Song không phải lúc nào việc giải quyết phúc thẩm cũng diễn ra suôn sẻ, liền mạch mà chúng có thể bị gián đoạn trong khoảng thời gian nhất định khi xuất hiện các căn cứ như: Đương sự khá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-*** -
VÕ THỊ HUYỀN MSSV: 1753801011079
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Lê Thị Mơ Các số liệu, bản án, quyết định và trích dẫn trong Khóa luận đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực và tuân thủ các quy định về chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Võ Thị Huyền
Trang 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Luật TTHC Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 ngày
25/11/2015 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2 BLDS Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 của
Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3 BLTTDS Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 ngày
25/11/2015 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
8 TTHC Tố tụng hành chính
10 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 5
1.1.1 Khái niệm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 5
1.1.2 Đặc điểm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 8
1.1.3 Ý nghĩa tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 10
1.2 Quy định của pháp luật Tố tụng hành chính Việt Nam về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 13
1.2.1 Căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 13
1.2.2 Thẩm quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 29
1.2.3 Trình tự, thủ tục tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 32
1.2.4 Hậu quả của tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 36
2.1 Thực trạng về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 36
2.1.1 Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật Tố tụng hành chính Việt Nam về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 36
2.1.2 Bất cập trong quy định của pháp luật về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 49
2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính 57
2.2.1 Về mặt pháp lý 57
2.2.2 Về mặt thực tiễn 62
KẾT LUẬN 70
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước yêu cầu đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế, đồng thời tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về chiến lược cải cách tư pháp theo Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức TAND 2014, ngày 25/11/2015 tại kỳ họp được kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật TTHC 2015 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 Luật TTHC 2015 được ban hành trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh TTGQVAHC năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm
1998, 2006 và Luật TTHC 2010, khắc phục những bất cập, thiếu sót, hạn chế trong quy định của Luật TTHC 2010, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn
áp dụng pháp luật, từ đó tạo hành lang pháp lý chỉnh chu, vững chắc để hoạt động xét
xử VAHC được hiệu quả, đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các Tòa án Sự ra đời, đổi mới, tiến bộ của Luật TTHC 2015 đã dần đáp ứng mong đợi của người dân và toàn xã hội về công tác xét xử VAHC Với
việc đề cao tinh thần “trách nhiệm, kỷ cương, chất lượng, vì công lý”, số lượng vụ
VAHC được TAND các cấp thụ lý và giải quyết ngày càng tăng, chất lượng công tác xét xử được bảo đảm Có thể thấy, các quy định của Luật TTHC 2015 về xét xử VAHC nói chung và tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC nói riêng đã dần được hoàn thiện, chặt chẽ hơn, là khung pháp lý quan trọng để Tòa án thực thi pháp luật được hiệu quả; là thành trì vững chãi giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân lấy làm công cụ
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh được sự xâm phạm từ các chủ thể có thẩm quyền
Trong quá trình Tòa án giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm có thể xuất hiện các căn cứ khiến cho việc giải quyết vụ án không thể tiếp tục, nếu Tòa án vẫn giải quyết trong trường hợp này, kết quả vụ án sẽ không chính xác, khách quan, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Do vậy, Tòa án phải ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC tạm dừng việc xét xử phúc thẩm trong một thời hạn nhất định cho tới khi lý do tạm đình chỉ được khắc phục nhằm đảm bảo kết quả giải quyết vụ án được chính xác, khách quan Tuy nhiên, nếu việc ban hành quyết định tạm đình chỉ không chính xác, mang nặng yếu tố chủ quan, duy ý chí của Thẩm phán sẽ ảnh hưởng đến tiến trình giải quyết vụ án, “ngâm án” trong một thời gian dài, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, tạo làn sóng bất bình từ dư luận, báo chí Xuất phát từ tính chất cấp bách, quan trọng của việc ban hành quyết định tạm đình chỉ đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế điều chỉnh thật chặt chẽ, loại bỏ những “kẽ hở” là căn nguyên dẫn đến Tòa án lạm dụng, tùy tiện,
Trang 6qua loa trong việc ban hành quyết định nhằm kéo dài thời gian xét xử vụ án Việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống chế định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC về cơ sở lý luận, pháp lý; thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về chế định này là cơ sở làm rõ những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong quy định pháp luật cũng như khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng dẫn đến cách giải quyết bất nhất của các Tòa án Từ đó có những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện nhằm khắc phục những lỗ hổng của quy định pháp luật trong tương lai, thiết lập hành lang pháp lý chung cho các Tòa án khi ban hành quyết định tạm đình chỉ được đồng bộ, thống nhất, chính xác, đúng đắn Xuất phát từ tính chất quan trọng, cần thiết trên, tác giả đã
lựa chọn đề tài “Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đương sự kháng cáo, VKS kháng nghị với mong mỏi duy nhất là được Tòa án cấp phúc thẩm giành lại cho họ lẽ phải, lẽ công bằng mà đáng lẽ phải được pháp luật công nhận, bảo vệ Vì vậy, việc Tòa án ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm không chỉ làm gián đoạn quá trình xét xử mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, hiện nay chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về vấn đề này Các công trình nghiên cứu có chăng chỉ nghiên cứu về chế định “Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính” – là quyết
định được ban hành ở giai đoạn sơ thẩm như: Khóa luận tốt nghiệp “Tạm đình chỉ
giải quyết vụ án hành chính” (2014) của Trần Linh Huân, “Tạm đình chỉ giải quyết
vụ án hành chính” (2017) của Trương Nguyễn Nhật Hồng, Luận án tiến sĩ “Chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” (2018) của Trần Quốc Hùng…Một số bài báo, tạp chí có đề cập đến vấn đề này
như bài viết trên tạp chí Nhà nước và pháp luật “Thủ tục phúc thẩm vụ án hành
chính” (2020), tạp chí Tòa án nhân dân “Bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính về quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm và kiến nghị hoàn thiện”
(2021) của tác giả Lê Thị Mơ, “Bàn về vấn đề tạm đình chỉ trong giai đoạn xét xử vụ
án hành chính phúc thẩm” (2012) của tác giả Trần Đức Long…Tuy nhiên các công
trình này hạn chế về dung lượng, thời gian nghiên cứu nên chưa đi sâu phân tích, khai thác hết các khía cạnh lý luận, thực tiễn của chế định này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các khía cạnh lý luận và pháp lý, thực trạng thực hiện quy định của pháp luật, tác giả chỉ ra những khó khăn, hạn chế của Tòa án khi thực hiện quy định của pháp luật trên thực tế và những điểm thiếu sót, bất cập trong quy định của pháp luật để đưa ra những nhận xét, kiến nghị hoàn thiện về mặt pháp lý, thực
Trang 7tiễn để tạo một hành lang pháp lý ổn định, phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả xét
xử VAHC nói chung, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC nói riêng
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Trong đó, về mặt lý luận, pháp lý, đề tài tập trung xây dựng, phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và quy định của Luật TTHC về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Trên cơ sở đó,
đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quy định của Luật TTHC về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm của các Tòa án trên thực tế, nêu bật các bất cập của Luật
và đề ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của Luật
Theo quy định của Luật TTHC, trình tự, thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm và trình tự, thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án là khác nhau Khi giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án thì Tòa án không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập đương sự1, trong khi đó, việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị về bản án sơ thẩm phức tạp hơn, khi
đủ điều kiện cần thiết, Tòa án phải mở phiên tòa, triệu tập đương sự Xuất phát từ sự khác biệt này nên khi tác giả nghiên cứu về việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm cũng tồn tại những điểm khác nhau nhất định giữa hai thủ tục trên Do đó, để bảo đảm việc nghiên cứu đề tài “tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính” được thống nhất, trọng tâm và có chiều sâu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ về tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm VAHC khi Tòa án phúc thẩm giải quyết kháng cáo, kháng nghị về bản
án sơ thẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm làm sáng tỏ từng vấn
đề khi nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, đối chiếu, thống kê…; phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê nin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh để có thể đưa ra cách nhìn nhận khách quan, toàn diện vấn đề, tránh chủ quan, phiến diện khi nghiên cứu cùng với đó là các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
1 Điều 226 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 86 Ý nghĩa đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các độc giả, tác giả các công trình khác khi tìm hiểu về chế định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài cũng tạo cơ sở pháp lý về mặt khoa học cũng như thực tiễn cho các nhà nghiên cứu lập pháp, luật gia…trong quá trình xây dựng hành lang pháp lý mới cho Luật TTHC sửa đổi trong thời gian sắp tới, đáp ứng mong mỏi của nhân dân vào công lý và thực thi công lý trên thực tế, củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC
THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
1.1.1 Khái niệm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Quá trình giải quyết phúc thẩm VAHC trải qua các trình tự, thủ tục khác nhau
từ nhận đơn, xem xét đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị cho đến thụ lý, chuẩn bị xét xử, xét xử phúc thẩm VAHC Mỗi trình tự, thủ tục có những công việc, hoạt động
cụ thể, thế nhưng đều nhằm mục đích giải quyết kháng cáo, kháng nghị một cách chính xác, đúng đắn nhất Song không phải lúc nào việc giải quyết phúc thẩm cũng diễn ra suôn sẻ, liền mạch mà chúng có thể bị gián đoạn trong khoảng thời gian nhất định khi xuất hiện các căn cứ như: Đương sự kháng cáo là cá nhân chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan… Nói cách khác, khi xuất hiện một trong các căn cứ này Tòa án cấp phúc thẩm phải tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án để có thời gian khắc phục, bảo đảm cho việc giải quyết được đúng đắn, chính xác Vấn đề đặt ra, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC được hiểu như thế nào?
Hiện nay, khái niệm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC chưa được chính thức thừa nhận trong quy định tại Luật TTHC và các văn bản pháp luật có liên quan Chính vì vậy, việc tìm hiểu về khái niệm này phải dựa trên khía cạnh lý luận và cách giải thích các thuật ngữ trong nội hàm của nó Theo đó, để hiểu rõ được khái niệm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC, chúng ta cần hiểu được các cụm từ sau:
“VAHC”; “tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm”
Trước hết là khái niệm về VAHC, hiện nay Luật TTHC và các văn bản pháp luật có liên quan cũng chưa có quy định đề cập đến và đương nhiên để hiểu rõ nội hàm của nó chúng ta cũng bắt đầu từ cách giải thích ngữ nghĩa Trong từ điển Tiếng
Việt thì “vụ” là “việc, sự việc không hay, rắc rối cần được giải quyết 2 ” còn “án” là
“vụ phạm pháp hoặc tranh chấp về quyền lợi cần được xét xử trước Tòa án 3” Mặt
khác, trong Từ điển Luật học cũng nêu “VAHC là vụ án phát sinh tại Tòa hành chính
do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện ra Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp
2 Hoàng Phê (2008) “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.380
3 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/%C3%81n, truy cập ngày 01/4/2021
Trang 10pháp của mình 4” Mặc dù, khái niệm này đã nêu lên được chủ thể khởi kiện, chủ thể
có thẩm quyền giải quyết cũng như mục đích của việc khởi kiện VAHC Tuy nhiên, khái niệm này còn khá chung chung và chưa nêu lên được đối tượng khởi kiện của VAHC là các quyết định hành chính, hành vi hành chính Dưới góc độ nghiên cứu,
Giáo trình Luật TTHC của Trường Đại học Luật Hà Nội nêu “VAHC là vụ việc tranh
chấp hành chính được Tòa án thụ lý theo yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cũng giải thích “VAHC là vụ án phát sinh khi cá nhân, tổ chức khởi kiện hợp lệ các
quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được Tòa án có thẩm
phát sinh khi cá nhân, tổ chức khởi kiện hợp lệ để xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý theo quy định của Luật TTHC
Sau đó, chúng ta cùng tiếp tục tìm hiểu về khái niệm tạm đình chỉ xét xử phúc
thẩm Theo đó, dưới góc độ ngữ nghĩa, “tạm” được hiểu là: “tạm làm việc gì chỉ trong
một thời gian nào đó, khi có điều kiện thì sẽ có thay đổi 7 ”, “tạm đình chỉ vụ án” là
phúc thẩm VAHC, Luật TTHC trực tiếp đề cập “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có
đầu cho chúng ta hiểu “tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm là việc tạm dừng việc xét xử
phúc thẩm sau khi thụ lý vụ án” Nhận thấy, cách giải thích này còn ở mức sơ khai,
theo tính chắp vá các từ ngữ nên để có được khái niệm “tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC” chúng ta cần phải tiếp tục tiếp cận ở khía cạnh lý luận pháp lý từ một
số công trình khoa học có uy tín dưới đây
Về mặt lý luận, tuy không nhiều công trình khoa học đề cập đến trực tiếp khái
4 Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.132
5 Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
tr.217
6 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần thứ
nhất có sửa đổi, bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.23
7 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/T%E1%BA%A1m, truy cập ngày 01/4/2021
8 Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.147
9 Điều 203 Luật Tố tụng hành chính
Trang 11niệm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC nhưng chí ít cũng đề cập gián tiếp hoặc
có điểm qua các nội dung liên quan đến chúng Tại trang 369, Giáo trình TTHC
Trường Đại học Luật Hà Nội có viết “Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm,
Tòa án cấp phúc thẩm có thể ra những quyết định pháp luật nhất định nếu xét thấy
có đủ căn cứ pháp luật, cụ thể là: Khi có những căn cứ phù hợp với quy định của
phần rõ ràng, chi tiết hơn, Giáo trình TTHC Việt Nam Trường Đại học Luật TP.HCM
nêu “Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, hậu
quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 141 và Điều 142 của Luật TTHC 2015 Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành ngay Quyết định tạm
khác, tuy không trình bày trực tiếp, nhưng cũng đã nhắc đến “Trong quá trình giải
quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm có thể phát sinh những căn cứ làm cho Tòa án không thể tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm Khi có các căn cứ này, Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Những căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm là những căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật TTHC Đây là những căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án nhưng phát sinh trong giai đoạn
Huyền đã viết “Khi nhận được kháng cáo, kháng nghị, Tòa án sẽ phải phân công
Thẩm phán giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sẽ nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xét
xử Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu có căn cứ dẫn đến phải tạm đình chỉ giải quyết
vụ án thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm (nếu có các dấu hiệu quy định tại Điều 141) 13” Có thể thấy, về cơ bản, các công trình trên đây đều đưa ra khái niệm về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC nhưng còn ở mức
độ sơ khai, chung chung, chưa cô đọng được một khái niệm hoàn chỉnh, toàn diện Mặc dù vậy, các công trình đều đã phản ánh được về một số điểm cơ bản là: (i) thời điểm; (ii) điều kiện ra quyết định; (iii) chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
Như vậy, khi tập hợp các cách luận giải, lý luận trên đây, chúng ta có thể hiểu:
10 Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân
dân, tr.369
11 Khoản 1 Điều 228 Luật Tố tụng hành chính 2015
12 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2017), Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính 2015, Nhà xuất bản
Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.339
13 Vũ Thư, Lê Thương Huyền (2016), Bình luận Khoa học Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nhà xuất bản
Hồng Đức, tr.238
Trang 12Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC là việc Tòa án cấp phúc thẩm sau khi thụ lý vụ
án đã ra quyết định tạm dừng việc xét xử phúc thẩm khi xuất hiện các căn cứ tạm đình chỉ do Luật định, vụ án sẽ được tiếp tục xét xử khi các căn cứ tạm đình chỉ đó được khắc phục
1.1.2 Đặc điểm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Thông qua khái niệm tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC nêu trên, chúng
ta tiếp tục tìm hiểu các đặc điểm cơ bản của tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC:
Thứ nhất, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC chỉ được Tòa án cấp phúc thẩm ban hành sau khi thụ lý xét xử phúc thẩm
VAHC chỉ được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm khi Tòa án cấp phúc thẩm
ra thông báo thụ lý phúc thẩm Nói cách khác, hành vi thụ lý của Tòa án cấp phúc thẩm là điều kiện quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc xét xử lại vụ án, đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ trong kháng cáo của đương sự, kháng nghị của VKS Đặc biệt, đối với một số quyết định quan trọng của Tòa án thì việc thụ lý phúc thẩm cũng là điều kiện cần để chúng được ban hành nhằm giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm cũng không ngoại lệ Theo đó, Luật TTHC quy định: Sau khi thụ lý vụ án thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa, phiên họp Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên Tòa ra một trong các quyết định: Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án phúc thẩm Đối với vụ án phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 30 ngày14 Như vậy, quy định trên cho chúng ta thấy, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm là hành vi tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và nó chỉ được ban hành sau khi Tòa án có thông báo thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
Thứ hai, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC được ban hành khi xuất hiện các căn cứ luật định
Có thể thấy, đây là một trong các đặc điểm rất căn bản của quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Đặc điểm này xuất phát từ chính nguyên tắc hiến định
tại khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến
14 Điều 221 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 13pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật” và từ nguyên tắc tại
Điều 13 Luật TTHC: “Thẩm phán, hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật” Vì lẽ đó mà trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm hoạt động
độc lập với nhau, không can thiệp vào ý chí của nhau, đồng thời phải tuân theo pháp luật Độc lập và tuân theo pháp luật là hai mặt thống nhất của một vấn đề, chúng không tách rời nhau: càng muốn độc lập thì càng phải tuân theo pháp luật, càng tuân theo pháp luật thì càng độc lập15 Trong việc ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC cũng vậy, Tòa án phải ra quyết định dựa trên các căn cứ Luật định ( được quy định tại Điều 228 dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 141 Luật TTHC) chứ không được ra quyết định dựa trên ý chí chủ quan của mình Nếu ra quyết định không dựa trên quy định của pháp luật sẽ bị coi là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án
Thứ ba, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ là tạm dừng việc xét xử phúc thẩm chứ không làm chấm dứt hẳn việc giải quyết vụ án
Nếu như đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC làm chấm dứt quá trình giải quyết
vụ án theo thủ tục phúc thẩm đồng thời làm phát sinh hiệu lực của bản án, quyết định
sơ thẩm thì tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC chỉ là tạm dừng việc giải quyết VAHC trong một khoảng thời gian Bản chất các căn cứ để tạm đình chỉ là có thể
“được khắc phục” chứ không phải làm cho vụ án đi vào ngõ cụt Tùy thuộc vào thời
hạn tồn tại của lý do tạm đình chỉ mà tiến trình tố tụng sẽ được bắt đầu lại Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay nhưng đó không phải là quyết định cuối cùng của việc giải quyết vụ án như đình chỉ Đó không phải là cách thức để giải quyết vụ án mà là thời gian để có thể bổ sung đầy đủ tài liệu, chứng cứ, cơ sở cũng như điều kiện cần thiết, vững chắc để vụ án được giải quyết chính xác, khách quan
Ở khoảng thời gian này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ trong thời gian ngắn nhất để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết16
Thứ tư, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC có thể được ban hành ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa xét xử phúc thẩm VAHC
Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, nếu xuất hiện các căn
cứ Luật định thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Mà quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm bao gồm cả giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét
15 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần
thứ nhất có sửa đổi bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.88 - 89
16 Khoản 3 Điều 142 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 14xử tại phiên Tòa Như đã phân tích ở trên, việc ra quyết định này không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Thẩm phán mà phụ thuộc vào các căn cứ Luật định Các sự kiện dẫn đến tạm đình chỉ diễn ra một cách khách quan, duy ý chí Do đó, không bất
kể vào thời điểm nào của quá trình xét xử phúc thẩm, các căn cứ này đều có thể xảy
ra bất ngờ, Tòa án dựa trên các căn cứ này để ra quyết định tạm ngưng việc giải quyết
vụ án trong một giai đoạn nhất định Điều này khác với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án bởi nó sẽ được ban hành ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc tại phiên Tòa sơ thẩm Tùy thuộc vào thời điểm mà thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm sẽ thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hoặc Hội đồng xét xử
1.1.3 Ý nghĩa tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC là một chế định quan trọng của Luật TTHC Việc hiểu biết chuyên sâu về các căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hậu quả pháp lý của chế định này có ý nghĩa quan trọng với đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự; với Tòa án xét xử; VKS và với tiến trình tố tụng giải quyết vụ
án
Đối với đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự là chủ thể kháng cáo chủ
yếu làm phát sinh thủ tục phúc thẩm VAHC Vì thế, việc họ nắm vững các quy định
pháp luật về căn cứ, trình tự thủ tục, thẩm quyền và hậu quả pháp lý của chế định tạm
đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC rất cần thiết và có ý nghĩa Trước hết, nó là cơ sở
để các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự chủ động, khẩn trương khắc phục các sự kiện phát sinh làm cho vụ án bị tạm đình chỉ, để vụ án được nhanh chóng tiếp tục xét xử, tránh bị kéo dài ảnh hưởng đến thời gian, công sức, chi phí và góp
phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Tiếp đến, việc hiểu và nắm vững
chế định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm còn là cơ sở để các đương sự, người đại diện của đương sự theo dõi, giám sát hoạt động tạm đình chỉ của Tòa án, nhằm loại trừ những trường hợp Tòa án tạm đình chỉ tùy tiện, cố tình trì hoãn việc giải quyết vụ án,
bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân kịp thời, hiệu quả
Đối với hoạt động xét xử của Tòa án
Trước hết, việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm nhằm đảm bảo cho hoạt động
xét xử của Tòa án được đúng đắn, khách quan, chính xác Tòa án giải quyết vụ án không được dựa trên sự chủ quan, ý chí của cá nhân mình mà phải dựa trên các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để có cách giải quyết toàn diện, chính xác Tạm
Trang 15đình chỉ xét xử phúc thẩm nhằm đảm bảo cho Tòa án có thêm thời gian thu thập tài liệu, chứng cứ để chuẩn bị cho quá trình tố tụng tiếp theo được diễn ra suôn sẻ Trong một số trường hợp, việc thu thập chứng cứ của Tòa án phải lệ thuộc vào cơ quan khác như: đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan; kết quả giám định bổ sung, giám định lại; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ Khi chưa có đủ chứng cứ cần thiết, Tòa án rất khó
có thể đưa ra phán quyết một cách chính xác, khách quan, toàn diện Nếu Tòa án đưa
ra phán quyết trong trường hợp này sẽ mang tính chất chủ quan, phiến diện Vì vậy, pháp luật đưa ra quy định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm trong trường hợp này là rất cần thiết, đảm bảo cho những phán quyết của Tòa không chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng mà còn dựa vào các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án 17 Tiếp theo,
quy định về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm đảm bảo cho Tòa án không vi phạm thời gian tiến hành tố tụng Thời gian giải quyết phúc thẩm VAHC được pháp luật quy định rất cụ thể, chi tiết Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau đây: Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; Đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, nhưng không được quá 30 ngày Tuy nhiên, không phải lúc nào tiến trình tố tụng của Tòa án cũng diễn ra trôi chảy, bởi quá trình giải quyết vụ án có thể xuất hiện các sự kiện làm cho Tòa án không thể tiếp tục xét xử phúc thẩm được vụ án Việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm trong trường hợp này là cần thiết, giúp Tòa án không vi phạm thời gian tiến hành tố tụng, từ đó, đảm bảo được
thời gian tiến hành tố tụng Cuối cùng, việc quy định cụ thể về tạm đình chỉ xét xử
góp phần nâng cao được tinh thần trách nhiệm, chất lượng hoạt động, ý thức tôn trọng pháp luật của Tòa án trong hoạt động xét xử, củng cố kỷ cương, công lý Hiểu rõ được các căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm giúp Tòa án thận trọng hơn trong việc ra các quyết định Bởi nếu xuất hiện căn cứ làm cho vụ án bị tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm mà Tòa án không ra quyết định tạm đình chỉ hoặc ra quyết định tạm đình chỉ trái luật thì có thể bị xem là
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Xuất phát từ tính chất nghiêm trọng này mà Tòa án cần xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định tạm đình chỉ Có thể nói tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm là cơ hội để Tòa án nhìn nhận, đánh giá lại vụ án một cách toàn
17 Khoản 4 Điều 242 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 16diện, khách quan để xét xử đúng pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm
bảo quyền và lợi ích pháp của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự
Đối với hoạt động giám sát của VKS nhân dân
Xét ở khía cạnh VKS nhân dân, việc quy định đầy đủ, minh thị về chế định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC cũng có những ý nghĩa đáng kể Điều này sẽ
là tiêu chí rất cần thiết để VKS có kháng nghị nói riêng và VKS nói chung thực hiện việc giám sát, kiểm sát việc tạm đình chỉ được thuận lợi, dễ dàng hơn, chính xác, toàn diện hơn Thông qua đó góp phần nâng cao chất lượng tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC, bảo đảm tốt nhất quyền tham gia tố tụng của các đương sự và của VKS có kháng nghị
Đối với tiến trình tố tụng
Trước hết, đảm bảo cho tiến trình tố tụng diễn ra nhanh chóng, chính xác, tránh
tình trạng “ngâm án”, kéo dài thời gian xét xử phúc thẩm vụ án Khi Tòa án nhận
định đúng lý do, căn cứ khiến vụ án không thể tiếp tục xét xử, Tòa án sẽ đưa ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Quyết định tạm đình chỉ đúng sẽ giúp cho vụ án được giải quyết nhanh chóng, thấu đáo, tránh tình trạng kéo dài thời gian xét xử Từ
đó thúc đẩy tiến trình tố tụng diễn ra nhanh gọn, chính xác, hiệu quả, giảm bớt áp lực
cho Tòa án trong quá trình xét xử Ngoài ra, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC
giúp tiết kiệm được tiền bạc, công sức, thời gian cho cả cơ quan công quyền lẫn các đương sự, người đại diện hợp pháp của họ trong quá trình giải quyết VAHC Như đã phân tích ở trên, trường hợp xuất hiện căn cứ tạm đình chỉ nhưng Tòa án lại tiếp tục giải quyết VAHC hoặc ra quyết định không có căn cứ thì có thể được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Bản án, quyết định phúc thẩm lúc này có nguy cơ bị chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Hội đồng xét xử có thể sẽ hủy bản án phúc thẩm để xét xử lại theo quy định của pháp luật Từ
đó, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án Như vậy, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC là cách thức để tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc cho cả cơ quan công quyền lẫn cả
đương sự trong tiến trình TTHC
Bên cạnh các ý nghĩa trên, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC còn thể hiện
sự phối hợp giữa các cơ quan công quyền trong tiến trình giải quyết vụ án Bởi trong một số trường hợp để giải quyết được VAHC thì cần có kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan nên tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC thể hiện mối quan hệ tương hỗ, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực Nhà nước để giải quyết vụ án được
Trang 17chính xác, tinh gọn Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm còn tạo thời gian để cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện có thời gian để nhìn nhận lại quyết định, hành vi của mình Bởi dẫu các cá nhân, cơ quan, tổ chức mang quyền lực Nhà nước nhưng không phải lúc nào quyết định, hành vi của
họ cũng hợp pháp, có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật mà có thể không tránh khỏi những sai sót nhất định Thông qua tạm đình chỉ các chủ thể này có thể sẽ
có những điều chỉnh, khắc phục nhất định để không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người kháng cáo bản án, quyết định của Tòa sơ thẩm vì quyết định, hành vi hành chính sai trái của họ
Kết luận lại, trên đây, tác giả đã lần lượt phân tích, đánh giá một cách toàn diện các ý nghĩa quan trọng của chế định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC đối với đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự; với Tòa án; VKS nhân dân và tiến trình TTHC
1.2 Quy định của pháp luật Tố tụng hành chính Việt Nam về tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm vụ án hành chính
Hiện nay, Luật TTHC quy định về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC tại Điều 228 Qua việc nghiên cứu điều khoản này, tác giả nhận thấy Điều 228 đã đề cập đến các căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC
1.2.1 Căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Có thể thấy, quy định của Luật TTHC về các căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC rất quan trọng, là cơ sở để Tòa án tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm chính xác, đúng luật, loại bỏ trường hợp ban hành tùy tiện, thiếu thống nhất ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng và quyền tham gia tố tụng của đương sự và VKS Nhìn chung, trên
cơ sở kế thừa có chọn lọc từ quy định của Luật TTHC năm 2010, Luật TTHC hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng về các căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Theo đó, bằng phương pháp dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 228 Luật TTHC đã quy định sáu căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC
Thứ nhất, đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên
bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
Đương sự trong VAHC bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan18 Đương sự có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức Đương
18 Khoản 7 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 18sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch Đương sự là cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật19 Khi tham gia vào TTHC các chủ thể này đều có các quyền và nghĩa vụ tố tụng cụ thể Tùy từng trường hợp khác nhau mà họ có thể tham gia với tư cách là người khởi kiện, người bị kiện hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lúc này, họ có thể thực hiện quyền, nghĩa vụ trong Luật TTHC quy định hoặc ủy quyền cho người đại diện của mình tham gia tố tụng
Khi VAHC được thụ lý theo thủ tục phúc thẩm, quyền và nghĩa vụ của đương
sự bắt đầu phát sinh và gắn liền với cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể khi họ tham gia
tố tụng Tuy nhiên, quá trình giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm có thể bị gián đoạn bởi các sự kiện đương sự là cá nhân chết, cơ quan tổ chức đã giải thể hoặc tuyên
bố phá sản Điều này làm ảnh hưởng đến tiến trình giải quyết vụ án của Tòa án Đương sự là cá nhân chết có thể hiểu theo hai nghĩa bao gồm chết sinh học và chết pháp lý Trong đó chết sinh học được hiểu là con người mất khả năng sống, không còn có biểu hiện của sự sống20 Khi cá nhân chết theo nghĩa này thì quyền và nghĩa
vụ tố tụng của họ theo đó mà chấm dứt theo Còn chết về mặt pháp lý là việc TAND
ra quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan khi có đủ những điều kiện Luật định21 Việc tuyên bố một cá nhân chết
là chết về mặt pháp lý theo yêu cầu của người có quyền lợi, lợi ích liên quan, có thể người này vẫn còn sống ở đâu đó Vì vậy, khi người bị tuyên bố chết quay trở về hoặc
có tin tức xác thực họ còn sống, thì chính người này hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu TAND hủy bỏ quyết định tuyên bố chết Khi cá nhân chết theo nghĩa này thì quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ có thể được khôi phục trở lại khi người chết quay về Cơ quan tổ chức bị giải thể trong các trường hợp: Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn; Theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ
19 Khoản 11 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
20 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Ch%E1%BA%BFt, truy cập ngày 09/4/2021
21 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự (Tái bản
lần thứ nhất có sửa đổi, bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.125
Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các điều kiện để người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa
án tuyên bố một người là đã chết
Trang 19phần; Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản
lý thuế có quy định khác22 Còn phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị TAND ra quyết định tuyên bố phá sản23 Khi một pháp nhân giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản thì pháp nhân đó sẽ bị chấm dứt sự tồn tại24 Nếu như không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ cũng có nguy cơ chấm dứt theo Trong quá trình giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm, có thể xảy ra các trường hợp đương sự là
cá nhân chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản làm ảnh hưởng đến tiến trình xét xử phúc thẩm của Tòa án Vì vậy, việc xác định các căn cứ là cá nhân chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án nói riêng và tiến trình TTHC nói chung
Khi xảy ra sự kiện pháp lý đương sự là cá nhân chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản, Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC khi chưa xác định được người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng Việc ra quyết định tạm đình chỉ lúc này là cần thiết để xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Bởi nếu không có người kế thừa thì quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ có nguy
cơ chấm dứt Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là trường hợp khi đang tiến hành mà
có đương sự không thể tiếp tục tham gia tố tụng nữa (đối với cá nhân) hoặc chấm dứt hoạt động, giải thể, sáp nhập (đối với tổ chức), thì vụ án vẫn được tiếp tục giải quyết
để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án25 Việc Tòa
án ra quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp này là cần thiết nhằm đảm bảo quyền tham gia tố tụng của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng và đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác Cách thức xác định người kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng được thực hiện theo quy định của pháp luật Trường hợp người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng26 Theo quy định của BLDS hiện hành, tùy thuộc vào mức
độ thân thích, gần gũi của mỗi người trong diện thừa kế với người chết mà họ được
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Người nào trong diện thừa kế có mức độ gần gũi nhất với người chết sẽ được kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người chết để lại
22 Khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020
23 Khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014
24 Khoản 1 Điều 96 Bộ luật Dân sự 2015
25 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần
thứ nhất có sửa đổi, bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.150
26 Khoản 1 Điều 59 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 20trước tiên Pháp luật dân sự phân chia thành các hàng thừa kế Theo đó, những người
ở hàng thừa kế thứ nhất sẽ được ưu tiên kế thừa đầu tiên, nếu không có người ở hàng thừa kế thứ nhất sẽ chuyển sang hàng thừa kế thứ hai Và nếu không còn người ở hàng thừa kế thứ hai thì người ở hàng thừa kế thứ ba sẽ kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết
mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại Hàng thừa kế thứ ba bao gồm:
cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột,
dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại27 Trường hợp cơ quan, tổ chức đã giải thể thì việc xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng tùy thuộc vào các trường hợp cụ thể sẽ khác nhau Trường hợp người khởi kiện là cơ quan, tổ chức bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể thì cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức cũ thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó28 Còn trường hợp người bị kiện là người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức mà cơ quan, tổ chức đó hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể thì người tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của người đó tham gia tố tụng Nếu người bị kiện
là người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức mà chức danh đó không còn thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bị kiện29 Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có người kế thừa quyền, nghĩa vụ thì cơ quan, tổ chức cấp trên thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bị kiện30 Luật mới chỉ quy định kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng trong trường hợp cơ quan,
tổ chức bị giải thể mà chưa hề đề cập đến việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng trong trường hợp tổ chức bị tuyên bố phá sản
Ngoài ra, cũng cần chú ý rằng, nếu quyền và nghĩa vụ đương sự đang yêu cầu Tòa án giải quyết liên quan đến tài sản mà trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án đương sự chết thì Tòa án mới ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Còn nếu quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự đang yêu cầu Tòa án giải quyết có liên quan đến nhân thân, mà trong quá trình giải quyết đương sự chết thì Tòa án không
ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm mà ra quyết định đình chỉ xét xử phúc
thẩm vụ án Bởi theo quy định của BLDS thì “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn
27 Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015
28 Khoản 2 Điều 59 Luật Tố tụng hành chính 2015
29 Khoản 3 Điều 59 Luật Tố tụng hành chính 2015
30 Khoản 4 Điều 59 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 21liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác 31”
Như vậy, trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC mà xảy ra sự kiện là đương
sự chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Yếu tố “chưa có” ở đây được hiểu là quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ được phép thừa kế theo quy định của BLDS về thừa kế nhưng tại thời điểm đó, Tòa án chưa xác định được ngay chủ thể có quyền thừa kế là ai, đang ở đâu nên Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm để có thời gian xác định chủ thể được thừa kế và
sẽ tiếp tục giải quyết vụ án sau khi xác định được cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Còn nếu đương sự là cá nhân chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế hoặc đương sự là cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc phá sản mà không có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC
Ví dụ: Ông K khởi kiện UBND Quận HĐ đến TAND Thành phố H theo thủ tục sơ thẩm vì cho rằng UBND Quận HĐ đã ra quyết định số: 01/QĐ/-UBND thu hồi
200 m2 đất của ông là không có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông K Không đồng ý với phán quyết của Tòa sơ thẩm, ông K sau đó đã tiếp tục kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết Sau khi vụ án được thụ lý ông K đột ngột qua đời vì bệnh nặng mà Tòa phúc thẩm chưa xác định được người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Trường hợp này Tòa
án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm để tìm người kế thừa quyền, nghĩa vụ TTHC cho ông K theo điểm a khoản 1 Điều 141, Điều 228 Luật TTHC
Thứ hai, đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật
Trong quá trình giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm có thể xảy ra sự kiện pháp lý đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật Năng lực hành vi dân sự được hiểu
là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự32 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân thể hiện ở hai khía cạnh là khả năng thực hiện giao dịch và khả năng gánh chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình Mọi
cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên không rơi vào trường hợp mất năng lực hành vi dân sự;
31 Khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự 2015
32 Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 22có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Mất năng lực hành vi dân sự được hiểu là: Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần33 Khi một người bị mất năng lực hành vi dân sự họ không thể tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân
sự, lúc này mọi quyền và nghĩa vụ được xác lập thông qua người đại diện theo pháp luật Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi34 Người mất năng lực hành vi dân sự là người “không có” khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, còn người chưa thành niên là người mặc dù có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng khả năng đó lại “không đầy đủ” bởi họ còn hạn chế về độ tuổi, về tâm sinh lý Để bảo vệ các bên yếu thế này pháp luật quy định rằng người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên sẽ xác lập giao dịch thông qua người đại diện
Để tham gia vào quá trình TTHC, đương sự cần có năng lực pháp luật và năng lực hành vi TTHC Năng lực pháp luật TTHC là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong TTHC do pháp luật quy định Còn năng lực hành vi TTHC là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong TTHC hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia TTHC Nếu năng lực pháp luật là điều kiện cần thì năng lực hành vi TTHC là điều kiện đủ để đương sự tham gia vào quá trình TTHC35 Trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC đương sự đòi hỏi phải có năng lực pháp luật TTHC và năng lực hành vi hành chính thì mới giúp vụ án được giải quyết chính xác, khách quan Nếu đương sự mất năng lực hành vi dân sự, là người chưa thành niên mà “đã xác định được” người đại diện theo pháp luật, người đó sẵn sàng tham gia tố tụng thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án Nếu đương sự không có năng lực hành vi dân sự, là người chưa thành niên mà “chưa xác định được” người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng Tòa án buộc phải tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC để tìm kiếm người đại diện theo pháp luật Chưa xác định được ở đây hiểu là đương sự đó có người đại diện theo pháp luật nhưng vì lý do nào đó mà Tòa án chưa xác định được người đại diện theo pháp luật đó là ai, đang ở đâu36 Việc tạm đình chỉ là cần thiết nhằm xác định người đại
33 Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015
34 Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015
35 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2017), Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính 2015, Nhà xuất bản
Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.226
36 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần
thứ nhất có sửa đổi, bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.406
Trang 23diện theo pháp luật để thay thế đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong TTHC
Theo quy định của Luật TTHC “Đương sự là người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương
luật được quy định tại Điều 60 Luật TTHC là cha mẹ đối với người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ Đối với người mất năng lực hành vi dân
sự, chế định giám hộ38 được quy định trong BLDS bao gồm giám hộ theo sự chọn lựa của người được giám hộ và giám hộ đương nhiên Trường hợp cá nhân khi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đã lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý Giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự nếu như
họ không lựa chọn người giám hộ được quy định cụ thể như sau: Trong trường hợp
vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ Đối với người chưa thành niên chế định giám hộ đương nhiên được áp dụng trong trường hợp: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ Điều
52 BLDS quy định người giám hộ cho người chưa thành niên trong trường hợp này được xác định như sau: Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị
37 Khoản 4 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015
38 Theo Điều 46 Bộ luật Dân sự: Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được UBND cấp xã
cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)
Trang 24ruột khác làm người giám hộ; Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản
1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ; Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ
Khi tham gia vào VAHC, người đại diện theo pháp luật trong TTHC thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTHC của đương sự mà mình đại diện Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng được làm người đại diện theo pháp luật Pháp luật quy định những trường hợp không được làm người đại diện theo pháp luật như: Nếu họ là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện; Nếu họ đang là người đại diện trong TTHC cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một
vụ án Ngoài ra, cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, VKS, Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an không được làm người đại diện trong TTHC, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật Quy định như vậy là hợp lý nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC, tránh trường hợp xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia tố tụng
Như vậy, trong quá trình xét xử phúc thẩm VAHC mà đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên có người đại diện theo pháp luật nhưng chưa xác định được họ là ai, đang ở đâu thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Đây là quy định mới, bởi Pháp lệnh TTGQVAHC không quy định căn cứ này, còn Luật TTHC 2010 chỉ quy định Tòa án tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với người mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật Quy định của Luật TTHC 2015 là một điểm tiến bộ vì người mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất còn người chưa thành niên chưa phát triển hoàn toàn đầy đủ về thể chất, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân39 nên cần có người đại diện theo pháp luật để thay họ thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng Nhưng không phải lúc nào người đại diện theo pháp luật cũng sẵn sàng tham gia tố tụng nên Luật đặt ra chế định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm để có thời gian tìm kiếm người thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTHC
39 Vũ Thư, Lê Thương Huyền (2016), Bình luận Khoa học Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nhà xuất bản
Hồng Đức, tr.159
Trang 25Ví dụ: Không đồng ý với quyết định xử phạt hành chính của Chi cục trưởng chi cục quản lý thị trường tỉnh A, bà C đã khởi kiện vụ án ra TAND tỉnh A yêu cầu hủy quyết định trên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
C Bà C sau đó đã kháng cáo vụ án theo trình tự phúc thẩm và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý Sau khi vụ án được thụ lý, bà C rơi vào tình trạng tổn thương tinh thần, không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Do chưa xác định được người đại diện theo pháp luật của bà C, Tòa
án cấp phúc thẩm trong trường hợp này đã ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC theo điểm b khoản 1 Điều 141, Điều 228 Luật TTHC
Thứ ba, đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể
có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự
Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là thời hạn để Tòa án cấp phúc thẩm nghiên cứu hồ sơ, xem xét, kiểm tra và cần thiết thì bổ sung chứng cứ, là thời gian để đối chiếu các quy định pháp luật đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng, làm rõ nội dung các quy định đó, xác định tính đúng đắn trong quan điểm áp dụng của Tòa án cấp sơ thẩm40 Sau khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày, Thẩm phán chủ tọa phiên Tòa phải đưa ra một trong các quyết định: Tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm; Đình chỉ xét xử phúc thẩm; Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Tùy thuộc vào tính chất loại vụ việc mà thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là khác nhau, đối với vụ việc thông thường thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 60 ngày, còn đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa
án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 30 ngày Khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm các đương sự phải có mặt để tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm Việc tham gia phiên tòa xét xử vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án vì họ là người có quyền, nghĩa
vụ trong vụ án Tuy nhiên, không phải lúc nào đương sự cũng có thể tham gia được phiên tòa xét xử theo đúng yêu cầu, mà có thể do nhiều lý do khách quan, chủ quan khác nhau mà họ không thể tham gia phiên tòa Trong trường hợp này Tòa án phải xem xét lý do đương sự không thể tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm là gì, có chính đáng hay không? Nếu lý do đương sự đưa ra là chính đáng, Tòa án có thể xem xét tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC, còn nếu lý do đương sự đưa ra không chính đáng thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án Việc xác định lý do chính đáng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xét xử phúc thẩm VAHC được chính xác, khách quan,
40 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần
thứ nhất có sửa đổi, bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.342
Trang 26đảm bảo đúng pháp luật Vậy lý do chính đáng là gì? Như thế nào thì được xem là lý
do chính đáng? Hiện nay không có bất cứ điều luật nào của Luật TTHC định nghĩa
về lý do chính đáng Theo tinh thần của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP thì “lý do chính đáng” được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được41 Lý do chính đáng có thể là các sự kiện bất ngờ như thiên tai, tai nạn, đau ốm…làm cho đương sự không lường trước được, không tham gia vụ án đúng thời hạn mà pháp luật quy định Sự xuất hiện các sự kiện này không xuất phát từ ý chí chủ quan của đương sự, đương sự không biết trước được và đã cố gắng khắc phục nhưng không thể khắc phục được Cách hiểu này tương đồng với sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật TTHC Khi rơi vào trường hợp này, Tòa án phải
ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án nhằm đảm bảo quyền tham gia TTHC của đương sự Ngược lại, nếu đương sự vắng mặt nhưng không chứng minh được lý do vắng mặt của mình là chính đáng thì Tòa án không thể ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC theo điểm c khoản 1 Điều 141
Tuy nhiên, cần lưu ý không phải mọi trường hợp khi hết thời hạn chuẩn bị xét
xử phúc thẩm mà đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng thì Tòa án đều ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án Nếu đương sự thuộc trường hợp xét
xử vắng mặt thì Tòa án không ra quyết định tạm đình chỉ mà vẫn tiếp tục giải quyết
vụ án theo thủ tục phúc thẩm Vậy trường hợp nào, Tòa án được quyền xét xử vắng mặt đương sự? Đó là khi đương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, có người đại diện của họ tham gia phiên Tòa hoặc thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản
2 Điều 225 Luật TTHC thì Tòa án vẫn xét xử vắng mặt đương sự mà không cần xem xét việc đương sự vắng mặt có lý do chính đáng hay không Đây là quy định phù hợp với thực tiễn để bảo đảm cho VAHC được giải quyết một cách nhanh chóng, bởi mặc
dù đương sự vắng mặt tại phiên Tòa xét xử phúc thẩm vụ án nhưng đã thể hiện được
ý chí của mình trong việc đảm bảo quyền lợi của bản thân thông qua đơn đề nghị xét
xử vắng mặt, hoặc đã có người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham gia phiên Tòa42
Như vậy, khi rơi vào căn cứ đã hết thời hạn xét xử phúc thẩm mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xử vắng mặt đương sự thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Đây không phải là quy định mới trong Luật TTHC 2015 mà được kế thừa từ Pháp lệnh
41 Khoản 3 Điều 15 của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính
42 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần
thứ nhất có sửa đổi, bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.408
Trang 27TTGQVAHC và Luật TTHC 2010 Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền tham gia TTHC của đương sự, đồng thời giúp vụ án được giải quyết tinh gọn, nhanh chóng, chính xác
Ví dụ: Ông A bị UBND Quận BT ra quyết định số 123/QĐ-UBND thu hồi 100 m2 đất Ông A đã khởi kiện ra Tòa án cấp sơ thẩm, tuy nhiên Tòa sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông A Cho rằng phán quyết của Tòa sơ thẩm không có căn cứ, ông A đã kháng cáo bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm và được Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết Khi Tòa án gửi giấy triệu tập hợp lệ ông A vắng mặt vì lý do
bị tai nạn giao thông nên không thể tham gia phiên Tòa mà thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án đã hết Trong trường hợp này, để đảm bảo được quyền tham gia tố tụng của ông A, Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC theo điểm c khoản 1 Điều 141, Điều 228 Luật TTHC
Thứ tư, cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết
vụ việc khác có liên quan
Trong quá trình giải quyết VAHC theo thủ tục phúc thẩm có thể xảy ra trường hợp nội dung vụ án liên quan đến một vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh doanh thương mại, lao động… hoặc một vụ việc khác có liên quan đang được Tòa án có thẩm quyền giải quyết mà nội dung, kết quả của việc giải quyết các vụ án này có ý nghĩa quan trọng là cơ sở pháp lý, tiền đề cần thiết để phục vụ cho việc giải quyết VAHC được toàn diện, chính xác thì Tòa án đang giải quyết VAHC phải ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC để đợi kết quả giải quyết từ cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan Khi chưa có kết quả giải quyết của các vụ việc trên thì Tòa án không đủ căn cứ để giải quyết vụ án, dẫn đến việc giải quyết vụ án không đảm bảo tính đúng đắn, khách quan Quy định này là cần thiết, giúp Tòa án có
cơ sở pháp lý, chứng cứ xác thực trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án, xác định tư cách người tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, bảo vệ quyền lợi của các đương sự trong vụ án Ngoài ra, quy định này nhằm đảm bảo trật
tự công, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vụ án; đảm bảo mối liên hệ giữa các bản án, quyết định của Tòa án; cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ cần thiết để giải quyết VAHC được bao quát, toàn diện, đúng đắn
Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A có hành vi vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông và
bị Đội trưởng đội cảnh sát giao thông ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính cùng với đó là áp dụng hình thức xử phạt vi phạm bổ sung là tịch thu phương tiện giao thông Không đồng ý với quyết định xử phạt của Đội trưởng đội cảnh sát giao thông ông A đã khởi kiện đến TAND có thẩm quyền Tòa án sau khi xét xử sơ thẩm đã ra
Trang 28bản án theo đó không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông A Ông A đã kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án sau khi thụ lý vụ án đã xác định Tòa án khác đang giải quyết tranh chấp dân sự về phương tiện giao thông giữa A và
B Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án với căn cứ tại điểm d khoản 1 Điều 141, Điều 228 Luật TTHC
Đây không phải là một quy định mới trong Luật TTHC năm 2015 bởi quy định này đã được Luật TTHC năm 2010 đề cập đến Tuy nhiên, so với Pháp lệnh TTGQVAHC thì căn cứ quy định này tiến bộ hơn nhiều Cụ thể tại điểm c khoản 2 Điều 64 Pháp lệnh có dẫn chiếu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm: Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ cần đợi kết quả giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động, VAHC khác có liên quan Quy định này mang tính chấp hẹp, liệt kê các loại vụ án có liên quan đến nội dung giải quyết VAHC mà Tòa án được quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Nó vô hình chung bó buộc các vụ án cụ thể (hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính khác) mà chỉ khi rơi vào các vụ án đó Tòa án mới được quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Trên thực tế, Tòa án không chỉ đợi kết quả giải quyết vụ án có liên quan mà còn đợi kết quả giải quyết việc có liên quan Bởi vậy, quy định “vụ việc” ở đây là hợp lý vì vụ việc đã bao hàm cả “việc” và “vụ án” Nếu chỉ quy định cần đợi cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án có liên quan thì các nhà làm luật đã bỏ quên một đối tượng quan trọng là “việc” Sau khi đợi kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền, kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan Tòa án mới
đủ cơ sở pháp lý, chứng cứ, tài liệu để tiếp tục giải quyết VAHC
Thứ năm, cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án
Không phải việc giải quyết VAHC nào cũng đơn giản, có những VAHC phức tạp, liên quan đến nhiều nội dung, nhiều đối tượng khác nhau, Tòa án phải căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu chứng cứ để có thể giải quyết triệt để tranh chấp, bảo đảm quyền của các bên trong vụ án Nguồn chứng cứ43 là nơi chứa đựng chứng cứ, nơi rút ra chứng cứ để chủ thể có liên quan sử dụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
43 Chứng cứ được quy định tại Điều 80 Luật Tố tụng hành chính: Chứng cứ trong vụ án hành chính là những
gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ
để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp
Trang 29mình hoặc là cơ sở giải quyết VAHC44 Theo quy định tại Điều 81 Luật TTHC thì kết luận giám định được xem là một trong số các loại nguồn của chứng cứ Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi
đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử sơ thẩm Vậy trong trường hợp nào Tòa án sẽ tiến hành giám định bổ sung, giám định lại? Tòa án ra quyết định giám định bổ sung theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án đã được kết luận giám định trước đó Có thể nói, kết luận giám định không phải trong mọi trường hợp đều rõ ràng, đầy đủ các nội dung cần được giám định và các tình tiết của
vụ án cũng có thể thay đổi, do đó Tòa án trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án sẽ tiến hành giám định bổ sung Giám định lại sẽ được tiến hành trong trường hợp được
có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng VKS nhân dân tối cao, Chánh án TANDTC theo quy định của Luật giám định tư pháp Kết luận giám định bổ sung, giám định lại trong các trường hợp này là cần thiết nhằm giúp Tòa án
bổ sung thêm chứng cứ để giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng đắn nhất Tuy nhiên, việc tiến hành giám định bổ sung, giám định lại có thể tốn thêm nhiều thời gian, do đó Tòa án trường hợp này ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC để chờ kết luận giám định bổ sung, giám định lại
Để giải quyết đúng đắn VAHC Tòa án phải dựa trên tài liệu, chứng cứ, tuy nhiên không phải lúc nào Tòa án cũng đủ điều kiện để tự mình tiến hành việc này, do
đó Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế
để lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của VAHC Pháp luật hiện hành quy định thời hạn cụ thể mà Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc được ủy thác là 30 ngày và phải trả lời bằng văn bản Việc ủy thác cho Tòa án khác nhằm mục đích thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án được chính xác, triệt để Ngoài ra, có những vụ án cần tài liệu, chứng cứ thu thập ở nước ngoài mà Tòa án phải tiến hành ủy thác tư pháp
44 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2017), Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính 2015, Nhà xuất bản
Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.152
Trang 30mới có đầy đủ cơ sở để giải quyết Hiện nay, mặc dù Luật Tương trợ tư pháp không
điều chỉnh vấn đề tương trợ tư pháp về hành chính, song có thể hiểu “Uỷ thác tư pháp
là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ
tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt
hành thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, triệu tập người làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến việc giải quyết VAHC Ủy thác tư pháp được thực hiện thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này hoặc thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế Việc Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập tài liệu chứng cứ nhằm thu thập các tài liệu, chứng cứ còn tản mạn để giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng đắn Không phải lúc nào Tòa án
ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ cũng nhận được kết quả ngay lập tức mà cần một thời gian nhất định để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện Vì vậy, Tòa án phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm là cần thiết Tuy nhiên, cần lưu ý, trường hợp Tòa án xét xử phúc thẩm VAHC đã thực hiện
ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập tài liệu chứng cứ mà không nhận được kết quả hoặc không thực hiện được thì Tòa án vẫn phải giải quyết vụ án dựa trên những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Quy định này là hợp lý, tránh việc Tòa án lợi dụng lý
do đợi cơ quan khác cung cấp tài liệu chứng cứ mà trì hoãn, kéo dài việc giải quyết
án sẽ yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ trong trường hợp
có yêu cầu của đương sự hoặc xét thấy cần thiết rằng cần có tài liệu, chứng cứ đó Tòa
án mới giải quyết được vụ án Khi được Tòa án yêu cầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân
đó có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án “Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, VKS nhân dân
45 Khoản 1 Điều 6 Luật Tương trợ Tư pháp 2007
Trang 31(sau đây gọi là VKS) theo quy định của Luật này khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án,
Tòa án nhưng vẫn không có động thái trả lời hoặc phớt lờ yêu cầu đó, pháp luật cũng
ấn định về thời hạn trả lời: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ cho Tòa án” và chế tài “trường hợp hết thời hạn mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do không thực hiện yêu cầu
mà không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo quy định của luật này và pháp luật
có liên quan” Tuy nhiên, pháp luật không có quy định lý do nào được xem là chính đáng? Thiết nghĩ việc xác định lý do chính đáng hay không là phụ thuộc vào ý chí của Tòa án dựa trên các quy định của pháp luật Việc xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của Tòa án47 Như vậy, khi Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết VAHC được chính xác, triệt để thường cần một thời hạn nhất định Do đó, việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm để đợi cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ là thiết yếu, quan trọng
So với Pháp lệnh TTGQVAHC và Luật TTHC 2010 thì căn cứ “Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án” là một căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm hoàn toàn mới Các hoạt động này dẫn tới việc giải quyết không thể tiếp tục, bị gián đoạn và nếu Tòa án tiếp tục giải quyết VAHC khó có thể giải quyết được triệt để, chính xác, khách quan Do đó, khi Tòa án cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại, ủy thác thu thập chứng cứ hay yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án để giải quyết vụ án thì Toà án được quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Căn cứ này phù hợp với thực tiễn
và giải quyết được những khó khăn, vướng mắc của thực tiễn
Ví dụ: Không đồng ý với Quyết định thu hồi đất của UBND huyện CG bà A
đã khởi kiện VAHC yêu cầu TAND huyện CG hủy bỏ quyết định trên Tòa án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà A Cho rằng phán quyết của Tòa án sơ thẩm không
46 Điều 10 Luật Tố tụng hành chính 2015
47 Khoản 3 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 32có căn cứ, bà A đã kháng cáo vụ án theo trình tự phúc thẩm và được Tòa án ra thông báo thụ lý số 110/2016/TLPT-HC ngày 11/10/2016 “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai” để giải quyết Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nhận thấy “Cần đợi UBND TP.HCM cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án được nêu tại công văn số 4147/TATP-THC ngày 227/11/2016 và số 368/TATP-THC ngày 20/2/2017” thì mới giải quyết được vụ án nên đã ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 141, 142, 228 Luật TTHC48 (Xem Phụ lục I)
Thứ sáu, cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó
Tòa án xét xử VAHC không phải dựa vào ý kiến chủ quan, phiến diện mà phải dựa vào những cơ sở pháp lý nhất định Những cơ sở pháp lý này thường được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Tùy vào tính chất loại vụ án cần xét xử mà Tòa án dựa vào các căn cứ Luật định Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì
“Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện” Còn văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định Ở nước ta, Hiến pháp được xem là đạo luật tối cao, có hiệu lực pháp lý cao nhất hay còn được gọi là “luật gốc”, “luật mẹ”, mọi văn bản pháp luật khác như Luật, bộ luật, nghị quyết, thông tư… phải phù hợp với Hiến pháp49 Tùy thuộc vào loại văn bản quy phạm pháp luật mà chủ thể ban hành cũng khác nhau, do đó không tránh khỏi tình trạng quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sẽ mâu thuẫn, chồng chéo về mặt nội dung hay có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên Điều này gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình xét xử VAHC, nếu tiếp tục xét xử sẽ dẫn đến kết quả giải quyết vụ án không được chính xác, đúng đắn
Xuất phát từ thẩm quyền mới của Tòa án giải quyết VAHC là xem xét, kiến
48 Quyết định số /2017/QĐPT-HC của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai”
49 Điều 119 Hiến pháp 2013
Trang 33nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên được quy định tại Chương VIII Luật TTHC 2015 Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết VAHC có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội đồng xét xử sẽ đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền kiến nghị Khi xét xử VAHC theo thủ tục phúc thẩm chủ thể có thẩm quyền kiến nghị việc sửa đổi là Chánh án Tòa án cấp tỉnh Chủ thể này sẽ kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở xuống hoặc đề nghị Chánh án TANDTC kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở Trung ương50 Khi Chánh án TAND cấp tỉnh đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC
So với Pháp lệnh TTGQVAHC và Luật TTHC 2010 thì đây cũng là một căn
cứ mới Sở dĩ xuất hiện căn cứ này vì nó phù hợp với quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án Mục đích của Tòa án khi tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi xuất hiện căn cứ trên là để Tòa án có cơ sở pháp
lý vững chắc, chính xác để giải quyết vụ án Nếu không đợi kết quả đó thì việc giải quyết của Tòa án sẽ không có kết quả hoặc không giải quyết được hoặc nếu giải quyết được thì kết quả thiếu chính xác, không được đảm bảo
Ngoài các căn cứ nêu trên, Tòa án cũng được quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi hết thời hạn tạm ngừng phiên Tòa mà lý do tạm ngừng chưa được khắc phục Theo đó tạm ngừng phiên Tòa được hiểu là khi phiên Tòa phúc thẩm đang diễn ra mà xuất hiện những lý do Luật định tại khoản 1 Điều 187, Hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên Tòa trong thời hạn 30 ngày Hết thời hạn này mà lý do tạm ngừng vẫn tồn tại, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC theo quy định tại Điều 238 dẫn chiếu tới Điều 187 Luật TTHC
Trang 34khác nhau Cụ thể như sau:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính từ khi Tòa án cấp phúc thẩm
ra thông báo thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm đến trước khi mở phiên Tòa xét xử phúc thẩm VAHC Người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm trong giai đoạn này là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án Cụ thể là “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau đây: Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
vụ án; Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm51” Sở dĩ giai đoạn này thẩm quyền ra quyết định thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết
vụ án là bởi giai đoạn này là giai đoạn bắt đầu để Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét chứng cứ, tài liệu cũng như các quy định của pháp luật, định hướng cho việc xét xử phúc thẩm vụ án Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu xuất hiện các căn cứ Luật định Thẩm phán sẽ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm mà không cần phải thông qua Hội đồng xét xử, điều này giúp tiết kiệm được thời gian và
công sức cho cả đương sự và Tòa án
Tại phiên Tòa xét xử phúc thẩm
Tại phiên Tòa xét xử phúc thẩm VAHC thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm thuộc về Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử phúc thẩm VAHC bao gồm có ba Thẩm phán trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Điều này có phần khác biệt với ở phiên Tòa sơ thẩm, thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án thuộc về Hội đồng xét xử nhưng Hội đồng xét xử bao gồm một Thẩm phán, hai Hội thẩm hoặc trong trường hợp đặc biệt có hai Thẩm phán, ba Hội thẩm nhân dân Có sự khác nhau này bởi Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, xét
xử lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị nên đòi hỏi Hội đồng xét xử phải là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nắm vững các quy định của pháp luật, vừa có kiến thức, kinh nghiệm để đánh giá các tài liệu, chứng cứ, xem xét các tình tiết của vụ án, mà Thẩm phán là những người có kiến thức pháp lý vững chắc “vừa hồng vừa chuyên” Còn Hội đồng xét xử ở cấp sơ thẩm
có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân nhằm đảm bảo tiếng nói nhân dân trong việc
xét xử VAHC đồng thời đảm bảo cho bản án vừa hợp tình, hợp lý
Tại phiên Tòa phúc thẩm VAHC, thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm thuộc về Hội đồng xét xử chứ không còn thuộc về Thẩm phán được
51 Khoản 1 Điều 221 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 35phân công giải quyết vụ án Sự khác nhau này bắt nguồn từ nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp 2013 “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” Trong Luật TTHC 2015, nguyên tắc này một lần nữa được ghi nhận tại Điều 15 “Tòa án xét xử tập thể VAHC và quyết định theo đa số” Để ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Tòa án phải tiến hành xem xét tài liệu, chứng cứ, tình tiết vụ án, xác định tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng đã thực hiện trước đó, nghe lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa Quyết định này có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của các đương sự, tác động đến tiến trình giải quyết vụ án
do đó cần có sự tập hợp trí tuệ của một tập thể người nên phải thành lập Hội đồng xét
xử, tránh việc ra quyết định dựa trên ý chí của một cá nhân sẽ chủ quan, phiến diện
Như vậy, thẩm quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm có sự khác nhau trong các giai đoạn, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án còn tại phiên Tòa thuộc về Hội đồng xét xử phúc thẩm Vậy một câu hỏi đặt ra là trong giai đoạn kể từ sau khi Thẩm phán đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm đến ngày mở phiên Tòa xét xử phúc thẩm nếu xuất hiện một trong các căn cứ Luật định thì ai sẽ là chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC? Về vấn đề này hiện nay có hai luồng quan điểm trái chiều Quan điểm thứ nhất cho rằng: Do quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm52 có nội dung về họ, tên Thẩm phán, Thư kí phiên Tòa, Kiểm sát viên…đồng thời trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể nên kể từ sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, mọi vấn đề liên quan đến giải quyết vụ án thuộc về Hội đồng xét
xử Nên khi xuất hiện các căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC, thẩm quyền ban hành quyết định sẽ thuộc về Hội đồng xét xử Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Quá trình giải quyết VAHC Tòa án phải thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại Điều 19 Luật TTHC 2015 nên trong thời gian chưa mở phiên Tòa xét xử thì thẩm quyền ban hành quyết định này thuộc về Thẩm phán Tòa án Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai bởi lẽ: Thứ nhất, khi Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ra quyết định tạm đình chỉ thì sẽ đảm bảo được nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bởi lúc này phiên Tòa chưa diễn ra và việc triệu tập Hội đồng xét xử sẽ mất thêm thời gian, công sức, vì vậy Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ban hành quyết định tạm đình chỉ sẽ nhanh chóng, kịp thời từ đó sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích của đương
52 Mẫu số 36-HC (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
Trang 36sự trong vụ án Thứ hai, vì lúc này phiên Tòa chưa diễn ra mà Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án lại là người nghiên cứu hồ sơ, các chứng cứ, tình tiết của vụ án trong một thời gian tương đối dài vì vậy chủ thể này dễ dàng hơn trong việc nhận định diễn tiến vụ án để đưa ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC được chính xác, đúng đắn Tuy nhiên, cần lưu ý rằng theo nguyên tắc không thể cùng tồn tại hai quyết định của Tòa án, do đó trước khi Thẩm phán Tòa án ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC thì phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
1.2.3 Trình tự, thủ tục tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Phiên Tòa xét xử phúc thẩm VAHC sẽ bắt đầu từ khi vụ án được thụ lý, chuẩn
bị xét xử, xét xử phúc thẩm và kết thúc bằng việc ra bản án, quyết định của Tòa án Tuy nhiên, giai đoạn này có thể không diễn ra liên tục khi xuất hiện các căn cứ Luật định Tòa án sẽ có thể tạm dừng phiên Tòa cho đến khi các căn cứ dẫn đến việc tạm dừng được khắc phục Chuẩn bị xét xử phúc thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng, được thực hiện trước khi mở phiên Tòa xét xử phúc thẩm và là giai đoạn tiếp theo sau khi Tòa án thụ lý vụ án Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi xuất hiện các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật TTHC Đây là giai đoạn bắt đầu cho tiến trình tố tụng theo thủ tục phúc thẩm nên việc ban hành quyết định tạm đình chỉ cũng đơn giản hơn, không trải qua trình tự, thủ tục phức tạp như tại phiên Tòa Sau khi ban hành, quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và được gửi ngay cho đương sự, VKS cùng cấp Nội dung của căn cứ được quy định tại mục 1.2.1 như
đã phân tích trong phần quy định của pháp luật về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Hiện nay không có điều luật nào quy định về hình thức của quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm được ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm Tuy nhiên, căn cứ vào mẫu số 38-HC (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC)
thì có thể thấy quyết định này được ban hành dưới hình thức văn bản
Giai đoạn xét xử phúc thẩm tại phiên Tòa là giai đoạn mà vụ án được Tòa án đưa ra xét xử công khai Mục đích của xét xử tại phiên Tòa nhằm kiểm tra tính xác thực về mặt chứng cứ của bản án, quyết định sơ thẩm và kiểm tra tính pháp lý trong
áp dụng pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm để từ đó đưa ra quyết định đúng đắn với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, căn cứ để đưa ra quyết định tạm đình chỉ được quy định tại khoản 1 Điều
228 dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 141 Luật TTHC Nội dung của căn cứ giống với giai
Trang 37đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm Thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ thuộc
về Hội đồng xét xử chứ không còn là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm lúc này gồm 3 Thẩm phán Điều này khác biệt so với Hội đồng xét xử ở cấp sơ thẩm bao gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm hoặc gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm trong trường hợp đặc biệt Hiện nay trong quy định của Luật TTHC chỉ dẫn chiếu đến Điều 141 và Điều 142 về căn cứ, hậu quả của quyết định tạm đình chỉ mà không bao gồm trình tự, thủ tục ra quyết định này như thế nào Tuy nhiên, căn cứ vào nguyên tắc “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” thì mọi quyết định của Tòa án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án Phiên Tòa này ngoài sự có mặt của đương sự, các chủ thể khác có liên quan còn bắt buộc có sự tham gia của Kiểm sát viên khi VKS có kháng nghị Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng, các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật để đưa ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Theo Điều 228 Luật TTHC thì quyết định này
có hiệu lực thi hành ngay và được gửi ngay cho đương sự, VKS cùng cấp Hiện nay, hình thức của quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm tại phiên Tòa không được quy định, tuy nhiên căn cứ vào vào mẫu số 39-HC (Ban hành kèm theo Nghị quyết
số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC) thì có thể thấy quyết định này cũng được ban hành dưới hình thức văn bản
1.2.4 Hậu quả của tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Hiện nay, hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC được quy định tập trung tại điều 228 và có viện dẫn đến Điều 141, 142 Luật TTHC, cụ thể như sau:
Thứ nhất, quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC sẽ làm tạm dừng
hoạt động tố tụng xét xử phúc thẩm VAHC trong một khoảng thời gian Quá trình giải
quyết phúc thẩm VAHC trải qua nhiều giai đoạn từ thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét
xử tại phiên tòa và cuối cùng sẽ ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm Quá trình này
có thể bị tạm dừng khi xuất hiện cơ sở pháp lý nhất định Điều này khác với đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC sẽ làm chấm dứt hẳn việc giải quyết phúc thẩm Thời gian tạm đình chỉ vụ án hoàn toàn phụ thuộc vào sự tồn tại của lý do dẫn đến việc tạm đình chỉ Đây là quy định hết sức cần thiết giúp Tòa án có thêm thời gian thu thập, bổ sung thêm các chứng cứ, tài liệu, khắc phục các căn cứ tạm đình chỉ để nhanh chóng tiếp tục giải quyết vụ án, bảo đảm cho kết quả xét xử được chính xác, khách quan, bảo
Trang 38đảm triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự
Thứ hai, Tòa án sẽ tiếp tục xét xử phúc thẩm VAHC khi lý do tạm đình chỉ
không còn Nếu vụ án bị tạm đình xét xử thì cũng đồng nghĩa rằng, vụ án chưa được
giải quyết, do đó đương nhiên, Tòa án không được xóa tên vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án đó để theo dõi Vậy khi nào Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ? Pháp luật hiện hành không quy định thời gian tạm đình chỉ là bao lâu bởi các lý do tạm đình chỉ tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của đương sự hay Tòa án Do đó, Tòa án sẽ tiếp tục xét xử phúc thẩm khi lý do tạm đình chỉ không còn Đồng thời Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC Đây là một điểm bổ sung mới so với Pháp lệnh TTGQVAHC và Luật TTHC 2010 Việc bổ sung quy định này là hợp lý bởi xuất phát
từ nguyên tắc không thể tồn tại hai quyết định của Tòa án Do đó khi ban hành quyết định tiếp tục xét xử phúc thẩm VAHC, Tòa án đồng thời ban hành quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
Thứ ba, tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được xử lý khi Tòa
án tiếp tục xét xử phúc thẩm VAHC Như đã phân tích tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
chỉ là tạm dừng tiến trình tố tụng phúc thẩm trong một khoảng thời gian nhất định,
nó không được xem là cách thức để giải quyết vụ án và do vụ án chưa được giải quyết xong nên quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự chưa được giải quyết hoàn tất Vì vậy, khoản tiền tạm ứng án phí, lệ phí ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm mà đương sự đã nộp không được trả lại cho đương sự hay sung vào công quỹ Nhà nước53 như trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC mà sẽ được xử lý khi Tòa án tiếp tục xét xử phúc thẩm VAHC Đây là quy định hợp lý bởi nếu trả lại cho đương sự hay sung vào công quỹ Nhà nước cũng chứng tỏ quá trình giải quyết vụ án đã chấm dứt mà tạm đình chỉ thì chỉ tạm dừng tiến trình tố tụng, quyền, nghĩa vụ của đương sự sẽ được xác định sau khi có bản án, quyết định phúc thẩm
Thứ tư, trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án Trách nhiệm
này của Thẩm phán được thể hiện qua việc theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ trong thời gian ngắn nhất
53 Khoản 2, 3 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Trang 39để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết Đây là quy định rất mới và có phần tiến bộ của Luật TTHC năm 2015 so với Pháp lệnh TTGQVAHC và Luật TTHC 2010 trước đây Quy định mới này góp phần nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Tòa án sau khi tạm đình chỉ, để Tòa án thực sự xem xét kỹ lưỡng, cẩn trọng các tình tiết của vụ án trước khi ban hành quyết định tạm đình chỉ, tránh việc xem xét qua loa, vội vàng khi ban hành quyết định nhằm tạm thời đối phó tình thế
Thứ năm, quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay
Nếu hiểu theo tinh thần của khoản 1 Điều 228 dẫn chiếu đến Điều 141 thì quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC không có hiệu lực thi hành ngay và có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Tuy nhiên, bản chất của quyết định này được ban hành trong giai đoạn phúc thẩm, do nó không thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ có thể là đối tượng bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Việc dẫn chiếu toàn bộ Điều 141 như vậy là chưa chuẩn xác, làm sai lệch bản chất và hậu quả pháp lý của quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC54 Thiết nghĩ việc dẫn chiếu như vậy là không hợp lý vì quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm không thể là đối tượng kháng cáo, kháng nghị và vì tính chất quan trọng, cấp bách của nó nên bản thân quyết định này có hiệu lực thi hành ngay Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm phải được gửi ngay cho đương sự
ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VAHC mà không ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
54 Lê Thị Mơ (2020), “Thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (15), tr.18
55 Trường đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Công an
nhân dân, tr.298
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH
CHÍNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Thực trạng về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
2.1.1 Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật Tố tụng hành chính Việt Nam về tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính
Pháp lệnh TTGQVAHC đã đặt những viên gạch đầu tiên cho nền tư pháp hành chính nước nhà Trải qua hơn 25 năm đổi mới, bổ sung để thể chế hóa chủ trương, đường lối, quan điểm về cải cách tư pháp được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”: “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia
tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án” công tác giải quyết các VAHC đã có những khởi sắc nhất định về cả mặt chất và lượng; đảm bảo được quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa; dần hiện thực hóa nhu cầu của người dân về một nền tư pháp trong sạch, lành mạnh, dân chủ, văn minh
Số lượng VAHC được Tòa án các cấp thụ lý và giải quyết qua các năm không ngừng tăng lên Theo báo cáo tổng kết của TANDTC về công tác xét xử qua các năm cho thấy TAND các cấp đã thụ lý hàng chục ngàn VAHC Năm 2018: TAND các cấp
đã thụ lý 10.506 vụ, tăng 1.195 vụ so với cùng kỳ năm 2017; đã giải quyết, xét xử được 6.575 vụ, tăng 1.657 vụ so với năm 2017 (đạt tỷ lệ 62,58%); trong đó, thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 7.880 vụ, đã giải quyết, xét xử 4.853 vụ; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 2.517 vụ, đã giải quyết, xét xử 1.635 vụ và thụ lý theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 109 vụ, đã giải quyết, xét xử 87 vụ56 Năm 2019 TAND các cấp đã thụ lý 10.785 vụ, đã giải quyết, xét xử được 7.142 vụ, đạt tỷ lệ 66,22% (so với năm 2018, thụ lý tăng 279 vụ; giải quyết, xét xử tăng 567 vụ); trong đó, thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 7.969 vụ, đã giải quyết, xét xử 4.950 vụ; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 2.686
vụ, đã giải quyết, xét xử 2.099 vụ và thụ lý theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 130
vụ, đã giải quyết, xét xử 93 vụ57 Năm 2020, TAND các cấp đã thụ lý 12.470 vụ; đã
56 Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác năm 2018 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2019 của các Tòa án, của Tòa án nhân dân tối cao
57 Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2020 của các Tòa án: số
01/BC-TA, ngày 09/01/2020 của Tòa án nhân dân tối cao