Nhưng quan điểm đúng nhất về tội phạm là “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý h
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA : TIẾNG TRUNG
TIỂU LUẬN
CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ
-VÀ THỰC TIỄN
Học phần : PHÁP LUẬT ĐỊA CƯƠNG - S4 - GĐ2 - POLI190334
Họ và tên : Hồ Thị Bích Cẩm
Mã số sinh viên : 47.01.754.076
Lớp học phần : POLI190334
TP HỒ CHÍ MINH – 2022
Trang 2Lời nói đầu
Tội phạm đang là mối lo ngại hàng đầu của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Ngày nay bên cạnh sự phát triển của đất nước thì tội phạm lại càng nhiều
và yêu cầu phải đặt ra bộ luật để kiểm soát ngăn ngừa tội phạm để trở thành một đất nước có an ninh trật tự an toàn xã hội Để cùng sánh vai cùng các nước năm châu trên thế giới Ngày nay tội phạm ngày một tinh vi, xảo quyệt để phi tang vật chất và nhân chứng, điều này gây kó khăn rất nhiều cho tổ điều tra trinh sát truy bắt tội phạm
Trang 3MỤC LỤC
A NỘI DUNG
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM
I.Khái niệm tội phạm 1
II.Cấu thành tội phạm 1
1 Những vấn đề chung về cấu thành tội phạm 1
1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm 1
1.2 Phân loại cấu thành tội phạm 2
1.3 Các yếu tố cấu thành tội phạm 2
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TỘI PHẠM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 1 Đánh giá chung về tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay 8
2 Giải pháp ngăn ngừa, phòng chống tội phạm 10
3 Một số bất cập trong việc phòng chống tội phạm ở nước ta hiện nay 11
Kết luận 13
Trang 4
A LÝLUẬN
Chương I : Những vấn đề chung về tội phạm
I Khái niệm tội phạm
Nghiên cứu về tội phạm là vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của bộ luật hình
sự Việt Nam Bởi lẽ tội phạm luôn là đối tượng mà nhà nước luôn không ngừng đấu tranh và phòng ngừa Có nhiều khái niệm khác nhau về tội phạm Nhưng quan điểm đúng nhất về tội phạm là “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc ,xâm phạm chế độ chính trị ,chế độ kinh tế, nền văn hóa quốc phòng an ninh trật tự
an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”
Từ đó ta có thể nêu ra khái niệm ngắn gọn của tội phạm như sau: “tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định tại bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm đến các quan hệ xã hội được bộ luật hình sự xác lập và bảo vệ Ví dụ về tội phạm như là : cướp giật tài sản, giết người, buôn bán
ma túy, săn bắt động vật quý hiếm
II Cấu thành tội phạm
1 Những vấn đề chung về cấu thành tội phạm
1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm
Mỗi loại tội phạm xảy ra trong thực tế đều rất đa dạng và phong phú Những trường hợp cùng phạm một loại tội thì đều có những đặc điểm chung nhất định
và dựa vào những đặc điểm chung đó mà quy định thành các loại tội phạm cụ thể
Mỗi loại tội phạm cụ thể lại chứa đựng những dấu hiệu của tội phạm chung
và những dấu hiệu đặc thù riêng Tổng hợp tất cả các dấu hiệu đó là cấu hình tội
Trang 5phạm
Như vậy cấu thành tội phạm là tổng hợp tất cả các dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng của loại tội phạm cụ thể được quy định trong bộ luật hình sự Cấu thành tội phạm ính là cơ sở pháp lí để phân biệt các loại tội phạm và truy cứu ch trách nhiệm hình sự đối với tội phạm Ngoài ra thì cấu thành tội phạm là yếu tố mà nhà nước và pháp luật đảm bảo các quyền của công dân, của con người, là ranh giới
để xử lí giữa hành vi đã cấu thành tội phạm và chưa cấu thành tội phạm
Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có mối quan hệ cặt chẽ với nhau, thiếu một dấu hiệu sẽ không cấu thành tội phạm
1.2 Phân loại cấu thành tội phạm
Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà chia cấu thành tội phạm thành : cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ
Cấu thành tội phạm tăng nặng bao gồm những dấu hiệu định tội và những dấu hiệu thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên rõ rệt
Cấu thành tội phạm giảm nhẹ bao gồm những dấu hiệu định tội và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội giảm đi rõ rệt
Cấu thành tội phạm cơ bản là tổng hợp tất cả các dấu iệu đặc trưng, bắt buộc h với mọi trường hợp phạm tội của một loại tội, phản ánh bản chất của loại tội đó và cho phép phân biệt được loại tội phạm này với cái loại tội phạm khác Nội dung của cấu thành tội phạm được thể hiện ở khoảng 1 của đa số các tội phạm Ví dụ như tội trộm cắp tài sản ( khoảng 1 điều 138 bộ luật hình sự ), tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng ( khoảng 1 điều
202 bộ luật hình sự )
Căn cứ vào cấu trúc của cấu thành tội phạm mà phân cấu thành tội phạm thành : cấu thành tội phạm hình thức, cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hỗn hợp
1.3 Các yếu tố cấu thành tội phạm
Cấu thành tội phạm cơ bản bao gồm 04 yếu tố sau: mặt khách quan, mặt chủ
Trang 6quan, chủ thể, khách thể
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Những dấu hiệu thuộc về khách quan của tội phạm gồm những hành vi nguy hiểm cho xã hội: tính trái pháp luật của hành vi; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm; ngoài ra còn có các dâu hiệu khác nhau như: phương tiện, công
cụ, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, thực hiện tội phạm
- Hành vi gây nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra hoặc đã đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Các quan hệ xã hội đó là : Các quan hệ đó là: độc tập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, Nên văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp cửa tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm, tự
do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Nếu thiệt hại mà tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra không đáng kể thì không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội và không bị coi là tội phạm Ví dụ : trộm cắp chưa đến 2 triệu đồng mà chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc đã
bị kết án nhưng đã được xóa án tích thì không bị coi là tội phạm
Việc đánh giá hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội phụ thuộc vào tình hìn phát triển xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của nhà nước và nhân dân heo điều 173 Bộ Luật hình sự 2015 ( sửa đổi năm 2017) T quy định về tội trộm cắp tài sản như sau : Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
Trang 7Ví dụ : nếu như trước đây trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng bị cho là tội phạm gây nguy hiểm cho xã hội thì theo luật hình sử 2015 ( sửa đổi 2017) thì không bị coi là tội phạm gây nguy hiêmr cho xã hội nữa Ngược lại những hành vi trước đây không bị coi là tội phạm gây nguy hiểm cho xã hội thì bây giờ lại được coi là tội phạm gây nguy hiểm cho xã hội Ví dụ như : xâm phạm quyền bầu cử , ứng cử của công dân
Khi đã xác định một hành vi là gây nguy hiểm cho xã hội tức là được coi là tội phạm tuy nhiên người đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không phụ thuộc vào các yếu tố kác như : tuổi chịu trách nhiệm hình sự, lỗi chịu trách nhiệm hình sự
Mặt chủ quan của cấu thành tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra
Hoạt động của con người luôn là hoạt động có ý thức Một hành động của con người luôn thống nhất giữa mặt bên trong và mặt bên ngoài Và tội phạm cũng vậy Tuy nhiên mặt bên trong của tội phạm rất khó thấy được và chỉ khi biểu hiện bằng hành động cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội bằng hậu quả tác hại, bằng thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện,công cụ thực hiện tội phạm
Mặt bên trong của tội phạm là diễn biến tâm lý của tội phạm nên diễn biến này gồm các dấu hiệu: lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm
Lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có , hành vi gây nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm khi hành vi đó có lỗi Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả của hành
vi đó gây ra được biểu hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Có 4 loại lỗi: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, vô ý do quá tự tin, vô ý do cẩu thả
- Lỗi cố ý trực tiếp : là lỗi của một người khi thực hiện ành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy
Trang 8trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra
Ví dụ : bà A có chồng là Nguyễn Văn B, B nhiều lần uống rượu say và đánh đập, chửi mắng vợ Không thể chịu đựng được hành động vũ phu này của chồng nên Bà A đã làm đơn xin ly hôn nhưng chưa được giải quyết Một hôm ông B đi nhậu về và tiếp tục đánh đập, chửi mắng bà thậm tệ.Do quá uất
ức, tủi nhục nên tối đó bà đã giấu con dao dưới gầm giường và đợi khi chồng ngủ say bà đã đâm nhiều nhát vào bụng ông B khiến ông tử vong tại chỗ
Trình tiết vụ án đáp ứng quy định của bộ luật hình sự về lỗi cố ý trực tiếp vì : Thứ nhất: Bà A biết rõ hành vi dùng dao đâm vào bụng nạn nhân sẽ chết, đâm vào bụng sẽ chết ( gây nguy hiểm o xã hội ) ch
Thứ hai : Bà A biết rõ hành động của mình sẽ gây cái chết cho người chồng ( thấy trước được hậu quả của hành vi)
Thứ ba : Bà A mong muốn chồng sẽ chết thể hiện qua việc bà đâm nhiều nhát vào bụng gây tử vong cho ông B ( mong muốn hậu quả đó xảy ra )
- Lỗi cố ý gián tiếp : là lỗi của một người khi thực hiện hành vi gây nguy hiểm
co xã hội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
Ví dụ : Buổi sáng ông B ra bờ sông chay bộ, trong lúc chạy bộ ông nhìn thấy
bà D đang bị đuối nước, do có thù hằn với bà D nên ông B đã không cứu bà
D và hậu quả bà D chết
Trong trường hợp này thì lỗi của ông B được xác định theo quy định của bộ luật hình sự là lỗi cố ý gián tiếp :
Thứ nhất : Điều 132 luật hình sử năn 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017) Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng
1 Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó
Trang 9chết, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
Thứ hai : ông B biết rõ hành vi không cứu người của mình là gây nguy hiểm cho bà B nhưng vẫn thản nhiên bỏ mặt bà D ( Nhận thức được hành
vi gây nguy hiểm cho xã hội)
Thứ ba : ông B biết rõ hành động của mình sẽ gây nên cái chết cho bà D tuy không mong muốn nhưng vẫn để mặc cho hậu quả xảy ra
- Lỗi cố ý do quá tự tin : là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy hành
vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả
đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây
ra hậu quả nguy hại cho xã hội
Ví dụ : Ông K là chủ nhà thuê ông S chặt cây cho nhà mình Ông S sai con là
X và N là cháu nội cùng chặt cây thuê cho ông K Theo hợp đồng thì, hai cây ở phía sau vườn cho đổ vào vườn, gần bở ao, còn cây phía trước nhà cho
đổ vào phía sân nhà Ông S chặt xong hai cây phía bờ ao, cho đổ an toàn Khi chặt cây hía trước nhà gần đổ, ông S cho con trai và cháu nội buộc sợi dây thừng vào ngọn cây để kéo cho đổ vào sân nhà, còn ông S tiếp tục chặt gốc Khi cây gần đổ ông S đề nghị ông M cho người ra ngoài đường canh chừng đề phòng cây đổ gây nguy hiểm Cùng lúc đó bà B đi ngang qua đoạn đường cây sắp đổ Ông S hô to: "Bà kia, cây đổ tránh ra, chết bây giờ" Bà B
bị điếc không nghe thấy nên cứ đi vào khu vực cây sắp đổ, X và N ra sức kéo dây thừng để cây đổ vào phía sân nhà nhưng ngọn cây nặng, hai người không kéo nổi, nên đổ quật ra đường, đập vào đầu bà B , làm bà B chết tại chỗ
Sự việc làm chết người có đặc điểm của hình thức với lỗi vô ý phạm tội do quá tự tin vì:
- Ông S thấy trường việc chặt cây của mình có thể gây nguy hiểm, có khả năng gây ra thiệt hại, vì vậy ông S đã đề nghị ông K cho người cảnh giới coi chừng ngoài đường, đồng thời hô to khi thấy bà đi vào khu vực nguy hiểm;B
- Ông S tin rằng con trai và cháu nội mình sẽ kéo được ngọn cây vào phía
Trang 10sân nhà, sẽ ngăn ngừa được hậu quả tác hại, mặc dù vậy hâu quả chết người vẫn xảy ra ngoài ý muốn của ông S
- Vô ý do cẩu thả : là lỗi trong trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả mặc dù điều kiện khách quan buộc họ phải thấy trước hậu quả
đó
Ví dụ : Ông P thường xuyên đi săn với bạn bè Trong một lần đi săn do nhầm chị M là thú nên ông P đã bắn nhầm bà M và làm chết chị M Khi cơ quan công an điều tra ông P khái báo rằng mình không cố ý bắn chị M, việc chị M chết là ngoài ý muốn
Trong trường hợp này thì lỗi của ông P được xác định là lỗi vô ý do cẩu thả Bởi địa điểm đi săn là nơi thỉnh thoảng có người qua lại nên khi đi săn ông P phải có trách nhiệm quan sát kĩ tránh làm bị thương người khác Nếu như lúc ngắm bắn ông quan sát kĩ càng và cẩn thận hơn thì ông sẽ nhầm chị M là thú thì sẽ không gây ra cái chết cho chị M Hành vi không quan sát của ông P là cẩu thả, thiếu trách nhiệm khi đi săn
Là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm phạm
Ví dụ : Tội giết người xâm phạm quan hệ nhân thân, tội trộm cắp tài sanbr xâm phạm quan hệ tài sản
d Chủ thể của tội phạm : là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi luật định hoặc pháp nhân thương mại và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể
Cá nhân: người có năng lực trách nhiệm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người có năng lực trách nhiệm hình sự là người tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi khả năng điều khiển hành vi của mình và đạt độ tuổi nhất định
Theo điều 12 bộ luật hình sự 2015 người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm trừ những tội phạm mà bộ luật này có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất
Trang 11nghiêm trọng tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong cái điều 123,
134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, `171, 173, 178, 248, 249, 250,
251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của bộ luật này
Ngoài những dấu hiệu về khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi, khả năng điều khiển hành vi của mình và đạt độ tuổi nhất định thì một số tội phạm yêu cầu những dấu hiệu riêng biệt về mặt chủ thể ví dụ giới tính chức vụ gọi là chủ thể đặc biệt
Pháp nhân thương mại năng lực trách nhiệm của pháp nhân thương mại là khả : năng của pháp nhân thương mại có nghĩa vụ gánh chịu trách nhiệm hình sự khi hội
tụ đủ các điều kiện sau:
Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại
Hành vi phạm tội được thực hiện từ lợi ích của pháp nhân thương mại
Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại
Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 điều 27 của bộ luật này
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TỘI PHẠM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Đánh giá chung về tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay :
Thực hiện đường lối chấn hưng của Đảng, đất nước đã đạt được những thành ta tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao, phục
vụ đắc lực công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thế và lực của Việt Nam được củng cố và lớn mạnh hơn bao giờ hết, vị thế của Việt Nam trên trường thế giới ngày càng được ghi nhận, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện
Tuy nhiên, tình hình tội phạm ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp Những năm gần đây, trung bình mỗi năm triệt phá hơn 70.000 vụ phạm tội các loại, trong đó có hơn 50.000 tội phạm về trật tự xã hội, hơn 10.000 tội phạm kinh tế, gần 10.000 tội phạm ma túy So với các nước trên thế giới và khu vực, tình hình tội phạm ở Việt Nam tuy ở mức độ vừa phải nhưng lại diễn biến phức tạp hơn Điều đáng