sự, quyền dân sự của công dân, bảo đảm thực hiện quyền dân

sự của công dân

- Phương pháp giải thích Hiến pháp, luật, liệt kê, phân tích, tổng hợp tạiChương 2 nhằm mục đích đánh giá thực trạng thực hiện quyền dân sự của công dân,

đề ra kiến nghị về mặt pháp lý cũng như thực tiễn về việc bảo đảm thực hiện quyềndân sự của công dân

Ngoài ra, để phục vụ cho đề tài của mình, tác giả còn tham khảo thêm nhiềuquy định về quyền dân sự của một số nước như: Hoa Kỳ, Pháp, Malaysia nhằmđưa ra kiến nghị để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đây là đề tài không những có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa cơ sở lý luận

về vấn đề bảo đảm quyền dân sự của công dân mà còn có ý nghĩa trong việc tìm ranhững bất cập về vấn đề này ở nước ta Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổsung vào kiến thức lý luận về vấn đề bảo đảm quyền dân sự của công dân trong việcxây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Đề tài là tài liệu tham khảo hữu íchtrong việc nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người, quyền công dân, về nhànước pháp quyền, về xã hội dân sự Với những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy

Trang 12

định pháp luật hiện hành về vấn đề này, tác giả mong rằng sẽ khơi gợi những ýtưởng nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành.

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN DÂN SỰ CỦA CÔNG DÂN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về quyền dân sự của công dân

1.1.1 Khái niệm quyền dân sự của công dân

Theo định nghĩa của Cao ủy Liên Hợp Quốc về nhân quyền (United Nations

High Commissioner for Human Rights - UNHCHR) thì “quyền con người là những

bảo đảm về mặt pháp lý trên toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những

sự được phép và tự do cơ bản của con người” Bên cạnh đó, quyền con người còn

được định nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người

mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người 1

Điều 17 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Công dân nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” nên khái niệm công dân gắn

liền với khái niệm quốc tịch Theo nghĩa, quốc tịch là mối liên hệ giữa một cá nhânvới một Nhà nước nhất định, nếu là công dân của một Nhà nước thì được hưởng cácquyền và phải thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật của Nhà nước đó quy định,những người không phải là công dân của Nhà nước đó thì quyền lợi và nghĩa vụđương nhiên sẽ bị hạn chế Quyền công dân được coi là quyền cơ bản mà Hiến phápcủa mỗi nước quy định cho người mang quốc tịch nước mình và tùy thuộc vào chế

độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội mà phạm vi cũng như mức độ quyền công dânrộng hẹp khác nhau Có thể thấy, quyền con người có nội dung thống nhất cho toànnhân loại và được ghi nhận trên toàn thế giới còn quyền công dân bị giới hạn bởiyếu tố quốc gia, vùng lãnh thổ

Quyền con người và quyền công dân là những nội dung quan trọng của Hiếnpháp Về nội hàm, quyền con người có nội hàm rộng hơn so với quyền công dân.Quyền con người thể hiện mối quan hệ cá nhân – cộng đồng nhân loại Trong khi

đó, quyền công dân có nội hàm hẹp hơn, là những quyền con người được Nhà nướcthừa nhận và áp dụng cho người có quốc tịch của nước mình Về tính chất, quyềncon người là tự nhiên, vốn có, thể hiện địa vị của cá nhân với tư cách là công dâncủa một quốc gia với cộng đồng nhân loại Quyền công dân được xác định bằngpháp luật của Nhà nước, thể hiện vị thế là một công dân với quốc gia mà mìnhmang quốc tịch Về phạm vi áp dụng, quyền con người được áp dụng trên phạm vi

1Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,

tr.21.

Trang 14

toàn cầu mà không bị thay đổi theo hoàn cảnh, thời gian Đối với quyền công dânchỉ được áp dụng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và có sự khác nhau về cơ chế ápdụng giữa các quốc gia Về cơ chế bảo vệ, quyền con người được bảo vệ thông quacác diễn đàn, qua cơ chế điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về vi phạm nhânquyền của các cơ quan như Liên Hợp quốc, các tổ chức liên chính phủ khu vực.Quyền công dân được bảo vệ thông qua cơ chế tài phán và Tòa án ở mỗi quốc gia.Quyền con người và quyền công dân tuy không đồng nhất với nhau nhưng rất gầngũi với nhau cả về mặt khái niệm lẫn tính chất, đặc điểm Theo nghĩa rộng, cả thuậtngữ “quyền con người” và “quyền công dân” đều là những phạm trù triết học dùng

để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với cộng đồng nhân loại (quyền conngười) và với quốc gia nơi mà người đó có quốc tịch (quyền công dân) Quyền conngười và quyền công dân đều xoay quanh một chủ thể chung, đó là con người, vàmột chủ thể chung khác là cộng đồng nhân loại, trong đó thể chế chính trị - pháp lýtrung tâm của nó là Nhà nước Thêm vào đó, quyền con người và quyền công dân,

về bản chất, đều là những gì mà một cá nhân con người được phép làm và đượcthừa nhận, tôn trọng, bảo vệ bởi các chủ thể khác Các quyền con người, quyềncông dân được các nước trên thế giới pháp điển hóa vào Hiến pháp theo những cáchthức nhất định Viễn cảnh về quyền con người có thể được nhìn nhận qua lăng kínhcủa quyền công dân và ngược lại Sự tương đồng kể trên khiến cho những nỗ lựcthúc đẩy và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trở lên khăng khít, không thểtách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tương đối khácnhau

“Dân sự” là dùng để chỉ các việc có liên quan đến dân nói chung, thuộc vềquan hệ pháp lý về tài sản, nhân thân hoặc hôn nhân gia đình2 Về mặt pháp lý, dân

sự được coi là một nhánh pháp luật quy định các vấn đề liên quan đến cá nhân, phápnhân như địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ tài sản Theo tác giả Dương Đăng Huệ:lĩnh vực dân sự là lĩnh vực hoạt động rộng rãi, phong phú của con người, được đặctrưng bởi tính tự do, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa các chủ thểtham gia quan hệ xã hội đó3

Năm 1977, Karel Vasak đưa ra ý tưởng về ba “thế hệ nhân quyền”(generations of human rights) nhằm phân tích lịch sử phát triển của quyền conngười Nhóm nhân quyền thế hệ thứ nhất là các quyền dân sự, chính trị Nhóm nhânquyền thế hệ thứ hai là các quyền con người trong lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn

2Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2021), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa, tr 277

3 https://htpldn.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1839&l=Nghiencuutraodoi, (truy cập ngày

1/6/2021).

Trang 15

hóa Nhóm nhân quyền thế hệ thứ ba là các quyền tập thể Trong thế hệ thứ nhất,quyền dân sự gắn liền với phạm trù tự do cá nhân Các quyền dân sự, chính trị đượcchính thức pháp điển hóa trong luật pháp quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần

II, đặc biệt là Liên Hợp quốc thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền conngười 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 Với vaitrò quan trọng của các quyền dân sự mà Luật pháp quốc tế về quyền con người cũngnhư Hiến pháp của hầu hết các nước đều đặt các quyền dân sự lên hàng đầu, khôngchỉ đặt trước các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (vốn thuộc thế hệ thứ 2 của quyềncon người) mà còn đặt trước các quyền chính trị vốn cùng thế hệ thứ nhất với quyềndân sự Nhóm quyền này mang đậm chủ nghĩa cá nhân và được xây dựng để bảo vệ

cá nhân khỏi sự xâm hại của nhà nước Nhóm quyền dân sự – chính trị được hợppháp hóa và có vị thế nhất định trong luật pháp quốc tế được thông qua từ Điều 3tới Điều 21 của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người và Công ước quốc tế vềcác quyền dân sự và chính trị năm 1966 Bên cạnh đó, văn bản pháp lý có tính khuvực quan trọng là Công ước châu Âu về bảo vệ các quyền con người và tự do cơbản (ECHR)

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) khôngđưa ra khái niệm, mà chỉ liệt kê các quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnhvực dân sự Theo đó, quyền dân sự có thể hiểu là khả năng được phép xử sự theomột cách nhất định của chủ thể trong quan hệ dân sự để thực hiện và bảo vệ lợi íchcủa mình Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định ở Việt Namchưa đưa ra khái niệm quyền dân sự Có thể định nghĩa quyền dân sự là khả năngđược phép xử sự theo một cách nhất định của chủ thể trong quan hệ dân sự, phátsinh trong lĩnh vực dân sự để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình

Quyền dân sự được hiểu là những quyền cá nhân, gắn chặt với nhân thân củamỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao chongười khác (quyền sống, quyền tự do đi lại, cư trú )4

Theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng thì quyền dân sự là “quyền dân sự bao

gồm một lớp các quyền nhằm bảo vệ tự do cá nhân từ hành động không có cơ sở của Nhà nước mà không bị phân biệt đối xử Quyền dân sự bao gồm việc bảo đảm toàn vẹn về thể chất hoặc tâm thần, giới tính, tôn giáo, chủng tộc, nguồn gốc quốc gia, tuổi tác, định hướng tình dục hoặc giới tính và quyền tự do của tư tưởng và lương tâm, ngôn luận, tôn giáo, báo chí và chuyển động Quyền dân sự tạo ra cho

cá nhân một không gian sinh tồn trong cuộc sống đời thường chống lại sự can thiệp

4 Tường Duy Kiên - Nguyễn Thanh Tuấn (2018) “Bảy mươi năm “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”

– Giá trị thời đại và ý nghĩa đối với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, tr.28.

Trang 16

vô căn cứ của Nhà nước Các quyền dân sự gắn liền với phạm trù tự do cá nhân một phạm trù ở góc độ nhất định, mang tính đối trọng với phạm trù quyền lực Nhà nước” 5

-Theo tác giả Nguyễn Hồng Anh (Viện nghiên cứu con người) thì quyền dân

sự là kết quả của nền dân chủ phương Tây Đó là tự do của con người, bao gồm các quyền tự do được làm và tự do thoát khỏi Quyền tự do được làm bao gồm tự do đi lại, tự do cư trú…Quyền tự do thoát khỏi gồm các quyền liên quan như không ai có thể bị bắt hay giam giữ vô cớ, không ai có thể là nạn nhân của sự tra tấn, trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục 6 Như vậy, tác giả Nguyễn Hồng

Anh chỉ đưa ra đặc điểm của quyền dân sự là tự do của con người mà chưa làm rõmục đích của quyền dân sự là giới hạn, ngăn chặn sự tùy tiện và lạm quyền từ phíaNhà nước xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân

Từ những phân tích quyền dân sự và quyền công dân, mặc dù có nhiều quanđiểm khác nhau nhưng theo tác giả có thể đưa ra khái niệm về quyền dân sự của

công dân là các quyền cơ bản trong đời sống dân sự được ghi nhận trong Hiến

pháp, nhằm bảo vệ tự do của công dân từ những hành động không có cơ sở của Nhà nước mà không bị phân biệt đối xử, những quyền này chỉ áp dụng cho công dân của Nhà nước nhất định, không bao gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài và

cá nhân không quốc tịch.

1.1.2 Đặc điểm quyền dân sự của công dân

Để nhận biết rõ hơn về quyền dân sự của công dân và phân biệt quyền dân sựvới các quyền khác như quyền chính trị, quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của côngdân thì phân biệt vào các đặc điểm sau:

Có nguồn gốc từ quyền con người nên quyền dân sự của công dân cũngkhông thể phân chia và không thể chuyển nhượng Một cá nhân cụ thể không thểchỉ có quyền này mà không có quyền kia và ngược lại, cá nhân cần phải có tất cảcác loại quyền mới đảm bảo và đáp ứng cho nhu cầu tồn tại, phát triển của mình,không thể bóc tách đem mua bán, trao đổi cho bất kỳ ai cũng không thể chuyểnnhượng từ người này sang người kia7 Việc ghi nhận quyền dân sự vào trong phápluật không chỉ là cách thức bảo vệ quyền khỏi sự xâm phạm của các chủ thể bằngviệc đề ra những giới hạn cần thiết mà đó còn là sự đề cao quyền dân sự nói riêng

và quyền con người nói chung, khẳng định sự tôn trọng và quan tâm của chủ thể

5Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên) (2013), Quyền dân sự của công dân trong Hiến pháp: Lý luận và thực tiễn,

Báo cáo tổng kết Đề tài khoa học và công nghệ cấp trường, Tp Hồ Chí Minh, tr 16 - 17.

6 Nguyễn Hồng Anh (2008), “Bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự, chính trị vì mục tiêu phát triển con người”,

Tạp chí Nghiên cứu con người, (số 6), tr.10.

7Vũ Văn Nhiêm (2011), “Quyền dân sự của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam - Quá trình phát triển

và phương hướng đổi mới” Đề tài nghiên cứu khoa học, Tp Hồ Chí Minh, tr.15 - 18.

Trang 17

mang quyền lực nhà nước với việc bảo vệ quyền con người, quyền dân sự Về tínhphổ biến, quyền dân sự là những quyền tự nhiên vốn có, con người sinh ra đã mặcnhiên được hưởng nên tất cả các cá nhân đều có quyền dân sự Tất cả mọi ngườiđều được hưởng quyền như nhau trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống

xã hội, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi cá nhân xâm phạm đến quyềncon người, quyền công dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật Quyền dân sựcủa công dân luôn được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm8 Bêncạnh đó, quyền dân sự của công dân có đặc điểm riêng, cụ thể:

Thứ nhất, tính cá nhân, quyền dân sự của công dân là loại quyền trong lĩnhvực đời tư của cá nhân, gắn với tự do cá nhân, mục đích của quyền dân sự về cơ bản

là để giới hạn, ngăn chặn sự tùy tiện và lạm quyền từ phía Nhà nước xâm hại đến tự

do cá nhân Tính cá nhân gắn với mỗi con người, mang tính tự nhiên, liên quan mậtthiết đến con người, bất khả xâm phạm, không chia cắt, liên quan với nhau và phụthuộc lẫn nhau Vì vậy, việc ghi nhận và bảo vệ quyền dân sự góp phần tránh sự viphạm quyền tự do cá nhân của Nhà nước, tránh sự tùy tiện từ phía Nhà nước

Thứ hai, gắn với nhân thân của cá nhân và xuất hiện sớm, là thế hệ quyền thứ

nhất của con người Ra đời từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 (thế hệ quyềnthứ hai ra đời từ cuộc Cách mạng tháng Mười Nga 1917 và thế hệ quyền thứ ba củacon người ra đời công cuộc giải phóng dân tộc của các quốc gia thuộc địa), quyềndân sự cùng với quyền chính trị đã sớm được chú ý, được coi trọng và là mục tiêuhướng tới, là đòi hỏi trước tiên trong cuộc đấu tranh giải phóng con người nóichung Quyền dân sự là loại quyền gắn với nhân thân của cá nhân, vì thế có đặctrưng là không bị tước đoạt hay chuyển nhượng, thực hiện ít tốn kém, ít bị phụthuộc vào trình độ phát triển của quốc gia Trong khi đó, việc thực hiện các quyềnkinh tế, xã hội (như quyền được khám chữa bệnh miễn phí, quyền có việc làm, cónhà ở) lại đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế nhất định, không phụ thuộc vào ý chíchủ quan của các nhà lập hiến Các bản Hiến pháp trước đây của Việt Nam quyđịnh các quyền kinh tế, xã hội mang ít nhiều tính hình thức, khó thực hiện đượctrong thực tế do không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội tại thời điểm đó Cụ thểtrong Hiến pháp năm 1980 tại các Điều 58 đến Điều 61 quy định cho công dânquyền có nhà ở, có việc làm, quyền học tập, quyền khám chữa bệnh Chính vì vậy,

do điều kiện kinh tế khác nhau, mức độ hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội ở cácnước cũng khác nhau

8Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên) (2013), Quyền dân sự của công dân trong Hiến pháp: Lý luận và thực tiễn,

Báo cáo tổng kết Đề tài khoa học và công nghệ cấp trường, Tp Hồ Chí Minh, tr 19-21.

Trang 18

Thứ ba, mang tính thụ động, so với các nhóm quyền ở nhóm khác (quyềnkinh tế - văn hóa - xã hội mang tính chủ động) thì nhóm quyền dân sự nói chung vàquyền dân sự của công dân nói riêng là loại quyền mang tính thụ động Tính thụđộng ở đây được hiểu là một cá nhân không bằng hành động cũng thực hiện đượcquyền, cá nhân tự bản thân mình cũng có thể quyết định cách thức hưởng thụ quyền

mà không cần có sự tham gia, can thiệp hay tác động từ phía chủ thể khác, đặc biệt

là sự tác động, tham gia từ phía cơ quan nhà nước dù dưới hình thức trực tiếp haygián tiếp mới có thể thực hiện được quyền Đây là đặc thù của nhóm quyền dân sự,chính trị giúp phân biệt với nhóm quyền kinh tế - văn hóa - xã hội Ở nhóm quyềnkinh tế - văn hóa - xã hội, cá nhân muốn hưởng thụ quyền một cách hữu hiệu thìkhông thể tự mình thực hiện mà không có sự can thiệp, tác động từ phía cơ quannhà nước có thẩm quyền Ví dụ quyền được học hành chỉ có thể được thực hiệnthông qua sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc hưởng thụ quyền như: cơquan nhà nước phải xây dựng trường học, cơ sở vật chất thiết bị giảng dạy, cungcấp giáo viên, chương trình giáo dục…để cá nhân có thể thực hiện được việc họchành hay quyền được chăm sóc y tế cá nhân chỉ có thể hưởng thụ được khi có sựtham gia, can thiệp của Nhà nước tác động vào việc thực hiện quyền như xây dựngcác cơ sở khám chữa bệnh, trang thiết bị y tế Đối với các quyền dân sự thì khôngcần có sự can thiệp của Nhà nước bất kể dưới hình thức trực hoặc giáp tiếp, cá nhâncũng có thể hưởng quyền một cách tốt nhất Thậm chí, kể cả khi có yêu cầu củaquyền cũng là hạn chế đến mức thấp nhất khả năng can thiệp của cơ quan nhà nướcbởi, sự tác động của Nhà nước nếu có thì cũng chỉ nhằm tạo điều kiện cho cá nhânhưởng thụ quyền một cách hiệu quả nhất hoặc là để hướng dẫn hay vạch định ranhgiới của sự tự do nhằm giới hạn việc hưởng thụ quyền dân sự của cá nhân nàykhông làm ảnh hưởng đến khả năng hưởng thụ quyền của cá nhân khác hay ảnhhưởng đến trật tự xã hội, lợi ích công cộng nói chung Ví dụ để quyền tự do hội họp,lập hội thì cá nhân có thể tự mình lập các hội phục vụ cho nhu cầu, mục đích riêngcủa cá nhân mà cơ quan nhà nước không cần có sự can thiệp nào, tuy nhiên để đảmbảo quyền tự do hội họp của cá nhân không ảnh hưởng đến trật tự xã hội nói chungtrật tự quản lý nhà nước nói riêng thì Nhà nước ban hành ra các chính sách phápluật hướng dẫn cá nhân thực hiện quyền này trong vòng trật tự, không có ý nghĩaquyết định đến việc cá nhân có hay không có thực hiện quyền khi không có sự canthiệp của Nhà nước9

9Vũ Văn Nhiêm (2011), “Quyền dân sự của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam - Quá trình phát triển

và phương hướng đổi mới”, Đề tài nghiên cứu khoa học, TP Hồ Chí Minh, tr.20-23.

Trang 19

1.2 Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền dân sự của công dân

1.2.1 Khái niệm về bảo đảm quyền dân sự của công dân

Cùng với việc quy định các quyền dân sự cho công dân, Nhà nước cần phải

có các biện pháp bảo đảm để công dân thực hiện quyền dân sự đó, vừa bảo đảmcông dân thực hiện trong khuôn khổ pháp luật vừa bảo đảm công dân có thể có đủđiều kiện để thực hiện quyền lợi của mình Việc bảo đảm thực hiện quyền dân sựcủa công dân luôn trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại nói chung và

là giá trị cơ bản mà mỗi Nhà nước hướng tới nói riêng “Bảo đảm” được hiểu là làmcho chắn chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết10.Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện

về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp lý để cá nhân, công dân, các tổ chức củacông dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được phápluật ghi nhận Từ góc nhìn luật học, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân ở nước ta, các bảođảm pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốt lõi, là sựthể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, tổ chức thành các chuẩnmực có tính bắt buộc mà Nhà nước, các cơ quan nhà nước và xã hội phải thực hiện

để bảo đảm các quyền con người, quyền công dân Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng,phong phú, trước hết là sự ghi nhận các quyền con người, quyền công dân, đến việctạo các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức, việc thiết lập cơ chế, bộ máychuyên trách bảo đảm các quyền con người, quyền công dân11

Theo tác giả Nguyễn Văn Động thì “bảo đảm là việc Nhà nước ghi nhận các

quy định của pháp luật trực tiếp liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ

cụ thể của công dân và trình tự, thủ tục thực hiện để thực hiện chúng trong lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”12 Như vậy, từ góc nhìn của tác giảNguyễn Văn Động chỉ nêu ra bảo đảm quyền dân sự của công dân về mặt pháp lý,

mà chưa nhắc đến vai trò của các biện pháp kinh tế, văn hóa, xã hội Theo tác giả

Nguyễn Thị Thanh Nga cho rằng: Bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân có

thể hiểu là việc chủ thể là Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội quần chúng, các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân tạo ra tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân thực hiện quyền dân sự đã được pháp luật ghi nhận

10Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2021), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa, tr 52.

11 Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương, “Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong

pháp luật hành chính Việt Nam” (Một số vấn đề có tính phương pháp luận, định hướng nghiên cứu), Tạp chí

Luật học, 28 (2012).

12Nguyễn Văn Động (2004), Các quyền hiến định về xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư

pháp, Hà Nội, tr 69.

Trang 20

trên thực tế 13 Các điều kiện, tiền đề ở đây chính là điều kiện, tiền đề về chính trị,

kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật…Các điều kiện này không chỉ phụ thuộc vào ýchí chủ quan của mỗi con người mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan cùngvới những phương tiện, phương thức quan trọng do Nhà nước và xã hội tạo ra Theo

đó, bảo đảm quyền dân sự bao hàm từ việc tiến hành xây dựng, ban hành chính sách,pháp luật đó trên thực tế Từ các quan điểm trên, có thể thấy rằng, bảo đảm thựchiện quyền dân sự của công dân là sự kết hợp giữa các biện pháp pháp lý, chính trị,kinh tế, văn hóa xã hội, sự giao thoa, phối hợp giữa các chủ thể trong xã hội Song,

vì Nhà nước là chủ thể chủ yếu nên biện pháp pháp lý có vai trò quan trọng nhất,trực tiếp nhất chi phối tính hiện thực của quyền con người, quyền công dân trongcác hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội nhất định

Các bảo đảm quyền dân sự của công dân bao gồm: Thứ nhất, các bảo đảmchung, những điều kiện, tiền đề về kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, văn hóa - xãhội để Nhà nước và công dân thực hiện các quyền cũng như nghĩa vụ theo quy địnhcủa pháp luật; Thứ hai, các bảo đảm riêng, là các biện pháp pháp lý cần thiết để Nhànước và công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của phápluật Trong các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật thì biện pháppháp luật có vai trò quan trọng nhất, trực tiếp chi phối tính hiện thực của quyền conngười, quyền công dân trong các hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội nhất định14.Việc bảo đảm tốt quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền dân sự củacông dân nói riêng sẽ giúp giảm thiểu, ngăn ngừa những mâu thuẫn trong xã hội;đồng thời củng cố tình đoàn kết, phát huy dân chủ và thúc đẩy sự phát triển bềnvững của mỗi quốc gia

Như vậy, bảo đảm quyền dân sự của công dân có thể được hiểu là việc cácchủ thể (Nhà nước, tổ chức, cá nhân) tạo ra các tiền đề, điều kiện cần thiết về chínhtrị, kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp lý và tổ chức để công dân thực hiện các quyềndân sự đã được pháp luật ghi nhận trên thực tế Trong đó, các bảo đảm pháp lý củaNhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốt lõi, là sựthể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, tổ chức

1.2.2 Các biện pháp bảo đảm quyền dân sự của công dân

Việt Nam luôn nhất quán quan điểm tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy

định “bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng,

13Nguyễn Thị Thanh Nga (2020),“Về bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí

quản lý nhà nước, số 299, tr 26.

14Hoàng Thị Kim Quế (2005), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB Đại học Quốc gia

Hà Nội, tr 252.

Trang 21

bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” Chủ thể trước tiên và chủ yếu bảo

đảm quyền dân sự của công dân là Nhà nước Nhà nước thực hiện các biện pháp vềthể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp và quản lý chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đểhiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền con người trong hoạt động củaNhà nước và các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp,đặc biệt trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhằm thừa nhận, tôntrọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trong thực tế

Thứ nhất, xây dựng một chế độ chính trị dân chủ Một chế độ chính trị phảndân chủ, chuyên chế thì ở đó các quyền con người, quyền công dân nói chung vàcác quyền dân sự của công dân nói riêng sẽ không được bảo đảm Ngược lại, mộtchế độ chính trị dân chủ, tiến bộ, ổn định tạo điều kiện để các quyền dân sự củacông dân được bảo đảm

Thứ hai, bảo đảm điều kiện kinh tế Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế,những điều kiện sinh hoạt vật chất mang tính quyết định đối với việc thực hiện và

mở rộng các quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền dân sự của côngdân nói riêng Cùng với sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật, công dân cóđiều kiện phát triển tự do và toàn diện, làm chủ bản thân mình và cộng đồng xã hội

Để hiện thực hóa quyền công dân, tăng trưởng kinh tế có thể coi là một phương tiệnquan trọng Đổi lại, quyền công dân cũng góp phần thúc đẩy và duy trì sự tăngtrưởng kinh tế bền vững, bởi lẽ quyền công dân giúp kiến tạo và duy trì sự quản lýtốt - yếu tố nền tảng cho sự phát triển kinh tế Quan trọng hơn, chỉ khi các quyềncon người, quyền công dân được bảo đảm mới giải phóng năng lực của mọi cá nhâncon người, tạo ra sức sống, sự phấn khởi trên mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực kinh

tế Xét ở bình diện chung, mối quan hệ tương tác giữa bảo vệ và thúc đẩy quyền conngười và sự tăng trưởng kinh tế là không thể phủ nhận, đó là sự thật hiển nhiên

Thứ ba, bảo đảm các điều kiện văn hóa - xã hội, quyền con người và quyềncông dân nói chung và quyền dân sự của công dân nói riêng được bảo đảm và thựchiện phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí của mỗi quốc gia Trong xã hội côngdân phải có trình độ văn hóa dân chủ, văn hóa chính trị - pháp lý thì công dân mới

tự giác đấu tranh và thực hiện các quyền của mình Đồng thời cũng trên cơ sở này,con người mới điều chỉnh được hành vi của mình theo pháp luật Điều đó phải tiếnhành cải cách nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục nhằm bồi dưỡng năng lựclàm chủ của công dân Giáo dục quyền công dân (còn gọi là citizen rights education)thường được hiểu là những hoạt động giảng dạy, tập huấn, đào tạo và phổ biến

Trang 22

thông tin về quyền công dân Theo Liên Hợp quốc, mục đích cuối cùng củahoạt động giáo dục về quyền con người, quyền công dân, dù được tiến hành ở bất

cứ đâu, bởi bất cứ chủ thể nào, cũng nhằm để xây dựng một nền văn hóa quyền conngười, quyền công dân (human and citizen rights culture) Điều này cũng được Hiếnpháp năm 2013 tiếp tục khẳng định phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ làquốc sách hàng đầu, đồng thời xác định những mục tiêu và định hướng chính trongviệc phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ (Điều 61, 62)15

Thứ tư, các bảo đảm pháp lý Có thể nói, việc bảo đảm thực hiện quyền dân

sự của công dân là một quá trình khó khăn và phức tạp Tuy nhiên, trong các bảođảm việc thực hiện quyền dân sự công dân, các bảo đảm pháp lý giữ vai trò quantrọng nhất, trực tiếp chi phối tính hiện thực của quyền công dân trong các hoàn cảnhkinh tế, chính trị, xã hội nhất định Như vậy, bảo đảm về mặt pháp lý quyền dân sựcủa công dân là hệ thống các quy định trong hệ thống pháp luật được cụ thể hóa và

cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện các quy định đó trong thực tiễn Biện pháp pháp

lý là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể mang tính chất lý luận nguyên lý củapháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân trong đời sống xã hội.Những biện pháp pháp lý do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện, bao gồm các cơquan nhà nước, các tổ chức hay chính cá nhân công dân cũng thực hiện các quyềncủa mình theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cho các quyền và lợi ích hợppháp của mình Các biện pháp pháp lý có được kể đến như:

Một là, quyền dân sự của công dân được đảm bảo thông qua việc ghi nhậntrong Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp ghi nhận các quyền dân sự của công dân làviệc đưa các quyền dân sự của công dân vào nội dung Hiến pháp Cách thức ghinhận đó tùy thuộc vào quan niệm về Hiến pháp của mỗi quốc gia, tùy thuộc vàođiều kiện kinh tế chính trị, văn hóa, giáo dục ở mỗi quốc gia Có thể nói, đây là biệnpháp pháp lý quan trọng nhất đối với việc đảm bảo quyền dân sự của công dân.Hiến pháp được coi là văn bản pháp lý cao nhất, là “luật mẹ”, là đạo luật cơ bảntrong hệ thống pháp luật, mọi văn bản pháp luật khác khi ban hành phải phù hợp vớinội dung của Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp Theo quan niệm của chủnghĩa Mác - Lênin, Hiến pháp có nội dung chủ yếu là quy định về cách thức tổ chứcquyền lực Nhà nước và quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Nhưngsuy cho cùng, việc Hiến pháp quy định cách thức tổ chức quyền lực nhà nước cũngnhằm hạn chế sự lạm quyền của các chủ thể mang quyền lực, tránh không có sự viphạm đến nhân quyền của các chủ thể này Cho nên, mục đích cuối cùng của Hiếnpháp là ghi nhận quyền công dân và bảo đảm thực thi nó Do đó, cách xác lập, ghi

15Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.75-76

Trang 23

nhận các quyền công dân trong Hiến pháp có ảnh hưởng rất lớn đến giá trị quyền

công dân và các biện pháp bảo đảm khác Vì vậy,“nếu không có chế định quyền con

người, quyền công dân thì cũng không thể có bản thân Hiến pháp, nội dung đó chi phối kết cấu của bản Hiến pháp, chế định quyền công dân thường đặt lên hàng đầu trong Hiến pháp Nhà nước” 16 Như vậy, Nhà nước quy định các quyền dân sự của

công dân thì đồng thời cũng phải có những quy định về cách thức bảo đảm, ghinhận cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện… Nếu không, những quyền đóchỉ có thể tồn tại trên giấy mà không có cơ sở để đưa vào thực tiễn đời sống chínhtrị Sự ghi nhận các quyền dân sự của công dân cũng như việc bảo đảm thườngđược các quốc gia lựa chọn quy định trong Hiến pháp17

Việc ghi nhận vai trò của công dân thông qua các quy định pháp luật mộtmặt thể hiện rõ quan điểm, chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước ta, thểhiện quyết tâm bảo đảm quyền công dân tới cùng với toàn bộ sức mạnh của cả bộmáy nhà nước và của toàn xã hội; mặt khác, để nhằm xác định rõ trách nhiệm củacông dân trong việc cùng với Nhà nước giúp nâng cao vai trò của công dân, khôngchỉ dừng lại ở việc thể chế hóa một cách hình thức mà còn đòi hỏi các khuôn khổpháp lý cho vấn đề này cần đầy đủ và hoàn thiện ở mức cao nhất, không chỉ đápứng các yêu cầu về quản lý của Nhà nước mà còn đảm bảo phù hợp với năng lựccủa các chủ thể, phát huy cao nhất những điểm mạnh, những lợi thế của xã hộinhằm kiểm soát quyền lực Như vậy, để bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ củacông dân, thông qua các quy định pháp luật, Nhà nước không chỉ tuyên bố cácquyền và nghĩa vụ cho công dân mà còn phải đưa ra các biện pháp để bảo vệ và bảođảm thực hiện trên thực tế Quy định này nếu không đầy đủ, chính xác, rạch ròi,đúng đắn thì dù có cơ chế pháp lý tốt đến đâu cũng không thể bảo đảm thực hiện18

Hai là, quyền dân sự của công dân được bảo đảm thông qua hoạt động của hệthống các cơ quan nhà nước: Quốc hội, người đứng đầu nhà nước, Chính phủ, Tòa

án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thuộc chính quyền địa phương

Quyền dân sự của công dân được bảo đảm bằng hoạt động của Quốc hội(Nghị viện) Quốc hội (Nghị viện) là cơ quan do Nhân dân bầu ra, thay mặt nhândân nắm chủ quyền quốc gia Cơ quan này là “xương sống”, nền tảng để các cơquan khác thực hiện việc bảo vệ nhân quyền của các quốc gia trên thế giới Quốc

16 Hoàng Văn Hảo, Hiến pháp Việt Nam và vấn đề quyền con người, quyền công dân Dẫn theo: Nguyễn Đăng Dung - Bùi Tiến Đạt (2011), “Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến

pháp theo nguyên tắc tôn trọng quyền con người”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 8(193), tr.6.

17Lê Thị Mơ, (2008), Những biện pháp pháp lý đảm bảo quyền con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam,

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Tp Hồ Chí Minh, tr 9.

18Lê Thị Mơ, (2008), Những biện pháp pháp lý đảm bảo quyền con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam,

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Tp Hồ Chí Minh, tr 10.

Trang 24

hội (Nghị viện) có chức năng lập pháp, đây là chức năng cơ bản, gắn liền với sự rađời của cơ quan này Qua việc thực hiện chức năng này, Quốc hội (Nghị viện) đãghi nhận các quyền dân sự của công dân, một biện pháp pháp lý quan trọng trongviệc bảo đảm quyền dân sự của công dân Xuất phát từ chức năng lập pháp, Quốchội (Nghị viện) đều đóng vai trò chủ chốt trong việc bảo đảm thực hiện quyền củacông dân, hành động một cách tốt nhất vì lợi ích công dân, cử tri của nước mình19.Đây cũng là cơ quan quyết định các vấn đề quan trọng, các chính sách góp phầnphát triển kinh tế - xã hội, ổn định đất nước Là một quốc gia theo chế độ xã hội chủnghĩa nên cơ quan lập pháp của Việt Nam gọi là Quốc hội, dù tên gọi khác nhaunhưng về bản chất Quốc hội hay Nghị viện đều nói đến cơ quan lập pháp của quốcgia Quốc hội Việt Nam có chức năng lập hiến, ban hành Hiến pháp, ghi nhận trựctiếp các quyền dân sự của công dân, đây là một biện pháp pháp lý quan trọng trongviệc bảo đảm quyền dân sự của công dân.

Quyền dân sự của công dân được bảo đảm bằng hoạt động của Người đứngđầu nhà nước Người đứng đầu Nhà nước có vai trò đứng đầu, thay mặt nước trongquan hệ đối nội, đối ngoại Người đứng đầu nhà nước các nước thường tham giavào quá trình lập pháp của Quốc hội (Nghị viện) Tùy thuộc hình thức chính thể,chế độ chính trị của mỗi nước ở từng thời kỳ mà chế định người đứng đầu nhà nước

có địa vị pháp lý khác nhau và tên gọi khác nhau như Chủ tịch, Tổng thống, Vua,

Nữ hoàng, Quốc vương…Ở Mỹ, người đứng đầu Nhà nước gọi là Tổng thống,Tổng thống Mỹ có quyền kiến nghị một số dự luật, có quyền phủ quyết đạo luật từNghị viện, bên cạnh việc tham gia vào quá trình lập pháp giúp người đứng đầu nhànước còn tham gia vào việc ghi nhận các quyền dân sự của công dân trong văn bảnluật Hay ở Việt Nam, Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, có quyền trình

dự án luật, trình kiến nghị về luật với tư cách là đại biểu Quốc hội Có thể thấy rằng

dù hình thức chính thể hay chế độ chính trị nào thì người đứng đầu nhà nước có vaitrò nhất định trong quá trình bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân trênlãnh thổ quốc gia mình

Quyền dân sự của công dân được đảm bảo bằng hoạt động của Chính phủ.Đây là các cơ quan hành pháp, trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tức

là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện và điều hành trong xã hội trong lĩnh vực chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh.Với địa vị pháp lý và chức năng như vậy, Chínhphủ trong hoạt động của mình thường xuyên liên quan, đụng chạm đến các quyềncông dân nói chung và quyền dân sự của công dân Một mặt hệ thống cơ quan nàyđược Hiến pháp giao quyền lập quy, tức là quyền ban hành các văn bản pháp quy

19Phạm Quang Minh (2010), Tìm hiểu thể chế chính trị thế giới, NXB Chính trị - Hành chính, tr.94

Trang 25

dưới luật có tính bắt buộc trên phạm vi cả nước hay từng địa phương nhằm thựchiện Hiến pháp và pháp luật Các quyền dân sự công dân được ghi nhận trong Hiếnpháp và Luật sẽ được các cơ quan này hướng dẫn, cụ thể hóa trong các lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội Mặt khác, Chính phủ là cơ quan tổ chức thực hiệntrên thực tế các quyền đã được ghi nhận Đây là kết quả của sự thể hiện ý chí đơnphương của các cơ quan hành chính nhà nước làm thay đổi, phát sinh hoặc chấmdứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể Bằng các văn bản áp dụng này làm nảysinh hoặc kết thúc một mối quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân công dân.

Quyền dân sự của công dân được đảm bảo bằng hoạt động của cơ quan tưpháp – Tòa án Tòa án có chức năng xét xử Đối với các nước xã hội chủ nghĩa nhưViệt Nam trong bộ máy một hệ thống cơ quan có vị trí độc lập tương đối là Việnkiểm sát nhân dân, có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát Tòa án và Việnkiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng của mình góp phần bảo đảm quyền dân

sự của công dân Chính vì lẽ đó, hai cơ quan là những cơ quan có nhiệm vụ bảo vệquyền con người, quyền công dân thông qua việc áp dụng pháp luật để xét xử, kiểmsát, giữ quyền công tố Hoạt động của Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân quan hệtrực tiếp đến quyền con người, quyền công dân Với bản chất đặc thù là hoạt độngxét xử, Tòa án nhân dân được quyền nhân danh Nhà nước để ra phán quyết cuốicùng của một vụ việc pháp lý nhất định, trong đó có quyền kết luận một người cótội hay vô tội, nên phán quyết của Tòa án là quyết định trực tiếp liên quan đến tự do,sinh mạng của con người Cụ thể, phán quyết của Tòa án thể hiện rõ nét ý nghĩađích thực, các khía cạnh, giá trị khác nhau của quyền dân sự của công dân được quyđịnh trong Hiến pháp và pháp luật Cùng với Tòa án thì vai trò của Viện kiểm sátnhân dân trong việc đảm bảo quyền con người không kém phần quan trọng Là cơquan giữ quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân có quyền truy tố hành vi vi phạmpháp luật của một người ra trước cơ quan xét xử, nếu thấy có đủ yếu tố cấu thànhtội phạm hoặc không truy tố nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm Là cơ quan cóthẩm quyền kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân góp phần tránh những sai sót liên quanđến hoạt động tư pháp, giúp đảm bảo quyền dân sự của công dân

Quyền dân sự của công dân được đảm bảo bằng hoạt động của các cơ quancấu thành chính quyền địa phương Với chức năng của mình, Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân các cấp là mắc xích quan trọng trong cơ chế pháp lý bảo đảm thựchiện quyền dân sự của công dân trên phạm vi lãnh thổ địa phương mình Ở ViệtNam cơ quan cấu thành nên chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ căn cứ vào Hiến pháp, Luật và cácvăn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ra các Nghị quyết về các biện

Trang 26

pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương Ủy bannhân dân có chức năng quản lý nhà nước, thực hiện Hiến pháp và các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên, điều hành trong phạm vi địa phương

Như vậy, thông qua hoạt động của các cơ quan Nhà nước, quá trình xâydựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật nhằm bảo đảm cácquyền dân sự của công dân được thực thi trong đời sống xã hội Các hoạt động đólàm nền tảng pháp lý vững chắc cho công dân được hưởng quyền dân sự của mìnhmột cách thực chất và đích thực nhất

Thứ năm, xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền Cơ quan nhânquyền quốc gia (viết tắt NHRIs) là một cơ quan được giao những chức năng cụ thểtrong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền Trên thực tế, không có một mô hìnhchung về NHRIs cho các quốc gia Mỗi nước có những mô hình NHRIs khác nhau(về tên gọi, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ…), tuy nhiên, các NHRIs thôngthường được thiết lập theo ba hình thức chủ yếu đó là: (i) Cơ quan thanh tra Quốchội (Ombudsman); Ủy ban nhân quyền quốc gia (National Human RightsCommission/Committee); (iii) Cơ quan chuyên trách về một vấn đề nhân quyền cụthể (Specialized Institutions)20

Ủy ban nhân quyền quốc gia thuộc nhánh hành pháp, do Chính phủ thành lậpnhưng có tính độc lập tương đối với các cơ quan hành pháp khác và có nhiệm vụbáo cáo với cơ quan lập pháp Ủy ban nhân quyền là một cơ chế phổ biến trên thếgiới hiện nay, với khoảng gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ có hình thức Ủy banquốc gia chuyên trách về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Có nhiều tên gọikhác nhau như Ủy ban nhân quyền quốc gia, Ủy ban nhân quyền và cơ hội bìnhđẳng….Tính riêng khu vực Đông Nam Á hiện nay có 06 quốc gia thành lập và hoạtđộng theo nguyên tắc Paris là Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia, ĐôngTimo và Myanmar21

Thanh tra Quốc hội thông thường thuộc nhánh lập pháp, được Nghị việnthành lập nhưng có tính độc lập tương đối với Nghị viện Về bản chất, Thanh traQuốc hội không phải là cơ quan giám sát nhánh hành pháp, mà chỉ đóng vai trò là

cơ quan trung gian giữa các cá nhân và các chính phủ (giống các ủy ban nhân quyền)trong các vấn đề nhân quyền Chức năng chính của cơ quan Thanh tra Quốc hội làbảo vệ sự công bằng và tính pháp lý trong hoạt động hành chính công (bao gồm

20 Xem United Nations, National Institutions for the Promotion and Protection of Human Rights, Factsheet

19, tại http://www.ohchr.org/Documents/Publications/FactSheet19en.pdf (truy cập ngày 21/6/2021)

21Nguyễn Thị Minh Ngân (2017), Bảo đảm quyền dân sự trong Hiến pháp Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp

cử nhân Luật, Tp Hồ Chí Minh, tr.23

Trang 27

nhưng rộng hơn việc bảo vệ quyền con người)22 Cơ quan này có ở hơn 60 quốc giatrên toàn thế giới Đồng thời, là cơ quan song trùng với cơ quan nhân quyền quốcgia Ví dụ như Anh, Canada, Thái Lan vừa có cả cơ quan Thanh tra Quốc hội vàvừa có Ủy ban nhân quyền quốc gia.

Cao ủy nhân quyền thuộc Nghị viện Đây là mô hình cơ quan nhân quyềnquốc gia có ở một số quốc gia thuộc Nghị viện được thành lập dựa trên một điềuluật của Hiến pháp nhưng có những đặc thù không giống như một cơ quan nhânquyền quốc gia Chẳng hạn,mô hình này hiện diện trong chính thể của nước cộnghòa Ukraina, với tên gọi là Cao ủy nhân quyền của Nghị viện Ukraina

Các cơ quan nhân quyền quốc gia khác bao gồm viện nghiên cứu quốc giahay hội, hiệp hội, hội đồng quốc gia về nhân quyền được thành lập và hoạt dộngdựa trên nguyên tắc Paris Trên thế giới mô hình này khá phổ biến ở nhiều nướcBắc Âu và Tây Âu như Viện Nhân quyền Đan Mạch, Trung tâm Nhân quyền Na Uy,Viện Nhân quyền Cộng hòa Liên Bang Đức…Việc lựa chọn mô hình này thườngphù hợp với các quốc gia phát triển, nơi có trình độ phát triển kinh tế, xã hội, vănhóa, ý thức về quyền con người cao hay nơi có những đặc thù nhất định về thể chếchính trị và văn hóa như Hội Nghiên cứu nhân quyền quốc gia Trung Quốc23

Hiện nay, Việt Nam không có một có quan chuyên trách được lập ra để bảođảm quyền con người, quyền công dân mà bảo đảm quyền con người, quyền côngdân là mục đích chung của Nhà nước Hay nói cách khác, tất cả các cơ quan nhànước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đều phảihướng tới nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Thứ sáu, bảo đảm về phương diện tổ chức là một trong những cách thức cóhiệu quả trong tiến trình bảo đảm thực hiện quyền dân sự trên thực tế Từ đó, vấn đềbảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân có cơ sở vững chắc để công dânđược hưởng thụ quyền của mình trong điều kiện tốt nhất

Một là, tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật liên quan đến quyền dân sựcủa công dân Tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật là hoạt động mang tính tổchức đưa Hiến pháp, pháp luật thực định vào đời sống nhà nước và đời sống xã hội,làm cho pháp luật sau khi ban hành có hiệu lực thực thi trong thực tế24 Chủ thể tổchức thi hành Hiến pháp và pháp luật thường là các cơ quan hành pháp và chính

22 https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/559 (truy cập ngày 21/6/2021).

23Nguyễn Thị Minh Ngân (2017), Bảo đảm quyền dân sự trong Hiến pháp Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp

cử nhân Luật, Tp Hồ Chí Minh, tr.24

24 Trần Ngọc Đường (2018), “Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực

hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9/2018,

quyen-con-nguoi-trong-dieu-kien-hoi-nhap-quoc-te-hien-nay-74 (truy cập ngày 29/6/2021).

Trang 28

https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/nha-nuoc-viet-nam-doi-voi-viec-bao-dam-quyền địa phương Ở Việt Nam, chủ thể tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật liênquan đến quyền dân sự của công dân gồm Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơquan ngang Bộ, chính quyền địa phương các cấp Các cơ quan này áp dụng một sốbiện pháp chủ yếu sau: Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện pháp luật củaQuốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm bảo đảmcác quyền dân sự của công dân đã được công nhận trong Hiến pháp như quyềnkhông thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác, quyền tự do đi lại và cư trú ởtrong nước, có quyền ra nước ngoài và tư nước ngoài về nước, quyền tự do ngônluận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình ; Trực tiếp ápdụng các biện pháp mang tính sáng tạo, phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng ngành,từng địa phương nhằm nâng cao năng lực hưởng thụ các quyền dân sự của công dân,đặc biệt là của các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương25.

Hai là, huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệpvào quá trình bảo vệ, thúc đẩy quyền Vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội, nghềnghiệp trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền công dân là hết sức quan trọng Các tổchức chính trị, xã hội, nghề nghiệp đã đóng vai trò tích cực trong những hoạt động:giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quyền con ngườinói chung và các quyền dân sự của công dân nói riêng

Ba là, tuyên truyền, giáo dục về quyền dân sự của công dân để nâng caonhận thức của công chúng và năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật liên quannhằm bảo đảm tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân trong khuôn khổpháp luật của quốc gia Trong quá trình đối thoại UPR chu kỳ III của Việt Nam diễn

ra vào đầu năm 2019, có 121 phái đoàn của các nước thành viên Liên Hợp quốc đãtham gia đối thoại với phái đoàn Việt Nam và đã đưa ra 291 khuyến nghị26 Trong

đó, Việt Nam đã nhận được 14 khuyến nghị về tăng cường giáo dục quyền conngười đến từ 13 quốc gia khác nhau với các nội dung chủ yếu như27:

- Lồng ghép công ước về quyền trẻ em, công ước về xoá bỏ tất cả các hìnhthức phân biệt đối với phụ nữ, Công ước về quyền của người khuyết tật vào sáchgiáo khoa để phổ cập đến toàn dân

25Trần Thị Hòe (2016), “Nhà nước Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người trong điều kiện hội nhập

quốc tế hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu con người số 4(85), năm 2016, hoc-xa-hoi-va-nhan-van/nha-nuoc-viet-nam-doi-voi-viec-bao-dam-quyen-con-nguoi-trong-dieu-kien-hoi- nhap-quoc-te-hien-nay-74 , truy cập ngày 29/6/2021.

https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-26 Section II of the Report of the Working Group A/HRC/41/7, xem tại: info.org/sites/default/files/document/viet_nam/session_32_-_january_2019/2rps_vietnam.pdf, truy cập ngày 19/8/2020.

https://www.upr-27 Các khuyến nghị đến từ 13 quốc gia gồm: Jordan, Ấn độ, Ethiopia, Philippines, Saudi Arabia, Turkmenistan, Belarus, Ukraine, Morrocco, Bahrain, Bhutan, Pakistan và Slovakia, https://www.ohchr.org/EN/HRBodies/UPR/Pages/VNindex.aspx, truy cập ngày 19/11/2020.

Trang 29

- Đến năm 2025, hoàn thành việc đưa nội dung giáo dục về quyền con người,quyền công dân trong tất cả các cơ sở giáo dục.

- Nâng cao nhận thức của người dân về các công ước quốc tế về quyền conngười, quyền công dân

- Thúc đẩy tuyên truyền để góp phần nâng cao kiến thức của cán bộ nhànước và người dân về quyền con người, quyền công dân

1.3 Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự trong các văn kiện pháp lý quốc tế

Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, những nguyên tắc về quyềncon người trở thành những quy tắc ứng xử, những chuẩn mực pháp lý quốc tế đượcghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế như Hiến chương Liên Hợp quốc năm

1945, Tuyên bố thế giới về quyền con người năm 1948; Công ước quốc tế về cácquyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - văn hóa

- xã hội Các văn kiện pháp lý này là khuôn mẫu chung mang tính toàn cầu về cácquyền con người, được nhiều quốc gia tôn trọng và xem đây là cơ sở để thể chế cácquyền trong Hiến pháp của quốc gia cũng như các văn kiện pháp lý về quyền conngười ở tầm khu vực Ngoài ra, bên cạnh những văn bản pháp lý mang tính quốc tếthì tác giả còn đề cập đến quyền dân sự được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhânquyền ASEAN năm 2012, là một văn bản pháp lý ở tầm khu vực Vì vậy, trongphạm vi nghiên cứu của mình, tác giả sẽ đề cập về vấn đề bảo đảm quyền dân sựcủa bốn văn kiện pháp lý là: Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, Tuyên ngônthế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trịnăm 1966 và Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN 2012

1.3.1 Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945

Văn bản đầu tiên có thể đề cập đến trong việc công nhận và xác định quyềncon người và các quyền cơ bản của công dân là Hiến chương Liên Hợp quốc 1945(Charter of the United Nation) Hiến chương được Liên Hợp quốc thông qua ngaysau khi Chiến tranh thế giới lần hai kết thúc vào năm 1945 Đây là văn bản quốc tếquan trọng, cơ bản và là văn bản quốc tế đầu tiên trải qua hơn 70 năm thử thách vẫngiữ nguyên giá trị pháp lý và các ý nghĩa xã hội Hiến chương đã đặt nền móng đầutiên cho việc thiết lập một cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy các quyềncon người trên thế giới Trong phần mở đầu của Hiến chương, các quốc gia thành

viên Liên Hợp quốc bày tỏ quyết tâm “…khẳng định tin tưởng vào những quyền cơ

bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, vào quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ.” Khoản 3 Điều 1 Hiến chương quy định

Trang 30

“…tôn trọng các quyền của con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi

xã hội có quyền đưa ra những kiến nghị nhằm khuyến khích sự tôn trọng các quyền

và những tự do cơ bản của con người Hội đồng kinh tế và xã hội thành lập các cơ

quan chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong bộ máy quyền con người của LiênHợp quốc như Ủy ban quyền con người (CHR), Ủy ban về vị thế của phụ nữ, Ủyban ngăn ngừa tội ác và tư pháp hình sự Các cơ quan này có chức năng từ nghiêncứu các vấn đề; đề xuất xây dựng bộ máy, các chương trình, hoạt động, soạn thảocác văn kiện cho đến giám sát thực hiện các văn kiện quốc tế về quyền con người30.Bên cạnh đó, Hiến chương Liên Hợp quốc 1945 quy định nguyên tắc quan trọngnhằm bảo đảm quyền con người đối với các quốc gia, tổ chức, cá nhân đó là khuyếnkhích sự tôn trọng và tuân thủ các quyền con người Cụ thể, điểm c khoản 1 Điều 55quy định Liên Hợp quốc khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền vàcác tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc nam nữ, ngôn ngữhay tôn giáo

Hiến chương Liên Hợp quốc chỉ quy định ở mức độ khái quát, không quyđịnh cụ thể các quyền con người cũng như các bảo đảm các quyền này nhưng đâyđược coi là nền tảng pháp lý quan trọng làm cơ sở cho các các văn bản pháp lý quốc

tế sau này ra đời và phát triển

1.3.2 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR)

Cùng với Hiến chương Liên Hợp quốc 1945, Tuyên ngôn thế giới về quyềncon người (the Universal Declaration of Human rights - UDHR) là cơ sở pháp lý

28Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người, Tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp quốc, NXB Công

an nhân dân, tr.9 -10.

29Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Công an nhân dân, tr 96.

30Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Công an nhân dân, tr 99.

Trang 31

cho việc xây dựng và thông qua hàng loạt các công ước khác về quyền con ngườicủa Liên Hợp quốc về cấm và trừng trị những tội ác chống loài người Ra đời saunhững tàn phá của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai và trên cơ sở kế thừa những

ý nghĩa cao đẹp của Hiến chương Liên Hợp quốc: “Phòng ngừa cho những thế hệ

tương lai khỏi thảm họa chiến tranh, như đã xảy ra hai lần trong đời chúng ta và gây cho nhân loại đau thương không kể xiết và khẳng định lại sự tin tưởng vào những quyền cơ bản của con người…” Mục tiêu ra đời của bản Tuyên ngôn đã

được xác định ngay từ Lời nói đầu “là thước đo chung cho tất cả các quốc gia và

các dân tộc…sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người…thúc đẩy sự thừa nhận và tuân thủ chung và hữu hiệu các quyền đó…thông qua các biện pháp tích cực, kể cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế”.

Trong Tuyên ngôn về quyền con người bao gồm lời nói đầu và 30 Điều, đềcập đến các quyền và tự do rất cơ bản của con người mà không có sự phân biệt đối

xử nào trong đó bao gồm các quyền dân sự Vấn đề bảo đảm quyền con người nóichung và các quyền dân sự nói riêng trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngườiđược thể hiện như sau:

Thứ nhất, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã ghi nhận các quyềndân sự, tạo cơ sở pháp lý để các quốc gia quy định các quyền con người, quyền dân

sự của công dân Cụ thể:

Một là, Tuyên ngôn nêu rõ cơ sở triết lý của văn kiện tại Điều 1 Điều nàycũng khẳng định những tư tưởng cơ bản của Tuyên ngôn là quyền tự do và bìnhđẳng là quyền bẩm sinh và không thể chuyển nhượng của con người

Hai là, Điều 2 đề cập đến nguyên tắc nền tảng về bình đẳng và không phânbiệt đối xử trong việc hưởng thụ các quyền và tự do cơ bản của con người, trong đó

cấm “bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn

giáo, chính trị hay quan điểm khác, dân tộc hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nòi giống hay vấn đề khác”.

Ba là, Điều 3 mở đầu cho phần quan trọng của Tuyên ngôn, tuyên bố vềquyền được sống, tự do và an ninh của con người - một quyền cốt yếu cho việchưởng thụ tất cả các quyền khác của con người Quyền con người được bảo vệ đểkhỏi bắt làm nô lệ hay nô dịch lần đầu tiên quy định tại Điều 4

Bốn là, quyền không phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trướcpháp luật (Điều 1,2,6,7,8,10 UDHR) quyền này bao gồm: không phân biệt đối xử,

Trang 32

được thừa nhận tư cách con người trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ mộtcách bình đẳng31.

Năm là, quyền con người được đảm bảo trong hoạt động tố tụng tư pháp nhưquyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện ghi nhận tại Điều 9; Quyềnđược bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạnhục tại Điều 5 UDHR

Sáu là, các Điều 13, 16, 18, 19 và 20 quy định về quyền tự do của con người,bao gồm quyền tự do đi lại, tự do cư trú, quyền tự do chính kiến, niềm tin, tínngưỡng, tôn giáo, quyền tự do ý kiến và biểu đạt, quyền tự do lập hội

Cuối cùng, quyền có quốc tịch được ghi nhận tại Điều 15 UDHR, mọi người

có quyền có quốc tịch của một nước nào đó Không ai bị tước quốc tịch hoặc bịkhước từ quyền được đổi quốc tịch một cách tùy tiện

Trên cơ sở Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948, mọi quốc gia căn cứvào điều kiện, nhu cầu của mình sẽ thể chế hóa các quyền này để trở thành quyềncông dân được ghi nhận trong văn bản pháp lý mà trước tiên là Hiến pháp phù hợpvới quốc gia mình

Thứ hai, Tuyên ngôn về quyền con người chỉ có ý nghĩa kêu gọi, khuyến cáo

mà không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý Do xuất phát từ việc UDHR được Đạihội đồng Liên Hợp quốc thông qua dưới hình thức Nghị quyết Do vậy, về hìnhthức, bản Tuyên ngôn không được đòi hỏi phải phê chuẩn hay gia nhập bởi cácquốc gia thành viên, nên không có giá trị bắt buộc

Cách thức bảo đảm của Tuyên ngôn chỉ dừng lại ở mức kêu gọi các quốc gia

tôn trọng các cam kết của mình “Các quốc gia đã cam kết, cùng với Liên Hợp Quốc,

phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ bản của con người” Đồng thời, Tuyên ngôn cũng chỉ ra việc hạn chế quyền chỉ phải tuân

thủ do “luật định”, nhằm để “đảm bảo sự ghi nhận và tôn trọng” đối với quyền lợi

thích đáng của người khác, nói cách khác, khi thực hiện quyền, con người chỉ bị hạnchế bởi luật nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền tự

do của người khác, việc thực hiện các quyền tự do của con người không được tráivới nguyên tắc và mục tiêu của Liên Hợp quốc (Điều 29) Hơn hết, Tuyên ngôn

cũng ghi nhận rằng “không diễn giải bất kỳ một điều khoản nào” theo hướng nhằm

phá hoại, với hàm ý cho phép Nhà nước, nhóm người hoặc cá nhân nào được thamgia hay thực hiện các hoạt động loại bỏ các quyền, tự do của con người đã được nêu

31Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2009), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con

người - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 191.

Trang 33

trong tuyên ngôn (Điều 30) Từ đây có thể thấy, mặc dù chỉ dừng ở mức độ khuyếnkhích nhưng UDHR đã có những tác động nhất định đến việc quy định cụ thể củamỗi quốc gia trong việc bảo đảm và tôn trọng quyền cơ bản, cụ thể là quyền dân sựcủa công dân Đó là lý do mà Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp quốc nhiệm kỳ đó đãchỉ ra rằng, việc thông qua UDHR là “một thành tựu đáng ghi nhớ, một bước tiếncủa một tiến trình cách mạng vĩ đại…”32 Vì vậy, nhiều học giả cho rằng Tuyênngôn là “Luật tập quán quốc tế”33.

1.3.3 Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR)

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (International Convenant onCivil and Political Rights - sau đây gọi là Công ước ICCPR) là một trong nhữngđiều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người đã được Đại hội đồng LiênHợp quốc thông qua vào năm 1966 và có hiệu lực vào năm 1976 ICCPR gồm lờinói đầu, 06 chương và 53 điều được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bảnđược nêu trong Hiến chương Liên Hợp quốc Với ICCPR, lời mở đầu khẳng địnhrằng việc công nhận những phẩm giá vốn có và quyền bình đẳng của mọi thành viêntrong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.Vấn đề bảo đảm quyền dân sự trong ICCPR được thể hiện như sau:

Thứ nhất, Điều 2 ICCPR quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên củaCông ước trong việc cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vilãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Côngước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngônngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xãhội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác Với nghĩa vụ bảo đảm thực hiệnquyền con người, các quốc gia thành viên cần có những hành động như lập ra mộtkhuôn khổ pháp lý, chính sách phù hợp, dành nguồn lực thực hiện Các quốc giathành viên phải thúc đẩy và đáp ứng các quyền của cá nhân, tức là có những biệnpháp để tạo lập một môi trường mang tính khuyên khích và cần thiết mà trong đónhững quyền liên quan có thể thực hiện đầy đủ34

Điều 5 ICCPR quy định đưa ra sự bảo vệ trước sự phá hoại hoặc giới hạnquá mức các quyền và tự do cơ bản của con người, việc giải thích xuyên tạc nhữngquy định của công ước nhằm mục đích làm hạn chế hoặc loại bỏ các quyền được

32Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người – tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp quốc, NXB

Công an nhân dân, tr 34.

33Nguyễn Huỳnh Kim Nga (2014), Bảo đảm quyền chính trị của công dân trong điều kiện hiện nay ở Việt

Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Tp Hồ Chí Minh, tr 19.

34Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người – tập tài liệu chuyên đề của Liên hợp quốc, NXB Công

an nhân dân, tr 253.

Trang 34

ghi nhận trong các công ước Việc ghi nhận tại Điều 5 giúp ngăn ngừa các quốc giahạn chế các quyền đang được áp dụng trên lãnh thổ nước mình với lý do là Côngước không ghi nhận các quyền ấy hoặc ghi nhận ở mức độ thấp hơn35.

Thứ hai, ICCPR đã ghi nhận các quyền dân sự, tạo cơ sở pháp lý để các quốcgia quy định các quyền con người, quyền dân sự của công dân Có thể thấy, điềukhoản trên của Công ước có giá trị áp dụng đương nhiên đối với thành viên củaCông ước Các quyền dân sự được thể hiện trong ICCPR bao gồm:

Một là, các quyền không phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳngtrước pháp luật bao gồm Điều 2, Điều 3 ICCPR Tại Điều 3 quy định bình đẳngnam nữ, theo đó các quốc gia thành viên Công ước này cam kết đảm bảo quyềnbình đẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị

mà Công ước đã quy định

Hai là, các Điều từ 6 đến 11 có thể coi là những quy định cốt lõi cho việc bảo

vệ mạng sống, tự do và sự an ninh về thể chất của các cá nhân Những điều nàycũng quy định những giới hạn hẹp mà trong đó hình phạt tử hình có thể được áp đặttại các quốc gia mà ở đó chưa bãi bỏ hình phạt này Những việc làm cụ thể bị cấmđược xác định bao gồm tra tấn, thí nghiệm sinh học trên con người, nô lệ, cưỡngbức Quyền của những người bị tước tự do cũng được nêu trong phần này

Ba là, các Điều 12 và 13 điều chỉnh việc xuất, nhập cảnh và đi lại trongphạm vi một quốc gia, bao gồm cả quy định áp dụng cho việc trục xuất người nướcngoài

Bốn là, từ Điều 14 đến Điều 16 quy định việc một người phải được đối xửnhư thế nào trong hoạt động tố tụng tư pháp Điều 14 bảo đảm quyền được xét xửcông bằng trong các vụ án hình sự và dân sự, một quyền có tầm quan trọng cơ bản,đặc biệt là có liên hệ gần gũi với quyền được có các giải pháp hiệu quả nêu ở Điều

2 Điều 15 cấm các hình phạt có tính hồi tố, trong khi Điều 16 chỉ đơn giản khẳngđịnh rằng tất cả mọi người có quyền được thừa nhận là con người trước pháp luật

Năm là, các Điều từ 17 đến 22 đề cập đến những tự do cơ bản cần được thụhưởng mà không có sự can thiệp không thể biện minh được từ bên ngoài Điều 17quy định về quyền được bảo vệ sự riêng tư, Điều 18 quy định về tự do tư tưởng vàtôn giáo, Điều 19 quy định về tự do ý kiến và biểu đạt, Điều 21 quy định về quyềnđược biểu tình một cách hòa bình và Điều 22 quy định về tự do lập hội

Sáu là, các Điều 23 và 24 công nhận vai trò đặc biệt của gia đình và quy địnhcác vấn đề về hôn nhân và quyền trẻ em Điều 25 đứng một mình như một quyền

35 Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người – tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp quốc, NXB

Công an nhân dân, tr.38.

Trang 35

chủ yếu trong Công ước về tham gia hoạt động chính trị, trong đó nêu khái quát vềquyền được bầu cử, ứng cử.

Bảy là, Điều 26 là một trong những điều khoản căn bản của Công ước Điềunày quy định việc bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cáchbình đẳng, với sự bảo đảm rộng rãi về không phân biệt đối xử Vì thế, nếu một quốcgia trao lợi ích nào đó cho một người hay một nhóm người nào đó thì nó phải đượctrao dưới hình thức không phân biệt đối xử nào Điều đó có nghĩa là phải dựa trêncăn cứ hợp lý và khách quan, đây là những tiêu chuẩn để Ủy ban dựa vào để đánhgiá, thống nhất với điều khoản này

Cuối cùng, Điều 27 quy định bảo đảm cho những người thuộc các nhóm vềthiểu số, sắc tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ quyền được thụ hưởng và thực hành vănhóa, tôn giáo hay ngôn ngữ của riêng hộ với tư cách cá nhân hay tại cộng đồng cùngvới các thành viên khác36

Thứ ba, thành lập cơ quan giám sát các quốc gia thành viên thực hiện côngước ICCPR là văn bản có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý vì vậy ICCPR đã thànhlập một Ủy ban nhân quyền (Committee for Human Rights - gọi tắt là HRC) nhằmgiám sát các quốc gia thành viên thực hiện công ước Như vậy, việc bảo đảm thựcthi công ước đối với các quốc gia thành viên được thực hiện thông qua chức năng

cơ bản của HRC là giám sát việc hiện thực hóa các quyền được ghi nhận trongCông ước, đồng thời có sự trợ giúp đối với Chính phủ của các quốc gia thành viêntrong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của họ cũng như đưa ra những lời khuyếnnghị trong lĩnh vực lập pháp37

Như vậy, so với UDHR, ICCPR quy định chi tiết hơn về các quyền của conngười, cụ thể là quyền dân sự và có cơ chế bảo đảm rõ ràng hơn nhằm giúp cho cácquyền nhanh chóng được thực thi trên thực tế Cùng với công ước về các quyềnkinh tế, xã hội, văn hóa, ICCPR là một công ước có nội dung tích cực và tiến bộ và

là văn bản pháp lý riêng đầu tiên của Liên Hợp quốc về quyền dân sự và chính trịcủa con người Công ước đã đưa ra những nguyên tắc chung trong việc ghi nhậnquyền con người, tạo điều kiện cho các quốc gia có thể cụ thể hóa những quy địnhnày trong các văn bản quy phạm pháp luật về quyền dân sự và chính trị của côngdân, đặc biệt là Hiến pháp38

36Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người – tập tài liệu chuyên đề của Liên hợp quốc, NXB Công

an nhân dân, tr.255 - 256.

37Nguyễn Huỳnh Kim Nga (2014), Bảo đảm quyền chính trị của công dân trong điều kiện hiện nay ở Việt

Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Tp Hồ Chí Minh, tr 19.

38Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên) (2013), “Quyền dân sự của công dân trong Hiến pháp: Lý luận và thực

tiễn”, Đề tài khoa học và công nghệ cấp trường, Tp.Hồ Chí Minh, tr 48.

Trang 36

Xét ở góc độ pháp điển hóa, các quyền và tự do cá nhân cơ bản được ghinhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), sau

đó, được tái khẳng định và cụ thể hóa trong những văn kiện quốc tế khác mà đặcbiệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) được Đại hội đồngLiên Hợp quốc thông qua vào năm 1966 Có thể khẳng định rằng, quyền dân sựđược quy định trong các văn bản pháp lý từ rất lâu tuy nhiên mãi cho đến khiICCPR ra đời cùng với sự xuất hiện của HRC thì các vấn đề về dân sự mới đượcquy định một cách cụ thể, có hệ thống và toàn diện nhất, đây thực sự là một nềntảng pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm thực hiện quyền dân sự được ghi nhậnvào các văn bản pháp lý của các quốc gia trên thế giới

1.3.4 Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012 (AHRD)

Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN (ASEAN Human Rights Declaration - gọitắt là AHRD) là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chungtrong việc tăng cường hợp tác về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong tầm khu vực.AHRD được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tạiPhnom Penh, Campuchia vào ngày 18/11/2012, với sự tham gia ký kết của 10 nướcASEAN (Brunie, Campuchia, Lào, Myanmar, Malaysia, Singapore, Thái Lan, ViệtNam và Philippines) Tuyên ngôn bao gồm 40 Điều, xác định bốn nhóm quyền cơbản trong đó có các quyền về dân sự Tuyên ngôn được xây dựng trên cơ sở bìnhđẳng, tôn trọng, đặc thù khu vực và sự đa dạng của mỗi quốc gia, phù hợp vớinguyên tắc và mục tiêu đề ra trong Hiến chương ASEAN Cho dù không phải làmột điều ước, Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN 2012 vẫn mang giá trị chính trị -pháp lý, cũng như giá trị đạo đức nhất định Tuyên ngôn này thể hiện cam kết củatất cả các quốc gia trong khối ASEAN trong lĩnh vực quyền con người Vấn đề bảođảm quyền dân sự trong Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN được thể hiện:

Thứ nhất, Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN đã ghi nhận các quyền dân sự,tạo cơ sở pháp lý để các quốc gia trong khối ASEAN quy định các quyền con người,quyền dân sự của công dân

Một là, mọi người có thể tự do đi lại và cư trú bất kỳ quốc gia nào và đượcquyền quay trở về quốc gia của mình mà không bị hạn chế bởi biên giới lãnh thổ tạiĐiều 15 AHRD quy định

Hai là, AHRD còn thừa nhận quyền tự do quan điểm và biểu đạt, vì thế mỗiquan điểm hay biểu đạt của mình, mọi người có thể tự do thể hiện mà không phảiđáp ứng yêu cầu hay điều kiện nào Đây cũng là một trong những quyền cơ bản củacon người, thể hiện tiếng nói, ý kiến đối với vấn đề mà mình quan tâm, nội dung cụ

thể tại Điều 23 AHRD quy định “Mọi người có quyền tự do quan điểm và biểu đạt,

Trang 37

bao gồm quyền giữ quan điểm mà không bị can thiệp, quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin, bằng lời, bằng văn bản hay bằng các phương tiện khác theo lựa chọn của người ấy”.

Ba là, việc thừa nhận quyền tự do hội họp một cách hòa bình cũng là mộtbước tiến mạnh mẽ, cho thấy sự tiếp thu ý kiến từ văn kiện pháp lý khác để hoànthiện văn kiện pháp lý ở tầm khu vực

Bốn là, AHRD còn ghi nhận quyền sống tại Điều 11 AHRD, theo đó, mọingười đều có quyền được sống, quyền này phải được pháp luật bảo vệ và không ai

có thể tước đoạt quyền sống của người khác một cách tùy tiện

Năm là, Điều 12 AHRD nhắc đến quyền tự do và an toàn cá nhân, nghĩa làkhông ai có thể bị bắt, lục soát hay giam giữ trái phép dù dưới bất kỳ hình thức nàonhằm tước đoạt tự do nào của người khác

Sáu là, Điều 13 AHRD cũng nhắc tới việc không ai phải chịu sự tra tấn, đối

xử hoặc trừng phạt tàn ác hay hành vi vô nhân đạo AHRD chứng tỏ sự lắng nghe,tiếp thu từ tình hình thế giới khi đã ghi nhận quyền sở hữu, sử dụng, cho tặng hayvứt bỏ những tài sản hợp pháp riêng mà chủ sở hữu được quyền thực hiện và theo

đó, không ai có thể tước đoạt những tài sản ấy một cách vô căn cứ tại Điều 17

Bảy là, quyền quốc tịch được ghi nhận tại Điều 18 AHRD, quyền này thừanhận mọi người đều có quốc tịch theo luật quy định, việc tước đoạt quốc tịch tráiphép hay thay đổi quốc tịch đều không được thừa nhận

Tám là, nội dung được ghi nhận tại Điều 19 là việc kết hôn hay ly hôn giữanam và nữ dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng

Chín là, AHRD cũng thừa nhận quyền xét xử công bằng, công khai bởi tòa

án, qua đó không ai bị coi là có tội nếu hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạmtheo luật trong nước hay quốc tế tại thời điểm gây ra hành vi đó

Cuối cùng, Điều 21 AHRD quy định “Mọi người có quyền không bị can

thiệp trái phép vào sự riêng tư, gia đình, nhà cửa hay thư tín, bao gồm dữ liệu cá nhân, hoặc bị làm tổn hại danh dự và uy tín của người đó Mọi người có quyền được pháp luật bảo vệ khỏi sự can thiệp hay làm tổn hại đó.” Cùng với việc quy

định không ai được làm tổn hại danh dự, uy tín khi can thiệp trái phép riêng tư củangười khác thì AHRD cũng quy định quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự

do tôn giáo tại Điều 22 Quyền này thể hiện tinh thần bình đẳng, không được phânbiệt đối xử hay xúi giục nào giữa các tôn giáo, tín ngưỡng

Thứ hai, trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong bảo đảm quyền dân

sự AHRD là văn kiện không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý, vấn đề bảo đảmcác quyền dân sự nói riêng được thực hiện trên cơ sở cam kết và hợp tác Dù vậy,

Trang 38

AHRD vẫn hiện thực hóa các nhóm quyền trong đó có quyền dân sự đã cho thấyrằng sự thận trọng hơn từ các quốc gia thành viên và nỗ lực tiếp thu, cập nhật nhữngquyền mới đảm bảo tối đa quyền lợi của công dân quốc gia mình Tuyên bố nhânquyền ASEAN đã thể hiện nguyện vọng, quyết tâm, nỗ lực của người dân và chínhphủ các nước thành viên trong khu vực để tiến tới xây dựng một Cộng đồngASEAN luôn hướng tới con người Cộng đồng chung ASEAN phấn đấu thúc đẩythực hiện Tuyên bố Nhân quyền ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trongHiến chương Liên Hợp quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Tuyên bố vàChương trình Hành động Viên, và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác mà cácquốc gia thành viên ASEAN đã tham gia Tuy nhiên, bên cạnh sự nỗ lực ghi nhậnquyền con người, cụ thể là quyền dân sự thì có thể thấy, trong tuyên ngôn không đềcập đến quyền lập hội dù có nhắc đến quyền tụ họp (khoản 24), đây cũng là sự thiếusót khi các quốc gia đàm phán ký kết bản tuyên ngôn này.

1.4 Vấn đề bảo đảm thực hiện quyền dân sự của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam

1.4.1 Hiến pháp năm 1946

Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh nước Việt Nam Dân chủCộng hòa, ngày 3/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã xác định việc xây dựng một bản hiến pháp dân chủ là một trong những

nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân

chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp

đầu tiên của nước Việt Nam, đánh dấu bước mở đầu cho lịch sử lập hiến ở nước tađồng thời cũng là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á

Trong bối cảnh đất nước mới vừa giành độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

và thiết lập Nhà nước Việt Nam thì việc Hiến pháp ghi nhận các quyền dân sự củacông dân mang ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng, Hiến pháp đã đề cao vai trò bảođảm thực hiện quyền dân sự của công dân Việt Nam, đồng thời cổ vũ, tăng cường ýchí quyết tâm xây dựng bảo vệ Tổ quốc Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 đã

xác định rõ: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ,

giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ” Điểm nổi

bật của Hiến pháp năm 1946 là mặc dù ra đời trong những năm đầu tiên khi chínhquyền nhân dân còn non trẻ, đang phải tập trung ứng phó với các công việc chính trịtrong nước cũng như ngoại giao với nước ngoài nhưng vẫn dành một sự quan tâmđặc biệt to lớn tới vấn đề quyền công dân Điều này thể hiện ở chỗ, Hiến pháp năm

Trang 39

1946 đặt chương Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân nằm ở vị trí chương II sauchương I Chính thể Vấn đề bảo đảm thực hiện các quyền dân sự của công dântrong Hiến pháp này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm các quyền tự do dân chủ được quán triệt trongHiến pháp năm 1946 Lời nói đầu đã xác định ba nguyên tắc xây dựng Hiến phápgồm: (1) đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, tôn giáo; (2) đảmbảo các quyền tự do dân chủ và (3) thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốtcủa nhân dân Như vậy, việc bảo đảm quyền công dân nói chung và quyền dân sựcủa công dân nói riêng đã trở thành một nguyên tắc hiến định khi xây dựng một bảnHiến pháp đầu tiên của nước ta

Thứ hai, Hiến pháp năm 1946 đã quy định một chế độ chính trị dân chủ tạo

cơ sở để bảo đảm các quyền dân sự của công dân Điều thứ 1 quy định nước ViệtNam là một nước dân chủ công hòa, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thểnhân dân Việt Nam Với một chế độ chính trị dân chủ, tạo điều kiện để các quyềndân sự của công dân được bảo đảm

Thứ ba, Hiến pháp năm 1946 ghi nhận các quyền dân sự của công dân BảnHiến pháp đã quy định khá đầy đủ các quyền dân sự cơ bản của công dân với nhiềuquyền mang tính dân chủ, tiến bộ và nhân văn sâu sắc

Một là, Quyền bình đẳng từ Điều 6 đến Điều 9 gồm các quy định về bìnhđẳng trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc và giới tính Điều thứ

6 quy định tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính

trị, kinh tế, văn hoá Điều thứ 7 quy định tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng

trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tàinăng và đức hạnh của mình Điều thứ 8 quy định ngoài sự bình đẳng về quyền lợi,những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chóng bắt kịptrình độ chung Điều thứ 9 quy định đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọiphương diện Có thể thấy, đứng trước nhu cầu cấp thiết mà hoàn cảnh lịch sử đangđặt ra với một Nhà nước còn non trẻ, nền chính trị chưa vững vàng mà bản Hiếnpháp đầu tiên đã ghi nhận về quyền bình đẳng cho công dân là một sự ưu tiên rấtlớn trong thời điểm lúc bấy giờ Quy định này phản ánh tính chất dân chủ, khẳngđịnh quyền của công dân Hiến pháp 1946 xoá bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi của chế độ

cũ Điều thứ 6 và điều thứ 7 của Hiến pháp được hiểu là tất cả công dân Việt Namtrong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, giữa cá nhân với xã hội và giữa cánhân với nhau thì quyền bình đẳng nam nữ quy định tại Điều thứ 9 càng thể hiện

tính nhân văn của Hiến pháp năm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi

phương diện” Sau hàng ngàn năm, người phụ nữ Việt Nam phải sống theo lễ giáo

Trang 40

phong kiến, không có địa vị gì trong xã hội, ấy vậy mà một năm sau khi cách mạngtháng Tám thành công thì ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta, nguyên tắcbình đẳng nam nữ đã được khẳng định và biến thành hiện thực39 Tính tiến bộ nàycàng được thể hiện rõ nét khi chúng ta so sánh với bản Hiến pháp thành văn đầutiên của nhân loại - Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 Khoảng 100 năm sau khi Hiến phápHoa Kỳ ra đời thì sự bình đẳng của đàn ông và đàn bà trong lĩnh vực bầu cử mớiđược thừa nhận bằng Tu chính án XIX40.

Hai là, quyền được tự do quy định tại Điều 10 và Điều 11 gồm quy định về

tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do

cư trú và an ninh cá nhân Hiến pháp đầu tiên của nước ta quy định về quyền tự dongôn luận chứng tỏ rằng dù Nhà nước còn non trẻ nhưng việc đề cao tiếng nói, ýkiến, nguyện vọng của công dân là điều ưu tiên hàng đầu, công dân có quyền đượcnói lên ý kiến của mình Mặt khác, Nhà nước luôn tôn trọng quyền lựa chọn tínngưỡng Đây là chỗ dựa tinh thần mà mỗi người dân có thể lấy đó làm đức tin trongcuộc sống, việc tự do lựa chọn tín ngưỡng cũng thể hiện sự ưu ái của Nhà nướcdành cho nhân dân Theo tinh thần của Hiến pháp năm 1946 thì công dân còn cóquyền tự do tổ chức và tự do hội họp Theo đó, Nhà nước đã nỗ lực bảo đảm vàphát huy tối đa quyền lợi chính đáng của công dân khi đã quy định quyền dân sựnày trong thời điểm khi mà các điều kiện về nhận thức và truyền tải thông tin cònrất hạn chế, đây là minh chứng lớn cho quyền dân chủ được xác lập trong nước.Bên cạnh đó, công dân được hưởng quyền tự do cư trú và an ninh cá nhân Điều nàychứng tỏ sự tiến bộ, dân chủ của Nhà nước ta

Thứ tư, bảo đảm quyền dân sự của công dân thông qua hoạt động của hệthống các cơ quan nhà nước Ngoài việc ghi nhận các quyền dân sự của công dân,Hiến pháp năm 1946 còn quy định cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền này bằnghoạt động của bộ máy nhà nước

Một là Nghị viện nhân dân, tại Điều 23 của Hiến pháp năm 1946 quy định

“Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật,

biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài”.

Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam bầu ra (Điều 24) Với tư cách này, Nghịviện nhân dân có quyền hạn quan trọng, đó là hoạt động “đặt ra pháp luật”, trong đó

có quyền đặt ra pháp luật liên quan đến nghĩa vụ và quyền của công dân Hiến pháp

39Nguyễn Duy Quý (1998), Tính nhân văn cao cả của Hiến pháp 1946 và các Hiến pháp Việt Nam, Hiến

pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, ,

tr.104.

40Nguyễn Mạnh Hùng (Chủ biên) (2013), “Quyền dân sự của công dân trong Hiến pháp: Lý luận và thực

tiễn”, Đề tài khoa học và công nghệ cấp trường, Tp.Hồ Chí Minh, tr 74.

Ngày đăng: 26/04/2022, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
49. Nguyễn Duy Quý (1998), Tính nhân văn cao cả của Hiến pháp 1946 và các Hiến pháp Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nhân văn cao cả của Hiến pháp 1946 và cácHiến pháp Việt Nam, Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiếnpháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1998
51. Xem Nguyễn Như Ý (1999), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb.Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Xem Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb.Văn hóa-Thông tin
Năm: 1999
53. Nguyễn Đăng Dung (2007), Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
54. Nguyễn Đăng Dung (2008), Chế ước quyền lực nhà nước, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế ước quyền lực nhà nướ
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2008
57. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quyền con người, Tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp quốc, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, Tập tài liệu chuyên đề củaLiên Hợp quốc
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2010
58. Lã Khánh Tùng - Nghiêm Xuân Hoa - Vũ Công Giao (2015), Hội và tự do hiệp hội: Một cách tiếp cận dựa trên quyền, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.D. Tạp chí, bài viết, luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội và tự do hiệphội: Một cách tiếp cận dựa trên quyền
Tác giả: Lã Khánh Tùng - Nghiêm Xuân Hoa - Vũ Công Giao
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2015
60. Lê Minh Thông (2000), “Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở nước ta”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ởnước ta”
Tác giả: Lê Minh Thông
Năm: 2000
61. Phan Xuân Huy (2006), “Bảo đảm quyền được thông tin của công dân”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17(86) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền được thông tin của công dân”, "Tạpchí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Phan Xuân Huy
Năm: 2006
62. Nguyễn Hồng Anh (2008), “Bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự, chính trị vì mục tiêu phát triển con người”, Tạp chí Nghiên cứu con người, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự, chính trị vì mụctiêu phát triển con người”,"Tạp chí Nghiên cứu con ngườ
Tác giả: Nguyễn Hồng Anh
Năm: 2008
63. Lê Thị Mơ, (2008), Những biện pháp pháp lý đảm bảo quyền con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp pháp lý đảm bảo quyền con người tronglịch sử lập hiến Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Mơ
Năm: 2008
64. Vũ Văn Nhiêm (2011), “Quyền dân sự của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam - Quá trình phát triển và phương hướng đổi mới” Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền dân sự của công dân trong lịch sử lập hiến ViệtNam - Quá trình phát triển và phương hướng đổi mới”
Tác giả: Vũ Văn Nhiêm
Năm: 2011
66. Lê Thị Nga (2011), Chế định Nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định Nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Nga
Năm: 2011
69. Nguyễn Phương Nhung (2012), Quyền tự do đi lại và cư trú trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tự do đi lại và cư trú trong pháp luậtquốc tế và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phương Nhung
Năm: 2012
70. Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương, “Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận, định hướng nghiên cứu), Tạp chí Luật học, 28 (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm, bảo vệ quyền con người,quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tínhphương pháp luận, định hướng nghiên cứu),"Tạp chí Luật học
71. Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên) (2013), Quyền dân sự của công dân trong Hiến pháp: Lý luận và thực tiễn, Báo cáo tổng kết Đề tài khoa học và công nghệ cấp trường, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền dân sự của công dân trong Hiếnpháp: Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên)
Năm: 2013
72. Đỗ Minh Khôi, Nhà nước pháp quyền và việc thực hiện quyền con người trong Hiến pháp 2013, Kỷ yếu hội thảo triển khai thi hành chế định “Quyền con người , quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” trong Hiến pháp 2013, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền và việc thực hiện quyền con người trongHiến pháp 2013", Kỷ yếu hội thảo triển khai thi hành chế định “Quyền con người ,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
74. Thái Thị Tuyết Dung (2015), Hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo Hiến pháp 2013, Kỷ yếu hội thảo: Triển khai thi hành chế định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”trong Hiến pháp 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảmthực hiện quyền tiếp cận thông tin theo Hiến pháp 2013", Kỷ yếu hội thảo: Triểnkhai thi hành chế định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Tác giả: Thái Thị Tuyết Dung
Năm: 2015
75. Vũ Hồng Anh (2015), “Quyền biểu tình của công dân và những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng Luật Biểu tình”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23 (303) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền biểu tình của công dân và những vấn đề đặt rađối với công tác xây dựng Luật Biểu tình”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Năm: 2015
76. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nôi (2016), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lập hội của công dân: Lý luận và thực tiễn” , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Cơchế bảo đảm thực hiện quyền lập hội của công dân: Lý luận và thực tiễn”
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nôi
Năm: 2016
77. Lê Minh Dũng (2016), “Cơ sở pháp lý của quyền tự do ngôn luận”, Tạp chí Nghề luật, (số 1/2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở pháp lý của quyền tự do ngôn luận”, "Tạp chíNghề luật
Tác giả: Lê Minh Dũng
Năm: 2016

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w