Hệ tiêu hóa gồm các ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa .Ống tiêu hóa gồm các khoang miệng, hầu ,thực quản, dạ dày, ruột và các tuyến tiêu hóa.. Vị trí và cấu tạo các cơ quan của hệ tiêu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Học phần: SINH LÍ HỌC HỌC SINH TIỂU HỌC
Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Tường Vi
MSSV : 4501901564
Lớp học phần : 2111PRIM141501
Giảng viên hướng dẫn : Ths Trần Thị Phương Dung
Câu 1 : Đặc điểm giải phẩu và sinh lý về hệ tiêu hóa ở học sinh Tiểu học
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
Trang 2Hệ tiêu hóa gồm các ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa Ống tiêu hóa gồm các khoang miệng, hầu ,thực quản, dạ dày, ruột và các tuyến tiêu hóa Các tuyến tiêu hóa chức năng tiết ra dịch có chứa enzym tiêu hóa thức ăn Các tuyến tiêu hóa gồm có tuyến nước bọt tuyến tụy và gan
I Vị trí và cấu tạo các cơ quan của hệ tiêu hóa trong cơ thể :
a) Khoang miệng:
Miệng hay khoang miệng hay mồm (oral cavity, buccal cavity) là phần đầu tiên của hệ tiêu hóa có nhiệm vụ nhận, nghiền nát và trộn thức ăn với nước bọt
Giải phẫu miệng bao gồm ổ miệng, các tuyến nước bọt, răng và lưỡi Môi, má, khẩu cái
và lợi là những cấu trúc thuộc ổ miệng Các cung răng chia ổ miệng thành hai phần: phần trước cung là tiền đình miệng và phần sau cung là ổ miệng chính:
b) Lưỡi :
Lưỡi là một khối cơ vân chắc và rất mềm dẻo, có thể cử động tự do và rất linh hoạt, làm xáo trộn thức ăn và tham gia vào việc hình thành tiếng nói Lưỡi có mặt trên và mặt dưới
Bề mặt của lưỡi được phủ một lớp màng nhầy có các gai vị giác để cảm nhận vị của thức
ăn nên mặt trên của lưỡi nháp
c) Các tuyến nước bọt:
Nằm trong khoang miệng có chức năng tiết ra nước bọt để làm ướt, bôi trơn và tiêu hóa
thức ăn gồm 3 nhóm: tuyến dưới lưỡi, I tuyến dưới hàm và tuyến mang tai Nước bọt của tuyến mang tai chứa nhiều enzym tiêu hóa thức ăn nhưng lại chứa ít chất nhầy muxin để bôi trơn thức ăn Ngoài ra, trong niêm mạc của khoang miệng còn có các tuyến nước nhỏ khác nằm rải rác, tiết ra chất dịch đặc quánh, có tác dụng bôi trơn thức ăn Trong thành phần dịch tiết này có lizozim có tác dụng diệt khuẩn
d) Hầu
Hầu là một ống ngắn, nói tiếp với khoang miệng, phía trên thông với khoang mũi, phần
dưới thông với thanh quản, khí quản và thực quản Đó là nơi giao chéo của đường hô hấp
và đường tiêu hóa Ở đây có sụn thanh nhiệt làm nhiệm vụ đóng kín khí quản khi nuốt thức ăn
e) Thực quản
Trang 3Thực quản là một ống cơ dài, nối liền với hầu, có nhiệm vụ dồn đẩy thức ăn từ miệng xuống dạ dày Thực quản có 3 lớp Ngoài cùng là lớp thanh mạc mỏng, ở giữa là lớp cơ trơn và trong cùng là lớp niêm mạc Thực quản luôn khép chặt nên thức ăn từ dạ dày không bị đẩy ngược lên thực quản
f) Dạ dày :
Dạ dày là phần lớn nhất của ống tiêu hóa, nằm trong khoang bụng và có hai lỗ thông, phía trên thông với thực quản có cơ thắt tâm vị, phía dưới thông với tá tràng, có cơ thắt môn vị Dạ dày có bờ cong lớn và bờ cong nhỏ, được chia ra thành thượng vị, thân vị và hang vị Thành dạ dày gồm 3 lớp ngoài cùng là lớp thanh mạc, ở giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là lớp niêm mạc Về vị trí thì dạ dày trong hệ tiêu hóa của trẻ thường nằm ngang và ở vị trí khá cao, cho đến khi trẻ bắt đầu biết đi thì dạ dày sẽ chuyển sang vị trí dọc Về hình dáng bên ngoài thì lúc mới sinh, dạ dày trẻ sẽ có hình tròn, sau đó sẽ dài ra khi trẻ được tuổi và có hình dạng tương tự như dạ dày người lớn khi trẻ bước sang độ tuổi 7 – 11 tuổi
g) Ruột non :
Ruột non tiếp giáp với môn vị của dạ dày Nó là đoạn dài nhất của ống tiêu hóa và là phần quan trọng nhất để tiêu hóa và hấp thụ thức ăn Ở trẻ em, ruột non tương đối dài, gấp khoảng 6 lần chiều cao của cơ thể, còn ở người lớn, ruột non dài gấp 4 - 5 lần chiều cao của cơ thể Ruột non gồm ba phần là tá tràng hỗng tràng và hồi tràng Đoạn đầu của
lá tràng thường xuyên chịu sự tấn công của axit HCl từ dạ dày đưa xuống nên rất dễ bị lét Ngoài cùng của ruột non là lớp thanh mạc, ở giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là lớp niêm mạc có nhiều nếp gấp Bề mặt mạc được bao phủ một lớp nhung mao và lớp vi nhung mao dày đặc làm cho bề mặt hấp thu của ruột tăng lên Xen kẽ với các chung mao
có rất nhiều tuyến tiết ra chất nhầy vào dịch ruột Ngoài ra, còn có hệ thống thần kinh, mạch máu, mạch huyết phân trong các chung mao để hấp thu chất dinh dưỡng
h)Ruột già :
Ruột già là phần tiếp theo của ruột non và là phần cuối cùng của ống tiêu hoá Lớp dọc không phân bố đều chung quanh ruột mà phân bố thành ba dải cách đều nhau Trong ruột già có hệ vi sinh vật rất phát triển, chủ yếu là vi khuẩn hoại sinh Ruột già gồm ba phần
là mach tràng, kết tràng và trực tràng Mach tràng là chỗ ruột non đổ vào qua hồi - manh
Trang 4Phía đầu bịt kín và có lỗi thông với ruột thừa Ruột thừa to bằng ngón tay út dính vào manh tràng Ruột thừa không có chức năng gì đối với tiêu hóa, nhưng nếu bị viêm nhiễm thì sẽ gây nguy hiểm cho cơ thể Trực tràng là nơi tích trữ phân trước khi thải ra ngoài qua hậu môn Ở hậu môn có các cơ thắt trơn và cơ thắt vân Các cơ này thường xuyên co thắt ở đóng chặt hậu môn và chỉ mở ra khi thực hiện phản xạ đại tiện
i)Gan
Gan nằm ở phía trên trong hốc cùng bên phải Gan tiết ra mật có vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn Đặc điểm dịch mật của trẻ sơ sinh là có nhiều chất nhầy, nước và sắc tố nhưng lại có ít axit mật Gan ở trẻ sơ sinh có khả năng trao đổi một
số chất như protid, glucid, lipid hoặc vitamin, tiết mật tiêu hóa mỡ, sản sinh tế bào máu ngay khi trẻ còn nằm trong bụng mẹ, có khả năng chống độc và là một nguồn sản sinh nhiệt của cơ thể
k)Tụy :
Tuỵ là một tuyến pha, vừa có chức năng ngoại tiết (tiết ra dịch tụy để tiêu hóa thức ăn) vừa có chức năng nội tiết (tiết ra hoocmon) Tuỵ của trẻ em rất nhỏ Trong dịch tụy của trẻ em có nhiều loại enzim tiêu hóa thức ăn khác nhau Các enzim tiêu hóa protein gồm
có trypsin, chymotripsin và carbonxipolipeptidaza Các enzim tiêu hoá gluxit gồm có amylase, maltaza, lactaza, sacaraza Các enzim tiêu hoá lipit gồm có lipaza, photpholipaza, colesterolesteraza
II Đặc điểm sinh lí của hệ tiêu hóa của học sinh Tiểu học
Quá trình chuyển hóa trong hệ tiêu hóa ở trẻ theo các giai đoạn phát triển, trong giai đoạn 6 - 10 tuổi
a Quá trình tiêu hóa thức ăn ở người tại dạ dày
Trong dạ dày có chứa nhiều men tiêu hóa như Renin (chymosin, presure), men pepsin tiêu hoá protid, chúng có tác dụng biến đổi caseinogen thành casein, kết hợp với canxi
Trang 5tạo thành váng sữa Loại men này rất có lợi cho sức khỏe của trẻ nhỏ Ngược lại thì người lớn rất ít xảy ra quá trình biến đổi này.Ở trẻ em, tâm vị thường đóng không chặt nên trẻ dễ bị nôn trớ sau khi ăn
Dạ dày của trẻ nhỏ nằm cao, nằm ngang, thành dạ dày mỏng và tổ chức cơ còn ít nên trẻ
dễ bị nôn trở lại khi ăn quá nhiều Đến 12 tháng thì dạ dày bắt đầu nằm đứng, sau 7 - 11 tuổi giống người lớn
Trẻ nhỏ: phần đáy, hang vị và tổ chức tuyến chưa phát triển
Cử động ở dạ dày: co bóp trộn, co bóp đẩy
Trong dạ dày còn chứa acid HCL, chúng có tác dụng làm trương protid giúp quá trình phân giải thức ăn dễ dàng hơn Đây là hợp chất Acid không thể thiếu trong quá trình tiêu hóa thức ăn ở người
Dạ dày gồm 2 loại chất nhầy đó là hòa tan và không hòa tan Sự kết giữa hai loại chất nhầy này cùng bicacbonat tạo thành lớp màng phủ kín hành tá tràng và niêm mạc dạ dày
Từ đó mang tới tác dụng trung hòa acid, che chở, bảo vệ cũng như ngăn chặn sự phá hủy của pepsin và acid lên thành dạ dày
Quá trình tiêu hóa ở dạ dày giúp thức ăn được biến đổi thành 1 chất có tên gọi là vị trấp Trong đó gồm, 10% protid biến thành polypeptid, 1 nửa lipid đã nhu hóa phân giải thành acid béo và monoglycerid Do trong dạ dày không có men tiêu hóa, nên hầu như glucid vẫn chưa được tiêu hóa Bởi vậy, quá trình tiêu hóa thức ăn ở người tại dạ dày cũng chỉ là bước đệm cho giai đoạn tiêu hóa ở ruột non
b Quá trình tiêu hóa thức ăn ở ruột non
Quá trình tiêu hóa ở ruột non là quan trọng nhất Nhờ tác dụng của các dịch tiêu hóa như dịch mật, dịch tụy, dịch ruột, thức ăn sẽ được phân giải tới mức đơn giản nhất để có thể đào thải chất thừa ra cơ thể dễ dàng
Dịch tụy tiêu hóa lipid, protid, glucid, khi thiếu những chất này, cơ thể sẽ phản ứng và gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa trầm trọng.Acid mật là chất duy nhất có tác dụng tiêu hóa Chất này tồn tại dưới dạng kali và natri, nên thường gọi chung là muối mật.Muối mật có tác dụng nhũ hóa lipid, tăng khả năng tiếp xúc lipid với men lipase Điều này giúp cho quá trình tiêu hóa lipid có trong thức ăn dễ dàng hơn.Ngoài ra, mật còn tạo ra môi
Trang 6trường kiềm ở ruột, từ đó giúp ức chế vi khuẩn lên men, kích thích nhu động ruột hoạt động Trong ruột có đủ các loại dịch làm tăng quá trình tiêu hóa thức ăn ở người, biến đổi chất dinh dưỡng còn sót lại ở ruột thành và hấp thụ
Quá trình tiêu hóa ở ruột non mang lại kết quả như sau: Thức ăn biến đổi thành dạng sệt, protid thủy phân hoàn toàn biến đổi thành dlycerol, chất béo và các loại chất khác, Glucid thủy phân phần lớn thành glucose, fuctose và galactose Tất cả các hoạt chất này đều hấp thụ được Còn chất xơ, lõi tinh bột,… không tiêu hóa được sẽ chuyển xuống ruột già
Sự hấp thụ các chất ở ruột non
Diễn ra dọc theo chiều dài của ống tiêu hoá, nhưng chủ yếu là ở ruột non Niêm mạc miệng có thể hấp thụ một số chất như các loại thuốc Dạ dày có thể hấp thụ nước và glucôzơ rất hạn chế, nhưng lại hấp thụ rượu rất tốt Ruột già có thể hấp thụ nước rất mạnh và một ít muối khoáng Tá tràng hấp thu <8% thức ăn
Diện tích hấp thụ của ruột non rất lớn Sự hấp thụ thức ăn diễn ra theo cơ chế khuếch tán
và vận chuyển tích cực Thức ăn được vận chuyển qua thành của các lông ruột và mạch máu, mạch bạch huyết Các chất hoà tan trong nước như glucôzơ, axit amin, nước, muối khoáng và một phần axit béo được hấp thụ vào máu và phần lớn được hấp thụ vào mạch bạch huyết
c Quá trình tiêu hóa thức ăn ở khoang miệng
Quá trình tiêu hóa thức ăn bắt đầu từ miệng, nhưng trước đó, khi khứu giác cảm nhận được mùi vị của thức ăn, thậm chí là xảy ra trong suy nghĩ thì tuyến nước bọt được sản xuất Khi miệng tiếp nhận thức ăn sẽ nghiền xé và kết hợp cùng với nước bọt để nhào trộn tạo thành viên nuốt Vì hành động nuốt là tự nhiên nên khi ăn chúng ta cần phải nhai
kỹ tránh bị nghẹn
Về cơ bản, quá trình tiêu hóa ở miệng gồm 2 hành động là nhai và nuốt Đây là một trong những quá trình tiêu hóa thức ăn ở người tại khoang miệng Để làm được điều này cần có
sự kết hợp của dịch tiêu hóa – ở miệng gọi là nước bọt Trong nước bọt có chứa các chất nhầy, men amylase, men khử khuẩn và số ít men maltase Men amylase có nhiệm vụ biến tinh bột chín thành đường maltriose, dextrin và maltose Men maltase thì có tác dụng
Trang 7biến lactose thành glucose Quá trình này mang lại kết quả như sau: Lipid và Protid chưa được phân giải, 1 phần tinh bột chín được phân giải thành maltose
Do thời gian thức ăn lưu lại ở miệng là rất ngắn, sự tiêu hóa là không đáng kể nên chưa
có hiện tượng hấp thụ
Tóm lại, quá trình tiêu hóa thức ăn ở người là quá trình phức tạp nhưng nó quan trọng Vì nhớ quá trình này, thức ăn mới được chuyển hóa thành dinh dưỡng, từ đó tạo ra năng lượng nuôi sống cơ thể
Đặc điểm phát triển của các cơ quan trong hệ tiêu hóa ở trẻ Tiểu học :
Khoang miệng và niêm mạc miệng
Lưỡi dày, rộng, có nhiều gai lưỡi và nang tân
Niêm mạc miệng của trẻ em tương đối mỏng và mềm mại, có nhiều mao mạch, tuy
nhiên khá khô
Tuyến nước bọt của trẻ em
Tuyến nước bọt ở trẻ sơ sinh thường trong trạng thái phôi thai trong những tháng đầu đời Đến khoảng tháng thứ 3 – 4,tuyến nước bọt mới phát triển hoàn toàn Đây là nguyên nhân gây khô niêm mạc miệng ở trẻ.Trung bình, nước bọt ở trẻ em thường trung tính hoặc có nhẹ với pH từ 6 đến 7.8 Đối với người lớn, độ pH trong nước bọt cao hơn: từ 7,4 đến 8 Hoạt tính của các enzyme nhưenzyme Amylase trong nước bọt cũng tăng dần theo độ tuổi
Răng của trẻ em
Răng trẻ em có 20 chiếc
Răng trẻ phát triển sớm hay muộn phụ thuộc vào sự chăm sóc đặc điểm di truyền – 5-7 tuổi các răng cửa giữa vĩnh viễn mọc, thay các răng cửa giữa sữa
Thời gian này trẻ cũng mọc các răng hàm (cối lớn) thứ nhất sau răng hàm sữa thứ hai (lưu ý đây là răng vĩnh viễn, không thay)
– 7-8 tuổi các răng cửa bên vĩnh viễn mọc, thay các răng cửa bên sữa
– 9-10 tuổi các răng tiền hàm (cối nhỏ) thứ nhất mọc, thay các răng hàm sữa thứ nhất – 10-11 tuổi thay các răng nanh sữa
– 11-12 tuổi các răng tiền hàm (cối nhỏ) thứ hai mọc, thay các răng hàm sữa thứ hai Thời gian này trẻ cũng mọc các răng hàm (cối lớn) thứ hai sau răng hàm thứ nhất và đây cũng là răng vĩnh viễn, không thay
Thực quản ở trẻ em
Trang 8Các đặc điểm của thực quản là một trong những đặc điểm hệ tiêu hóa trẻ em tiêu biểu
do cơ quan này có sự thay đổi rõ nét theo từng độ tuổi
Thành và niêm mạc thực quản mỏng
Niêm mạc có nhiều mạch máu nhưng ít tổ chức tuyến.Cơ kém phát triển
Về chiều dài, tùy theo độ tuổi mà thực quản có chiều dài khác nhau Cụ thể như sau:
Về đường kính, thực quản thay đổi theo độ tuổi như sau:
Đường kính lòng thực quản (mm) 8 - 9 9 - 12 12 - 15 15 - 17
Dạ dày
Hình dáng của dạ dày có sự thay đổi dần khi trẻ lớn lên: dạ dày ở trẻ sơsinh thường
có hình tròn Khi trẻ 1 tuổi, dạ dày sẽ thuôn dài hơn và sau 7 tuổi, dạ dày sẽ có hình dáng tương tự như người trưởng thành
Dung tích của dạ dày của trẻ em
ngày
15 ngày 1
tuổi
2 tuổi 7 tuổi
Người lớn Dung tích dạ dày (cm3) 30 40 - 50 90 350 700 1000 1200
Ruột của trẻ em
Ruột cũng là một đặc điểm hệ tiêu hóa trẻ em khác biệt so với người lớn.Niêm mạc ruột có nhiều lông và nếp nhăn, nhiều mạch máu Những tính chất này tạo điều kiện cho quá trình hấp thụ dinh dưỡng Tuy nhiên, đây cũng là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và sinh trưởng
Hoạt động của các Enzyme trong dịch ruột
Ruột bao gồm hoạt động của nhiều loại enzyme khác nhau như:
Trypsin Enterokinaza và Erepsin: tiêu hóa Protein,Lipase: chuyển hóa mỡ,Mantase, Lactase và Invectin: tiêu hóa glucid,Tụy ở trẻ em thường có hình dáng và trọng lượng thay đổi theo độ tuổi
Trang 9 Đặc điểm của gan ở trẻ em:
Ở trẻ em, nhu mô gan ít phát triển nhưng các mạch máu lại phát triển mạnh, kích thước tế bào gan nhỏ và chức năng của gan chưa hoàn chỉnh Chính vì vậy, trẻ em dễ
bị rối loạn chức năng của gan và dễ bị nhiễm trùng, nhiễm độc Đến 8 - 9 tuổi, cấu trúc và chức năng của gan đã gần giống ở người trưởng thành Khối lượng và kích thước của gan ở trẻ em tăng dần theo tuổi và đến 21 tuổi thì bằng của người lớn Gan của trẻ lớn, chiếm khoảng 4.4% trọng lượng cơ thể, thường thì thùy gan trái sẽ to hơn thùy gan phải nhưng một thời gian sau thì tốc độ phát triển của gan phải sẽ nhanh hơn Tế bào gan chưa phát triển toàn diện khi trẻ chưa đạt 8 tuổi, có nhiều mạch máu trong gan, dễ phản ứng khi trẻ có tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc
Câu 2 : Vận dụng kiến thức đã học để xây dựng những cách thức chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh cho trẻ Tiểu học về hệ tiêu hóa
a) Những cách thức, lưu ý chăm sóc cho trẻ Tiểu học ở các cơ quan trong hệ tiêu hóa
Trong giai đoạn đầu đời, hệ tiêu hóa của bé chưa hoàn thiện trong khi nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng cho cơ thể tăng trưởng lại rất cao, dẫn đến mâu thuẫn giữa chức năng sinh lý với nhu cầu cơ thể Chính vì vậy, việc nắm vững đặc điểm cấu tạo hệ tiêu hóa để chăm sóc, giúp phòng ngừa hiệu quả những vấn đề tiêu hóa có thể xảy ra Hệ tiêu hóa của trẻ nhỏ có các đặc điểm sau:
- Khoang miệng: Niêm mạc khoang miệng của trẻ rất mềm, mạch máu nhiều, nước
bọt tiết ra rất ít khiến niêm mạc khô, dễ tổn thương và nhiễm trùng Để tránh tình trạng viêm, chúng ta rất cần lưu ý vệ sinh khoang miệng cho trẻ
- Dạ dày: Các lớp cơ phát triển còn yếu, co thắt bất thường nên trẻ dễ bị nôn trớ.
Thành phần dịch vị của trẻ giống người lớn nhưng số lượng và chất lượng kém hơn,
độ pH trong dịch dạ dày cao hơn nên chỉ thích hợp trong tiêu hóa, hấp thụ các thành phần lactose, protein trong sữa mẹ hơn là sữa bò Thời gian xả hết phụ thuộc vào loại thức ăn, thường cần 3-4 giờ Do đó, chúng ta cần chú ý khoảng cách thời gian cho ăn, không nên quá gần nhau
- Ruột: Ruột của trẻ em dài hơn người lớn Ở trẻ 6 tháng, ruột già dài gấp 6 lần chiều
dài của trẻ, trong khi ở người lớn chỉ dài gấp 4 lần chiều cao Diện tích ống tiêu hóa của trẻ tương đối lớn, thành ruột rất mỏng, mạch máu nhỏ dưới niêm mạc nhiều, thẩm thấu cao Trong thời gian đầu đời thành ruột ở trẻ còn mỏng, chúng ta cần đảm bảo trẻ
có một hệ tiêu hóa khỏe mạnh vừa để “tranh thủ” khả năng hấp thu của ruột vừa để tránh tình trạng đường tiêu hóa bị nhiễm trùng, chất độc dễ xâm nhập vào máu, gây ngộ độc cho trẻ
Trang 10- Ống tiêu hóa của trẻ em là nơi tiếp xúc trực tiếp với môi trường, thường xuyên chịu tác động của các tác nhân gây nguy hiểm cho cơ thể Rối loạn hoạt động tiêu hóa còn
có thể do các sinh vật sống kí sinh trong ruột như giun, sán, trùng amip… gây ra Các biện pháp vệ sinh chăm sóc hệ tiêu hóa cơ bản nhất là: ăn uống hợp vệ sinh như rửa tay cho trẻ trước khi ăn, dụng cụ ăn uống phải sạch sẽ; Phải vệ sinh răng miệng đúng cách sau khi ăn; Phải cho trẻ em ăn uống điều độ, đúng giờ, đủ lượng.Ăn uống hợp vệ sinh để tránh các tác nhân gây hại cho các cơ quan tiêu hóa.Thiết lập khẩu phần ăn hợp lí
để đảm bảo đủ dinh dưỡng và tránh cho các cơ quan tiêu hóa phải làm việc quá sức.Ăn chậm nhai kĩ: ăn đúng giờ, đúng bữa, hợp khẩu vị; tạo bầu không khí vui vẻ thoải mái khi ăn; sau khi ăn cần có thời gian nghỉ ngơi hợp lí để sự tiêu hóa được hiệu quả Khẩu phần
ăn phải được tính toán kĩ để đảm bảo cung cấp đủ lượng và đủ chất trong từng bữa ăn hàng ngày
b) Giáo dục cách chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh cho trẻ về hệ tiêu hóa
1 Tiêu chảy
Tiêu chảy là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ Nguyên nhân có thể do nhiễm virus hoặc vi khuẩn Tiêu chảy ở trẻ nhỏ là bệnh thường gặp, nhưng nếu để tiêu chảy kéo dài, trẻ sẽ bị mất nước và điện giải Bố mẹ cần bù nước và điện giải cho bé kịp thời bằng dung dịch bù nước và điện giải (Oresol) Cho trẻ uống đúng cách, uống từng ít một, uống liên tục và rải rác trong ngày
2 Táo bón
Táo bón là biểu hiện thường gặp ở trẻ Bé bị táo bón khi số lần đi đại tiện ít hơn bình thường, phân rắn hơn Trẻ đôi khi bị đau quặn bụng mỗi khi đi đại tiện, rặn khi đi vệ sinh, đau rát, thậm chí nứt kẽ hậu môn dẫn đến chảy máu Bệnh có thể gặp ở trẻ lười ăn rau và các thực phẩm giàu chất xơ, ít uống nước, nhưng cũng có thể gặp ở những trẻ bị