Bên cạnh giáo trình và các sách chuyên khảo nêu trên, tác giả cũng đã tiếpcận được khá nhiều bài tạp chí chuyên ngành nghiên cứu liên quan đến các biệnpháp khắc phục hậu quả nói chung và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
Trang 2KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
-*** -BÙI ĐẶNG BĂNG CHÂU MSSV: 1753801014016
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
BUỘC NỘP LẠI SỐ LỢI BẤT HỢP PHÁP
CÓ ĐƯỢC DO THỰC HIỆN VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khóa: 2017 - 2021 Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Nhật Khanh
TP.HCM – Năm 2021
Trang 3Tôi cam đoan Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Biện pháp khắc phục hậu
quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính”
là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
ThS Nguyễn Nhật Khanh Khóa luận đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy
định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
về lời cam đoan này
Tác giả
Bùi Đặng Băng Châu
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 6
4 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
4.2.1 Mục tiêu tổng quát 7
4.2.2 Mục tiêu cụ thể 7
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa khoa học của khóa luận 8
7 Kết cấu của khóa luận 8
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ BUỘC NỘP LẠI SỐ LỢI BẤT HỢP PHÁP CÓ ĐƯỢC DO THỰC HIỆN VI PHẠM HÀNH CHÍNH 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 9
1.1.1 Khái niệm biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 9
1.1.2 Đặc điểm của biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 11
1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 13
1.2 Các quy định của pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 14
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 14
1.2.2 Xác định số lợi bất hợp pháp khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả 17
1.2.3 Thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 18
1.2.4 Thời hiệu áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 23
Trang 5hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 24 1.2.6 Cưỡng chế thi hành biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 27 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ BUỘC NỘP LẠI SỐ LỢI BẤT HỢP PHÁP CÓ ĐƯỢC DO THỰC HIỆN VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 32 2.1 Thực trạng pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính và kiến nghị hoàn thiện 32 2.1.1 Những điểm tích cực trong quy định pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành 32 2.1.2 Một số điểm hạn chế trong quy định pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính và kiến nghị hoàn thiện 33 2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính và kiến nghị hoàn thiện 47 2.2.1 Những điểm tích cực trong việc áp dụng pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính 47 2.2.2 Một số hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính và kiến nghị hoàn thiện 48 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57 KẾT LUẬN CHUNG 59
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quyđịnh của pháp luật về quản lý nhà nước, tuy có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấphơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính xảy ra phổ biến ở rất nhiều lĩnh vựckhác nhau Vi phạm hành chính làm phá vỡ trật tự xã hội đã được Nhà nước thiếtlập, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân,
tổ chức, Nhà nước và xã hội Để đấu tranh với vi phạm hành chính, Nhà nước đãban hành các văn bản pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính, đây đượcxem là một giải pháp hữu hiệu mang tính răn đe và giáo dục những đối tượng viphạm, góp phần đấu tranh, ngăn chặn chủ thể thực hiện vi phạm hành chính Viphạm hành chính ngoài xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước còn để lại nhữnghậu quả nhất định nên việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả bên cạnh ápdụng các hình thức xử phạt sẽ góp phần giải quyết triệt để vi phạm, điều này phù
hợp với nguyên tắc “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp
thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật” được quy định tại điểm a khoản
1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)
Hiện nay, các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 1 Điều
28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) bao gồm:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
b) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phéphoặc xây dựng không đúng với giấy phép;
c) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lâylan dịch bệnh;
d) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namhoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện;
đ) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vậtnuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;
e) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;
g) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiệnkinh doanh, vật phẩm;
h) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;
i) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chínhhoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã
bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;
Trang 7k) Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.
Trong số các biện pháp khắc phục hậu quả nói trên, “Buộc nộp lại số lợi bất
hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” là một biện pháp khắc phục
hậu quả đặc biệt lần đầu tiên được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chínhnăm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) Sự ra đời của biện pháp này tạo điều kiệnthuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền có thêm lựa chọn trong quá trình xử phạt viphạm hành chính, nhất là trong bối cảnh các vi phạm hành chính diễn ra trong cáclĩnh vực ngày càng đa dạng và gây ra những thiệt hại nhất định1 Tuy nhiên, nghiêncứu các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này,tác giả nhận thấy tồn tại những vướng mắc cần khắc phục như:
(i) Một số Nghị định của Chính phủ quy định không chính xác về tên gọi củabiện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện
Do vậy, việc nghiên cứu về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợibất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính từ góc độ lý luận, pháp lýđến thực tiễn áp dụng là hết sức cấp thiết Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn
đề tài “Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do
thực hiện vi phạm hành chính” làm Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật.
Trang 8Giáo trình “Luật Hành chính Việt Nam” của Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh do tác giả Nguyễn Cảnh Hợp làm chủ biên, Nxb Hồng Đức năm
2017 Giáo trình cung cấp một kiến thức cơ bản về xử phạt vi phạm hành chính,trong đó có giới thiệu về việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả trong xửphạt vi phạm hành chính… Tuy nhiên, do được viết dưới hình thức giáo trình nêncông trình này chỉ giới thiệu các kiến thức cơ bản về các biện pháp khắc phục hậuquả nói chung, chưa có sự phân tích chuyên sâu về biện pháp buộc nộp lại số lợi bấthợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính Trên cơ sở đó, tác giả tiếp thunhững kiến thức cơ bản về các biện pháp khắc phục hậu quả để củng cố và mở rộngthêm những vấn đề có liên quan đến biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp cóđược do thực hiện vi phạm hành chính
Sách chuyên khảo “Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012” do tác giả Nguyễn Cảnh Hợp làm chủ biên, Nxb Hồng Đức năm 2017 Nội
dung cuốn sách đã bình luận chuyên sâu về các điều khoản của Luật Xử lý vi phạmhành chính năm 2012, trong đó nội dung về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộplại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính được các tác giảphân tích ở phần bình luận Điều 28, Điều 37 Tuy nhiên, do chỉ dừng lại ở việc bìnhluận các điều khoản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên nội dungcông trình chưa có sự phân tích toàn diện các quy định pháp luật liên quan đến biệnpháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện viphạm hành chính Tuy nhiên, các nội dung bình luận trong công trình này được tácgiả tiếp thu để phân tích, bình luận các vấn đề pháp lý liên quan đến biện pháp đượcnghiên cứu trong Khóa luận
Sách chuyên khảo “Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi
phạm hành chính - Thực trạng và hướng hoàn thiện” do tác giả Cao Vũ Minh làm
chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia năm 2019 Nội dung cuốn sách nghiên cứu quyđịnh và thực trạng áp dụng một số biện pháp khắc phục hậu quả trong đó có biệnpháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện viphạm hành chính Tuy nhiên, các tác giả nghiên cứu một cách bao quát nhiều biệnpháp khắc phục hậu quả nên chưa chuyên sâu về biện pháp buộc nộp lại số lợi bấthợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính Ngoài ra, một số quy định vềbiện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính được các tác giả nghiên cứu đã được sửa đổi, bổ sung Nghiên cứu tác phẩm,tác giả tiếp thu những khía cạnh, góc nhìn của những nội dung liên quan đến biệnpháp được nghiên cứu trong Khóa luận
Trang 9Bên cạnh giáo trình và các sách chuyên khảo nêu trên, tác giả cũng đã tiếpcận được khá nhiều bài tạp chí chuyên ngành nghiên cứu liên quan đến các biệnpháp khắc phục hậu quả nói chung và biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp cóđược do thực hiện vi phạm hành chính nói riêng.
Bài viết “Biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính”
của tác giả Quách Tiên Phong đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8 năm
2007 và bài viết “Bất cập của các quy định về biện pháp khắc phục hậu quả trong
xử lý vi phạm hành chính” của tác giả Trương Khánh Hoàn đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 30-31 năm 2008 Các bài viết này nghiên cứu về các biệnpháp khắc phục hậu quả trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 Tuynhiên, thời điểm các công trình này được công bố thì biện pháp buộc nộp lại số lợibất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính chưa được pháp luật quyđịnh Do đó, tác giả tiếp thu các nội dung nghiên cứu để so sánh về sự phát triển củacác biện pháp khắc phục hậu quả qua các thời kỳ để liên hệ đến sự ghi nhận củabiện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Bài viết “Về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính”
của tác giả Cao Vũ Minh và Nguyễn Nhật Khanh đăng trên Tạp chí Nhà nước vàpháp luật số 6 năm 2017 Bài viết đã đưa ra khái niệm và đặc điểm của các biệnpháp khắc phục hậu quả, bên cạnh đó có sự phân tích bất cập trong các quy địnhcủa pháp luật về các biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có mục phân tích một
số bất cập của biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện viphạm hành chính Trên cơ sở đó, tác giả tiếp thu những nội dung phù hợp của bàiviết này để phân tích, làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến biện pháp buộc nộplại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính trong Khóa luận
Bài viết “Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có
được do thực hiện vi phạm hành chính” của tác giả Nguyễn Nhật Khanh đăng trên
Tạp chí Khoa học pháp lý số 7 năm 2018 Ở bài viết trên tác giả tìm hiểu khái quát
và nêu ra một số bất cập cũng như kiến nghị hoàn thiện về biện pháp khắc phục hậuquả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính Tuynhiên, nội dung bài viết chỉ nghiên cứu ở góc độ hoàn thiện pháp luật chứ chưatrình bày một cách hoàn chỉnh từ lý luận, pháp luật đến thực trạng áp dụng về biệnpháp khắc phục hậu quả này
Bài viết “Nhận diện tính hợp pháp và tính hợp lý của các biện pháp khắc
phục hậu quả trong nghị định của Chính phủ” của tác giả Cao Vũ Minh đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17 năm 2018 Bài viết nêu lên một số biện pháp
Trang 10khắc phục hậu quả trong các Nghị định của Chính phủ là chưa hợp pháp và hợp lý.Tuy không trực tiếp nghiên cứu biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bấthợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính nhưng từ cách nhận diện tác giả
có thể học hỏi và áp dụng vào biện pháp đang nghiên cứu
Bài viết “Hoàn thiện quy định về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế” của tác giả Nguyễn Nhật Khanh đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6 năm 2019 Trong bài viết trên tác giả có chỉ
ra một số hạn chế khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bấthợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Tuy nhiên,bài viết này nghiên cứu Nghị định số 176/2013/NĐ-CP đã hết hiệu lực thi hành,hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2020/NĐ-CP để quy định về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế Trên cơ sở tiếp thu những nội dung cógiá trị của bài viết, tác giả sẽ kham khảo để có thêm dẫn chứng trong Khóa luận này
Bài viết “Hoàn thiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi
phạm hành chính về lao động” của tác giả Cao Vũ Minh và Nguyễn Tú Anh đăng
trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 9 năm 2019 Bài viết nêu ra một số bất cập liênquan đến biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lao động liên quan đến Nghịđịnh số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) và đềxuất hướng giải quyết Tác giả tiếp thu những nội dung hợp lý của bài viết để phântích các nội dung có liên quan trong Khóa luận
Bài viết “Kỹ năng áp dụng hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm hành
chính và biện pháp khắc phục hậu quả” của tác giả Nguyễn Hoàng Việt đăng trên
Tạp chí Thanh tra số 3 năm 2019 Bài viết nêu lên một số kỹ năng cần thiết để cóthể quyết định áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đúng vàđầy đủ Tác giả nghiên cứu và chọn lọc áp dụng cho phù hợp với biện pháp khắcphục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính mà Khóa luận đang đề cập
Bài viết “Biện pháp khắc phục hậu quả trong pháp luật xử phạt vi phạm
hành chính về đất đai - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn
Nhật Khanh đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9 năm 2019 Trong bài viết
có nêu lên những bất cập liên quan đến thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phụchậu quả và hướng dẫn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bấthợp pháp và đưa ra kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, bài viết áp dụng Nghị định số102/2014/NĐ-CP nhưng hiện Nghị định này đã được thay thế bởi Nghị định số91/2019/NĐ-CP nên có một số nội dung đã được sửa đổi, bổ sung Tuy nhiên, tácgiả có thể dựa vào những vấn đề trong bài viết để nghiên cứu đề tài Khóa luận
Trang 11Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Nhật Khanh và Trần Quốc Minh đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17 năm 2020 Trong phần “Một số vấn đề pháp lý
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự cần tiếp tục hoànthiện” tác giả có nêu lên bất cập liên quan đến việc xác định số lợi bất hợp pháp khi
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được dothực hiện vi phạm hành chính và có đề xuất giải pháp khắc phục Trên cơ sở đó, tácgiả tiếp thu các nội dung phù hợp của bài viết để làm rõ các nội dung của Khóa luận
Các công trình đã phân tích ở trên đã có những nghiên cứu liên quan đếnbiện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện
vi phạm hành chính, tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách toàn diện các vấn đề từ lý luận, pháp lý đến thực trạng pháp luật và áp
dụng pháp luật về biện pháp này Qua đó, có thể thấy rằng Khóa luận “Biện pháp
khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” đáp ứng được yêu cầu về tính mới và tính thực tiễn.
3 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luậnduy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiêncứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp tổnghợp, thống kê Cụ thể:
- Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích các vấn đề lý luận cũng
như quy định của pháp luật liên quan đến biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại
số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, phương pháp này cònđược sử dụng để phân tích các vấn đề pháp lý có liên quan từ thực tiễn áp dụng biệnpháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
- Phương pháp so sánh được sử dụng để nghiên cứu đánh giá các quy định
về các biện pháp khắc phục hậu quả trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chínhqua các thời kỳ để nhìn nhận sự thay đổi của pháp luật về biện pháp này Ngoài ra,phương pháp này còn giúp tác giả so sánh quy định của các văn bản pháp luật trongcác lĩnh vực có quy định về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bấthợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính để tìm ra những điểm khác biệt,chưa thống nhất để đề xuất kiến nghị hoàn thiện
- Phương pháp tổng hợp, thống kê được sử dụng để thu thập các văn bản quy
phạm pháp luật về biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện
vi phạm hành chính cũng như các báo cáo thực tiễn, quyết định xử phạt vi phạm
Trang 12hành chính liên quan đến biện pháp này để đưa ra đánh giá tổng quát và chi tiết gópphần nhìn nhận vấn đề nghiên cứu chính xác hơn.
4 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những vấn đề lý luận, quy định của
pháp luật và thực tiễn áp dụng về biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc nộp lại số lợi
bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính”.
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
4.2.1 Mục tiêu tổng quát
Tác giả chọn thực hiện đề tài “Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số
lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” nhằm nghiên cứu một
số vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng biện pháp khắcphục hậu quả nói trên Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá, chỉ ra những thiếu sót và đềxuất các giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về
“Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực
hiện vi phạm hành chính” để có sự thống nhất giữa các quy định pháp luật, tạo điều
kiện thuận lợi để các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quảnày một cách thuận lợi và hiệu quả trong thực tế
4.2.2 Mục tiêu cụ thể
Tác giả chọn thực hiện đề tài “Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số
lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” với mong muốn đạt
được những mục tiêu sau:
- Đi sâu vào tìm hiểu những quy định của pháp luật về biện pháp trên và chỉ
Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về biện pháp
khắc phục hậu quả “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm
hành chính” tập trung chủ yếu giai đoạn từ năm 2012 đến nay vì khi Luật Xử lý vi
phạm hành chính 2012 được ban hành đánh dấu cột mốc pháp luật Việt Nam ghinhận biện pháp khắc phục hậu quả trên Đồng thời, Khóa luận nghiên cứu tình hình
áp dụng thực tế của biện pháp trên vào việc xử phạt các vi phạm hành chính trênlãnh thổ Việt Nam để tìm ra những hạn chế và đề xuất các giải pháp phù hợp
Trang 136 Ý nghĩa khoa học của khóa luận
Tác giả chọn đề tài “Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất
hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” để nghiên cứu những vấn đề
bất cập của quy định pháp luật về biện pháp trên và những vướng mắc khi áp dụngbiện pháp trên vào thực tế Dựa trên nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, đúc kết kinhnghiệm của các tác giả trước đó để đưa ra những giải pháp mang tính mới, tính khảthi cao nhằm giải quyết những bất cập, vướng mắc đã được nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Khóa luận có tính mới và tính ứng dụng cao, có thể đưa ranhững giải pháp đáp ứng tính ứng dụng vào thực tế Ngoài ra, đề tài còn là mộtnguồn tham khảo cho sinh viên, nghiên cứu, mở rộng chủ đề này
- Về mặt pháp luật: những kiến nghị của Khóa luận mong muốn đem lại kếtquả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật để làm rõ các nội dung vềbiện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính, qua đó tạo ra cách hiểu và áp dụng pháp luật thống nhất
- Về thực tiễn áp dụng: những kiến nghị của Khóa luận sẽ góp phần nâng caohiệu quả áp dụng biện pháp trên của chủ thể có thẩm quyền, góp phần khắc phụchậu quả do vi phạm hành chính gây ra
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm cóhai chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về biện pháp khắc phục hậu quả
buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về biện pháp khắc
phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính và kiến nghị hoàn thiện
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ BUỘC NỘP LẠI SỐ LỢI BẤT HỢP PHÁP CÓ ĐƯỢC
DO THỰC HIỆN VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
1.1.1 Khái niệm biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Khái niệm biện pháp khắc phục hậu quả
Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, vì thế mọi chủ thể trong xã hội đều phải tôn trọng và nghiêm chỉnhthực hiện pháp luật Tuy nhiên trong xã hội luôn tồn tại những hành vi trái pháp luậtdẫn đến vi phạm pháp luật Nhằm mục đích giáo dục, răn đe để những hành vi tráipháp luật không xảy ra thì việc xây dựng các quy định về xử phạt luôn được chútrọng trong việc xây dựng pháp luật, điều này cũng không ngoại lệ đối với pháp luậthành chính điều chỉnh về các vi phạm hành chính Theo khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định về định nghĩa
của xử phạt vi phạm hành chính “là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình
thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành
vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.”.
Có thể lý giải theo như quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạmhành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì xử phạt vi phạm hành chínhbao gồm áp dụng hình thức xử phạt được quy định trong luật và cả việc áp dụngbiện pháp khắc phục hậu quả
Hiện nay, các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định cụ thể tại Điều 28Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) theo phươngpháp liệt kê Pháp luật hiện hành không có một định nghĩa thống nhất về “biện phápkhắc phục hậu quả”, tùy vào góc độ lý giải mà đưa ra những định nghĩa khác nhau
Dưới góc độ từ ngữ thì “biện pháp” là “cách thức giải quyết một vấn đề hoặcthực hiện một chủ trương”, “khắc phục” là “thắng được những khó khăn, trở ngại”,
“hậu quả” là “kết quả xấu do việc gì để lại về sau”2 Vậy từ góc độ ngôn ngữ ta có
thể hiểu “biện pháp khắc phục hậu quả là cách thức giải quyết một vấn đề để những
kết quả xấu do một việc gây nên được giảm hoặc mất đi”.
2Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.145, 935,
821.
Trang 15Trong khoa học pháp lý, một số tác giả đã đưa ra khái niệm về biện pháp
khắc phục hậu quả Có quan điểm cho rằng “Biện pháp khắc phục hậu quả được
xem là những cách thức, hoạt động được thực hiện để khôi phục một phần hoặc toàn bộ thiệt hại, thiếu sót đã xảy ra trên thực tế do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, thảm họa hoặc các hành vi chủ quan gây ra như không thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ, quy định của những chủ thể nhất định”3 Quan điểm
trên còn hạn chế trong việc thể hiện rõ bản chất cưỡng chế của Nhà nước khi ápdụng biện pháp này, dễ dẫn đến hiểu sai rằng khắc phục hậu quả là tự nguyện vàkhông bị cưỡng chế nếu không thực hiện Ngoài ra, quan điểm trên còn chưa chínhxác khi cho rằng biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng khôi phục một phầnhoặc toàn bộ thiệt hại, thiếu sót đã xảy ra trên thực tế do “những nguyên nhân kháchquan như thiên tai, thảm họa” vì bản chất biện pháp khắc phục chỉ áp dụng đối vớicác vi phạm hành chính (đó phải là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, viphạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm vàtheo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính) Có quan điểm cho
rằng “Biện pháp khắc phục hậu quả được hiểu là hình thức cưỡng chế do Nhà nước
tiến hành, buộc người có hành vi vi phạm hành chính phải thực hiện những nghĩa
vụ pháp lý nhất định nhằm hạn chế hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu do vi phạm hành chính gây ra”4 Khái niệm trên đã khẳng định biện pháp khắc phục hậuquả khi áp dụng mang tính cưỡng chế của nhà nước, tuy nhiên vẫn chưa làm rõ hếtmục đích của áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Từ những phân tích về nhữnghạn chế trong việc đưa ra khái niệm về biện pháp khắc phục hậu quả, có thể định
nghĩa khoa học về biện pháp khắc phục hậu quả như sau “Biện pháp khắc phục hậu
quả được hiểu là hình thức cưỡng chế do Nhà nước tiến hành, buộc người vi phạm hành chính phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định nhằm khắc phục một phần, toàn bộ thiệt hại hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu do vi phạm hành chính gây ra”.
Khái niệm biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được dothực hiện vi phạm hành chính được quy định là một biện pháp khắc phục hậu quả vìnhững lý do thực tế sau đây:
3Quách Tiên Phong (2007), “Biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật, số 8.
4 Cao Vũ Minh, Nguyễn Nhật Khanh (2017), “Về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành
chính”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6.
Trang 16Thứ nhất, khi thực hiện vi phạm hành chính, chủ thể vi phạm hướng đến việc
thu lợi bất hợp pháp Đây là những khoản lợi không được pháp luật ghi nhận, chínhkhoản lợi này là động lực để chủ thể thực hiện vi phạm, vì thế khi khoản lợi nàyphát sinh nó được xem là hậu quả của vi phạm hành chính, việc tìm kiếm các khoảnlợi bất hợp pháp từ việc thực hiện vi phạm hành chính làm phá vỡ trật tự quản lýcủa nhà nước
Thứ hai, ở góc độ người vi phạm, khoản lợi bất hợp pháp là cái họ mong
muốn đạt được và hướng đến khi thực hiện vi phạm hành chính, nhưng ở góc độcủa nhà nước, các khoản lợi bất hợp pháp chính là hậu quả xảy ra từ việc thực hiện
vi phạm hành chính, nghĩa là không có vi phạm hành chính thì không có các khoảnlợi bất hợp pháp, vi phạm hành chính là nguyên nhân, các khoản lợi bất hợp pháp làhậu quả từ việc thực hiện vi phạm hành chính và các hiện tượng này có mối liên hệvới nhau Do đó, để khắc phục hậu quả của vi phạm hành chính thì buộc người viphạm phải nộp lại khoản lợi bất hợp pháp có được từ thực hiện vi phạm hành chínhthì mới khôi phục lại trật tự quản lý nhà nước vốn có ban đầu
Hiện nay, không có một định nghĩa cụ thể về biện pháp khắc phục hậu quảbuộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính Tuynhiên, xét đến nguyên nhân ra đời của biện pháp cũng như mục đích của biện pháp
hướng đến thì ta có thể rút ra định nghĩa về biện pháp này như sau: “biện pháp khắc
phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính là hình thức cưỡng chế do nhà nước áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính để buộc họ phải nộp lại các khoản lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính nhằm khắc phục một phần hoặc toàn bộ thiệt hại do
Một là, mục đích của biện pháp là nhằm khôi phục một phần hoặc toàn bộ
thiệt hại do những vi phạm hành chính gây ra Vì những vi phạm hành chính thường
sẽ gây ra những hậu quả nhất định cho chủ thể trong xã hội hoặc cho nhà nước thếnên cần áp dụng biện pháp trên để góp phần khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp
bị xâm hại bởi vi phạm hành chính
Trang 17Hai là, biện pháp khắc phục hậu quả không chỉ được quy định trong Luật Xử
lý vi phạm hành chính mà còn được quy định trong các Nghị định của các lĩnh vựckhác nhau Điều này xuất phát từ việc vi phạm hành chính có thể xuất hiện trongnhiều lĩnh vực khác nhau và mỗi lĩnh vực có những đặc thù riêng nên cần được quyđịnh cụ thể trong các văn bản đặc thù để chi tiết và dễ áp dụng Tuy nhiên, việc quyđịnh trên không được khác với bản chất chính của quy định về biện pháp này trongLuật Xử lý vi phạm hành chính
Ba là, về thẩm quyền, đa số các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính sẽ có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Tuy nhiên, có một sốchủ thể tuy có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền
áp dụng một số biện pháp khắc phục hậu quả, ví dụ như Chiến sĩ Công an nhân dân,Chiến sĩ Bộ đội biên phòng, Cảnh sát viên Cảnh sát biển, v.v Họ là những chủ thể
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không được áp dụng biện phápkhắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạmhành chính
Bốn là, về thời hiệu và thời hạn, hiện nay Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) không quy định rõ về thời hiệu và thời hạn raquyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 66
đạo luật này đã có quy định “Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d
khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.” Dựa vào điều khoản này có thể lý giải thời hạn và thời hiệu
của xử phạt vi phạm hành chính không ảnh hưởng đến thời hiệu ra quyết định ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả, dù hết thời hiệu hay thời hạn ra quyết định xửphạt vi phạm hành chính thì chủ thể có thẩm quyền vẫn có thể ra quyết định ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài các đặc điểm trên, biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có
được do thực hiện vi phạm hành chính” cũng có một số đặc điểm riêng như:
Thứ nhất, biện pháp này chỉ áp dụng đối với các vi phạm hành chính có phát
sinh số lợi bất hợp pháp, nếu vi phạm hành chính không có khả năng làm phát sinh
số lợi bất hợp pháp thì pháp luật không quy định áp dụng biện pháp này
Thứ hai, so với các biện pháp khắc phục hậu quả khác, số lượng chủ thể có
thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp
Trang 18có được do thực hiện vi phạm hành chính ít hơn; chỉ có một số chủ thể được nêu ởphần 1.2.2 mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này.
Thứ ba, mục đích của biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do
thực hiện vi phạm hành chính là thu lại số lợi bất hợp pháp mà chủ thể vi phạmhành chính có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm Số lợi bất hợp pháp thu đượctùy vào tình huống mà có hai cách giải quyết sau đây:
Nếu số lợi bất hợp pháp có từ vi phạm hành chính mà không xuất phát từ cánhân, tổ chức cụ thể thì buộc nộp lại sung vào ngân sách nhà nước Ví dụ tại Điều 4Nghị định số 88/2019/NĐ-CP có quy định hành vi vi phạm quy định về giấy phép
do Ngân hàng nhà nước cấp, hành vi trên có số lợi bất hợp pháp không xuất phát từ
cá nhân, tổ chức cụ thể nên số lợi bất hợp pháp thu được phải nộp vào ngân sáchnhà nước
Nếu số lợi bất hợp pháp có được từ đối tượng bị chiếm đoạt thì buộc nộp lại
để hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt Ví dụ: Theo Nghị định số
117/2020/NĐ-CP quy định một số biện pháp khắc phục hậu quả mang bản chất của biện phápbuộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính như buộchoàn trả số tiền mà đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bị thiệt hại… đối với biệnpháp này nêu rõ hoàn trả lại số tiền mà chủ thể vi phạm thu được từ đối tượng bịchiếm đoạt như đối tượng tham gia bảo hiểm y tế
1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp cóđược do thực hiện vi phạm hành chính mang một số ý nghĩa trong xử phạt vi phạmhành chính
Thứ nhất, biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có
được do thực hiện vi phạm hành chính” có ý nghĩa như các biện pháp khắc phụchậu quả nói chung Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nhằm nâng cao hiệu quảgiải quyết vi phạm Ngoài mang tính giáo dục, răn đe các chủ thể vi phạm và cánhân, tổ chức khác trong xã hội thì biện pháp khắc phục hậu quả còn góp phần giảiquyết các hậu quả mà vi phạm hành chính đã gây ra, góp phần ổn định xã hội, duytrì trật tự và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền.Qua đó có thể thấy biện pháp khắc phục hậu quả được sử dụng như là một giải pháphữu hiệu để đấu tranh, ngăn chặn các vi phạm hành chính
Thứ hai, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất
hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính để thực hiện nguyên tắc “mọi
hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của
Trang 19pháp luật” Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong việc xử phạt vi phạm hành
chính, buộc chủ thể vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả đểkhắc phục thiệt hại do vi phạm của họ gây ra Đối với biện pháp khắc phục hậu quảbuộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, người cóthẩm quyền sẽ buộc chủ thể vi phạm nộp lại số lợi bất hợp pháp mà họ có được đểsung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt Qua đógóp phần giải quyết hậu quả do vi phạm hành chính gây ra cho nhà nước hoặc đốitượng bị chiếm đoạt
Thứ ba, vi phạm hành chính làm phá vỡ trật tự xã hội đã được nhà nước thiết
lập, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân,
tổ chức, nhà nước và xã hội Khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộplại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính”, nhà nước làm
“phá sản” mục đích của chủ thể vi phạm đó là tìm kiếm các khoản lợi bất hợp pháp,qua đó xem như là một sự giáo dục, răn đe để chính họ và những chủ thể có ý định
vi phạm hành chính ý thức hơn về việc họ có vi phạm, có đạt được lợi ích từ viphạm thì lợi ích đó vẫn sẽ bị buộc nộp lại Do vậy, việc áp dụng biện pháp nàyhướng đến mục đích xóa bỏ tư duy “cố tình vi phạm để hưởng lợi” từ chủ thể viphạm hành chính, qua đó góp phần hữu hiệu trong việc giảm thiểu các vi phạmhành chính trong tương lai
1.2 Các quy định của pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Nguyên tắc thứ nhất, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại
số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính phải được tiến hànhnhanh chóng, công khai, khách quan5 Vi phạm hành chính có thể làm ảnh hưởngrất lớn đến trật tự xã hội đã được nhà nước thiết lập, xâm phạm hoặc đe dọa xâmphạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Vì thế, để kịp thời ngăn chặn
và khắc phục hậu quả để trật tự xã hội được duy trì một cách tốt nhất thì việc ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả cần nhanh chóng Để các chủ thể vi phạm hànhchính chấp hành biện pháp trên tự nguyện và không có khiếu nại về sau thì các chủthể có thẩm quyền cần áp dụng biện pháp trên với ý chí khách quan và áp dụngcông khai Từ những yếu tố trên và nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậuquả nói chung và biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có
5Cao Vũ Minh (chủ biên) (2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính
-Thực trạng và hướng hoàn thiện, Nxb Chính trị quốc gia, tr 59.
Trang 20được do thực hiện vi phạm hành chính cần các điều kiện nhanh chóng, công khai vàkhách quan khi áp dụng.
Nguyên tắc thứ hai, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại
số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính phải được áp dụng bởichủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp trên và phải áp dụng đúng pháp luật Cácchủ thể có thẩm quyền là con người, mà con người thì có nhiều yếu tố chi phối đến
ý chí của họ Cần áp dụng biện pháp trên đúng thẩm quyền và đúng pháp luật vìđiều này sẽ góp phần duy trì trật tự quản lý nhà nước và tránh tình trạng lạm quyềncủa các chủ thể có thẩm quyền Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp trên còn cần phảiđúng pháp luật và phải được xem xét toàn diện nhiều yếu tố quy định tại Luật Xử lý
vi phạm hành chính và các văn bản pháp luật chuyên ngành để áp dụng chính xác,tránh sai sót khiếu nại về sau
Nguyên tắc thứ ba, có thể áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại
số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính với một hoặc nhiềubiện pháp khắc phục hậu quả khác được quy định trong luật cùng lúc Điều này làphù hợp vì biện pháp khắc phục hậu quả với mục đích chính là khắc phục chínhnhững thiệt hại về tài sản, môi trường do chủ thể vi phạm hành chính gây ra Đểkhắc phục toàn bộ thiệt hại đôi khi chỉ áp dụng một biện pháp khắc phục hậu quả làkhông đủ nên việc áp dụng đồng thời nhiều biện pháp khắc phục hậu quả là hợp lýhợp tình và không trái với bất kỳ nguyên tắc nào
Nguyên tắc thứ tư, biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong
các trường hợp cụ thể sau: (i) không xác định được đối tượng vi phạm hành chính;(ii) hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thời hạn ra quyết định xử phạt; (iii)
cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể,phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt6
Đối với việc không xác định được đối tượng vi phạm hành chính nhưng vẫn
có vi phạm hành chính xảy ra và vi phạm này có thể gây hậu quả cho xã hội nên vẫncần được khắc phục kịp thời để trật tự xã hội được đảm bảo Vì thế trong trườnghợp này vẫn cần áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Tuy nhiên, biện pháp khắcphục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính cần xác định rõ chủ thể để áp dụng biện pháp trên nên trong trường hợpkhông xác định được chủ thể vi phạm hành chính thì không thể áp dụng biện phápnày
6Cao Vũ Minh (chủ biên) (2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính
-Thực trạng và hướng hoàn thiện, Nxb Chính trị quốc gia, tr 55, 56.
Trang 21Đối với việc hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thời hạn ra quyếtđịnh xử phạt tại khoản 2 Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi,
bổ sung năm 2020) đã có quy định rõ là khi đó không thể ra quyết định xử phạtnhưng vẫn quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả để đảm bảo nguyên tắc
“mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy
định của pháp luật”7
Đối với trường hợp cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức viphạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt.Trong trường hợp trên, việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính làkhông có ý nghĩa nên theo quy định tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chínhnăm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) không ra quyết định xử phạt vi phạm hànhchính là hợp lý Tuy nhiên, vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả để giải quyếttriệt để hậu quả do vi phạm hành chính gây ra và duy trì trật tự xã hội
Nguyên tắc thứ năm: Việc xác định số lợi bất hợp pháp do người có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện và ghi trong quyết định xử phạt viphạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả Việc ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thựchiện vi phạm hành chính là một hoạt động áp dụng pháp luật của người có thẩmquyền, là một hình thức sử dụng quyền lực nhà nước và có khả năng tác động đếnquyền lợi hợp pháp của đối tượng bị áp dụng Do vậy, khi áp dụng biện pháp này,người có thẩm quyền phải thể hiện dưới các hình thức pháp lý cụ thể theo quy địnhcủa pháp luật đó là quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trong trường hợp thôngthường) hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (trong trường hợp ápdụng độc lập) để bảo đảm tính hợp pháp của việc áp dụng biện pháp này
Nguyên tắc thứ sáu: Số lợi bất hợp pháp được xác định từ khi tổ chức, cá
nhân có hành vi vi phạm hành chính đến thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc
có quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắcphục hậu quả Nguyên tắc này chú trọng đến mối liên hệ giữa vi phạm hành chínhvới hậu quả gây ra cho xã hội Cần lưu ý rằng số lợi bất hợp pháp phải gắn liền với
vi phạm hành chính, do vậy khi xác định số lợi bất hợp pháp để áp dụng biện phápkhắc phục hậu quả này, người có thẩm quyền phải xác định chính xác thời điểm chủthể vi phạm bắt đầu thực hiện vi phạm hành chính để xác định các khoản lợi bất hợppháp phát sinh cho đến khi thời điểm áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này đểxác định chính xác, đầy đủ số lợi bất hợp pháp mà chủ thể vi phạm hành chính đã
có được từ quá trình thực hiện vi phạm hành chính
7 Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Trang 22Nguyên tắc thứ bảy: Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện nhiều hành vi vi
phạm hành chính thì xác định số lợi bất hợp pháp có được theo từng hành vi viphạm hành chính Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hànhchính nhiều lần thì xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi viphạm hành chính theo từng lần Việc áp dụng nguyên tắc này hướng đến mục đích
xử lý triệt để hậu quả do vi phạm hành chính gây ra và đấu tranh nghiêm khắc vớichủ thể vi phạm hành chính theo đúng nguyên tắc nền tảng trong hoạt động xử phạt
vi phạm hành chính là “mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc
phục theo đúng quy định pháp luật”.
1.2.2 Xác định số lợi bất hợp pháp khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)không quy định cụ thể về cách xác định số lợi bất hợp pháp mà chỉ quy định chungtại Điều 37 số lợi bất hợp pháp bao gồm tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá
Trong các Nghị định của Chính phủ có quy định biện pháp khắc phục hậuquả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính cómột số Nghị định có hướng dẫn xác định số lợi bất hợp pháp trong Nghị định Nghịđịnh có hướng dẫn cụ thể cách xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện viphạm hành chính có thể kể đến như Điều 7 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Đất đai
Ngoài ra, tại nhiều lĩnh vực việc xác định số lợi bất hợp pháp được quy địnhtrong những Thông tư hướng dẫn các Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hànhchính có áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện
vi phạm hành chính Chẳng hạn, Thông tư số 149/2014/TT-BTC của Bộ Tài chínhquy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính
để sung vào ngân sách nhà nước (Điều 4 - Điều 7); Thông tư số BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn Nghị định số 99/2013/NĐ-CP
11/2015/TT-về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (Điều6); Thông tư số 31/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực quản lý giá tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn (khoản
3 Điều 7); Thông tư số 03/2018/TT-BXD của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một sốđiều của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạmhành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanhkhoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý
Trang 23công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sửdụng nhà và công sở (khoản 3 Điều 6).
Tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính hiện nay mặc dù
có quy định về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp cóđược do thực hiện vi phạm hành chính nhưng chưa có quy định hướng dẫn cách xácđịnh cụ thể “số lợi bất hợp pháp”, do vậy việc giải quyết bài toán này là điều không
hề đơn giản, dẫn đến việc áp dụng biện pháp này gặp nhiều khó khăn, gây lúng túngcho người có thẩm quyền xử phạt8
1.2.3 Thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Thẩm quyền là một hệ thống các yếu tố cấu thành bao gồm hai nhóm: (i) cácquyền và nghĩa vụ chung để thực hiện các chức năng nhất định; (ii) các quyền hạn
cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung nói trên9 Từ các yếu tố cấu thành
ta có thể khái quát định nghĩa về thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
như sau: “Thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là phạm vi thực hiện
quyền và nghĩa vụ của những chức danh có thẩm quyền xử phạt trong việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được pháp luật quy định theo thủ tục hành chính” 10
Hiện nay, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định từ Điều 38đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).Nghiên cứu các điều khoản này có thể thấy rằng các chủ thể có thẩm quyền áp dụngbiện pháp khắc phục hậu quả đều có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưngkhông phải tất cả các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đều cóthẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Đối với biện pháp khắc phụchậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính,Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy địnhthẩm quyền áp dụng cho các chức danh sau:
Đối với thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện, cấp tỉnh có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộcnộp lại số lợi bất hơp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (điểm đ khoản
2, điểm đ khoản 3 Điều 38) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền
áp dụng biện pháp này
8 Nguyễn Nhật Khanh, Trần Quốc Minh (2020), “Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực thi hành án dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17.
9Nguyễn Cửu Việt (2005), “Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 8.
10Mai Thị Lâm (2016), Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, tr.18.
Trang 24Đối với thẩm quyền của Công an nhân dân: Giám đốc Công an cấp Tỉnh,
Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục trưởng Cục An ninh kinh tế, Cụctrưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sátđiều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm vềtham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về matúy, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy,chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm vềmôi trường, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng côngnghệ cao, Cục trưởng Cục An ninh nội địa, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý tạmgiữ, tạm giam và thi hành án hình sự tại cộng đồng, Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Cụctrưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh (khoản 5, 6, 7 Điều 39)
Đối với thẩm quyền của Bộ đội biên phòng: Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm
phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Cục Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc
Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh; Hảiđoàn trưởng Hải đoàn biên phòng, Cục trưởng Cục Phòng chống ma túy và tộiphạm thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng (khoản 3a, khoản 4 Điều 40)
Đối với thẩm quyền của Hải quan: Chi cục trưởng Chi cục Hải quan; Chi cục
trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hảiquan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Đội trưởng Đội Điều tra hình
sự, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu, Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trênbiển và Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu hàng giả và bảo vệ quyền sở hữutrí tuệ thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sauthông quan thuộc Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Điều tra chốngbuôn lậu, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cụctrưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tổng cụctrưởng Tổng cục Hải quan (khoản 3, 4, 5 Điều 42)
Đối với thẩm quyền của Kiểm lâm: Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Đội trưởng
Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng, Chi cục trưởng Chi cụcKiểm lâm; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặcnhiệm thuộc Cục Kiểm lâm, Cục trưởng Cục Kiểm lâm (khoản 3, 4, 5 Điều 43)
Đối với thẩm quyền của Kiểm ngư: Trạm trưởng Trạm Kiểm ngư thuộc Chi
cục Kiểm ngư vùng, Cục trưởng Cục Kiểm ngư (khoản 2, 4 Điều 43a)
Đối với thẩm quyền của Cơ quan Thuế: Chi cục trưởng Chi cục Thuế, Cục
trưởng Cục Thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế (khoản 3, 4, 5 Điều 44)
Đối với thẩm quyền của Quản lý thị trường: Đội trưởng Đội Quản lý thị
trường, Trưởng phòng Nghiệp vụ thuộc Cục Nghiệp vụ quản lý thị trường, Cục
Trang 25trưởng Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ quản lý thịtrường thuộc Tổng cục Quản lý thị trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thịtrường (khoản 2, 3, 4 Điều 45).
Đối với thẩm quyền Ủy ban cạnh tranh quốc gia: Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh
quốc gia (Điều 45a)
Đối với thẩm quyền của Thanh tra: Chánh Thanh tra sở; Chánh Thanh tra
Cục Hàng không Việt Nam; Chánh Thanh tra Cục Hàng hải Việt Nam; ChánhThanh tra Cục An toàn bức xạ và hạt nhân; Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoánNhà nước; Chánh Thanh tra quốc phòng quân khu; Chánh Thanh tra Cơ yếu thuộcBan Cơ yếu Chính phủ; Chi cục trưởng Chi cục Thú y vùng, Chi cục trưởng Chicục Kiểm dịch động vật vùng thuộc Cục Thú y; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm dịchthực vật vùng thuộc Cục Bảo vệ thực vật; Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chấtlượng nông lâm sản và thủy sản Trung Bộ, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chấtlượng nông lâm sản và thủy sản Nam Bộ thuộc Cục Quản lý chất lượng nông lâmsản và thủy sản; Chi cục trưởng Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục trưởngChi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thuộc Sở Y tế; Chi cục trưởng Chi cục vềtrồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, thủy sản, quản lý chất lượng nônglâm và thủy sản, thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai, lâm nghiệp, phát triểnnông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Chi cục trưởng Chi cụcTiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Sở Khoa học và Công nghệ; Chi cục trưởngChi cục Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa miền Trung, Chi cục trưởng Chicục Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa miền Nam thuộc Cục Quản lý chấtlượng sản phẩm, hàng hóa; Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực,Giám đốc Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh; các chức danh tương đương của cơ quan đượcgiao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành được Chính phủ quy định thẩmquyền xử phạt, Cục trưởng Cục Thống kê, Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh,Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng; các chức danh tương đương của cơ quan được giao thực hiệnchức năng thanh tra chuyên ngành được Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt,Chánh Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ ViệtNam, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Tổng cụctrưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi, Tổngcục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Tổng cụctrưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Tổng cục trưởng Tổng cục Môitrường, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân
số - Kế hoạch hóa gia đình, Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban
Trang 26Chứng khoán Nhà nước, Trưởng ban Ban Cơ yếu Chính phủ, Trưởng ban Ban Tôngiáo Chính phủ, Cục trưởng Cục Hóa chất, Cục trưởng cục Kỹ thuật an toàn và Môitrường công nghiệp, Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực, Cục trưởng Cục Xúc tiếnthương mại, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Cục trưởng CụcĐường sắt Việt Nam, Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam, Cục trưởngCục Hàng hải Việt Nam, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, Cục trưởng Cục
An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục trưởng Cục Thú y, Cục trưởng Cục Bảo vệ thựcvật, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Cục trưởng Cục Quản
lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và pháttriển nông thôn, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Cục trưởng Cục Tần
số vô tuyến điện, Cục trưởng Cục Viễn thông, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyềnhình và thông tin điện tử, Cục trưởng Cục Báo chí, Cục trưởng Cục Xuất bản, In vàPhát hành, Cục trưởng Cục Quản lý dược, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữabệnh, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Cụctrưởng Cục An toàn thực phẩm, Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục
Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, Cụctrưởng Cục An toàn lao động, Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; các chứcdanh tương đương của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành được Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt, Trưởng đoàn thanh tra chuyênngành cấp bộ, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành do Tổng giám đốc Bảo hiểm xãhội Việt Nam thành lập, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, trưởng đoànthanh tra chuyên ngành của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh trachuyên ngành (khoản 2, 3,4, 5 Điều 46)
Đối với thẩm quyền của Cảng vụ: Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc
Cảng vụ hàng không, Giám đốc Cảng vụ đường thủy nội địa (khoản 2 Điều 47)
Đối với thẩm quyền của Tòa án nhân dân: Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ việc phá sản, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân
sự quân khu và tương đương, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp cao(khoản 2, 4 Điều 48)
Đối với thẩm quyền của Kiểm toán Nhà nước: Trưởng Đoàn kiểm toán,
Kiểm toán trưởng (Điều 48a)
Đối với thẩm quyền của Cơ quan thi hành án dân sự: Chi Cục trưởng Chi
cục Thi hành án dân sự, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, Trưởng phòng PhòngThi hành án cấp quân khu, Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Cụctrưởng Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng (Điều 2, 4, 5 Điều 49)
Trang 27Đối với Thẩm quyền của Cục Quản lý lao động ngoài nước: Cục trưởng Cục
Quản lý lao động ngoài nước (Điều 50)
Đối với Thẩm quyền của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài: Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ
quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (Điều 51)
So với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 đã có những sửa đổi về thẩmquyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp cóđược do thực hiện vi phạm hành chính một số chức danh mới như: Trạm trưởngTrạm Kiểm ngư thuộc Chi cục Kiểm ngư vùng, Cục trưởng Cục Kiểm ngư, Chủtịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến điện khuvực… Ngoài ra cũng bãi bỏ thẩm quyền của một số chức danh như Chánh tòa Phúcthẩm Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao,Chấp hành viên thi hành án dân sự là Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản của vụviệc phá sản… Việc sửa đổi, bổ sung này là phù hợp với thực tế vì cơ cấu các cơquan quản lý nhà nước có sự thay đổi nên cần thay đổi thẩm quyền cho phù hợp vớicác chức danh hiện có
Từ những nghiên cứu trên về thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậuquả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính cóthể rút ra những điểm sau đây:
Thứ nhất, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này là
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không phải tất cả người cóthẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắcphục hậu quả này mà chỉ các chủ thể liệt kê ở phần trên mới có thẩm quyền áp dụngbiện pháp này
Thứ hai, thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này quy định cho
cá nhân mà không cho tập thể và thường sẽ giao cho một số cá nhân có chức danhquản lý Vì việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền và lợi ích của chủ thể vi phạm và cần bị cưỡng chế nếu chủ thể vi phạmkhông thực hiện vì thế cần người ở vị trí “đủ tầm” để có có thể ban hành các quyếtđịnh cưỡng chế và chủ thể khác phải tuân theo Việc không giao thẩm quyền chotập thể vì một quyết định do tập thể thông qua thường sẽ cần một khoảng thời giannên không đáp ứng nguyên tắc khắc phục nhanh chóng hậu quả do vi phạm hành
Trang 28chính gây ra Do vậy, việc quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậuquả này cho cá nhân là hợp lý.
Ngoài ra, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm2020) cho phép cấp trưởng “giao quyền” cho cấp phó thực hiện (Điều 54) Như vậy,với sự thay đổi của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 thì thay vì ủy quyền, cấptrưởng sẽ giao quyền xử phạt cho cấp phó là hợp lý11 và cấp phó không được giaolại quyền cho người khác Quy định trên cũng nhằm mục đích khắc phục kịp thờihậu quả nhưng vẫn bảo đảm có thể quản lý tốt việc áp dụng biện pháp này, tránhhiện tượng áp dụng một tùy tiện không kiểm soát
1.2.4 Thời hiệu áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính.
Thời hiệu áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợppháp có được do thực hiện vi phạm hành chính có thể hiểu đó là khoảng thời gian
mà luật quy định và còn trong thời gian đó thì chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụngbiện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính, khi hết thời gian đó chủ thể có thẩm quyền không được áp dụng biện phápnày nữa
Thời hiệu áp dụng đối với biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợibất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính cũng giống như thời hiệu ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả nói chung Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) không có quy định cụ thể về thời hiệu áp dụngbiện pháp khắc phục hậu quả mà chỉ quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hànhchính tại Điều 6 của Luật này Việc quy định không cụ thể đã tạo ra 2 quan điểmkhác nhau như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành
chính quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụngcho cả biện pháp khắc phục hậu quả12 Vì theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã quy định về “xử
phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, nếu
tách thời hiệu áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả riêng sẽ gây khó khăn, lúngtúng cho chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vì không biết
11Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2017), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức, tr 603.
12 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, Nxb.
Hồng Đức, tr 218
Trang 29sẽ sử dụng thủ tục như thế nào để áp dụng riêng biện pháp này nên cần đồng nhấthai loại thời hiệu lại với nhau để các chủ thể có thẩm quyền dễ dàng hơn trong việc
áp dụng
Quan điểm thứ hai lấy khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) làm căn cứ13 Khoản 2 Điều 65 quy định “Đối
với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng có thể ra quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này” nên các tác giả theo quan điểm này cho rằng dù hết
thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính vẫn có thể áp dụng biện pháp khắc phục hậuquả để khắc phục những thiệt hại hoặc khôi phục lại tình trạng ban đầu góp phầntạo sự công bằng cho các chủ thể bị vi phạm
Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai vì các lý
do sau:
Một là, biện pháp khắc phục hậu quả là biện pháp mang tính đối xứng và
không phải mục đích chính là trừng phạt mà để khắc phục những thiệt hại
Hai là, để tạo sự công bằng thì nên áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vô
thời hạn để mọi hậu quả đều có thể khắc phục tốt nhất, góp phần tạo sự công bằnggiữa các chủ thể và duy trì trật tự xã hội
1.2.5 Thủ tục áp dụng và thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Dưới góc độ ngôn ngữ thì “thủ tục là trình tự và phương pháp làm việc”14
Từ khái niệm trên ta có thể hiểu “Thủ tục áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính là cách thức thực hiện theo thứ tự các bước do luật định từ thời điểm áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả cho đến khi tổ chức thi hành biện pháp này”.
Thủ tục áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợppháp có được do thực hiện vi phạm hành chính có các bước gần giống với thủ tục
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nói chung Tại quy định của Điều 56, 57 Luật
Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) ta có 2 loại thủtục xử phạt vi phạm hành chính là xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản
13Cao Vũ Minh (chủ biên) (2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính
-Thực trạng và hướng hoàn thiện, Nxb Chính trị quốc gia, tr 78.
14Cao Vũ Minh (2017), Quyết định quản lý nhà nước của Chính phủ - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị
quốc gia, tr 120.
Trang 30và xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.Trừ những trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả riêng thì đa số sẽ ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả cùng với thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được quy định tạiĐiều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).Theo đó, người có thẩm quyền xử phạt có thể áp dụng thủ tục này đối với trườnghợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000đồng đối với tổ chức và không rơi vào trường hợp vi phạm hành chính được pháthiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ Khi xử phạt bằng thủ tụcnày thì người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chínhtại chỗ Khi ra quyết định xử phạt hành chính tại chỗ phải tuân theo quy định tạikhoản 2 Điều này
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được quy định tại Điều
57 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) được ápdụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chínhkhông thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản Khi pháthiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyềnđang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản Trong trường hợp vi phạm hànhchính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việclập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cánhân vi phạm Nếu vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa thìngười chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm tổ chức lập biênbản và chuyển ngay cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi tàubay, tàu biển, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga Về hình thức, nội dung, thủtục của biên bản được quy định chi tiết tại khoản 2, 3 Điều này Chủ thể có thẩmquyền cần tuân thủ thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tạiĐiều 66 Luật này Đối với quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thìkhông cần tuân theo thời hạn ra quyết định xử phạt, khi hết thời hạn ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính chủ thể có thẩm quyền vẫn có thể quyết định áp dụngbiện pháp khắc phục hậu quả Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủđúng nội dung
Sau khi xử phạt vi phạm hành chính bằng một trong 2 thủ tục trên chủ thể cóthẩm quyền cho thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Đối với việc thi hành quyết định xử phạt hành chính và biện pháp khắc phụchậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chínhnếu chung một quyết định thì quy định về thời hạn chấp hành quyết định xử phạt
Trang 31được quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa
đổi, bổ sung năm 2020) như sau: “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính
phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó”,
điều này cho thấy đối với thời hạn chấp hành thì 10 ngày là mức tối thiểu luật quyđịnh chủ thể có thẩm quyền quy định cho chủ thể vi phạm chấp hành các biện phápkhắc phục hậu quả trên Và quy định trên cũng hiểu rằng người vi phạm có thể chấphành biện pháp khắc phục hậu quả trong thời hạn 10 ngày theo sự tự nguyện của họ
và đó là quyền của họ mà không phải đúng 10 ngày mới được chấp hành Đối vớithời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và khắc phục hậu quảđược quy định tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổsung năm 2020) là 1 năm kể từ ngày ra quyết định Trong trường hợp cá nhân, tổchức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu được tính từ sau khi chấmdứt việc trốn tránh, trì hoãn Tuy nhiên, lưu ý về trường hợp không tính thời hiệuđối với “áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệmôi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội” cầnđược hướng dẫn cụ thể hơn vì nhà làm luật không quy định rõ vấn đề trên dẫn đếncách hiểu khác nhau gây khó khăn trong việc áp dụng Có quan điểm cho rằng “bảo
vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội” làcác lĩnh vực cụ thể, có quan điểm lại cho rằng đó là mục đích khi áp dụng biện phápkhắc phục hậu quả vì thế khó để áp dụng thống nhất
Đối với việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộcnộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính độc lập thìthời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả trên được quy định tại khoản 1 Điều
85 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy địnhthời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong quyết định ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả, có nghĩa chủ thể có thẩm quyền sẽ quyết địnhthời gian trên Tuy có sự linh động cho các chủ thể có thẩm quyền khi quy định nhưvậy nhưng cũng tạo sự tự do ý chí quá nhiều cho các chủ thể có thẩm quyền và cóthể sẽ gây ra sự chậm trễ trong việc khắc phục hậu quả Về thời hiệu thi hành quyếtđịnh khắc phục hậu quả lại không được quy định trong trường hợp này, điều này làmột thiếu sót hay do thời hiệu được áp dụng theo quy định tại Điều 74 như khi ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả chung với quyết định xử phạt vi phạm hànhchính còn phụ thuộc vào ý chí chủ thể có thẩm quyền áp dụng
Trang 32Ngoài ra, đối với trường hợp khẩn cấp cần khắc phục hậu quả kịp thời theokhoản 5 Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm
2020) quy định: “Trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp
thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người có thẩm quyền
xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, nếu không hoàn trả thì bị cưỡng chế thực hiện” Tuy nhiên, như thế nào được coi là “trường hợp khẩn cấp, cần khắc
phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông” thì chưa cóquy định pháp luật hướng dẫn cụ thể gây nhiều khó khăn cho chủ thể có thẩm quyền
áp dụng biện pháp này
Nhìn chung, pháp luật quy định về thời hạn chấp hành biện pháp khắc phụchậu quả và thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đãđáp ứng về cơ bản, tuy nhiên nhiều trường hợp còn chưa cụ thể và phụ thuộc nhiềuvào ý chí chủ thể có thẩm quyền áp dụng Điều này tạo sự linh hoạt trong áp dụngnhưng cũng còn nhiều hạn chế vì khó kiểm soát
1.2.6 Cưỡng chế thi hành biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Nhìn chung, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợibất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính với ý nghĩa chính là khắcphục hậu quả mà chủ thể vi phạm đã gây ra, tạo sự công bằng trong xã hội, giáo dục,răn đe các chủ thể vi phạm vì thế nên nhà làm luật đã tạo điều kiện cho người viphạm nhận thấy hành vi của mình là sai trái và tự nguyện khắc phục những hậu quả
do sai phạm mà chính bản thân họ gây ra Tuy nhiên, có những trường hợp người viphạm không tự nguyện chấp hành biện pháp trên mà trốn tránh, trì hoãn vì khôngbuông được cái lợi do những hành vi vi phạm của họ đã gây ra nên rất cần thiết ápdụng hình thức cưỡng chế thi hành đối với các chủ thể trên để mọi hậu quả đượckhắc phục, trả cho chủ thể bị vi phạm một sự công bằng, là bài học cho các chủ thểkhác Tuy nhiên, việc cưỡng chế không thể thực hiện một cách tùy nghi, dựa nhiềuvào ý chí của chủ thể có thẩm quyền vì dễ tạo sự lạm quyền và dẫn đến sự khôngphục của chủ thể vi phạm hoặc chủ thể bị vi phạm
Việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp
có được do thực hiện vi phạm hành chính được quy định cụ thể trong luật, trongquyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc trong quyết định áp dụng biện phápkhắc phục hậu quả Đó là khoảng thời gian quy định chủ thể vi phạm tự nguyệnchấp hành các biện pháp khắc phục hậu quả, quá thời hạn trên thì chủ thể có thẩm
Trang 33quyền sẽ cưỡng chế thi hành biện pháp khắc phục hậu quả để tuân thủ đúng nguyêntắc “mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quyđịnh của pháp luật”15 và việc khắc phục phải kịp thời để các hậu quả được khắcphục tốt nhất Việc cưỡng chế áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được Luật Xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thể hiện cụ thể trongĐiều 86, theo đó hai trường hợp sẽ bị cưỡng chế là:
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấphành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này;
- Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện hoàn trả kinh phícho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 5Điều 85 của Luật này
Việc cưỡng chế thi hành biện pháp khắc phục hậu quả trên là một hoạt độngmang tính quyền lực nhà nước và người có thẩm quyền cưỡng chế phải thực hiệnđúng trình tự, thủ tục do luật định là: (i) ban hành quyết định cưỡng chế buộc thựchiện biện pháp khắc phục hậu quả; (ii) huy động lực lượng, phương tiện để thựchiện biện pháp; (iii) thi hành biện pháp đã ghi trong quyết định16 Về thẩm quyềncưỡng chế được quy định tại Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012(sửa đổi, bổ sung năm 2020), về việc thi hành cũng được quy định cụ thể tại Điều
88 Luật này Đối với biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp
có được do thực hiện vi phạm hành chính cũng như các biện pháp khắc phục hậuquả khác sẽ thực hiện cưỡng chế thi hành theo các trình tự, thủ tục như trên Việctuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định tạo sự thuận tiện trong việc cácchủ thể có thẩm quyền cưỡng chế mà không bị khiếu nại về sau
Ngoài ra, cần phân biệt “cưỡng chế thi hành biện pháp khắc phục hậu quả”được quy định tại Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổsung năm 2020) và “thi hành biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp đặcbiệt” được quy định tại khoản 5 Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012(sửa đổi, bổ sung năm 2020) Đối với việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quảtrong trường hợp đặc biệt do chủ thể là cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạtđang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậuquả, khi đó thời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả vẫn còn và cũng không
có một quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả nào đượcban hành Còn đối với cưỡng chế thi hành biện pháp khắc phục hậu quả phải được
15 Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
16Cao Vũ Minh (chủ biên) (2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính
-Thực trạng và hướng hoàn thiện, Nxb Chính trị quốc gia, tr 90.
Trang 34áp dụng theo trình tự, thủ tục đã liệt kê và trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xửphạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quyđịnh tại Điều 73 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sungnăm 2020) Vì thế, không thể đồng nhất việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quảtrong trường hợp đặc biệt là cưỡng chế thi hành biện pháp khắc phục hậu quả vì bảnchất và đặc điểm là khác nhau.
Trang 35Kết luận Chương 1
Từ những vấn đề đã được nghiên cứu trong Chương 1 của Khoá luận, có thểrút ra một số đúc kết sau về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bấthợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính:
Thứ nhất, xây dựng được khái niệm “biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp
lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính là hình thức cưỡngchế do nhà nước áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính để buộc họphải nộp lại các khoản lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chínhnhằm khắc phục một phần hoặc toàn bộ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra”
Thứ hai, biện pháp này có các đặc điểm: biện pháp này chỉ áp dụng đối với
các vi phạm hành chính có phát sinh số lợi bất hợp pháp; chủ thể có thẩm quyền ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả trên không phải là tất cả chủ thể có thẩm quyền
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; mục đích của biện pháp trên là thu lại số lợibất hợp pháp để để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bịchiếm đoạt
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp này có những ý nghĩa sau:
(i) Biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được
do thực hiện vi phạm hành chính” có ý nghĩa như các biện pháp khắc phục hậu quảnói chung
(ii) Việc áp dụng biện pháp nhằm mục đích thực hiện nguyên tắc “mọi hậu
quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”17
(iii) Biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được
do thực hiện vi phạm hành chính” xem như là một sự giáo dục, răn đe để chủ thể viphạm và những chủ thể có ý định vi phạm hành chính
Thứ tư, khi áp dụng biện pháp này cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau: phải
được tiến hành nhanh chóng, công khai và khách quan; phải được áp dụng bởi chủthể có thẩm quyền áp dụng biện pháp trên và phải áp dụng đúng pháp luật; có thể ápdụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thựchiện vi phạm hành chính với một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả khácđược quy định trong luật cùng lúc; được áp dụng độc lập trong các trường hợp cụthể; các nguyên tắc quy định tại Điều 3 Thông tư số 149/2014/TT-BTC quy địnhnguyên tắc xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hànhchính
17 Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Trang 36Thứ năm, về cách xác định số lợi bất hợp pháp pháp luật hiện nay đã có quy
định, tuy nhiên giữa các quy định pháp luật chưa có sự thống nhất về cách quy định
số lợi bất hợp pháp Một số lĩnh vực xử phạt chưa có hướng dẫn cách xác định sốlợi bất hợp pháp nên gây ra khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật
Thứ sáu, về thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính pháp luậthiện hành đã quy định khá cụ thể Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề pháp lý cầntiếp tục hoàn thiện
Trong chương 2, tác giả sẽ nghiên cứu thực trạng pháp luật và áp dụng phápluật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được dothực hiện vi phạm hành chính Qua đó chỉ ra các hạn chế, bất cập của biện pháp này
và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ BUỘC NỘP LẠI SỐ LỢI BẤT HỢP PHÁP CÓ ĐƯỢC DO THỰC HIỆN VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Thực trạng pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại
số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính và kiến nghị hoàn thiện
2.1.1 Những điểm tích cực trong quy định pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành
Thứ nhất, các quy định pháp luật trước đây về biện pháp khắc phục hậu quả
như Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989, Pháp lệnh Xử lý vi phạmhành chính năm 1995 và Pháp lệnh gần nhất trước khi Luật Xử lý vi phạm hànhchính năm 2012 ra đời là Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,
bổ sung năm 2007, 2008) chưa có quy định về biện pháp khắc phục hậu quả “buộcnộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” Biện phápbuộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính được quyđịnh là một biện pháp khắc phục hậu quả lần đầu trong Luật Xử lý vi phạm hànhchính năm 201218 Sự bổ sung của biện pháp khắc phục hậu quả trên là hợp lý vìtrong thực tế đa phần các chủ thể vi phạm hành chính hướng đến là các khoản lợibất hợp pháp Vì lẽ trên để đấu tranh, phòng, chống vi phạm hành chính, góp phầnkhắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra, khôi phục trật tự quản lý nhànước cần có biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện viphạm hành chính
Thứ hai, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đã quy định một cách khá
đầy đủ các vấn đề về biện pháp này như: quy định xác định số lợi bất hợp pháp,thẩm quyền, thủ tục áp dụng, cưỡng chế thi hành Tạo hành lang pháp lý để người
có thẩm quyền tự tin áp dụng biện pháp này trong thực tiễn xử phạt, góp phần khắcphục hậu quả tối ưu nhất
Thứ ba, các Nghị định của Chính phủ đã có sự phân định về tính chất, đặc
điểm của từng vi phạm hành chính để quy định áp dụng biện pháp khắc phục hậuquả này đối với những vi phạm hành chính có phát sinh số lợi bất hợp pháp, ví dụnhư Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định một số vi phạm bị áp dụng biện phápkhắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm
18 Điểm i khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Trang 38hành chính như đối với vành vi vi phạm quy định đối với hoạt động hành nghề luật
sư không phải mọi hành vi đều áp dụng biện pháp trên mà chỉ những hành vi quyđịnh các điểm a, b, c, d và h khoản 3, các điểm b và c khoản 4, khoản 5, các điểm a,
b, d và đ khoản 6, các điểm d và e khoản 7 Điều này19mới áp dụng biện pháp buộcnộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính Sự xem xétchi tiết và tạo ra những quy định phù hợp giúp tạo cơ sở pháp lý cụ thể để áp dụngbiện pháp này đối với các vi phạm hành chính có phát sinh số lợi bất hợp pháp,tránh tình trạng có quy định nhưng không thể áp dụng trên thực tế vì vi phạm khôngthể phát sinh số lợi bất hợp pháp
2.1.2 Một số điểm hạn chế trong quy định pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính và kiến nghị hoàn thiện
Thứ nhất, về tên gọi của biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được dothực hiện vi phạm hành chính được quy định tại Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hànhchính 2012 (sửa đổi bổ sung 2020) và một số Nghị định quy định về xử phạt viphạm hành chính trong các lĩnh vực Tuy nhiên, qua tìm hiểu về tên gọi của biệnpháp khắc phục hậu quả này trong các Nghị định, tác giả nhận thấy không có sựkhông thống nhất so với quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012(sửa đổi, bổ sung năm 2020), tuy nội hàm giống nhau nhưng các Nghị định lại cócách quy định tên gọi riêng cho biện pháp này Ví dụ: Nghị định số 104/2017/NĐ-
CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai;khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số65/2019/NĐ-CP) có quy định một biện pháp khắc phục hậu quả có nội hàm tương
tự biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành
chính” đó là biện pháp “Buộc nộp lại đất, đá, cát, sỏi bất hợp pháp có được do thực
hiện hành vi vi phạm hành chính” Ngoài ra, một số Nghị định có quy định các biện
pháp khắc phục hậu quả như “buộc hoàn trả khoản tiền đã thu”, “buộc hoàn trả
khoản ưu đãi đã hưởng”, “buộc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nộp lại số tiền đã trục lợi vào ngân sách nhà nước” cũng có “bóng dáng” của biện pháp “buộc nộp lại
số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” Do không có sự
nhất quán trong việc quy định về tên gọi của biện pháp khắc phục hậu quả giữaLuật Xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chínhdẫn đến việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả còn nhiều khó khăn Tuy bản
19 Điểm b khoản 9 Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.
Trang 39chất không thay đổi nhưng nó thể hiện sai sót trong kỹ thuật lập pháp và có thể dẫnđến áp dụng hai biện pháp nhưng thực tế chỉ dẫn đến một kết quả Có thể thấy rằng
việc quy định thêm về biện pháp “Buộc nộp lại đất, đá, cát, sỏi bất hợp pháp có
được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính” là không cần thiết vì bản chất áp
dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp đã bao gồm nộp đất, đá, sỏi bấthợp pháp
Để thống nhất tên gọi các biện pháp trên tác giả có một số kiến nghị sau:
Một là, cần sửa lại tên gọi của các biện pháp khắc phục hậu quả có nội hàm
là biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hànhchính trong các Nghị định cho thống nhất với Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012(sửa đổi, bổ sung 2020) vì các Nghị định trên là Nghị định chuyên ngành nên cầnthống nhất với Luật và Luật cũng là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn
Hai là, xét đến kỹ thuật lập pháp trong quy định buộc nộp lại số lợi bất hợp
pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính vẫn còn một số hạn chế như có một
số Nghị định đã quy định biện pháp này nhưng vẫn quy định thêm những biện phápkhông cần thiết vì bị trùng lại với biện pháp này Tuy việc quy định như trên không
có ảnh hưởng quá nhiều đến việc áp dụng nhưng tạo sự không thống nhất và trình ra
sự yếu kém trong kỹ thuật lập pháp, cần bãi bỏ những biện pháp đó như: “Buộc nộp
lại đất, đá, cát, sỏi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính”
quy định tại Nghị định số 104/2017/NĐ-CP để khắc phục bất cập này
Thứ hai, về các vi phạm hành chính bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính.
Trên thực tế có tồn tại một số vi phạm hành chính nên áp dụng thêm biện
pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi
phạm hành chính” vì những vi phạm hành chính đó có thể dẫn đến chủ thể vi phạm
có được một số lợi ích và đương nhiên đó là những món lợi bất hợp pháp Ví dụnhư hành vi tổ chức triển lãm quy định tại Điều 19 Nghị định số 38/2021/NĐ-CPquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo và buổitriển lãm vi phạm trên có thu tiền vé, vậy tiền vé là số lợi bất hợp pháp có được dothực hiện hành vi vi phạm và cần nộp lại nhưng điều khoản này không quy định vềbiện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện
vi phạm hành chính là một sự thiếu sót và chủ thể bị vi phạm ở đây có thể kể đến làngười mua vé xem triễn lãm không được khắc phục những thiệt hại mà họ phải chịu.Việc không có quy định biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thựchiện vi phạm hành chính đối với các vi phạm trong các Nghị định chuyên ngành cóthể phát sinh số lợi bất hợp pháp đã làm khó khăn trong việc khắc phục hậu quả và