Khi đó, dung dịch sẽ cho kết tủa màu đỏ vì Cu2+ bị khử thành Cu1+ - Trong dung dịch Fehling gồm có Fehling A và Fehling B: + Fehling A chứa CuSO4 + Fehling B chứa hỗn hợp NaOH và muối Ka
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG – Bm Công nghệ Sinh học
o_oOo_o
BÁO CÁO THÍ NGHIỆM HÓA SINH
GVBM: Lê Văn Bình
Nhóm 2
Trang 2Bài số: 2 Tên bài: ĐỊNH TÍNH & KHẢO SÁT GLUCIDE
Ngày thí nghiệm: 25/08/2018
ĐIỂM
I Xác định tính khử của đường đơn bằng phản ứng Fehling
1 Nguyên tắc:
- Vì trong phân tử monosaccrit như glucose, fructose có các nhóm chức –CHO,-C=O mang tính khử nên ta sử dụng các chất chứa ion kim loại như Cu, Fe để xác định tính khử của chúng
- Sử dụng hỗn hợp Fehling để xác định tính khử của đường đơn Khi đó, dung dịch sẽ cho kết tủa màu đỏ vì Cu2+ bị khử thành Cu1+
- Trong dung dịch Fehling gồm có Fehling A và Fehling B:
+ Fehling A chứa CuSO4
+ Fehling B chứa hỗn hợp NaOH và muối Kali natri tartrate
Đây là phương pháp tạo ra dung dịch Fehling, từ đó chúng ta có được
Cu2+ trong phức hợp màu xanh
Khi đun hỗn hợp có Cu2+ với chất có tính khử mạnh như monosaccarit thì sẽ xuất hiện tủa màu đỏ
Trang 3Dưới đây là phương trình rút gọn cho cả quá trình:
2 Các bước tiến hành:
Ống
nghiệm
Glucose 1%
Fructose 1%
Fehling A Fehling B Gia nhiệt
xuất hiện kết tủa
3 Kết quả thí nghiệm:
Cả 2 ống nghiệm đều xuất hiện kết tủa đỏ gạch ở đáy ống nghiệm nhưng ống
nghiệm chứa fructose đậm màu hơn ống nghiệm chứa glucose
Dung dịch trước khi đun cách thủy
Trang 4Dung dịch sau khi đun cách thủy (Ống nghiệm bên trái chứa Glucose, Ống nghiệm bên phải chứa Fructose)
4 Giải thích và so sánh với lý thuyết:
Thuốc thử Fehling A là dd CuSO4 và Fehling B là dd muối natri kali tartrat Có thể thấy muối phức trên là hợp chất không bền nên khi cho chúng tác dụng với nhau ta sẽ thu được ion Cu2+
Kết tủa đỏ gạch ở đáy ống nghiệm là kết quả của phản ứng giữa nhóm chức – CHO và –CO với Cu2+ trong dung dịch Fehling cho ra sản phẩm là Cu2O Nhưng ống nghiệm số 2 có kết tủa đậm hơn vì tính khử của fructose mạnh hơn glucose
II Xác định tính khử của đường đôi bằng phản ứng
Fehling
1 Nguyên tắc
Disaccarit là phân tử đường đôi được tạo nên từ 2 phân tử đường đơn monosaccarit Ta sử dụng dung dịch Fehling để xác định tính khử của disaccarit nhờ vào sự liên kết của nhóm OH glucozit của monosaccarit thứ 1 với nhóm OH ancol của monosaccarit thứ 2
Trang 52 Cách tiến hành:
Ống
nghiệm
Maltose 2%
Lactose 2%
Saccarose 2%
Fehling
A
Fehling
B
Gia nhiệt Hiện tượng
Đun cách thủy
Có kết tủa
Không kết tủa,dung dịch vẫn ở trạng thái trong suốt
3 Kết quả:
Ở cả ống 1 và ống 2 đều thấy xuất hiện kết tủa sau 1 khoảng thời gian
đun Sau khi thấy kết tủa ở ống 1 và 2 thì đun thêm 1 thời gian ngắn
ống 3 vẫn không thấy xuất hiện kết tủa
Dung dịch trước khi đun cách thủy
Trang 6Dung dịch sau khi đun cách thủy ( Từ trái qua phải, ống nghiệm 1 là Maltose, ống nghiệm 2 là Lactose,
ống nghiệm 3 là Saccarose)
4 Nhận xét và so sánh với lý thuyết
Có thể nhận thấy khi các đường đôi như maltose và lactose có nhóm
OH glucozit(monosaccarit 1) liên kết với nhóm OH
alcol(monosaccarit 2) thì vẫn còn để lại nhóm andehit tự do của 1 trong 2 phân tử đường còn lại
Ở đường saccarose có liên kết 1-2 glucozit, vì thế các nhóm andehit tự
do bị khóa lại Khi không còn nhóm OH hemiaxetal tự do thì không chuyển được thành dạng mạch hở chứa anđehit và làm đường
saccarose mất tính khử
III Chiết xuất glycogen
1 Nguyên tắc
Chiết xuất glycogen từ gan động vật bằng cách lọc hết các chất còn lại
có trong gan như protein,lipit,…
Sử dụng các dung dịch kiềm,cồn và nước để tiến hành chiết xuất
Trang 72 Cách tiến hành:
B1:5g gan tươi( nghiền sẵn)+20ml KOH 30% đã đun nóng B2:Cho vào cốc thủy
tinh Đun và khuấy liên
tục đến khi gan tan hết
B3:Để nguội, thêm 2ml
Na 2 SO 4 10% + 50ml cồn 96%
B7:Thu tủa, đem sấy khô
B6:Khuấy cho dung dịch hòa tan sau đó để lắng, gạn bỏ phần dịch bên trên
B5:Hòa vào dung dịch 1-2ml nước cất+ 20ml cồn 96 0 B4:Khuấy đều để các chất
tác dụng nhanh hơn và hình thành tủa Để tủa lắng và gạt bỏ nước,thu
tủa
3 lần
Trang 83 Kết quả
Thu được 1 khối lượng kết tủa rắn màu vàng sau khi sấy khô chính là glycogen đã đuợc chiết xuất
Dung dịch gan tươi đã đun nóng
Dung dịch sau khi để nguội, thêm 2ml Na2SO4 10% + 50ml cồn 96%
Trang 9Glycogen đã được chiết xuất
4 Các lưu ý và bài học rút ra:
a)Tại sao không sử dụng HCl thay vì KOH ở bước 1, KOH có tác dụng gì ?
Trả lời: Chúng ta sử dụng KOH ở bước này để tạo môi trường kiềm mạnh nhằm phá hủy mô gan, thứ chúng ta không cần trong thí nghiệm này Không sử dụng HCl trong trường hợp là vì HCl là acid mạnh, nó không những phá hủy mô gan mà còn phá hủy cả glycogen, thứ chúng
ta cần chiết xuất
b) Tại sao lại cần sử dụng muối Na2SO4 và cồn ở bước 3 ?
Trả lời:
c) Tại sao phải lặp lại bước 5 đến 3 lần ? Công dụng của nước và cồn trong thí nghiệm này là gì ?
IV Thủy phân tinh bột
1 Nguyên tắc:
Sử dụng acid và nhiệt độ để phân giải tinh bột Từ đó tính toán thời gian phân giải và các sản phẩm có thể có qua các giai đoạn phân giải Sản phẩm cuối cùng khi phân giải hoàn toàn tinh bột là maltose và glucose Việc sử dụng iod trong thí nghiệm này dùng để xác định các
Trang 10- Bước 1: Cho vào cốc thủy tinh 10ml tinh bột 1% và 5ml HCl 10%,
- Bước 2: Đun cách thủy khoảng 7- 10 phút, đậy nắp miệng cốc( Chú ý: Khi đun có thể có khí HCl rất độc thoát ra, vì thế nên cẩn thận khi đun)
Phần 2: Kiểm tra dịch thủy phân để xem đã phân giải tinh bột đến giai đoạn nào
Ống
nghiệm
Dịch thủy phân
Dung dịch
I2/KI
Fehling
A
Fehling
B
Gia nhiệt
cách thủy
3 Kết quả:
Ở ống 1 ta thấy xuất hiện dung dịch màu vàng nhạt
Ở ống 2 sau khi đun 1 phút 15s, ta thấy xuất hiện kết tủa đỏ gạch,sau khi đun thêm 1 thời gian kết tủa vẫn giữ nguyên
Tinh bột sau khi được thủy phân
Trang 11Ống nghiệm bên trái chứa dịch thủy phân và Fehling A+B, ống
nghiệm bên phải chứa dịch thủy phân và I2/KI
Dung dịch sau khi đun ống nghiệm chứa dịch thủy phân và Fehling
A+B (bên phải)
4 Nhận xét và so sánh với lý thuyết
Ở đây chúng ta có thể kết luận màu vàng nhạt ở ống 1 là màu của dung dịch iod do tinh bột đã phân giải hoàn toàn Có thể khẳng định điều đó là do ở ống 2, lượng dịch thủy phân tác dụng với thuốc thử
Trang 12không nên vội kết luận rằng tinh bột đã bị phân hủy hoàn toàn, cần phải thử thêm xem ống nghiệm thứ 2 đã có kêt tủa đỏ gạch hay chưa Nếu chưa rất có thể tinh bột vẫn còn đang ở dạng trung gian do sản phẩm trung gian dextrin tác dụng với dung dịch iod vẫn có thể cho ra màu vàng nhạt như trên
Thứ tự các sản phẩm xuất hiện khi phân giải tinh bột:
Amylodextrin
Erythrodextrin
Achrodextrin
Malto dexttrin
Maltose và glucose