1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Học thuyết về tâm hồn của aristote và đỉnh cao tâm lý học cổ đại

15 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của Tâm lý học nằm trong sự phát triển của Triết học đã nảy sinh một cách tất nhiên vì đối tượng của suy luận triết học là nhằm giải thích hợp lý thế giWi nói chung, trong

Trang 1

TIỂU LUẬN KT THC HỌC PHẦN

MÔN: LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC GVHD: ThS LÊ DUY HÙNG

HỌC THUYT VỀ TÂM HỒN CỦA

ARISTOTE

ĐỈNH CAO TÂM LÝ HỌC CỔ ĐẠI

SVTH: NGUYỄN THỊ ÁNH NGÂN MSSV: 42.01.611.065

Lớp: 42.01.TLH.A

Tp Hồ Chí Minh tháng 06/2018

KHOA TÂM LÝ HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1: NHỮNG NÉT CHUNG VỀ ARISTOTE 5

1.1 Tiểu sử của Aristote 5

1.2 Một số công trình của Aristote 5

1.3 Các cơ sở để hình thành học thuyết của ông 6

Chương 2: NỘI DUNG CỦA HỌC THUYẾT VỀ TÂM HỒN 8

2.1 Khái niệm tâm hồn 8

2.2 Học thuyết về các quá trình nhận thức 8

2.3 Học thuyết về cảm xúc 10

2.4 Học thuyết về ý chí 11

2.5 Học thuyết về tính cách 11

Chương 3: ĐÁNH GIÁ 12

3.1 Ưu điểm 12

3.2 Hạn chế 13

KIN NGHỊ 14

1 Đối vWi bản thân 14

2 Đối vWi công tác giáo dục 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Từ xa xưa, Tâm lý học được xem như một ngành của Triết học nhằm nghiên cứu “linh hồn” vì vậy lịch sử của nó bắt đầu từ những dấu vết đầu tiên của tư tưởng con người Sự phát triển của Tâm lý học nằm trong sự phát triển của Triết học đã nảy sinh một cách tất nhiên vì đối tượng của suy luận triết học là nhằm giải thích hợp lý thế giWi nói chung, trong đó bao gồm có con người và tâm hồn của họ Cho đến khi con người nhận ra rằng có một loại hiện tượng là “tâm hồn” mà con người cần phải để tâm xem xét và cần có một khoa học nghiên cứu riêng về nó thì Tâm lý học được tách riêng ra thành một ngành khoa học độc lập [10]

Lịch sử Tâm lý học được phân thành hai thời kì rõ rệt:

- Khi các tri thức về tâm lý học phát triển trong lòng triết học và các ngành khoa học khác, mà trưWc hết là các ngành khoa học tự nhiên (từ thế kỷ

VI TCN đến giữa thế kỉ XIX)

- Khi tâm lý học phát triển như một ngành khoa học độc lập (giữa thế kỉ XIX đến nay) Tại giai đoạn từ thế kỷ VI TCN đến giữa thế kỉ XIX nội dung nghiên cứu đã nảy sinh những khái niệm khoa học về tâm lý học và những khởi sắc, phát triển đầu tiên Từ đó, Tâm lý học là khoa học về tâm hồn và hình thành hai xu hưWng: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Đồng thời cũng hình thành những tri thức đầu tiên về các quá trình tâm lý – cảm giác (tri giác), trí nhW, tưởng tượng, tư duy, ý chí: tìm ra vấn đề về quan hệ giữa tâm hồn và cơ thể, chỉ ra cảm giác bên trong như là phương thức nhận thức[4] [10]

TrưWc khi Tâm lý học trở thành một ngành khoa học độc lập năm 1879 bằng việc giáo sư người Đức,Wilhelm Wundt (1832-1920) thành lập phòng thí nghiệm chính thức đầu tiên nghiên cứu về Tâm lý tại trường Đại học Leipzig (Đức), một sự kiện đánh dấu Tâm lý học ra đời [9]; chúng ta cần nhấn

Trang 4

mạnh đến tác phẩm “Bàn về tâm hồn” của nhà Triết học Aristote (384-322 TCN) [1] Tác phẩm này được xem như là tác phẩm khoa học đầu tiên của Tâm lý học và là tiền đề cho sự phát triển của các giai đoạn về sau [3] Đồng

thời học thuyết về tâm hồn của Aristote đuợc trình bày trong tác phẩm “Bàn

về tâm hồn” cũng chính là đỉnh cao của các tư tưởng tâm lý học thời cổ

đại[8]

VWi định hưWng tương lai sẽ giảng dạy kĩ năng sống, tôi lựa chọn quan điểm của Aristote vWi tác phẩm“Bàn về tâm hồn” được coi như là đỉnh cao của tư duy khoa học thời cổ Hy Lạp [2] để tìm hiểu sâu về các tư tưởng của ông nhằm hiểu cơ bản về Tâm lý học Hy Lạp cổ đại và sự biến chuyển của nó; hiểu thêm các góc nhìn đa dạng về tâm lý người khi mà Aristote bất đồng quan điểm vWi thầy dạy của mình là Platon [10], từ đó chấp nhận tính chủ thể của tâm lý người, chấp nhận sự khác biệt trong góc nhìn và cách suy nghĩ của mỗi cá nhân, mỗi học sinh; nhận ra các mốt nhất thời và tránh những sai lầm lặp lại của các tư tưởng đặc biệt là trong quá trình giáo dục kĩ năng sống; đây cũng chính là nguồn mạch các ý tưởng để xây dựng bài dạy kĩ năng sống sáng tạo, gây hứng thú và hiệu quả, đánh giá kết quả giảng dạy khách quan và hiệu suất

Học thuyết của Aristote còn thống trị mãi đến thế kỷ XVII [1], vậy học thuyết của ông như thế nào? Tại sao nói tác phẩm bàn về tâm hồn của ông là đỉnh cao của tâm lý học cố đại? Nguyên nhân gì làm cho học thuyết này thống trị thời gian dài như vậy và lý do đến thế kỷ XVII học thuyết đã không còn giữ vị trí thống trị? Ứng dụng những giá trị của học thuyết ấy như thế nào? Bài học đặt ra từ học thuyết ấy ra làm sao? Để tìm hiểu sâu hơn những câu hỏi ấy tiểu luận kết thúc học phần môn Lịch sử tâm lý học vWi đề tài

“HỌC THUYẾT VỀ TÂM HỒN CỦA ARISTOTE VÀ ĐỈNH CAO TÂM LÝ HỌC CỔ ĐẠI” được xác lập

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NÉT CHUNG VỀ ARISTOTE

1.1 Tiểu sử của Aristote:

- Aristote (384-322 TCN) tên gốc Hy Lạp là

Aristotlelês nghĩa là “mục đích tốt nhất”, là tác giả vĩ đại nhất của Tâm lý học cổ đại, sinh ở Stagire thuộc xứ Macédoine miền Bắc Hy Lạp cách Athènes 200 dặm, mất tại Chaleis thuộc Eubée hưởng thọ 62 tuổi

- 18 tuổi ông trở thành học viên trong Học viện

của Platon khi ấy Phlaton đã 60 tuổi Ông là đồ

đệ ưu tú nhất của Platon - người đại diện cho cả một trường phái duy tâm ngày ấy, tuy nhiên sau này chính ông là người lên tiếng phê phán sai lầm của học thuyết Platon

- Sống ở Athènes 20 năm sau đó ông chuyển đến Tiểu Á dạy học, nghiên cứu khoa học và là thầy của Alexandre Maxedoan

- Về già ông quay lại Athènes lập trường trung học và nghiên cứu tại đây

- Aristote được xem như là cha đẻ của Khoa học lý luận Cùng vWi Platon và Socrates, Aristote là một trong ba trụ cột văn minh Hy Lạp cổ đại [2],[5],[8], [10]

1.2 Một số công trình của Aristote:

- Aristote đã nghiên cứu và viết rất nhiều, đủ các ngành: Triết học, Siêu hình, Chính trị, Tâm lý, Vạn vật, Vật lý, Đạo đức,…ngày nay gộp lại xuất bản thành bốn tập dày gần 2000 trang [2]

Trang 6

- Một số quan điểm của Aristote:

+ “Thầy đã quý, chân lý còn quý hơn”

+ “Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ, càng nặng rơi càng nhanh”

+ “Nếu có lực tác dụng vào vật thì tốc độ chuyển động của vật sẽ tỉ lệ thuận vWi lực tác dụng” [5]

- Trong lĩnh vực Tâm lý học, một trong những đỉnh cao của tư duy khoa học

thời cổ đại là cuốn sách “Bàn về tâm hồn” của Aristote Đây là tác phẩm đầu

tiên của nhân loại nghiên cứu có hệ thống về tâm hồn, đây cũng chính là bưWc

mở đầu cho chặng đường đầy khúc khuỷu, quanh co và dài dằng dặc của sự phát triển Tâm lý học sau này [2]

1.3 Các cơ sở để hình thành học thuyết của ông:

 Bối cảnh chung :

- Hy Lạp nằm ở miền Đông Địa Trung Hải, cái nôi của nền văn minh nhân loại

- Thời điểm thay đổi chế độ cộng sản nguyên thủy bằng chế độ chiếm hữu

nô lệ Tâm lý học ra đời trong thời điểm này vWi tư cách như sự phản ánh của thực tiễn xã hội liên quan đến khoa học lúc bấy giờ, đã giải thích tính đặc thù trong khái niệm con người (trong đó có học thuyết về tâm hồn)

- Tâm lý học Hy Lạp cổ đại được nuôi dưỡng bởi tính nhân văn của văn hóa

Hy Lạp của những tư tưởng phát triển hài hòa của cơ thể và tâm hồn; bởi nền văn minh về một cơ thể sống, khỏe mạnh, xinh đẹp; bởi tình yêu đối vWi cuộc sống trên Trái Đất

- Tâm lý học cổ đại Hy Lạp là khởi nguồn của toàn bộ nền khoa học tâm lý, của tất cả các vấn đề cơ bản liên quan đến tâm lý [3],[5]

Trang 7

 Tư tưởng của Democritus :

- Học thuyết về tâm hồn của Aristote chịu ảnh hưởng của tư tưởng của Democritus, đặc biệt là thuyết nguyên tử luận giúp Aristote xây dựng khái niệm tâm hồn

- Thuyết nguyên tử luận của Democritus là một tư tưởng duy vật táo bạo về tâm hồn con người

- Tuy nhiên học thuyết vẫn là điển hình của quan điểm tự nhiên, thô sơ, mộc mạc, máy móc, còn chứa nhiều yếu tố siêu hình và không khoa học Học thuyết còn ảnh hưởng bởi quan niệm duy tâm khi xem xét đời sống vật chất và tinh thần cụ thể của con người [1],[4],[8]

 Học thuyết của Platon :

- Platon là thầy giáo của Aristote nên những tư tưởng của Platon ảnh hưởng rất nhiều tWi Aristote mặc dù sau này chính Aristote đã phê phán những sai lầm của thầy mình, nhưng chính những phê phán ấy đã làm cho học thuyết của ông trở thành đỉnh cao của tâm lý học cổ đại vWi tư cách là một học thuyết duy vật

- Platon là ông tổ của chủ nghĩa duy tâm triết học ở Tây Âu, ông đã kéo các nhà triết học, tâm lý học đi vào các khía cạnh hiện thực của cuộc sống con người là lĩnh vực đạo đức trí tuệ thay vì sự ngự trị gần 200 năm của các con

số Pythagore Điều này có ý nghĩa to lWn đối vWi sự phát triển tâm lý học mặc dù khi giải thích nó ông lại giải thích bằng quan điểm duy tâm

- Nhìn tâm hồn theo quan điểm cấu trúc, chức năng và có thứ bậc – bưWc tiến lWn – nền tảng cho Aristote xây dựng học thuyết về tâm hồn của mình

- Vấn đề của Platon đã gây ra nhiều tranh cãi và đó là động lực để Aristote đi tìm lời giải thích mWi và đã hình thành nên học thuyết về tâm hồn của chính mình (Aristote) [1],[2],[8]

Trang 8

Chương 2 NỘI DUNG CỦA HỌC THUYT VỀ TÂM HỒN

2.1 Khái niệm tâm hồn:

Khái niệm tâm hồn xuất hiện khá lâu trưWc cả khi xuất hiện khái niệm khoa học đầu tiên TrưWc Aristote, các nghiên cứu về tâm hồn có ba quan niệm chính:

- Tâm hồn là cái có khả năng vận động cao nhất vì nó tự vận động

- Tâm hồn mang tính chất thân thể cấu tạo nên từ các hạt khác

- Tâm hồn hợp bởi các yếu tố đất, nưWc, khí, lửa

Aristote đã phê phán sai lầm của thầy mình (Platon) và viết nên tác phẩm tâm lý học đầu tiên trong lịch sử “Bàn về tâm hồn” gồm 3 cuốn và 30 chương Theo Aristote, tâm hồn là hình thức của một cơ thể sống Tâm hồn làm cho cơ thể sống động Tâm hồn có bản chất cơ thể, là nguyên nhân, mục đích của mọi hành động cơ thể

Aristote phê phán Platon về việc tách tâm hồn ra thành các bộ phận riêng

lẻ Theo Aristote tâm hồn là một thể thống nhất và tâm hồn có ba thứ bậc:

- Tâm hồn thực vật (dinh dưỡng) đảm bảo chức năng nuôi dưỡng sinh nở

- Tâm hồn cảm giác (giác hồn) thị cảm, đảm nhận chức năng cảm thụ, ưWc mong và vận động

- Tâm hồn trí tuệ (lý tính) đảm nhận chức năng lý giải, lập luận, biểu tượng, tưởng tượng

Theo ông, các loài thực vật chỉ có tâm hồn dinh dưỡng, các loài động vật

có cả tâm hồn dinh dưỡng và tâm hồn cảm giác, chỉ có con người mWi có cả

ba loại tâm hồn trên

2.2 Học thuyết về các quá trình nhận thức:

Trang 9

Khởi nguồn của nhận thức là năng lực cảm giác Cảm giác xuất hiện do có tác động từ bên ngoài, do vậy nó là trạng thái thụ động Việc tri giác được diễn ra gián tiếp thông qua năm giác quan nhận cảm bên ngoài và được thực hiện bởi tâm hồn cũng như bởi cơ thể Năm giác quan tương ứng vWi năm cảm giác tương ứng, ngoài ra, Aristote còn nêu ra loại cảm giác chung vWi một loạt các chức năng của chúng: tri giác các phẩm chất chung và sự ý thức đang có cảm giác, tri giác và so sánh, liên kết cảm giác vào hình ảnh của đối tượng tồn tại ở mỗi người Loại cảm giác chung không có cơ quan nhận cảm tương ứng vì nó chính là tâm hồn

Aristote phủ nhận sự phát tỏa Cảm giác, tri giác là do chuyển động của sự vật hiện tượng xung quanh tạo ra chuyển động xuyên qua các môi trường khác nhau dẫn đến sự thụ cảm, do đó mỗi giác quan nhạy cảm vWi những môi trường nhất định

Cảm giác mang lại những sự thật trực tiếp còn việc bảo tồn và tái hiện được thực hiện là do trí nhớ Có ba loại trí nhW:

- Trí nhW cấp thấp để bảo tồn các cảm giác thu được ở dạng bản sao các đối tượng Dạng này có ở tất cả các động vật

- Trí nhW theo đúng nghĩa của nó được xác định bởi việc mỗi một hình ảnh đều có liên kết vWi một đặc tính thời gian Dạng này chỉ tồn tại ở những động vật có khả năng tri giác thời gian

- Trí nhW cao cấp, chẳng hạn như nhW lại, hồi tưởng lại, trong đó có sự tham gia của suy luận Dạng này chỉ có ở người

Luật liên tưởng bao gồm: tương cận, thường xuyên, tương tự, tương phản Biểu tượng hay viễn tượng nhằm hình thành những tưởng tượng Tưởng tượng là năng lượng của cơ quan cảm giác, không cần sự tác động từ bên ngoài Tưởng tượng là sự giữ lại hiệu quả của kinh nghiệm quá khứ Biểu tượng có nguồn gốc là cảm giác nhưng không phải là cảm giác Ở động vật, biểu tượng rất phát triển và là năng lực thay thế cho tư duy Từ biểu tượng,

Trang 10

Aristote phát triển các học thuyết về giấc mơ và lý giải chúng rất duy vật (ông

lý giải giấc mơ là kinh nghiệm quá khứ) Các hình ảnh đã được khái quát hóa của biểu tượng là cơ sở nền tảng cho tư duy

Tư duy được đặc trưng bởi các thành phần của suy luận, đọng lại ở các

khái niệm và đưa ra những cái chung Cái chung là cái luôn luôn có và ở khắp mọi nơi Cơ quan tư duy là “nus” – một phần của tâm hồn, chỉ tồn tại ở người, nhưng không được gắn vào bất kì một bộ phận cơ thể nào của cơ thể Aristote cũng phân biệt có tư duy cấp thấp và tư duy cấp cao:

- Tư duy cấp thấp: là các ý kiến, các câu không chứa sự khẳng định về một cái gì đó, không trả lời được câu hỏi tại sao

- Tư duy cấp cao: khám phá ra cơ sở cuối cùng của chân lý Khách thể của tư duy là các đồ vật Có ba dạng tư duy cao cấp: suy luận, logic và tranh luận

Loại tư duy nào cũng cần thiết, tùy trường hợp

Để định hưWng cho tư duy, tương ứng Aristote chia ra làm hai loại trí tuệ là

lý luận và thực hành Thực chất hai loại trí tuệ này đối lập nhau

Các năng lực nhận thức không tồn tại riêng lẻ mà đều có khởi nguồn từ cảm giác Do đó quy trình tư duy bao gồm: cơ thể - môi trường bên ngoài – cảm giác – tưởng tượng – tư duy [1],[2],[8]

2.3 Học thuyết về cảm xúc:

Aristote mô tả cảm xúc thỏa mãn hay không thỏa mãn là các chỉ số về sự hưng thịnh hoặc kìm hãm các chức năng của tâm hồn (hay cơ thể) Cảm xúc được xem xét trong mối quan hệ mật thiết vWi hoạt động: luôn diễn ra cùng và

là nguồn gốc của hoạt động

Vấn đề kích động được Aristote nghiên cứu đặc biệt tỉ mỉ Kích động là trạng thái thụ động được gây ra bởi tác động nào đó làm cho con người thiếu suy nghĩ, thiếu định hưWng và làm thay đổi phản ứng vốn có của mình dẫn đến sự biến đổi trong cơ thể

Trang 11

Aristote đánh giá tưởng tượng có vai trò cấu thành quyết định đối vWi kích động và muốn làm sạch kích động cần có ảnh hưởng của màu sắc nghệ thuật, trải nghiệm mang màu sắc đạo đức [1],[2]

2.4 Học thuyết về ý chí:

Học thuyết về ý chí được Aristote phát triển trong mối quan hệ vWi đặc tính của hành động Thực chất, ý chí được Aristote đưa ra như một quá trình

có liên quan đến bản chất xã hội và sự hiểu biết của con người về nghĩa vụ xã hội

Hành động ý chí xuất hiện chỉ khi con người có động cơ và chủ định Vì thế ở đâu có trí tuệ ở đó có ý chí (động vật, trẻ nhỏ và người bệnh tâm thần không có ý chí) Hành động ý chí là tự do và có trách nhiệm [1]

2.5 Học thuyết về tính cách:

Sự ổn định của tính cách là cái mà Aristote đối lập vWi kích động Tính cách không phải là cái bẩm sinh, các khía cạnh của nó được hình thành như kết quả của sự tích lũy kinh nghiệm [1]

Trang 12

Chương 3 ĐÁNH GIÁ

3.1 Ưu điểm:

Học thuyết về tâm hồn của Aristote giữ vai trò thống trị trong một khoảng thời gian rất dài (đến giữa thế kỉ XVII) vì học thuyết có rất nhiều ưu điểm đã khắc phục phần lWn các hạn chế của học thuyết Platon và tư tưởng của Democritus

Kế tụng tư tưởng của Platon và Democritus đồng thời mạnh dạn chỉ ra và phê phán những sai lầm trong học thuyết ấy để hình thành nên học thuyết về tâm hồn mang màu sắc duy vật

Aristote cho rằng tâm hồn là một lĩnh vực riêng biệt (cho ra đời tác phẩm

“Bàn về tâm hồn”) chứ không phải là một tồn tại tự nó, học thuyết về tâm

hồn của ông mang tính chất duy vật

Đưa tác phẩm “Bàn về tâm hồn” trở thành đỉnh cao tâm lý học cổ đại Học thuyết của Aristote về tâm hồn dựa trên sự phân tích rất nhiều số liệu kinh nghiệm, các đặc trưng của cảm giác, tư duy, cảm xúc, kích động, ý chí,

đã chỉ ra điểm khác về chất giữa con người và động vật [1]

Aristote đã xếp đặt về trình tự (của các loại tâm hồn, của các loại trí nhW, các loại tư duy) theo kiểu cấp độ càng ngày càng phức tạp và đây là một phương pháp tư duy khoa học theo kiểu hệ thống mà hiện nay chúng ta vẫn đang làm [8]

Aristote thừa nhận trong nhận thức nói chung, bao giờ cũng có hoạt động của chủ thể nhận thức

Niềm tin vào khả năng nhận thức tự nhiên của con người và một số vấn đề

về trí tuệ còn được sử dụng đến ngày nay

Đề xuất một cách sơ khai phương thức trị liệu xã hội (dùng ảnh hưởng nghệ thuật để làm sạch kích động)

Ngày đăng: 26/04/2022, 19:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Aristote đã nghiên cứu và viết rất nhiều, đủ các ngành: Triết học, Siêu hình, Chính trị, Tâm lý, Vạn vật, Vật lý, Đạo đức,…ngày nay gộp lại xuất bản thành bốn tập dày gần 2000 trang [2] - Học thuyết về tâm hồn của aristote và đỉnh cao tâm lý học cổ đại
ristote đã nghiên cứu và viết rất nhiều, đủ các ngành: Triết học, Siêu hình, Chính trị, Tâm lý, Vạn vật, Vật lý, Đạo đức,…ngày nay gộp lại xuất bản thành bốn tập dày gần 2000 trang [2] (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w