1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc độc lập của tòa hành chính ở việt nam hiện nay

83 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể hoàn thành tốt sứ mệnh bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chứ

Trang 1

NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP CỦA TÒA HÀNH CHÍNH

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật

Niên khóa: 2017 - 2021

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Mạnh Hùng

TP.HCM – Năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

-*** -

TRẦN THỊ THÙY DƯƠNG

MSSV: 1753801014031

NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP CỦA TÒA HÀNH CHÍNH

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật

Niên khóa: 2017 - 2021

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Mạnh Hùng

TP.HCM – Năm 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nguyên tắc độc lập của Tòa

hành chính ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng, tham khảo một số nhận xét, đánh giá cũng như các số liệu của cá nhân, tổ chức đã cập nhật trước đó nhưng đều đảm bảo tính trung thực

và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Người thực hiện khóa luận

Trần Thị Thùy Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh vì những kiến thức và kinh nghiệm mà Thầy, Cô đã giảng dạy, trau dồi cho tôi trong khoảng thời gian học tập tại trường Đây là nền tảng để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này và cũng là hành trang vô giá trên con đường học tập

và công tác trong tương lai Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Mạnh Hùng – giảng viên Khoa Luật Hành chính trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khóa luận Đồng thời, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh ủng hộ, động viên để tôi thực hiện tốt khóa luận này

Cuối cùng, dù đã cố gắng hết sức để hoàn thành khóa luận nhưng vì kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế và thời gian nghiên cứu gấp rút nên cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ Thầy, Cô và các bạn để hoàn thiện đề tài hơn nữa

Tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm

4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001

7 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 33/2002/QH10

ngày 02 tháng 4 năm 2002

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm

2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư

pháp đến năm 2020

Nghị quyết số NQ/TW

Trang 6

49-MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP CỦA TÒA HÀNH CHÍNH 6

1.1 Khái quát về quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp 6

1.1.1 Quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp 6

1.1.2 Độc lập là nguyên tắc trọng tâm của nền tư pháp 9

1.1.3 Các yêu cầu và điều kiện để đảm bảo nguyên tắc độc lập của nền tư pháp 12

1.2 Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam 22

1.2.1 Sự cần thiết phải thành lập các Tòa chuyên trách 22

1.2.2 Sự ra đời của Tòa hành chính ở Việt Nam 25

1.2.3 Các yêu cầu và điều kiện để đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam 28

1.3 Nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới 37

1.3.1 Tòa án hành chính theo pháp luật Cộng hòa Pháp 37

1.3.2 Tòa án hành chính theo pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức 39

1.3.3 Tòa hành chính theo pháp luật Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44

CHƯƠNG 2: NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP CỦA TÒA HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 45

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật và việc thực hiện nguyên tắc độc lập độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay 45

2.1.1 Về mô hình tổ chức Tòa hành chính 45

2.1.2 Về đội ngũ Thẩm phán hành chính 50

2.1.3 Về quy trình tố tụng hành chính 54

2.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam 58

2.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính 58

2.2.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện nguyên tắc độc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc xây dựng hệ thống Tòa án nhân dân bắt đầu kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 33C thành lập Tòa án, đây là một mốc son lịch sử, đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam Trong những năm qua, cùng với sự phát triển và đổi mới của đất nước, hệ thống Tòa án nhân dân ở nước ta ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh Tòa án nhân dân đã và đang dần khẳng định vị thế của mình trong tổ chức bộ máy nhà nước, được xác định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; là trung tâm của các cơ quan tư pháp Bên cạnh đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số

49-NQ/TW đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách tư pháp là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, bảo đảm để Toà án là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”

Để có thể hoàn thành tốt sứ mệnh bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Tòa án nhân dân đã thành lập ra một hệ thống các Tòa chuyên trách để xét xử những vụ án có nội dung liên quan đến sự điều chỉnh của các ngành luật riêng, nổi bật trong số các Tòa chuyên trách thuộc hệ thống Tòa án nhân dân là Tòa hành chính Việc tổ chức Tòa hành chính với tư cách là một Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân là vấn đề hết sức cần thiết; đây được xem là một bước đột phá mới, là giải pháp có tính tình thế, đáp ứng được yêu cầu khách quan của xã hội trong việc giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta vào thời điểm những thập niên 90 của thế kỉ XX

Sự ra đời của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân với nhiệm vụ chuyên xét xử các khiếu kiện hành chính là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của nền tư pháp nước ta Tòa hành chính là công cụ đắc lực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước cơ quan công quyền, đảm bảo quyền con người được thực thi trên thực tế Do đó, nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính được coi là vấn đề mang tính cấp bách cần phải thực hiện trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tổ chức Tòa hành chính phải độc lập so với nhánh cơ quan lập pháp và hành pháp và với các cơ quan hành chính khác ở trung ương lẫn địa phương thì mới phát huy được vai trò và hiệu quả hoạt động của Tòa này trên thực tế Tuy nhiên, với vai trò là một Tòa chuyên trách thuộc

Trang 8

hệ thống Tòa án nhân dân nên phần nào trong quá trình tổ chức và hoạt động Tòa hành chính vẫn phải chịu sự tác động của Tòa án nhân dân và sự can thiệp của các

cá nhân, tổ chức, các cơ quan nhà nước khác Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã

ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và tiếp sau đó là Nghị quyết số 49-

NQ/TW để đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính Xuất phát từ việc Tòa hành chính là một tòa có nét đặc thù riêng khác hoàn toàn so với các tòa còn lại trong hệ thống Tòa án nhân dân nên cần có cách nhìn nhận phù hợp để đảm bảo nguyên tắc độc lập của phân tòa này trong tổ chức và hoạt động

Độc lập là trọng tâm hàng đầu của chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta, có thể khẳng định rằng nếu hướng đến xây dựng một hệ thống Tòa án độc lập thì nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính luôn luôn phải được đặt lên hàng đầu vì Tòa hành chính chuyên giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa một bên là những người nắm giữ quyền lực nhà nước với một bên là người dân trong hoạt động quản lý hành chính Tòa hành chính có thật sự độc lập, không bị lệ thuộc vào bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào thì mới đảm bảo được tính công bằng, khách quan của các phán quyết; đồng thời, cân bằng, đối trọng và hạn chế được quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích chính đáng của người dân trước cơ quan công quyền Đặc biệt, nền hành chính nước ta đang trong giai đoạn cải cách nên vai trò

và nhiệm vụ của Tòa hành chính lại càng quan trọng Do đó, đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay là điều tất yếu phải thực hiện

Nhận thức được tầm quan trọng về vị trí, vai trò của Tòa hành chính trong hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như vấn đề làm thế nào để đảm bảo được sự độc lập trong tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính nên Tác giả quyết định chọn

đề tài “Nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay” để làm

khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua quá trình tìm hiểu, Tác giả nhận thấy rằng đối với lĩnh vực Tòa án, đa số các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học chủ yếu tập trung nghiên cứu về mô hình

tổ chức của Tòa án nhân dân trong Nhà nước pháp quyền hay nguyên tắc độc lập của Tòa án nói chung mà rất ít đề tài nghiên cứu về tổ chức của Tòa hành chính cũng như nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam Nước ta đang trong giai đoạn cải cách hành chính nên các vấn đề liên quan đến Tòa hành chính được chú trọng nhiều hơn; thời gian gần đây trong khoa học pháp lý vấn đề về tổ chức và hoàn thiện hệ thống Tòa hành chính thu hút nhiều chuyên gia quan tâm, nghiên cứu,

Trang 9

trao đổi và đề xuất những ý kiến mới thông qua sách báo, tạp chí, và một số công trình nghiên cứu khoa học

Tiêu biểu có thể kể đến một số công trình chuyên khảo đề cập đến vấn đề

này như “Giáo trình Luật hành chính Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt do

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ban hành năm 2008 đã có một chương riêng biệt về Tòa án hành chính, trong đó đề cập rõ đến vấn đề tổ chức Tòa hành chính ở Việt

Nam và ý nghĩa của nó; tác phẩm “Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta” của

GS.TS Nguyễn Huy Gia; bàn sâu về Tòa hành chính còn phải kể đến hai đề tài của

Thanh tra nhà nước là “Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc thiết lập Tòa án hành chính ở Việt Nam” và đề tài “Tòa án hành chính – những vấn đề lý luận và thực tiễn”…

Liên quan tới vấn đề này còn có rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khác

nhau như: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa hành chính” của Trương Khánh Hoàn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7 năm 2001; “Tổ chức và hoạt động của Tòa án hành chính – Một biện pháp mới bảo đảm quyền con người ở Việt Nam” của Nguyễn Thanh Bình trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 103 năm 1996; “Vai trò của Tòa hành chính trong đảm bảo quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015” của Dương Thị Tươi trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp

số 24 năm 2017; “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân” của Trần Kim Liễu đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 1

năm 2011… và một số bài viết khác trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Quản lí nhà nước

Ngoài ra, có một số đề tài liên quan đến Tòa hành chính cũng đã được nghiên cứu, đó là các Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật của trường Đại học Luật

Thành phố Hồ Chí Minh như “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa hành chính trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” của Phan Hoàng Nam năm 2004; “Đối tượng xét xử của Tòa hành chính ở Việt Nam”

của Nguyễn Thị Vân Chi năm 1999; và gần đây nhất là Luận án Tiến sĩ luật học

“Tòa hành chính trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,

do dân, vì dân” của TS Trần Kim Liễu năm 2011…

Nhìn chung, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Tòa hành chính vẫn còn khá nhiều điều mới mẻ, mang tính sâu và rộng Tuy Tòa hành chính đã được giới nghiên cứu tiếp cận, phân tích dưới nhiều bình diện, góc độ khác nhau nhưng chủ yếu là về tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính mà vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu và phân tích rõ về nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính Vì vậy, đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về

Trang 10

nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính, từ đó hướng đến việc xây dựng hệ thống Tòa hành chính độc lập, vững mạnh trong tương lai

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ đề tài, Tác giả đã tiến hành phân tích, đánh giá các yêu cầu

và điều kiện để đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính, từ đó chỉ ra những

ưu điểm và bất cập còn tồn tại trong quá trình thực hiện nguyên tắc này Bên cạnh

đó, Tác giả cũng nghiên cứu các mô hình Tòa hành chính của một số nước trên thế giới và liên hệ với thực trạng Việt Nam nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức Tòa hành chính ở nước ta, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa hành chính, làm cho Tòa hành chính ngày càng độc lập; bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của công dân khi tham gia vào các tranh chấp liên quan đến hành chính

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là khái quát những vấn đề lý luận

về nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay, từ đó thấy được thực trạng việc thực hiện nguyên tắc này và rút ra một số kinh nghiệm nhằm đảm bảo và tăng cường nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở nước ta

Đề tài “Nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay” là

một đề tài lớn, mang tính khái quát cao, đòi hỏi phải nghiên cứu công phu và toàn diện Do đó, việc thực hiện đề tài còn gặp nhiều khó khăn, yêu cầu cần phải có thời gian và trình độ chuyên môn sâu rộng về lĩnh vực này Vì đề tài này được thực hiện trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật nên Tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu một cách khái quát nhất về nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính

từ khi thành lập đến nay mà không nghiên cứu về các Tòa chuyên trách khác trong

hệ thống Tòa án nhân dân Đồng thời, Tác giả cũng phân tích tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính của một số nước trên thế giới, qua đó đối chiếu, so sánh và rút kinh nghiệm để xây dựng mô hình Tòa hành chính ở nước ta độc lập hơn Những kết luận, đề xuất Tác giả đưa ra trong khóa luận này mang tính chủ quan của Tác giả, do đó những ý kiến này chỉ mang tính định hướng, tham khảo; vì vậy, vấn đề này cần phải tiếp tục được nghiên cứu sâu hơn nữa nhằm đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức của Tòa hành chính, đảm bảo sự độc lập của Tòa hành chính trong tiến trình cải cách tư pháp

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài này là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Đảng

và Nhà nước ta về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân; về công cuộc cải cách tư pháp nói chung và cải cách đối với tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính nói riêng được thể hiện trong các văn kiện của Đảng

Trang 11

cũng như các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành

Khóa luận tốt nghiệp này được viết dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, Tác giả cũng đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh để làm rõ hơn về đề tài này trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài này, Tác giả mong muốn những kết quả nghiên cứu được đưa ra sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn thông tin, tài liệu

về tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính; đồng thời giúp cho mọi người có cái nhìn về nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính một cách khái quát và toàn diện hơn

Tác giả cũng mong muốn rằng những kiến nghị, đề xuất trong khóa luận sẽ

“thổi một làn gió mới”, là tiền đề cho việc đổi mới hệ thống tư pháp cũng như đổi

mới tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính góp phần đảm bảo và tăng cường tính độc lập của Tòa hành chính, đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính trong giai đoạn hội nhập và phát triển của đất nước

Cuối cùng, Tác giả hy vọng rằng khóa luận về đề tài “Nguyên tắc độc lập

của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay” sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích

cho những người nghiên cứu khoa học như Tác giả

7 Cơ cấu của khóa luận

Ngoài Lời cam đoan, Lời cảm ơn, Lời mở đầu, Mục lục, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được chia thành hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính

Chương 2: Nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam hiện nay –

Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP CỦA TÒA

HÀNH CHÍNH 1.1 Khái quát về quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp

1.1.1 Quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Quan niệm quyền tư pháp đã có từ thời cổ đại, quyền tư pháp lần đầu tiên được sử dụng trong Bộ luật Hammurabi của người Lưỡng Hà được ban hành từ

1700 năm trước Công nguyên, với nghĩa là quyền lực xét xử bao gồm phân xử và phán xét1 Các vấn đề liên quan đến quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp gắn liền với sự ra đời của các tư tưởng và học thuyết phân chia quyền lực Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp đã được khởi xướng bởi các nhà triết học xưa nhưng lý thuyết này tồn tại một cách mờ nhạt trong xã hội chiếm hữu nô lệ lẫn phong kiến và chỉ thật sự phát triển vào thời kì La Mã cổ đại

Tư tưởng phân quyền đã manh nha hình thành từ thời Hy Lạp cổ đại, người đặt mầm mống cho tư tưởng này là nhà triết học Aristotle (384 – 322 TCN) Trong

cuốn “Chính trị luận” của mình, ông cho rằng bất kì nhà nước nào cũng tồn tại ba

thành tố bao gồm nghị luận, chấp hành và xét xử; tương ứng với các thành tố trên là

ba cơ quan: lập pháp nhằm làm ra luật, quyết định công việc chính trị và trông coi việc thực thi chúng; hành pháp thực thi các luật và quyết định đó; Tòa án nhằm xét

xử các tranh chấp trong xã hội2 Tuy nhiên, trong thời kỳ này, tư tưởng phân quyền của Aristotle chỉ mới dừng lại ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước

và chức năng của nó chứ chưa lập ra chủ trương nào về mối quan hệ giữa các cơ quan trên

Tư tưởng phân quyền được kế thừa và thật sự phát triển trong chế độ tư sản;

học thuyết “phân chia quyền lực” của các học giả tư sản được ra đời, phát triển từ

thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII và đạt được những thành tựu nhất định; trong đó, có thể kể đến quan điểm mang tính điển hình của hai học giả là John Locke và Charles Montesquieu John Locke (1632 – 1704), một nhà triết học người Anh cho rằng quyền lực nhà nước được phân thành ba lĩnh vực là lập pháp, hành pháp và liên hợp Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước; quyền lập pháp

phải thuộc về Nghị viện và quyền hành pháp thuộc về Nhà vua “Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vụ, Chánh án và các quan chức khác Hoạt động của Nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và không có đặc quyền nhất định

Trang 13

nào với Nghị viện nhằm không cho phép Nhà vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân Nhà vua thực hiện quyền liên hợp, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hoà bình, và đối ngoại”3 Cách phân chia quyền lực như trên có thể hiểu rằng quyền lập pháp cao hơn quyền hành pháp; quyền tư pháp chỉ là một bộ phận của quyền hành pháp, nhưng khi xét xử thì

có sự tham gia của nhân dân, sự độc lập của Thẩm phán cần phải được tôn trọng

Những luận điểm phân quyền của J Locke đã được học giả vĩ đại người Pháp là Charles Montesquieu (1689 – 1775) phát triển một cách toàn diện và độc lập thành học thuyết phân quyền, và sau này khi nói đến thuyết phân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông Montesquieu tổ chức quyền lực nhà nước theo phương thức phân chia quyền lực là để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, bảo đảm quyền tự do của con người Kế thừa quan điểm của J Locke về quyền hành pháp và liên hợp, Montesquieu chủ trương phân chia rõ hơn hai nhánh quyền lực này, tách quyền hành pháp ra khỏi quyền xét xử Montesquieu quan niệm rằng mọi chính thể đều có ba thành phần: lập pháp để đưa ra luật lệ, hành pháp để quản trị quốc sự và đối ngoại, tư pháp nhằm phụ trách hình sự và phân giải các vụ tranh chấp của nhân dân Theo đó, Quốc hội sẽ thực hiện quyền lập pháp với chức năng làm luật; quyền hành pháp thuộc về Chính phủ với chức năng thi hành luật và quyền tài phán sẽ thuộc về Tòa án với chức năng xét xử áp dụng pháp luật Trong

Tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, ông đã nêu rõ “Sẽ không có tự do nếu quyền xét

xử không được phân biệt với quyền lập pháp và quyền hành pháp” và ông cũng khẳng định “Nếu quyền xét xử được sáp nhập vào quyền lập pháp, thì sẽ không có

tự do Nếu quyền xét xử được nhập vào quyền hành pháp thì thẩm phán sẽ trở thành những kẻ áp bức” 4 Do đó, quyền lực nhà nước chỉ thật sự độc lập khi được phân thành ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; ba quyền này phải tách rời nhau không quyền nào cao hơn quyền nào thì mới có thể kiểm soát và kiềm chế đối trọng lẫn nhau; quyền tư pháp cần phải được độc lập, hoạt động xét xử cần phải bảo đảm tính đúng đắn và khách quan

Quan niệm về “tư pháp” và “quyền tư pháp” được nhìn nhận dưới rất nhiều góc độ khác nhau Theo nghĩa Hán Việt, “tư pháp” được hiểu là: “pháp đình y theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật” 5 Còn theo định nghĩa

của từ điển Black’s Law Dictionary thì quyền tư pháp (judicial power) là “thẩm quyền được trao cho tòa án và các thẩm phán xem xét và quyết định các vụ việc và

3 Phạm Quý Đạt (2017), “Tính độc lập của hệ thống Tòa án Việt Nam trong việc thực hiện quyền tư pháp”,

Dân chủ và Pháp luật, (01), tr 21

4

Montesquieu (1967), Tinh thần pháp luật, NXB Sài Gòn, tr 84

5 Đào Duy Anh (1996), Hán Việt từ điển, NXB TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh

Trang 14

đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các vụ việc ấy; quyền giải thích và áp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc một điều gì đó có phù hợp hay không phù hợp với pháp luật điều chỉnh việc ấy” 6

Ở Việt Nam, theo nhiều nhà nghiên cứu, quyền tư pháp là: “quyền xét xử các

vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, hành chính”7; “xét xử các hành vi vi phạm hiến pháp, vi phạm pháp luật từ phía công dân và các cơ quan nhà nước; bảo vệ pháp luật, công lý, tự do của công dân và trật tự an toàn xã hội”8

;

“phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật”9 Quan niệm về quyền tư pháp được nhìn nhận dưới nhiều bình diện khác nhau nhưng trọng tâm của quyền tư pháp vẫn là quyền xét xử, và quyền này chỉ trao cho một cơ quan duy nhất đó chính là Tòa án Quyền tư pháp là xét xử và việc xét xử chỉ do Tòa án thực hiện là quan niệm đã được hình thành khá sớm trong nhận thức và trong thực tiễn lập pháp, thực hiện pháp luật của Việt Nam Thông qua xét xử, Tòa

án sẽ giải quyết các tranh chấp, các xung đột xã hội của các bên dựa trên các quy định của pháp luật và lẽ công bằng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Với sứ mệnh bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người, do đó, Tòa án với chức năng là cơ quan thực hiện quyền tư pháp phải độc lập, cân bằng với cơ quan thực hiện quyền lập pháp và hành pháp

Theo Hiến pháp 1946, quyền tư pháp mặc nhiên được thừa nhận là quyền lực độc lập và do Tòa án thực hiện Tuy nhiên, khoảng thời gian trước Hiến pháp 2013 thì quyền tư pháp có khuynh hướng mở rộng hơn Theo đó, quyền tư pháp trong giai đoạn này được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng bao gồm hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử, thi hành án và ở nghĩa hẹp chỉ bao gồm hoạt động xét xử Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì điều này đồng nghĩa với việc các cơ quan thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, thi hành án cũng được mệnh danh là cơ quan tư pháp Cách hiểu này vô hình chung đã hạ thấp vị trí, vai trò của quyền tư pháp với tư cách là một loại quyền lực đặc biệt, độc lập và chỉ do cơ quan xét xử thực hiện10 Hiến pháp 2013 của nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”,

điều này có thể hiểu rằng theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền tư pháp chỉ bao gồm quyền xét xử Quan điểm như trên là phù hợp với xu hướng chung của thế

6

Bryan Garner (2009), Black’s Law Dictionary, tr 924

7 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 657

8 Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (2008), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân: Lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 60

9

Nguyễn Đăng Dung (2005), Thể chế Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 11

10 https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/366 (truy cập ngày 07/4/2021)

Trang 15

giới, bởi hoạt động điều tra, truy tố và thi hành án mang hơi hướng của quyền hành pháp, nếu coi các hoạt động này cũng đang thực hiện quyền tư pháp thì chẳng khác nào đánh đồng giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp; giữa hai nhánh quyền lực này sẽ không có sự chế ước lẫn nhau, không có sự phân công, phân nhiệm trong quá trình hoạt động

Khái niệm tư pháp và quyền tư pháp có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhưng từ khi Hiến pháp

2013 được ban hành có thể khẳng định quyền tư pháp gắn liền với Tòa án và chỉ Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng thực hiện quyền tư pháp, vì vậy, Tòa án còn được gọi là cơ quan tư pháp và chỉ Tòa án mới là cơ quan tư pháp Vì lẽ đó, quyền tư pháp phải tách bạch với quyền lập pháp của Quốc hội (xây dựng chính sách, tạo lập ra các quy tắc chung làm khuôn mẫu cho các hành vi) và quyền hành pháp của Chính phủ (quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, tổ chức đời sống theo pháp luật)

Tóm lại, Tòa án là một bộ phận cấu thành trong bộ máy nhà nước bên cạnh Quốc hội và Chính phủ; là trung tâm của quyền tư pháp với chức năng xét xử, gắn liền với việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các

tổ chức, cá nhân nên Tòa án phải thật sự độc lập thì mới đủ sức cân bằng, đối trọng với hai nhánh quyền lực còn lại

1.1.2 Độc lập là nguyên tắc trọng tâm của nền tư pháp

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam không tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo quy định

đó, giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp sẽ có sự thống nhất quyền lực, phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực Thực hiện tốt quyền tư pháp

là phương hướng quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền và quyền tư pháp độc lập là một trong những nhân tố chính để góp phần bảo vệ vị trí tối thượng của pháp luật; xây dựng một hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ, phù hợp và khả thi trong Nhà nước pháp quyền Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền với nền tư pháp độc lập cũng là vấn đề mà Việt Nam chúng ta hiện đang hướng đến Tư pháp độc lập là nền tảng cho sự phát triển của đất nước bởi khi tư pháp độc lập thì phán quyết của Tòa án mới khách quan, công bằng và đúng theo quy định của pháp luật mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ sự tác động nào từ bên trong lẫn bên ngoài Đặc biệt, quyền tư pháp độc lập là phương tiện không thể thiếu để hạn chế chính quyền

Trang 16

bằng luật, dùng quyền lực để kiểm soát quyền lực Do đó, quyền tư pháp độc lập trở thành một nguyên tắc quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền của mọi quốc gia11

Montesquieu đã khẳng định “Sẽ không có tự do nếu quyền xét xử không được phân biệt với quyền lập pháp và quyền hành pháp”, vì vậy, giữa lập pháp,

hành pháp và tư pháp cần phải có sự phân định rõ ràng, nhưng trong đó quyền tư pháp phải độc lập hơn cả Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, lấy xét xử làm trung tâm và hoạt động của Tòa án một mặt chịu sự tác động của các cơ quan quản lí nhà nước, cơ quan kiểm sát, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước nhưng mặt khác là hoạt động độc lập, đặc biệt là trong quá trình xét xử12

Vấn đề độc lập tư pháp đã được chủ trương xây dựng ngay từ bản Hiến pháp

đầu tiên của nước ta, Hiến pháp 1946 đã ghi nhận: “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” Hiến pháp 1959, nguyên tắc này được quy định ở Điều 100: “Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Hiến pháp 1980 ghi nhận ở Điều 131: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, điều này cũng được quy định tương tự ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung

năm 2001) Đến Hiến pháp 2013 vấn đề này đã được quy định một cách rõ ràng hơn

so với các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 2013 khẳng định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” Đây là quy định rõ nét

nhất về sự độc lập của Tòa án nhân dân cũng như cá nhân Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Điều này có nghĩa là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập xét xử trong mọi hoạt động tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc phiên tòa, chứ không chỉ

giới hạn bởi “khi xét xử” như các bản Hiến pháp trước Đồng thời, việc quy định“nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” cũng là yêu cầu cần thiết để bảo đảm cho nguyên tắc độc lập này

được áp dụng có hiệu quả trong hoạt động xét xử

Trước nhiệm vụ phát triển, bảo vệ đất nước và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị đã chủ

trương ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW, trong đó nêu rõ “lấy Tòa án làm trung tâm, xét xử làm trọng tâm và lấy tranh tụng làm khâu đột phá; trọng tâm của cải cách tư pháp là bảo đảm cho nguyên tắc Tòa án độc lập có hiệu lực trên thực tế”

11 Phí Thành Chung (2017), “Quyền tư pháp độc lập và một số nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tòa án nhân dân, (07), tr 10 – 15

12

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Hồng

Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 478

Trang 17

Trước đây, nhiều quan niệm cho rằng Tòa án chỉ là cơ quan xét xử, Tòa án nhân dân

tối cao được xem như một cơ quan “bộ” ở trung ương; các Tòa án nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được xem như cơ quan giúp việc cho Tòa án nhân dân tối cao Nghĩa là

tất cả các cơ quan Tòa án (trừ Tòa án tối cao), đều được xem như “Tòa án nhân dân địa phương”13

Vị trí, vai trò của Tòa án chưa được nhận thức thống nhất trong toàn

xã hội nên phần nào làm cho việc quyết định các vấn đề về tổ chức Tòa án, nhân sự Tòa án cũng như chế độ lương bổng, nhiệm kì của Thẩm phán… được nhìn nhận tương đối giống với các cơ quan hành chính khác mà chưa thật sự được xây dựng đúng với tính đặc thù của Tòa án là một trong ba nhánh quyền lực của nhà nước, là một thiết chế đặc biệt, bảo vệ công lý, thực hiện nhiệm vụ của nhánh quyền lực tư pháp Chính điều này đã làm giảm đi tính độc lập của Tòa án nói riêng và độc lập của cả nền tư pháp nói chung

Theo đúng tinh thần của Hiến pháp 2013, cần phải nhìn nhận Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước tiến hành các hoạt động xét xử nhằm mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thực hiện quyền tư pháp quốc gia Trên cơ sở đó, để thực hiện nhiệm vụ của mình, các quy định về bộ máy tổ chức, nguyên tắc hoạt động của Tòa án; các vấn đề

về bổ nhiệm, nhiệm kỳ, tuổi nghỉ hưu, tiền lương, chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán cũng như kinh phí hoạt động, điều kiện cơ sở vật chất của Tòa án và mối quan

hệ giữa Tòa án với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; giữa Tòa án các cấp trong cùng hệ thống Tòa án; giữa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân với cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân với nhau cần phải được quy định lại và chú trọng nhiều hơn để đảm bảo được nguyên tắc độc lập của Tòa án được thực hiện có hiệu quả trong thực tế

Nhìn chung, tư pháp độc lập có thể được hiểu là sự độc lập của nhánh quyền lực tư pháp so với quyền lập pháp và quyền hành pháp cũng như sự độc lập của Thẩm phán trong quá trình xét xử và năng lực, uy tín, phẩm chất đạo đức của cá nhân người Thẩm phán Khi nói đến tư pháp độc lập tức là đang đề cập đến hai khía cạnh là độc lập bên ngoài và độc lập bên trong Độc lập bên ngoài nghĩa là tư pháp phải hoàn toàn độc lập với các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác và không một tác động nào có thể ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của cá nhân Thẩm phán Độc lập bên trong nghĩa là giữa các thành viên của Hội đồng xét xử phải độc lập với nhau và

sự độc lập giữa Tòa các cấp với nhau trong cùng hệ thống Tòa án Độc lập bên

13

Trương Hòa Bình (2014), “Độc lập tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho Tòa

án thực hiện đúng quyền tư pháp”, Tòa án nhân dân, (16), tr 3

Trang 18

ngoài và độc lập bên trong có mối quan hệ khăng khít với nhau, là hai yếu tố cơ bản cấu thành nên sự độc lập của Thẩm phán và Tòa án Đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng một nền tư pháp độc lập và tính độc lập cũng là giá trị cốt lõi của quyền tư pháp

Quyền tư pháp độc lập không có nghĩa là độc lập trong mọi sự hạn chế, không có giới hạn mà phải độc lập trong khuôn khổ theo quy định của pháp luật Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật sẽ dẫn đến sự tùy tiện của Thẩm phán

và ngược lại nếu chỉ tuân theo pháp luật mà không dựa trên quyền tư pháp độc lập

có thể tạo ra sự cứng nhắc, máy móc Do đó, khi và chỉ khi đáp ứng đủ các yếu tố nêu trên thì quyền tư pháp mới độc lập đúng nghĩa Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền, Việt Nam chúng ta cũng đang hướng đến xây dựng một nền tư pháp độc lập và có thể khẳng định rằng độc lập chính là nguyên tắc trọng tâm của nền tư pháp

1.1.3 Các yêu cầu và điều kiện để đảm bảo nguyên tắc độc lập của nền tư pháp

 Các yêu cầu để đảm bảo nguyên tắc độc lập của nền tư pháp

Độc lập tư pháp là nội dung quan trọng được ghi nhận một cách minh thị trong nhiều Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia trên thế giới, theo đó có thể hiểu một cách ngắn gọn độc lập tư pháp là quy định để Tòa án hoặc cơ quan tư pháp độc lập với mọi sự tác động từ bên trong lẫn bên ngoài Để xây dựng một nền tư pháp độc lập thì trước hết phải xây dựng được một hệ thống Tòa án với cơ cấu tổ chức độc lập Trong quá trình phân chia hoạt động của bộ máy nhà nước, có thể khẳng định rằng Tòa án là cơ quan có chức năng thực hiện quyền tư pháp; do đó, quyền lực của Tòa án phải được tách rời khỏi sự ảnh hưởng của quyền lập pháp và hành pháp Sự tách bạch rõ ràng giữa quyền tư pháp với quyền lập pháp và đặc biệt

là quyền hành pháp là một trong những thành tựu nổi bật trong hoạt động phân chia quyền lực nhà nước để đảm bảo cho sự độc lập của Tòa án trong quá trình xét xử

Thứ nhất, Hiến pháp 2013 có sự ghi nhận cụ thể và dứt khoát về quyền tư

pháp; theo đó, quyền tư pháp chính là quyền xét xử và chủ thể thực hiện quyền tư pháp không phải là một cơ quan nào khác mà đó chính là Tòa án Nguyên tắc độc lập của Tòa án là mấu chốt quan trọng tạo nên sự độc lập của nền tư pháp, được thể hiện tập trung ở ba khía cạnh bao gồm Tòa án phải độc lập về mặt thể chế, nghĩa là

hệ thống tổ chức và những quy chế hoạt động của Tòa án phải có quy định riêng, không thể trùng và cũng không thể giống với các quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp hay hành pháp; Tòa án phải có cơ cấu hành chính nội bộ riêng; quyết định của Tòa án không bị can thiệp, chi phối bởi các cá nhân, cơ quan,

tổ chức khác trong xã hội Qua đó có thể nhận thấy rằng để đảm bảo Tòa án độc lập

Trang 19

thì trước hết tổ chức và hoạt động của Tòa án phải độc lập với bên ngoài

Một là, Tòa án phải độc lập với tổ chức Đảng Nước ta theo cơ chế một

Đảng, việc tổ chức quyền lực nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Sự lãnh đạo của Đảng nhằm đảm bảo hoạt động của Tòa án theo đúng đường lối chính trị, định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của Tòa án để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ theo luật định, duy trì và bảo

vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng, dân chủ và nghiêm minh trong hoạt động thi hành pháp luật Trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp, sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực về chính trị, tư tưởng; về tổ chức, cán bộ và về định hướng công tác thông qua việc định ra các nguyên tắc, quan điểm lớn làm cơ sở chính trị để xây dựng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như vạch ra các đường lối, chủ trương nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của cơ quan này Bên cạnh việc khẳng định vai trò của mình đối với cơ quan tư pháp, Đảng cũng nhận thức được tính độc lập của hoạt động tư pháp

là giá trị cốt lõi của việc thiết lập và duy trì nền công lý của Nhà nước pháp quyền, tất cả hướng đến xây dựng một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tính độc lập của cơ quan tư pháp trong mối quan hệ với Đảng (với các cơ quan, tổ chức, lãnh đạo Đảng) là vô cùng quan trọng Về nguyên tắc, Đảng lãnh đạo gián tiếp thông qua công tác xây dựng pháp luật; do đó, trong quá trình hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mình, cơ quan tư pháp phải tuân theo pháp luật, tuân theo chủ trương, chính sách do Đảng đã đề ra mà không nhất thiết phải có sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan, tổ chức, cá nhân lãnh đạo các cấp uỷ14 Như vậy, trong mối quan hệ với Đảng, Tòa án được xác định là một chủ thể độc lập, độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ, độc lập khi xét xử nhưng vẫn phải tuân theo sự lãnh đạo của Đảng

Trong quá trình thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử, Tòa án phải thể hiện đầy đủ trách nhiệm chính trị – pháp lý của mình trong mối quan hệ với Đảng và với cấp ủy Đảng; tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối mà Đảng đã định hướng Mặc dù chịu sự lãnh đạo của Đảng nhưng Tòa

án với tính chất là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đưa ra các phán quyết một cách khách quan, công bằng trên cơ sở của công lý và các quy định của pháp luật nên trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và ngay cả với Đảng cầm quyền thì Tòa án phải có tính độc lập cao nhất Vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện rõ nét ở việc định hướng xây dựng bộ máy, nguyên tắc hoạt động của Tòa

14

Trịnh Đức Thảo, Trần Thái Dương (2014), “Xây dựng và hoàn thiện mô hình quan hệ giữa Đảng với cơ

quan tư pháp và các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp”, Nghiên cứu lập pháp, (22), tr 11 – 21

Trang 20

án cũng như việc xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo công tác chính trị – tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên Trên cơ sở định hướng của Đảng, Tòa án

sẽ tiến hành cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch phù hợp để xây dựng và phát triển hoạt động của mình; điều này có thể hiểu rằng sự lãnh đạo của Đảng chủ yếu chỉ dựa trên chủ trương, chính sách chung chứ không có nghĩa là ôm đồm, bao biện, làm thay công việc của cơ quan tư pháp

Hai là, Tòa án nhân dân phải độc lập với chính quyền địa phương Chính

quyền địa phương đại diện cho nhà nước, nhân danh nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước; triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng, của nhà nước ở địa phương Do đó, chính quyền địa phương phải đủ mạnh mới có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình Trong mối quan hệ với Tòa án, Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ quản lý Tòa án về các vấn đề liên quan đến tổ chức, nhân sự, kinh phí hoạt động cũng như điều kiện cơ sở vật chất mà không được can thiệp vào hoạt động xét xử và công việc nội bộ của Tòa án Đồng thời, chính quyền địa phương cũng cần phải tạo điều kiện cho Tòa án có thể phát huy được hết vai trò của mình trong quá trình thực hiện quyền tư pháp Trong công tác xét xử, Tòa án có quyền chủ động giải quyết các vụ việc một cách độc lập mà không chịu bất kì sự chỉ đạo nào từ phía Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân

Ba là, Tòa án phải độc lập các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; độc lập với

các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức nghề nghiệp; độc lập với các cơ quan ngôn luận Ngoài ra, Tòa án không phải chịu bất kì

sự chất vấn, chỉ thị hay sự ràng buộc nào từ phía cơ quan lập pháp và cũng không phụ thuộc vào ngân sách hoạt động, nguồn nhân lực và vật lực của cơ quan hành pháp Nếu Tòa án phụ thuộc vào một cơ quan nào đó thì Tòa có thể bị chi phối và dần mất đi tính độc lập Đồng thời, Tòa án không phải chịu sự can thiệp của các tổ chức liên quan đến hoạt động của Tòa như Hiệp hội Thẩm phán, Đoàn luật sư, Hội Luật gia… và các cơ quan ngôn luận khác như báo chí, đài phát thanh, truyền hình… Các cơ quan này được đưa ra những bình luận về phán quyết của Thẩm phán

và công tác xét xử của vụ án nhưng không được kích động hay tạo sức ép của dư luận đối với Tòa án Việc xuất hiện và đưa tin tại phiên tòa cũng phải tuân theo quy định của pháp luật15 Các cơ quan ngôn luận khác chỉ được đưa tin có cơ sở, đúng

sự thật, không phóng đại hoặc đưa ra những nhận định mang tính định hướng dư luận làm ảnh hưởng đến tâm lý xét xử của Thẩm phán

Ngoài các vấn đề nêu trên thì trong cơ cấu tổ chức của Tòa án cũng cần lưu ý

15

Điều 4 Thông tư 01/2014/TT-CA ngày 28 tháng 4 năm 2014 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa

Trang 21

đến mối quan hệ giữa Thẩm phán với các tổ chức, cá nhân bên ngoài Trong quan

hệ tố tụng, Thẩm phán là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhưng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày suy cho cùng họ cũng chỉ là một người bình thường; do đó, họ cũng có gia đình, họ hàng, đồng nghiệp, bạn bè… và nhiều mối quan hệ xã hội ngoài luồng khác Khi giải quyết các vụ án mà Thẩm phán có liên quan đến một trong các cá nhân nêu trên thì không thể tránh khỏi tình trạng bị tình cảm chi phối,

dễ bị phân tâm, thậm chí là sức ép từ phía gia đình, người thân Điều này gây trở ngại cho Thẩm phán trong quá trình xét xử cũng như ảnh hưởng đến tính bình đẳng, công bằng giữa các bên Pháp luật tố tụng nói chung cũng đã đặt ra yêu cầu phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng trong trường hợp có căn cứ cho rằng họ

có thể không vô tư, khách quan khi làm nhiệm vụ16

Thứ hai, tổ chức và hoạt động của Tòa án ngoài đáp ứng các yêu cầu về độc

lập bên ngoài thì cũng đòi hỏi cần phải có sự độc lập từ chính bên trong Các yêu cầu để đảm bảo sự độc lập bên trong của Tòa án bao gồm:

Một là, độc lập trong mối quan hệ giữa Tòa cấp trên và Tòa cấp dưới Tòa án

là chủ thể hiện thân cho công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân; với nhiệm vụ và vai trò quan trọng đó nên cần phải nhận thức đúng đắn về Tòa án – đây là cơ quan thực hiện quyền tư pháp và bảo vệ công lý Trong quá trình tổ chức và hoạt động, cần phải nhìn nhận và đánh giá đúng tính đặc thù của Tòa án, đây là một thiết chế đặc biệt thực thi nhiệm vụ của nhánh quyền lực

tư pháp bên cạnh quyền lập pháp và quyền hành pháp Hệ thống Tòa án được tổ chức theo một thể thống nhất từ trung ương đến địa phương; có quyền tài phán đối với mọi vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử của mình, đưa ra các phán quyết một cách

vô tư, không thiên vị, dựa trên tính chất của sự việc và các quy định của pháp luật

mà không phải chịu bất kì sự tác động của bất cứ chủ thể nào trong xã hội Theo đó, chỉ có Tòa án cấp trên mới có quyền xem xét lại phán quyết của Tòa án cấp dưới theo một quy trình tố tụng quy định trong pháp luật (kháng cáo, kháng nghị, giám đốc thẩm, tái thẩm) và phán quyết của Tòa án có giá trị thi hành bắt buộc đối với các bên Các phán quyết của Tòa tối cao sẽ là phán quyết cuối cùng và không thể bị

cơ quan lập pháp hay hành pháp đề nghị xem xét lại “Tòa án có quyền quyết định

vụ việc một cách vô tư, không thiên vị dựa trên bản chất của vụ việc và theo pháp luật mà không chịu những hạn chế, tác động hay ảnh hưởng không phù hợp, hoặc

sự dụ dỗ, đe dọa hay can thiệp sai trái, một cách trực tiếp hay gian tiếp, từ bất kỳ

16

Điều 52 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 45 Luật Tố tụng hành chính 2015

Trang 22

chủ thể nào với bất kỳ lý do gì”17

Điểm khác biệt của Tòa án so với các cơ quan quyền lực nhà nước khác là

“về mặt tổ chức, không hợp thành một hệ thống theo kiểu “ngành dọc” từ trung ương đến địa phương Hệ thống các Tòa án bao gồm những cấp xét xử theo thẩm quyền tố tụng, khi xét xử, các Hội đồng xét xử hoàn toàn độc lập trên cơ sở pháp luật và ý thức pháp luật của thẩm phán và hội thẩm nhân dân (hoặc các chức danh

tư pháp tương tự)”18

Theo đó, hệ thống Tòa án sẽ được phân chia thành các cấp xét

xử theo thẩm quyền tố tụng và giữa các Tòa án không tồn tại quan hệ giữa “cấp trên” và “cấp dưới” mà chỉ tồn tại mối quan hệ giữa “cấp cao hơn” và “cấp thấp hơn” Mối quan hệ giữa Tòa án các cấp cần được xác định là mối quan hệ tố tụng

chứ không phải là quan hệ quản lý hành chính, Tòa cấp trên chỉ có quyền xem xét lại quyết định, bản án của Tòa cấp dưới theo thẩm quyền và theo một trình tự tố tụng nhất định; không được can thiệp vào tổ chức hoạt động, nhân sự, kinh phí hoạt động và hướng xét xử của Tòa cấp dưới Nếu Tòa cấp trên có sự tác động đến Tòa cấp dưới thì mối quan hệ giữa các cấp tòa không còn là quan hệ tố tụng; từ đó có

thể dẫn đến tình trạng lệ thuộc, thậm chí là việc “thỉnh thị án”, “duyệt án”, hay

“báo cáo án” giữa các cấp tòa với nhau Chính vì sự tồn tại của khái niệm Tòa cấp

trên, Tòa cấp dưới nên gây hiểu lầm và tạo sự phụ thuộc, mang nặng tính quản lý hành chính giữa các cấp tòa Đồng thời cần phải xác định việc tổ chức mô hình

“phiên tòa rút kinh nghiệm” trong ngành Tòa án hay các văn bản tổng kết kinh

nghiệm xét xử chỉ mang tính chất định hướng, nghĩa là không mang tính chỉ đạo hay hướng dẫn đường lối xét xử giữa các cấp tòa Để nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như tính độc lập ở mỗi cấp xét xử thì cần phải hiểu sự tác động giữa các cấp tòa chỉ mang tính trao đổi chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ và không mang tính bắt buộc hay mệnh lệnh giữa cấp trên, cấp dưới

Hai là, sự độc lập trong mối quan hệ giữa Chánh án với Hội đồng xét xử

Chánh án là người đứng đầu cơ quan xét xử, kiểm tra việc tuyên án của Thẩm phán

có đúng quy định của pháp luật hay không; còn Thẩm phán lại là người thực hiện quyền xét xử chính tại phiên tòa Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án hay còn gọi là phân công án là khâu quan trọng trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính

tư pháp; đây là việc tưởng như bình thường nhưng lại có sức ảnh hưởng lớn đến nguyên tắc độc lập trong xét xử và hiệu quả trong hoạt động của Tòa án Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực

Trang 23

hiện theo sự phân công của Chánh án hoặc Phó Chánh án Sau khi được phân công thụ lý hồ sơ vụ án thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trở thành người tiến hành tố tụng; do đó, mối quan hệ giữa Hội đồng xét xử và người đứng đầu Tòa án chỉ là mối quan hệ hành chính chứ không còn là mối quan hệ tố tụng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau và ảnh hưởng trong mối quan hệ giữa người đứng đầu và cấp dưới làm cho hoạt động của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân bị chi phối, làm hạn chế tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi tiến hành tố tụng Do

đó, cần phải xác định mặc dù Chánh án và Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đều đóng vai trò là những người tiến hành tố tụng, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết một vụ việc cụ thể nhưng yêu cầu đặt ra là trong quá trình hoạt động giữa họ phải có sự chủ động và độc lập với nhau để tránh tình trạng lệ thuộc giữa Chánh án và Hội đồng xét xử

Ba là, sự độc lập trong Hội đồng xét xử giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân

dân Muốn Tòa án độc lập thì trước hết Thẩm phán phải độc lập, tính độc lập của Thẩm phán là một trong những yếu tố cơ bản để tạo nên sự độc lập của Tòa án Một

vị luật sư, một nhà hùng biện nổi tiếng thời La Mã cổ đại, Marcus Tullius Cicero

(106 – 43 TCN) cũng đã từng khẳng định “Quan tòa, đó là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan tòa câm”, điều này có thể thấy rằng vai trò của Thẩm

phán là rất quan trọng trong một phiên tòa, Thẩm phán là người áp dụng pháp luật

và đảm bảo sự áp dụng pháp luật đó là chính xác và phù hợp Sự độc lập của cá nhân Thẩm phán được thể hiện rõ nét ở việc Thẩm phán được tự do nghiên cứu, phân tích, đánh giá bằng chứng và tự do quyết định về một vụ án cụ thể mà không một cơ quan Nhà nước nào, một tổ chức xã hội nào hoặc bất cứ một ai được can thiệp hoặc ra chỉ thị cho họ phải giải quyết một vụ án theo hướng này hay hướng

kia

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những chủ thể trực tiếp nhân danh nhà nước, thay mặt Tòa án để thực hiện quyền tư pháp; do đó, để đảm bảo sự độc lập của Tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp thì trước hết Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải độc lập Một nguyên tắc hiến định đã được nêu rõ trong Luật Tổ chức

Tòa án nhân dân 2014 là “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Quy định này xác định rõ trong quá trình xét xử Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản là “xét xử độc lập” và

“chỉ tuân theo pháp luật” Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải độc lập với nhau

trong quá trình xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và độc lập trong

việc áp dụng quy định của pháp luật Karl Marx (1818 – 1883) đã từng nói “cấp trên của quan tòa là luật pháp”, nghĩa là trong hoạt động xét xử, cấp trên của Hội

Trang 24

đồng xét xử chính là pháp luật Do đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải căn

cứ theo các quy định của pháp luật mà giải quyết, xem xét vụ án một cách độc lập

mà không được xa rời hay lẩn tránh các quy định của pháp luật Đồng thời, “nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dưới bất kỳ hình thức nào” 19 Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cũng không bị ảnh hưởng bởi bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào; việc ra phán quyết về tính hợp pháp của một vấn đề nào đó chỉ trên cơ sở quy định của pháp luật Quy định này nhằm tránh được sự tác động từ phía cơ quan lập pháp và hành pháp cũng như sự tùy tiện của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong việc đưa ra các phán quyết

Hoạt động của Thẩm phán phải độc lập trên mọi phương diện, phán quyết của Thẩm phán Tòa cấp dưới không chịu sự chỉ đạo của Tòa cấp trên và cũng không

bị ảnh hưởng bởi các quan hệ nội bộ hay giữa các đồng nghiệp với nhau Khi xét

xử, Thẩm phán độc lập với hồ sơ vụ án, nghĩa là không bị phụ thuộc vào quyết định hoặc kết luận của cơ quan điều tra và độc lập với cả cáo trạng và quyết định của Viện kiểm sát Bản án của Tòa được đưa ra căn cứ vào những chứng cứ đã được kiểm chứng tại phiên tòa, song Hội đồng xét xử dựa vào đó và đối chiếu với quy định của pháp luật mà có thể đưa ra kết luận một cách độc lập, hoàn toàn khác so với ý kiến của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát Cần phải khẳng định rằng, trong quy trình tố tụng hiện nay, độc lập không phải chỉ khi xét xử mà phải độc lập trong toàn bộ vụ án bắt đầu từ giai đoạn Thẩm phán thụ lý vụ việc

Bốn là, sự độc lập của Thẩm phán trong mối quan hệ với Kiểm sát viên và

Điều tra viên Hoạt động của Thẩm phán không bị giám sát hay kiểm sát bởi bất kỳ

cơ quan nào; không bị lệ thuộc vào các nhận định, quyết định của cơ quan điều tra,

cơ quan truy tố Phán quyết của tòa đưa ra dựa trên sự thật khách quan của vụ án, các chứng cứ đã thu thập được cũng như lời khai của các bên tại phiên tòa Nhận thức rõ được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa Tòa án với Viện kiểm sát nói chung và giữa Thẩm phán với Kiểm sát viên nói riêng trong quá trình hoạt động,

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh “Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, không hữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm Các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử cần thực hiện đúng thời hạn theo luật định” Theo đó, mỗi cơ quan tự chịu trách nhiệm về công việc của

19 Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014

Trang 25

mình, Viện kiểm sát không làm thay hay can thiệp vào hoạt động của Tòa án và ngược lại trong quá trình hoạt động từ giai đoạn thụ lý đến khi xét xử Tòa án cũng không bị ảnh hưởng bởi sự chi phối từ bản cáo trạng hay các kết luận của Viện kiểm sát

 Các điều kiện để đảm bảo nguyên tắc độc lập của nền tư pháp

Một là, để đảm bảo cho Tòa án được độc lập thì trước hết phải triển khai

thực hiện mô hình tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Theo quy định của pháp luật thì từ năm 1960 đến trước khi Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 ra đời thì hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo đơn vị hành chính gồm Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao Cụ thể, mỗi đơn vị hành chính cấp huyện và cấp tỉnh có một Tòa án nhân dân; Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cấp trên trực tiếp của Tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa án nhân tối cao là cấp trên trực tiếp của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý nhà nước, sắp xếp lại bộ máy nhà nước qua các thời kỳ thì hệ thống Tòa án nhân dân cũng từng bước được thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội20 Tuy nhiên, việc tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân theo đơn vị hành chính lãnh thổ không còn phù hợp, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tòa án còn bất hợp lý Tòa án nhân dân tối cao vẫn còn nặng về xét xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân cấp tỉnh tuy là Tòa

án cấp dưới nhưng vừa có vai trò là một cấp giám đốc thẩm, tái thẩm lại vừa quản lý các Tòa án cấp huyện về mặt tổ chức; Tòa án nhân dân cấp huyện được tổ chức dàn trải nên có nơi quá nhiều việc, có nơi lại quá ít việc Đồng thời, do Tòa án địa phương được tổ chức theo đơn vị hành chính nên chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng

và sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của Tòa án

Nghị quyết số 49-NQ/TW đã xác định rõ phương hướng tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm 4 cấp Tòa là Tòa

án nhân dân sơ thẩm khu vực; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao Để thực hiện yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp, Điều 102 Hiến pháp 2013 cũng chỉ quy định theo

hướng “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định” nhằm đảm bảo tính khái quát và ổn định của Hiến pháp, hướng đến việc

20 Từ chế độ Thẩm phán bầu sang Thẩm phán bổ nhiệm; từ chỗ Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán từ cấp huyện đến Thẩm phán tối cao thì nay việc bổ nhiệm Thẩm phán cấp tỉnh và cấp huyện do Chánh án Toà án nhân dân tối cao thực hiện; từ việc Toà án nhân dân tối cao thống nhất quản lý các Toà án địa phương sang việc quản lý Toà án địa phương do Bộ Tư pháp đảm nhiệm và hiện nay lại giao cho Toà án nhân dân tối cao quản lý Toà án địa phương về mặt tổ chức

Trang 26

chuyển đổi mô hình tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính sang mô hình theo cấp xét xử Ngoài việc cụ thể hóa các nội dung trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 còn đặt ra một quy định mới, mang tính chất nguyên tắc cho tổ chức

của Tòa án nhân nhân đó là “Các Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử”21; qua đó, có thể thấy rằng tinh thần chủ đạo của nguyên tắc được xác định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 là việc tổ chức Tòa án nhân dân phải độc lập Đảm bảo tính độc lập của Tòa án khi xét xử là vấn đề mang tính nguyên tắc, là cơ sở thực hiện các yêu cầu về sự công minh, dân chủ, hiệu lực, hiệu quả Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính là một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao tính độc lập cho Tòa án Tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử là nền tảng để tăng cường tính độc lập của Tòa án đối với các cơ quan quyền lực nhà nước khác; bên cạnh đó

cũng hạn chế được sự tác động của các “tòa cấp trên” đối với “tòa cấp dưới”, đặc

biệt là cơ quan hành chính địa phương trong quá trình xét xử

Hai là, các yếu tố liên quan đến đội ngũ Thẩm phán Sự độc lập của Thẩm

phán xuất phát từ các yếu tố liên quan đến hoạt động của cá nhân Thẩm phán Để đảm bảo Thẩm phán độc lập thì phải xem xét đến các quy định về điều kiện bổ nhiệm; nhiệm kỳ Thẩm phán; các quy định về kỷ luật, bãi nhiệm Thẩm phán; về tuổi nghỉ hưu cũng như các vấn đề liên quan đến chế độ đãi ngộ, chế độ lương bổng

và quyền miễn trừ tư pháp đối với Thẩm phán Quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác trong Tòa án không chịu bất kì sự ảnh hưởng hay sự tác động nào từ các cơ quan bên ngoài, đặc biệt là các cơ quan lập pháp và hành pháp Đồng thời, việc bổ nhiệm Thẩm phán cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước khác nhau để Thẩm phán có thể hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; tránh trường hợp giao cho một cơ quan duy nhất có thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán thì sẽ tạo ra sự phụ thuộc giữa cơ quan bổ nhiệm và người được

bổ nhiệm Thẩm phán chỉ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình khi hoàn toàn được độc lập trong hoạt động chuyên môn và không phải chịu sự tác động từ bất kì

cơ quan, tổ chức, cá nhân nào

Thẩm phán là người “cầm cân nảy mực”, đại diện cho công lý để bảo đảm

quyền con người, quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, tránh sự lạm quyền từ các cơ quan nhà nước Để trở thành Thẩm phán thì cần phải đáp ứng các điều kiện tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm xét xử; đây là các yếu tố được đặt lên hàng đầu trong suốt quá trình hoạt động của

21 Điều 5 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014

Trang 27

một người Thẩm phán Bên cạnh đó, nhiệm kỳ của Thẩm phán cũng là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo sự ổn định trong suốt quá trình làm việc Có

thể khẳng định “Thẩm phán được đảm bảo giữ chức thẩm phán trong suốt nhiệm

kỳ Nhiệm kỳ của thẩm phán không thể bị thay đổi với mục đích gây bất lợi cho thẩm phán”22 Nhiệm kỳ của Thẩm phán phải đủ dài thì Thẩm phán mới có thể yên tâm công tác, có đủ thời gian để tích lũy kinh nghiệm và nâng cao năng lực xét xử của mình Nếu có quy định về việc tái bổ nhiệm đối với Thẩm phán thì nhiệm kỳ sau khi bổ nhiệm cũng phải dài để Thẩm phán có thể hoàn thành hết công việc của mình, tránh tình trạng Thẩm phán luôn trong tâm thế lo sợ tới việc hết nhiệm kỳ làm ảnh hưởng đến hoạt động công vụ

Ngoài vấn đề về bổ nhiệm và nhiệm kỳ Thẩm phán thì chế độ lương bổng cũng cần phải được quan tâm trong việc xây dựng chế định Thẩm phán độc lập Một chế độ lương ổn định, đủ để Thẩm phán trang trải cho cuộc sống sinh hoạt của cá nhân và gia đình thì Thẩm phán mới có thể chuyên tâm thực thi nhiệm vụ được giao

mà không phải chịu sự can thiệp hay tác động nào từ các yếu tố bên ngoài, không bị cám dỗ bởi các thế lực khác trong xã hội Thẩm phán là nghề đặc thù luôn phải chịu nhiều áp lực từ dư luận xã hội và sự ảnh hưởng của nhiều thế lực khác nhau nên nhiệm kỳ của Thẩm phán phải vững chắc, lâu dài, chế độ lương bổng phải tương xứng với công việc thì Thẩm phán mới toàn tâm, toàn ý, công bằng, khách quan trong quá trình hoạt động

Một khía cạnh khác để đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán trong quá trình hoạt động đó là vấn đề về quyền miễn trừ đối với Thẩm phán23 Trong quá trình xét

xử, đặc biệt là các vụ án phức tạp thì đôi khi không tránh khỏi sự sai sót từ phía cá nhân Thẩm phán Do đó, Thẩm phán cần phải được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm đối với các phát ngôn của mình tại phiên tòa và việc đưa ra kết luận của bản

án cũng như các vấn đề phát sinh liên quan đến bồi thường thiệt hại về vật chất (nếu

có xảy ra) khi thực hiện chức năng xét xử Yếu tố về quyền miễn trừ cần phải được quan tâm để giảm bớt gánh nặng tâm lý của Thẩm phán về trách nhiệm và về rủi ro kinh tế; đảm bảo Thẩm phán giải quyết vụ việc dựa trên nội dung của vụ án mà không có bất cứ lo ngại nào về trách nhiệm sau đó

Trang 28

Ba là, các vấn đề liên quan đến quy trình tố tụng của Tòa án Lần đầu tiên

trong lịch sự lập hiến, Hiến pháp 2013 đã đặt ra một nguyên tắc làm nền tảng cho hoạt động xét xử nói riêng và thực hiện quyền tư pháp nói chung là nguyên tắc

“tranh tụng 24 trong xét xử được bảo đảm” Theo quy định của pháp luật tố tụng

hiện hành nói chung thì trình tự thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm sẽ theo hướng xét hỏi kết hợp với tranh luận Tòa án phải thật sự coi trọng sự tranh biện giữa các bên trong xét xử để tạo điều kiện cho các bên công bằng và bình đẳng trước Tòa án Chỉ khi làm được điều đó thì Tòa án mới có cơ hội lắng nghe ý kiến, lập luận từ nhiều chiều khác nhau trên cơ sở đó đưa ra quyết định đúng đắn, tránh tình trạng chủ quan, duy ý chí mà đưa ra các bản án oan sai Đồng thời, cũng cần phải khẳng định rằng từ giai đoạn thụ lý cho đến giai đoạn xét xử, Thẩm phán phải độc lập với Điều tra viên, Kiểm sát viên và các đương sự trong vụ án Đối với những nhận định, những kết luận mà Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đưa ra trong suốt quá trình giải quyết vụ án hoặc các bằng chứng mà đương sự đã trình bày trước phiên tòa thì Thẩm phán không bắt buộc phải tuân theo Sau khi thẩm tra, đánh giá tại phiên tòa, Thẩm phán có quyền chấp nhận hay bác bỏ và đưa ra ý kiến riêng của mình Tòa án nhân dân hoạt động theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số; do đó, đối với hoạt động nghị án, để đảm bảo sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong việc đưa ra các nhận định để giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ án thì Hội thẩm nhân dân là người phát biểu trước và Thẩm phán

là người phát biểu sau cùng để tránh tình trạng Hội thẩm nhân dân bị lệ thuộc vào quan điểm của Thẩm phán Hội thẩm nhân dân là những người đại diện cho tiếng nói của nhân dân trong vụ án, để nhân dân được tham gia, giám sát và đưa ra ý kiến của mình nhằm tăng tính thuyết phục của bản án, do đó sự độc lập của Hội thẩm nhân dân trong xét xử là một yếu tố vô cùng quan trọng Hội thẩm nhân dân có độc lập thì hoạt động mới hiệu quả, chất lượng xét xử được nâng cao, tránh tình trạng oan sai góp phần tạo niềm tin cho nhân dân với pháp luật, đúng với tinh thần Hiến pháp

1.2 Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam

1.2.1 Sự cần thiết phải thành lập các Tòa chuyên trách

24 Cụm từ “tranh tụng” được xuất hiện đầu tiên tại văn kiện của Đảng, cụ thể là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm của tư pháp trong thời gian tới” Nghị quyết có xác định quan điểm chỉ đạo hoạt động đối với Tòa án nhân dân là: “Khi xét xử các Tòa

án phải bảo đảm cho mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có tính thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”

Trang 29

Trong công cuộc cải cách tư pháp, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật lên hàng đầu, trong đó vấn đề về Tòa chuyên trách

trong hệ thống Tòa án nhân dân đặc biệt được quan tâm “Tòa chuyên trách là tòa được tổ chức và giao thẩm quyền chuyên xét xử những vụ án mà nội dung thuộc sự điều chỉnh của các ngành luật riêng bao gồm luật dân sự, luật hình sự, luật kinh tế, luật lao động, luật hành chính và luật hôn nhân gia đình”25 Hiện nay, theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, có các Tòa chuyên trách sau đây: Tòa dân sự, Tòa hình sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính; các tòa này được thành lập trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện

Tòa án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm26 Để thực hiện trọng trách đó, trong quá trình hoạt động Tòa án gặp phải rất nhiều vụ việc liên quan đến các ngành, các lĩnh vực khác nhau; do đó, yêu cầu khi giải quyết phải có kiến thức chuyên sâu, am hiểu rõ về lĩnh vực đó để đảm bảo tính đúng đắn

và khách quan của các phán quyết Nhận thức được tầm quan trọng của việc phải xây dựng một hệ thống các tòa để thay mặt Tòa án xét xử các vụ việc thuộc sự điều chỉnh của các ngành luật riêng, để giúp cho Tòa án thực hiện tốt chức năng của mình nên việc phải thành lập các Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân

là yêu cầu tất yếu

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1992

đã quy định về việc tổ chức Tòa hình sự và Tòa dân sự trong hệ thống Tòa án nhân dân Giai đoạn này Tòa chuyên trách mới hình thành còn sơ khai nên Tòa hình sự

và Tòa dân sự chỉ được tổ chức trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp tỉnh Ngay từ buổi đầu thành lập, hai tòa này đã khẳng định được vị trí và vai trò của mình, là cánh tay đắc lực của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các

vụ việc liên quan đến hình sự và dân sự Có thể hiểu nôm na rằng mục đích của việc xây dựng Tòa hình sự là để giúp Tòa án nhân dân xét xử các vụ án hình sự và ngược lại, Tòa dân sự sẽ giải quyết các vụ việc dân sự Sự ra đời của Tòa hình sự và Tòa

09/4/2021)

26 Điều 102 Hiến pháp 2013

Trang 30

dân sự đã đánh dấu bước tiến mới trong hệ thống tư pháp, đồng thời đây cũng là bước đệm cho việc tiếp tục thành lập các tòa liên quan đến các lĩnh vực khác trong

sự, dân sự, kinh tế thì còn có các lĩnh vực khác liên quan đến hành chính, lao động, hôn nhân gia đình Do đó, yêu cầu cấp bách trong giai đoạn này là cũng phải thành lập các Tòa chuyên trách trên trong hệ thống Tòa án nhân dân Nhận thức được tình hình đó, tại kỳ họp thứ VIII, Quốc hội khóa IX ngày 28/10/1995 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, trong đó quy định Tòa hành chính được thành lập và bắt đầu hoạt động kể từ ngày 01/7/1996; Tòa hành chính sẽ giải quyết các vụ án hành chính và Tòa lao động với nhiệm vụ giải quyết các vụ việc lao động Dù ra đời muộn hơn so với các Tòa chuyên trách khác nhưng Tòa hành chính

đã dần khẳng định được vị thế của mình; đây là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo công bằng, khách quan cho người dân khi tham gia vào các tranh chấp hành chính

Hiện nay, vấn đề về hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em đang được đặt lên hàng đầu, trong đó dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật, nhất là những trường hợp người chưa thành niên phạm tội, do đó yêu cầu phải xây dựng hệ thống Tòa án cho người chưa thành niên là điều cần thiết Trước tình hình đó, vào năm 2016 Tòa chuyên trách đầu tiên cho trẻ em của Việt Nam được thành lập với vai trò hỗ trợ và bảo vệ tốt hơn trẻ em có liên quan đến pháp luật27 Đến năm 2018, Tòa gia đình và người chưa thành niên thứ hai được thành lập trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp28 Tòa gia đình và người chưa thành niên được thành lập là một cột mốc quan trọng đánh dấu sự thành công của tiến trình cải cách tư pháp Từ khi ra đời đến nay, Tòa gia đình và người chưa thành niên của hai Tòa án nhân dân cấp cao đã giải quyết, xét xử gần 700 vụ việc; Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết, xét

xử hơn 2300 vụ việc; Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã giải quyết, xét xử được

Trang 31

88 vụ việc liên quan đến gia đình và người chưa thành niên29 Các số liệu thống kê trên cho thấy tầm quan trọng của việc phải thành lập Tòa chuyên trách trong tổ chức

bộ máy của Tòa án nhân dân

Tòa chuyên trách không còn là vấn đề xa lạ trong hệ thống pháp luật nước ta, thực tế cho thấy rằng trong suốt thời gian từ khi thành lập đến nay, các Tòa chuyên trách nói chung trong đó có Tòa hành chính đã hoàn thành tốt vai trò chuyên trách của mình, góp phần nâng cao năng lực hoạt động của ngành Tòa án Trong tương lai cần phải có những quy định cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của Tòa chuyên trách để đảm bảo mô hình này tiếp tục được áp dụng một cách có hiệu quả trong thực tế

1.2.2 Sự ra đời của Tòa hành chính ở Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm

1986 đã mở ra thời kỳ đổi mới mọi mặt của đất nước, trong đó chủ trương xây dựng

và hoàn thiện Nhà nước của dân, do dân, vì dân Tiếp thu tinh thần đó, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 1992 với tư tưởng coi trọng nền dân chủ, luôn luôn coi trọng

vấn đề con người, tất cả vì con người; tại Điều 50 Hiến pháp quy định rõ “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội được tôn trọng, thể hiện ở quyền công dân…” Một trong những quyền

cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp là “công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước… Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định…” Quy định này nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào các quan hệ hành chính, tạo điều kiện để công dân thực hiện được các quyền cơ bản của mình, trên cơ

sở đó bảo đảm thực hiện quyền con người ở nước ta

Trước khi Tòa hành chính ra đời việc giải quyết các khiếu nại hành chính vẫn chủ yếu thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước và do tổ chức Thanh tra giải quyết theo Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 Như vậy, về mặt hình thức hoạt động xem xét và xử lý các vi phạm hành chính của các

cơ quan hành chính cũng tương tự hoạt động xét xử của Tòa án Mặc dù cơ quan

giải quyết đã có nhiều cố gắng nhưng giải quyết tranh chấp theo cơ chế “Bộ trưởng – Quan tòa” vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Qua nhiều năm thực hiện cơ chế giải quyết

này cho thấy hoạt động giải quyết các khiếu kiện hành chính còn kém hiệu quả và chưa thật sự dân chủ Trong quan hệ này, cơ quan hành chính là người bị kiện và

29 http://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=39831 (truy cập ngày 14/4/2021)

Trang 32

cũng là người ra quyết định hành chính, hành vi hành chính vi phạm pháp luật gây hại đến quyền dân chủ của công dân Nếu công dân không đồng ý với các quyết định, hành vi hành chính đó và đi khiếu nại thì cũng chính cơ quan hành chính hoặc cán bộ bị kiện sẽ giải quyết tranh chấp cho công dân, trong trường hợp đó chẳng

khác nào “vừa đá bóng vừa thổi còi”, cơ quan hành chính vừa là người bị kiện và

cũng là người xử kiện Điều này dẫn đến nhiều sự bất cập và đôi phần đã làm sai lệch đi tư tưởng về quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân Quản lý hành chính

là hoạt động diễn ra thường xuyên, trong đó công dân là đối tượng bị quản lý một cách thụ động; khi xảy ra tranh chấp giữa một bên là cơ quan hành chính nhà nước với một bên là công dân thì mối quan hệ này lại càng bất bình đẳng hơn; các phán quyết được đưa ra đôi khi thiếu sự không công bằng, khách quan và điều này dẫn

đến sự thiệt thòi lớn cho công dân “Trong điều kiện như vậy, cơ quan hành chính

có thẩm quyền giải quyết dễ rơi vào tình trạng thiếu vô tư khách quan, dễ vi phạm pháp luật, dễ lạm dụng quyền, do vậy không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, không tôn trọng và củng cố quyền con người”30

Trước tình hình đó, nhu cầu cấp bách trong giai đoạn này là phải xây dựng được hệ thống tài phán hành chính, trong đó Tòa hành chính sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về khiếu kiện hành chính để phù hợp với xu hướng

đổi mới của đất nước, tiến tới xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã khẳng định “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính” Để thực hiện nhiệm vụ cải cách một bước nền hành chính thì một

trong những nhiệm vụ trước mắt là phải đổi mới cơ chế giải quyết các khiếu kiện

hành chính của công dân Nghị quyết đã chỉ rõ “Đẩy mạnh các khiếu kiện hành chính của công dân… xúc tiến việc thiết lập hệ thống Tòa án hành chính để xét xử các khiếu kiện của công dân đối với các quyết định hành chính” Do đó, việc giải

quyết các khiếu kiện hành chính phải do một cơ quan tài phán độc lập thực hiện theo một trình tự tố tụng nhất định thay vì do cơ quan hành chính đảm nhiệm như trước đây

Vấn đề về việc thiết lập Tòa hành chính đã được đặt ra nhưng làm thế nào để xây dựng một mô hình Tòa hành chính phù hợp với nước ta thì vẫn còn nhiều tranh cãi Trong quá trình nghiên cứu các mô hình Tòa hành chính có thể áp dụng vào

30

Nguyễn Thanh Bình (1996), “Tổ chức và hoạt động của Tòa án hành chính – Một biện pháp mới bảo đảm

quyền con người”, Nhà nước và pháp luật, (103), tr 11

Trang 33

nước ta, các chuyên gia đã đưa ra 04 mô hình sau đây31

:

Thứ nhất, hình thành một hệ thống Tòa án hành chính do Quốc hội lập ra

không phụ thuộc vào cơ quan hành chính và Tòa án nhân dân;

Thứ hai, hình thành một hệ thống Tòa án hành chính do Chính phủ lãnh đạo

(trực thuộc Chính phủ) nhưng độc lập với các Bộ và Uỷ ban nhân dân các cấp, độc lập với Tòa án nhân dân;

Thứ ba, hình thành một hệ thống Tòa hành chính ở hai cấp: Tòa hành chính

trung ương nằm trong cơ cấu Tòa án nhân dân tối cao và Tòa hành chính nằm trong

cơ cấu Tòa án nhân dân cấp tỉnh;

Thứ tư, hình thành một hệ thống tòa chuyên trách xét xử các vụ kiện hành

chính nằm trong cơ cấu Tòa án nhân dân ở cả ba cấp: Trung ương, tỉnh, huyện

Dựa theo các mô hình nêu trên, ngày 28/10/1995 Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (Luật này được thông qua ngày 06/10/1992 và được sửa đổi, bổ sung lần đầu vào ngày 28/12/1993) Trong đó trao cho Tòa án nhân dân chức năng xét xử các vụ án hành chính và thiết lập một Tòa hành chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh bên cạnh các Tòa hình sự, dân sự, kinh tế và lao động để thực hiện chức năng này32 Tòa hành chính được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động kể từ ngày 01/7/1996; cùng với đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, theo pháp lệnh này, Tòa án nhân dân cũng có chức năng xét xử những khiếu kiện hành chính Và gần đây nhất, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002 đã hoàn thiện thêm mô hình tổ chức của Tòa hành chính, theo đó Tòa án nhân dân huyện cũng có chức năng xét xử các tranh chấp hành chính Các văn bản pháp luật trên là những văn bản pháp luật đánh dấu một sự kiện quan trọng – sự ra đời của Tòa hành chính ở Việt Nam

Cuối cùng chúng ta chọn mô hình Tòa hành chính trong Tòa án nhân dân để thiết lập Tòa hành chính ở nước ta Trong bốn mô hình nêu trên thì mô hình này là hợp lý hơn cả vì thời điểm thành lập Tòa hành chính nước ta đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước, tổ chức Tòa hành chính trong Tòa án nhân dân sẽ

đỡ tốn kém trong việc xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, góp phần tinh giản bộ máy nhà nước và đặc biệt hơn là kế thừa được những thành quả và kinh nghiệm của hệ thống tư pháp trước đó Sự ra đời của Tòa hành chính đánh dấu cột

31 Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 483 –

484

32

Điều 1, Điều 17, Điều 23, Điều 27, Điều 30 Luật số 43-L/CTN sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 28 tháng 10 năm 1995

Trang 34

mốc quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quản lý nhà nước; là một bước tiến quan trọng để kiểm soát hoạt động của các cơ quan hành chính và làm thay đổi tư tưởng chỉ có nhà nước phán xử hành vi của công dân, còn hành vi sai trái của cơ quan nhà nước thì không bị phán xử33

Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền việc hoàn thiện cơ chế tài phán hành chính để kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan hành chính nhà nước là điều rất cần thiết Nhìn chung có thể hiểu rằng tài phán hành chính là hoạt động xét

xử hành chính, trong đó giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội do Tòa án nhân dân thực hiện theo một trình tự

tố tụng nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước Hệ thống Tòa hành chính trong Tòa án nhân dân là cơ sở vững chắc cho hoạt động tài phán hành chính và Tòa hành chính là một bộ phận của bộ máy nhà nước, là tổ chức của quyền lực nhà nước trong lĩnh vực xét xử

Toà hành chính ra đời có vai trò to lớn trong việc tạo lập và duy trì một chế

độ kỷ cương, pháp chế nghiêm minh trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần to lớn vào việc đổi mới và hoàn thiện không ngừng nền hành chính quốc gia Đồng thời Tòa hành chính còn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân tránh khỏi sự xâm hại từ phía cơ quan hành chính cũng như những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính đó; qua đó tạo niềm tin của công dân đối với hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống hành chính nói riêng

1.2.3 Các yêu cầu và điều kiện để đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính ở Việt Nam

Mặc dù cùng là các Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân nhưng với vai trò điều chỉnh hoạt động xét xử giải quyết các tranh chấp hành chính phát sinh từ hoạt động quản lý hành chính nhà nước nên Tòa hành chính có nhiều điểm khác biệt hơn so với các Tòa chuyên trách khác Ngoài các nguyên tắc chung được quy định để đảm bảo sự độc lập của Tòa án thì trong quá trình thực hiện nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính cần phải lưu ý đến nét đặc trưng của tòa này để có thể xây dựng được một mô hình Tòa hành chính độc lập với các cơ quan, tổ chức khác Tài phán hành chính là một vấn đề phức tạp, rộng lớn liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau và còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chính trị – xã hội, do đó

33

https://tcnn.vn/news/detail/36493/Tai_phan_hanh_chinh_co_che_kiem_soat_quyen_luc_nha_nuoc_cua_tu_ phap_doi_voi_hanh_phapall.html (truy cập ngày 16/4/2021)

Trang 35

nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính phải được nhìn nhận một cách nghiêm túc thì mới có thể tạo điều kiện cho Tòa hành chính hoàn thành tốt vai trò chuyên trách của mình, là cánh tay đắc lực của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính

Xuất phát từ sự đặc thù trong đối tượng xét xử của Tòa hành chính34 nên yêu

cầu đặt ra là “Tòa hành chính vừa phải bảo đảm cho các bên bảo vệ được quyền và lợi ích của mình một cách triệt để, vừa phải đảm bảo tính trung gian để không thiên

vị cho cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức”35 Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, công dân luôn là đối tượng bị quản lý, giữa công dân với cơ quan hành chính vốn tồn tại một quan hệ bất bình đẳng (quan hệ quyền lực – phục tùng),

do đó, khi phát sinh tranh chấp thì công dân lại càng yếu thế hơn Các bên tranh chấp trong quan hệ quản lý có mối quan hệ bất bình đẳng với nhau nhưng khi chuyển sang quan hệ tố tụng, pháp luật lại đặt các bên ngang nhau về quyền và nghĩa vụ trước Tòa án Từ việc một bên là cơ quan quản lý và một bên là đối tượng

bị quản lý nên trong các khiếu kiện hành chính không thể tránh khỏi việc hình thành

tư tưởng ngại kiện tụng, “dân kiện quan” hay “con kiến kiện củ khoai” Chính vì

sự đa dạng và phức tạp về đối tượng xét xử nên Tòa hành chính cần phải xây dựng một nguyên tắc riêng phù hợp để đảm bảo sự độc lập trong tổ chức và hoạt động của mình

 Các yêu cầu để đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính

Tòa hành chính là cơ quan chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân nên ngoài các yêu cầu chung được áp dụng để đảm bảo sự độc lập của Tòa hành chính thì cũng cần chú trọng một số yêu cầu riêng trong quá trình xây dựng nguyên tắc độc lập đối với tòa này Tương tự như sự độc lập của Tòa án, nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính cũng đặt ra hai yếu tố bao gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài

để đảm bảo tính độc lập Yếu tố bên ngoài đòi hỏi sự độc lập về tổ chức của Tòa hành chính và ngược lại, yếu tố bên trong sẽ yêu cầu về tính độc lập của Thẩm phán đối với các chủ thể bên trong Hội đồng xét xử và với những người tiến hành tố tụng khác Nếu chỉ đặt ra yêu cầu về độc lập bên trong có liên quan đến Hội đồng xét xử,

34 Trong hệ thống các Tòa chuyên trách, bên cạnh Tòa hình sự, Tòa hành chính là tòa xét xử theo “luật công”, các tòa còn lại xét xử theo “luật tư” Đối tượng xét xử của Tòa hành chính là những tranh chấp phát

sinh từ quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức bị cá nhân,

tổ chức khởi kiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục hành chính mà không thỏa đáng hoặc hết thời hạn giải quyết theo thủ tục hành chính mà chủ thể không đưa ra quyết định giải quyết; còn đối tượng xét xử của các vụ án khác là những tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích giữa các cá nhân, tổ chức và đây là lợi ích tư Tòa hành chính giải quyết các tranh chấp giữa một bên là cá nhân hoặc tổ chức đơn thuần còn bên kia luôn là cơ quan công quyền nên khả năng bị tác động của Tòa hành chính là rất lớn so với các Tòa chuyên trách khác

35

Trần Kim Liễu (2011), Tòa hành chính trong nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, Luận án tiến

sĩ luật học, tr 40

Trang 36

yêu cầu Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì sự độc lập đó có thể chỉ mang tính hình thức vì suy cho cùng Thẩm phán hành chính cũng chỉ là một con người nên tính độc lập của họ rất dễ bị tác động bởi áp

lực và lợi ích vật chất; do đó, sự độc lập của Thẩm phán cần phải có “lá chắn” bảo

vệ bên ngoài là sự độc lập trong tổ chức của Tòa hành chính Như vậy, độc lập bên trong và độc lập bên ngoài là hai yếu tố có mối quan hệ biện chứng, thống nhất và không thể tách rời nhau để cấu thành nên nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính

Thứ nhất, các yêu cầu để đảm bảo sự độc lập bên ngoài của Tòa hành chính:

Một là, nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính cũng đặt ra vấn đề Tòa hành

chính phải độc lập với tổ chức Đảng, đặc biệt là cấp ủy Đảng ở cùng địa phương Tòa hành chính một mặt chịu sự lãnh đạo của Đảng nhưng mặt khác tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính phải độc lập với Đảng Hoạt động xét xử của Tòa hành chính là một hoạt động mang tính đặc thù và đòi hỏi có tính độc lập cao; do đó, trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần tôn trọng và tạo điều kiện cho Tòa hành chính có thể phát huy được tính độc lập của mình trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ Xuất phát từ sự đặc biệt của Tòa hành chính nên Đảng cũng cần phải nhìn nhận lại

để có phương thức lãnh đạo riêng đối với Tòa hành chính mà không thể đồng nhất với phương thức lãnh đạo chung như đối với các cơ quan nhà nước khác để có thể xây dựng một nền móng vững chắc cho nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính Đồng thời, để đảm bảo tính độc lập tương đối giữa sự lãnh đạo của Đảng với Tòa hành chính thì cần phải chú trọng đến quyền lực của Thẩm phán hành chính Theo

đó, các Thẩm phán hành chính đều phải là Đảng viên, đối với Tòa hành chính ở trung ương thì Thẩm phán phải là Ủy viên trung ương Đảng, còn đối với Tòa hành chính ở địa phương thì Thẩm phán phải là tỉnh ủy viên

Hai là, sự độc lập giữa Tòa hành chính với chính quyền địa phương Khác

hẳn các Tòa chuyên trách trong cùng hệ thống Tòa án nhân dân, trong hoạt động của mình, Tòa hành chính thường xuyên va chạm với các tổ chức ở địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thứ bậc hành chính của mô hình tổ chức Tòa hành chính trong tương quan với chính quyền địa phương cùng cấp như hiện nay đã đặt Tòa hành chính vào tình trạng phải giải quyết các khiếu kiện đối với

cơ quan cùng cấp với mình Mặt khác, Ủy ban nhân dân còn có mối quan hệ đặc biệt với Tòa hành chính, thậm chí Tòa hành chính còn bị lệ thuộc đối với các vấn đề

về nhân sự, tài chính và các yếu tố về mặt chính trị Để đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính thì cần phải có sự minh bạch hóa trong mối quan hệ giữa chính quyền địa phương cùng cấp với Tòa hành chính, đồng thời đặt ra vấn đề giao các vụ

Trang 37

việc cho Tòa hành chính trên một cấp giải quyết thì mới có thể tạo tâm lý thoải mái cho Thẩm phán trong quá trình xét xử

Trong khi kết quả xét xử của Tòa dân sự là xác định các quyền dân sự của công dân, pháp nhân trong vụ kiện dân sự, Tòa hình sự là xác định trách nhiệm hình

sự của một cá nhân trong vụ án hình sự bao gồm định tội danh và áp dụng khung hình phạt thì kết quả xét xử của Tòa hành chính lại là phán quyết về tính hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc cán

bộ, công chức nhà nước Tòa dân sự chuyên giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa

cá nhân với cá nhân hoặc cá nhân với tổ chức không liên quan đến quyền lực nhà nước nên trong quan hệ tranh chấp sự tác động giữa người với người đối với cơ quan có thẩm quyền giải quyết là không lớn; thực chất khi giải quyết các tranh chấp dân sự, Tòa dân sự nói chung và Thẩm phán của Tòa dân sự luôn có sự cân bằng mà không thiên vị hay e dè đối với bất kì bên nào trong quá trình giải quyết vụ án Trái lại, Tòa hành chính giải quyết các tranh chấp giữa một bên là những người giữ quyền lực nhà nước với một bên là công dân nên đôi khi sự tác động của cơ quan công quyền với Tòa hành chính trong quá trình hoạt động là rất lớn Thẩm phán hành chính với cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức trong cơ quan đó

có mối quan hệ đặc biệt hơn so với mối quan hệ với công dân bình thường nên tính độc lập của Tòa hành chính lẫn Thẩm phán hành chính sẽ dễ bị ảnh hưởng Do đó, trong mối quan hệ với chính quyền địa phương cần phải xem xét đến tính độc lập của Thẩm phán hành chính cũng như tiến tới minh bạch hóa mối quan hệ giữa tổ chức Tòa hành chính với chính quyền địa phương

Thứ hai, các yêu cầu để đảm bảo sự độc lập bên trong của Tòa hành chính:

Một là, sự độc lập trong mối quan hệ giữa Tòa hành chính cấp trên, cấp

dưới Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị đã nêu rõ “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và

cơ quan công quyền trước Tòa án” Trong quan hệ hành chính phát sinh hàng ngày

giữa Nhà nước (đại diện là cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền) với công dân, mọi quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của người có thẩm quyền đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, thẩm quyền của Tòa hành chính cần phải được mở rộng để có thể sâu sát vào đời sống nhân dân, đảm bảo quyền của người dân trên thực tế Thẩm quyền của Tòa được mở rộng, quy trình tố tụng được xây dựng phù hợp thì Tòa hành chính mới có thực

Trang 38

quyền, mới đủ sức để đối trọng với các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương lẫn địa phương

Hiện nay, ở nước ta Tòa hành chính được tổ chức trong Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện; giữa các tòa này có sự độc lập với nhau về tổ chức cũng như hoạt động Hệ thống Tòa hành chính không tổ chức theo

kiểu “ngành dọc” từ trung ương xuống địa phương như các cơ quan quyền lực nhà nước khác mà được tổ chức bao gồm những cấp xét xử; “khi xét xử, các Hội đồng xét xử hoàn toàn độc lập trên cơ sở pháp luật và ý thức pháp luật của Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân”36 Do đó, về thẩm quyền tố tụng, trong mối quan hệ giữa

Tòa hành chính các cấp không có khái niệm “cấp trên”, “cấp dưới” mà chỉ tồn tại quan hệ giữa tòa “cấp cao hơn” và “cấp thấp hơn” Về mặt chuyên môn, giới hạn

và thẩm quyền của Tòa cấp trên chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan chứ không được can thiệp và chỉ đạo đối với những vụ án

cụ thể đối với Tòa cấp dưới Khi phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, Tòa hành chính cấp trên không được xâm phạm đến sự độc lập xét xử của Tòa cấp dưới bằng cách định hướng lại việc xét xử vụ án Đồng thời, việc quy định hai cấp xét xử, bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm cũng là yêu cầu cần thiết để tạo nên sự độc lập của Tòa hành chính trong mỗi cấp xét xử

Hai là, khi xét xử, các Thẩm phán phải độc lập với nhau và với Hội thẩm

nhân dân Tiếp thu tinh thần của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

2014, Luật Tố tụng hành chính 2015 cũng đã đề ra nguyên tắc hiến định để điều

chỉnh mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”37 Theo đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập trong hoạt động của mình từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc phiên tòa chứ không chỉ giới hạn sự độc lập trong giai đoạn xét xử Các thành viên Hội đồng xét xử không được

để cho bất cứ ai và vì bất kì lý do gì chi phối mà xử lý vụ án không đúng pháp luật Đồng thời, cũng cần lưu ý đến sự độc lập giữa chính các thành viên Hội đồng xét xử với nhau vì hiệu quả của công tác xét xử phụ thuộc vào chính sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Nguyên tắc xét xử của Tòa hành chính là xét xử tập thể

vụ án hành chính và quyết định theo đa số nên Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tự mình nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, kết hợp với những chứng cứ đã thu được để đưa ra các đánh giá, kết luận riêng của mình đối với từng vấn đề cụ thể của

vụ án mà không bị động hoặc lệ thuộc vào ý kiến của nhau; mỗi cá nhân Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân phải độc lập trong phán xét và suy nghĩ của mình để đảm bảo

36

Nguyễn Đăng Dung, tlđd số 17, tr 4

37 Điều 13 Luật Tố tụng hành chính 2015

Trang 39

tính khách quan của vụ án Trong quá trình xét xử tại phiên tòa và khi nghị án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật, căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án mà không được tùy tiện hay áp đặt ý chí

chủ quan của mình trong hoạt động áp dụng pháp luật “Độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” là hai yếu tố có mối quan hệ thống nhất với nhau trong nguyên tắc tố tụng “Độc lập” là điều kiện cần để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật và ngược lại “tuân theo pháp luật” là cơ sở không thể thiếu

để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập khi xét xử

Ba là, ngoài sự độc lập giữa các thành viên Hội đồng xét xử với nhau thì

cũng đặt ra yêu cầu về sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân với Kiểm sát viên Trong hoạt động xét xử, Kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, phát hiện ra những sai sót phát sinh trong quá trình

tố tụng; nghĩa là vai trò của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa hành chính chỉ

dừng lại ở việc “quan sát”, hoạt động của Thẩm phán và Kiểm sát viên độc lập với

nhau từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa ra phán quyết Sự tách bạch rõ ràng về vai trò, nhiệm vụ trong quá trình hoạt động là nhân tố quan trọng để đảm bảo sự độc lập giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên

 Các điều kiện để đảm bảo nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính

Bên cạnh các yêu cầu đã đặt ra để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính thì cũng cần phải lưu ý đến các điều kiện để hoàn thành tốt các yêu cầu đã được đề ra Qua quá trình xem xét, có thể nhận thấy rằng để đảm bảo sự độc lập trong tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính thì đòi hỏi phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:

 Về mặt tổ chức: Tòa hành chính phải được tổ chức theo thẩm quyền xét

xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính và đồng thời được tổ chức sao cho độc lập với Tòa án nhân dân

 Về mặt pháp lý: phải đảm bảo Tòa hành chính có quy trình tố tụng riêng; đồng thời quan tâm đến mối quan hệ của Thẩm phán với các chủ thể có liên quan trong hoạt động xét xử cũng như vấn đề về miễn trừ trách nhiệm trong quá trình hoạt động đối với Thẩm phán hành chính

 Về mặt kinh tế: Tòa hành chính phải cần có một trụ sở hoạt động riêng, được trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết để phục vụ cho công tác xét xử Ngoài ra, liên quan đến vấn đề này thì cũng cần lưu ý đến ngân sách hoạt động của Tòa hành chính và chế độ tiền lương đối với Thẩm phán hành chính

 Về mặt chính trị: các yếu tố liên quan đến Đảng lãnh đạo, trình độ tư tưởng chính trị của Thẩm phán hành chính

Trang 40

 Về mặt văn hóa – xã hội: nâng cao hiểu biết của người dân về sự tồn tại của Tòa hành chính, tuyên truyền, vận động để người dân sử dụng phương thức khiếu kiện hành chính khi không đồng ý với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan công quyền Từ việc người dân hiểu và biết đến Tòa hành chính thì Tòa hành chính mới có tính thực quyền tiến tới hoạt động một cách độc lập

Các điều kiện nêu trên tựu chung lại đều là “kim chỉ nam” hướng đến việc

bảo đảm nguyên tắc độc lập của Tòa hành chính Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này, Tác giả chỉ tiến hành phân tích một số điều kiện tiên quyết bao gồm điều kiện

về mặt tổ chức, điều kiện về đội ngũ Thẩm phán38 và điều kiện về quy trình tố tụng hành chính; còn các điều kiện liên quan khác thì sẽ được trình bày lồng ghép vào các điều kiện tiên quyết nêu trên

Một là, để đảm bảo sự độc lập của Tòa hành chính thì Tòa hành chính phải

được tổ chức theo nguyên tắc thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ hoặc tổ chức thành các Tòa hành chính khu vực Vấn đề này sẽ được trình bày và phân tích rõ hơn ở phần kiến nghị đối với mô hình tổ chức của Tòa hành chính Tòa hành chính được thành lập với tư cách là Tòa chuyên trách nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân độc lập với cơ quan thực hiện quyền lập pháp và quyền hành pháp, có chức năng xét xử các vụ án hành chính Tổ chức bộ máy nhà nước là sự thống nhất giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nên Tòa hành chính cũng được tổ chức sao cho quyền tư pháp được phân công rành mạch với hai nhánh quyền lực còn lại Với nhiệm vụ xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định quản lý của cơ quan hành pháp nên trong quan hệ với quyền hành pháp, Tòa hành chính không thể là cơ quan phụ thuộc vào hệ thống cơ quan hành pháp; nếu Tòa hành chính phụ thuộc vào hành pháp thì dẫn đến tình trạng hoạt động xét

xử sẽ thiếu tính độc lập, khách quan

Hai là, Tòa hành chính có những dấu hiệu nhận diện chung giống với các cơ

quan xét xử khác như Tòa dân sự, Tòa hình sự… nhưng đồng thời cũng có những dấu hiệu đặc thù riêng để phân biệt với các Tòa chuyên trách và với các thiết chế

nhà nước khác Chính vì những đặc trưng riêng đó mà Tòa hành chính phải bảo đảm

nguyên tắc độc lập của mình, tránh sự chi phối, tác động của các cơ quan nhà nước

38

Trong tố tụng hành chính, để đảm bảo Tòa hành chính hoạt động có hiệu quả thì cần phải có sự hợp sức của nhiều chủ thể khác nhau bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Chánh án… Muốn Tòa hành chính hoạt động một cách độc lập thì tất cả các chủ thể nêu trên đều phải được độc lập Tuy nhiên, đội ngũ Thẩm phán hành chính vẫn là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong công tác xét xử nên Tác giả chỉ chọn yếu tố này để phân tích và đồng thời, yếu tố này cũng làm nổi bật được các điều kiện liên quan đến chủ thể khác

Ngày đăng: 26/04/2022, 23:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
19. Đào Duy Anh (1996), Hán Việt từ điển, NXB TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1996
20. Nguyễn Đăng Dung (2005), Thể chế Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
21. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập (tập 5), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập (tập 5)
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
22. Montesquieu (1967), Tinh thần pháp luật, NXB Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Tác giả: Montesquieu
Nhà XB: NXB Sài Gòn
Năm: 1967
23. Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (2008), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân: Lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân: Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
24. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2019
25. Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2006
26. Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bài báo trong tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
27. Nguyễn Thanh Bình (1996), “Tổ chức và hoạt động của Tòa án hành chính – Một biện pháp mới bảo đảm quyền con người”, Nhà nước và pháp luật, (08) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Tòa án hành chính – Một biện pháp mới bảo đảm quyền con người”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1996
28. Trương Hòa Bình (2014), “Độc lập tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng quyền tư pháp”, Tòa án nhân dân, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc lập tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng quyền tư pháp”, "Tòa án nhân dân
Tác giả: Trương Hòa Bình
Năm: 2014
29. Phí Thành Chung (2017), “Quyền tư pháp độc lập và một số nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tòa án nhân dân, (07) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tư pháp độc lập và một số nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, "Tòa án nhân dân
Tác giả: Phí Thành Chung
Năm: 2017
30. Nguyễn Đăng Dung (2014), “Nguyên tắc độc lập của Tòa án và quy định của Hiến pháp năm 2013”, Nghiên cứu lập pháp, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc độc lập của Tòa án và quy định của Hiến pháp năm 2013”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2014
31. Phạm Quý Đạt (2017), “Tính độc lập của hệ thống Tòa án Việt Nam trong việc thực hiện quyền tư pháp”, Dân chủ và Pháp luật, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính độc lập của hệ thống Tòa án Việt Nam trong việc thực hiện quyền tư pháp”, "Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Phạm Quý Đạt
Năm: 2017
32. Bùi Huy Khiên (2010), “Về Tòa án hành chính của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Quản lý nhà nước, (177) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Tòa án hành chính của Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam”, "Quản lý nhà nước
Tác giả: Bùi Huy Khiên
Năm: 2010
33. Trần Kim Liễu (2011), “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân hiện nay”, Tổ chức nhà nước, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về đổi mới tổ chức Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân hiện nay”, "Tổ chức nhà nước
Tác giả: Trần Kim Liễu
Năm: 2011
34. Chu Thị Ngọc (2010), “Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền”, Luật học, (26) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền”, "Luật học
Tác giả: Chu Thị Ngọc
Năm: 2010
36. Đinh Thanh Phương (2012), “Nguyên tắc độc lập trong hoạt động của Tòa án nhân dân”, Khoa học – Trường Đại học Cần Thơ, (23b) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc độc lập trong hoạt động của Tòa án nhân dân”, "Khoa học – Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Đinh Thanh Phương
Năm: 2012
37. Phạm Hồng Quang (2010), “Kinh nghiệm từ mô hình và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của một số nước trên thế giới”, Nghiên cứu lập pháp, (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm từ mô hình và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của một số nước trên thế giới”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Phạm Hồng Quang
Năm: 2010
38. Trịnh Đức Thảo, Trần Thái Dương (2014), “Xây dựng và hoàn thiện mô hình quan hệ giữa Đảng với cơ quan tư pháp và các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp”, Nghiên cứu lập pháp, (22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện mô hình quan hệ giữa Đảng với cơ quan tư pháp và các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trịnh Đức Thảo, Trần Thái Dương
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w