1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la

43 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Thành Tựu Văn Hóa Mà Thế Giới Hiện Đại Kế Thừa Từ Hy – La
Tác giả Trịnh Thị Diệu Linh
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Trà My
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới cổ trung đại
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 9,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đều có chung cùng một xuất phát điểm thấp kém, rằng đều đi từ một nhóm nhỏ người di cư bị xua đuổi sống không nơi nương tựa, từ một bộ lạc nhỏ sống lang thang trong thảo nguyên, từ một t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PH H CHÍ MINH Ố Ồ

KHOA LỊCH SỬ

TIỂU LUẬN

NHỮNG THÀNH T ỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚ I HIỆN ĐẠI

KẾ THỪA TỪ HY – LA

HỌC PH N: HIST103101 – L ch s ử thế ới cổ trung đạ gi i

Họ và tên: Tr nh Thị ị Diệu Linh

Mã số sinh viên: 47.01.608.074

Lớp h c ph n: HIST103101 ọ ầ

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Trà My

Thành phố H ồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022

Trang 2

Mở đầu 3

Lý do chọn đề tài: 3

Nội dung 4

1 Ngu n g c c a nồ ố ủ ền văn minh Hy – La 4

2 Nh ng thành tữ ựu văn hóa đặc sắc có tầm ảnh hưởng của nền văn minh Hy-La 5

2.1 Chữ viết 5

2.2 Văn học 7

2.2.1 Th n thoại 7

2.2.2 Thơ – Sử thi 9

2.2.3 Kịch 12

2.3 Sử học 16

2.4 Khoa h c t nhiênọ ự 19

2.5 Nghệ thuật 26

2.5.1 Ki n trúcế 26

Hình 2.16 ba kiểu kiến trúc cột phổ biến nhất thời Hy Lạp cổ đại 27

2.5.2 Điêu khắc 30

2.5.3 Hội họa 32

2.6 Tri t hế ọc 34

2.7 Tôn giáo – Tín ngưỡng 36

3.7.2.1 Vài nét về Ki tô giáo nguyên thủy:- 38

3.7.2.2 Quá trình truyền bá Ki tô giáo ở La Mã thời cổ đại:- 38

2.8 Nhà nước và Lu t phápậ 39

Kết luận 41

TÀI LIỆ U THAM KH O 43 Ả

Trang 3

Mở đầu

Lý do chọn đề tài:

Sau khi nghi n ng m ề ẫ câu “Việc học hỏi, tiếp thu tri thức từ các dân tộc khác dường như

đã là nguyên tắc tồn tại bất bi n của tấế t cả quốc gia, dân tộc trên th giới nếu muốn muốn ếhùng cường và tồn tại lâu dài” và liên hệ đến thời kỳ cổ đại Hy Lạp và La Mã, nghiên cứu sinh nh n thậ ấy đây là hai quốc gia riêng biệt do các tộc khác nhau l p nên Cho n ậ đếthế k II TCN, Hy L p b ỉ ạ ị La Mã chinh phục, nhưng trước đó rất lâu, La Mã đã tiếp thu nhiều thành tựu văn minh của Hy L p Sau khi Hy L p nhạ ạ ập vào đế quốc La Mã, ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp đố ới v i La Mã càng mạnh mẽ hơn Do đó, nền văn minh Hy-La có những đóng góp quan trọng đối với phương Tây ở nhiều lĩnh vực văn học, triết học, khoa học tự nhiên, nghệ thuật và kiến trúc… Hai nền văn minh này là nền móng vững chắc và tiếp thêm lửa cho thờ Phục hưng ở Tây Âu, i văn minh phương Tây sau này

và cho th ế giới hiện đại ngày nay Sự thành công của nền văn minh Hy-La được kiế ạn t o nên t nh ng giá tr cừ ữ ị ốt lõi như sự ể hi u biết, nỗ ực h c h l ọ ỏi và sáng t o không ng ng ngh ạ ừ ỉcùng chiến lược đúng đắn - h thtin ần đoàn kết và tầm ảnh hưởng rộng lớn

Ngày nay ta v n không ng ng trẫ ừ ầm trồ, ca ngợi những thành tựu văn hóa mà thế ới hiệ gi n

đại ngày nay nói chung đư c thừa kế từ nợ ền văn minh Hy – La, vì lẽ đó nghiên cứu sinh chọn đề “Những thành t ựu văn hóa mà thế ới hi gi ện đạ ế thừ ừ i k a t Hy – La” làm đề

tài nghiên c u cho bài ti u lu n cu i kì môn lứ ể ậ ố ịch sử thế gi i c ớ ổ trung đạ ủa mình i c

Trang 4

Nội dung

1 Ngu n gốc củ a n ền văn minh Hy – La

Lịch sử văn minh thế giới đã thực chứng có những nghịch lý phi logic, từ những nền văn minh cổ đại như Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy-La, Maya đều có chung cùng một xuất phát điểm thấp kém, rằng đều đi từ một nhóm nhỏ người di cư bị xua đuổi sống không nơi nương tựa, từ một bộ lạc nhỏ sống lang thang trong thảo nguyên, từ một thành bang bé nhỏ nghèo nàn bị thống trị nhưng đã trỗi dậy mạnh mẽ, trở thành những nền văn minh - tiêu biểu, những đế chế hùng mạnh thống trị các vùng đất rộng lớn khắp thế giới, có nhiều phát kiến sáng tạo đóng góp trong diễn trình lịch sử của nhân loại

Câu hỏi lớn được đặt ra là Điều gì đã kiến tạo nên sự hùng mạnh của các nền văn minh, đế chế, dân tộc và các quốc gia? Thực tế đã chứng minh sự hùng mạnh của một nền văn minh không phụ thuộc vào diện tích lớn hay nhỏ, sự ảnh hưởng của một dân tộc không phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên giàu hay nghèo, sự lớn mạnh của quốc gia không phụ thuộc vào dân số ít hay nhiều mà ngược lại, chính sự bất lợi đó đã nung nấu

ý chí khởi phát mạnh mẽ nhất của các nền văn minh, đế chế trong lịch sử “Bất kỳ một nền văn minh nào, đế chế nào, dân tộc nào, quốc gia nào, đều có thể biến nghịch cảnh thành cơ hội, biến nhỏ bé thành vĩ đại, biến phụ thuộc thành ảnh hưởng dựa vào 3 thành

tố căn bản là: một là sự hiểu biết và ham học hỏi; hai là sự đoàn kết và chiến lược đúng đắn; ba là sức mạnh và tầm ảnh hưởng”

Trải qua bao thời khắc của lịch sử văn minh phương Tây cổ đại, hai nền văn minh Hy Lạp và La Mã đều đóng vai trò nền tảng đầu tiên cho sự hình thành và phát triển của những cư dân gốc du mục, cùng với đó là sự vùng dậy quyết liệt từ các thành bang nhỏ

bé Vì có cùng một phong cách nên hai nền văn minh này được gọi chung là văn minh Hy-La

Không giống như những quốc gia cổ đại ở phương Đông chủ yếu được hình thành ở - những khu vực gần các con sông, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp; mà nền văn minh phương Tây cổ đại phải trải qua quá trình hình thành và phát triển tương đối khắc nghiệt hơn đó là trên những khu vực có điều kiện tự nhiên phức tạp hay nói thẳng ra chính là không thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp nhưng bù lại có sự trợ giúp tuyệt vời của biển đảo Qua đó tạo điều kiện để phát triển những tuyến đường giao thương trên biển, hải cảng, tàu bè… thúc đẩy giao lưu, buôn bán giữa các nước; đồng thời đem những thành tựu văn hóa, văn minh phương Tây truyền bá khắp thế giới

Vậy ta dễ dàng thấy nhờ có điều kiện thuận lợi mà sự phát triển của kinh tế thương nghiệp hàng hải đã tạo ra một nền kinh tế có sức ép, lớn mạnh cho các quốc gia phương Tây cổ đại Quan trọng hơn nữa là sự phát triển cực thịnh của chế độ chiếm

Trang 5

hữu nô lệ, thứ mà gắn liền với phương thức sản xuất để có thể đạt được đến mức hoàn chỉnh và cao nhất của nó trong xã hội phương Tây cổ đại, đã góp phần tạo điều kiện cho sự sáng tạo những giá trị vật chất, tinh thần của nền văn minh phương Tây

Ta kết luận lại được là sự giàu mạnh về kinh tế chính là một trong những nguyên

nhân thúc đẩy khát vọng mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác Nền văn minh Hy-La vừa giúp đặt nền tảng vững chắc nhất cho văn minh phương Tây

cổ đại phát triển, mà còn vừa có nhiều đóng góp cho nhân loại với hàng loạt các phát kiến vĩ đại trong suốt chiều dài lịch sử và lại không ngừng đóng góp chung cho sự phát triển của toàn nhân loại

2 Những thành tựu văn hóa đặc sắc có tầm ảnh hưởng của nền văn minh Hy-La 2.1 Chữ viết

2.1.1 Hy Lạp

Mặc dù xuất hiện muộn hơn nền văn minh Ai Cập nhưng nhờ tiếp thu được những giá trị cốt lõi, quý báu từ Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại vì thế đã phát triển lên, nâng lên tầm khái quát, nên nền văn minh Hy Lạp cổ đại đã có rất nhiều đóng góp có giá trị cho cả quá khứ lúc đó cho đến tận thế giới hiện đại ngày nay

Chữ viết Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện từ thời văn minh Crete Mycene Nhiều tấm đất sét -

có khắc chữ đã được tìm thấy vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Chữ viết Hy Lạp cổ đại được các nhà khoa học phân chia thành các loại: Loại thứ nhất là những chữ tượng hình thuần túy, ghi lại hình người, động vật, cây cỏ, đồ vật Đây là loại chữ cổ nhất, có

lẽ đã xuất hiện vào đầu thiên niên kỷ II TCN Loại thứ hai bao gồm những chữ có dạng thức đơn giản, được cấu tạo bởi một số đường nét ngắn gọn khá đều đặn và thống nhất về kiểu thức Bản thân loại này lại được chia thành hai loại nhỏ: loại A có niên đại từ khoảng năm 1700 đến khoảng năm 1400 CN và loại B có niên đại từ khoảng năm1400 Tđến khoảng năm 1200 TCN Cho đến ngày nay, người ta vẫn chưa đọc được loại A, riêng loại B đã được Ventris - kiến trúc sư người Anh -giải mã thành công vào năm 1952Sau các cuộc thiên di của người Dorien đến định cư và thống trị, loại chữ trên dần bị mai một Đến cuối thế kỷ VIII CN, người Hy Lạp khôi phục lại chữ viết của mình trên cơ sở Tvăn tự của người Phoenice (phía đông Địa Trung Hải) Đến năm 403 CN, nhà nước TAthens chính thức thống nhất quy định thể thức chữ viết từ trái sang phải và giảm từ 40 chữ cái xuống còn 27 chữ, sau rút gọn còn 24 chữ (Hình 2.1) Loại chữ này được sử dụng

Trang 6

rộng rãi và được coi là loại chữ đẹp nhất thế giới bởi sự cân đối, hài hòa và thanh nhã Nếu đem so sánhhệ thống chữ cái Hy Lạp với hệ thống chữ tượng hình của các nước Phương Đông ta dễ dàng nhận thấy chữ Hy Lạp đã đạt đến trình độ khái quát hóa rất cao Chỉ với hơn 20 chữ cái và được ghép thành từ dựa theo âm tiết, người ta có thể diễn đạt thành văn mọi ý tưởng trừu tượng nhất của con người Đây là một trong những cống hiến lớn lao của người Hy Lạp vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại Hệ thống chữ cái Cyrillic (của các ngôn ngữ gốc Slav) và chữ cái Latin cũng bắt nguồn từ chữ cái Hy Lạp,

đã được đa số các dân tộc hiện nay trên thế giới sử dụng

ra kiểu chữ có chân làm cho chữ viết trở nên đẹp và dễ đọc hơn

Trang 7

Nhờ có sức mạnh quân sự và sự bành trướng lãnh thổ, cùng với sự đơn giản và tiện lợi của hệ thống chữ viết, chữ Latin ngày càng được phổ biến và sử dụng rộng rãi ở các nước thuộc đế chế La Mã lúc đó

Vậy qua đó cho thấy chữ viết La Mã càng dễ dàng phát triển trở thành nguồn gốc của nhiều chữ viết khác nhau ở châu Âu như Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và nhiều nước khác trên thế giới Và đặc biệt cho đến ngày nay, nhiều thuật ngữ khoa học, đặc biệt trong y học và chính trị có nhiều từ bắt nguồn từ tiếng Latin Người La

Mã còn để lại hệ thống chữ số mà ngày nay người ta vẫn thường dùng và quen gọi là chữ số La Mã

2.2 Văn học

Văn học Hy – La cổ đại gồm 3 bộ phận chính có liên quan chặt chẽ với nhau là thần

thoại, thơ – sử thi và kịch

2.2.1 Thần thoại

a Thần thoại Hy Lạp

Thần thoại Hy Lạp là một trong những hình thái văn học xuất hiện sớm nhất ở Hy Lạp, là

cơ sở của tôn giáo, là nền tảng của văn hóa, nghệ thuật Hy Lạp Nó đã cung cấp cho văn học, kịch, thơ và lĩnh vực nghệ thuật nhữung đề tài vô tận Mặt khác chính nó là thứ phản ánh nguyện vọng của nhân dân trong việc giải thích và đấu tranh với tự nhiên, phản ánh cuộc sống lao động hoạt động xã hội Thần thoại Hy Lạp bao gồm những chuyện có tính chất hoang đường về nguồn gốc vũ trụ loài người, qua đó người ta giải thích được các hiện tượng tự nhiên, đời sống, xã hội Người ta dựa vào gốc gác thần thoại để làm lịch sử thành lập các bang bộ tộc Hy Lạp

Về sau, khi có chữ viết, kho tàng thần thoại này được Hesios (nhà thơ Hy Lạp sống vào thế kỉ VIII TCN) hệ thống lại trong tác phẩm Gia phả các thần Hệ thống các vị thần Hy Lạp không phải là lực lượng xa vời và đáng sợ đối với con người như các thần ở Phương Đông Họ là những hình tượng gần gũi, có những phẩm chất, cá tính như con người: yêu, ghét, giận hờn, ngoại tình, bắt ghen, chảy máu

Thần thoại Hy Lạp có ảnh hưởng rất quan trọng đối với nền văn học nghệ thuật Hy Lạp Chẳng hạn như các tác phẩm: “Con ngựa thành Troy” , “Quả táo bất hòa” hay “Gót

chân Achille” được đưa vào phần giảng dạy ở một số các nước phương Đông bởi các tác phẩm truyền tải nội dung thông minh, cách ứng xử, cách lập luận, và ngôn từ cũng đầy

sự thu hút Và nó vẫn không ngừng hot, có vẻ như ai đã đọc qua các tác phẩm kể trên thì đều giữ cho mình một hình tượng mẫu mực để từ đó tôi luyện bản thân hơn Đó cũng chính là nét nhân văn mà những câu chuyện thần thoại xa xưa xứ phương Tây dù đã có từ

Trang 8

rất lâu đời nhưng chưa bao giờ là lỗi thời đối với thế giới hiện đại cách xa hơn 2000 năm

so với lúc đó

Từ những đời xa xưa Hy Lạp cổ họ đã dạy chúng ta thấy được giá trị nghệ thuật ở trong thần thoại Hy Lạp Cây đàn liere của nghệ sĩ Orphee khiến cho thiên nhiên ngưng lặng lắng nghe, thú dữ phủ phục dưới chân chàng Ước mơ trẻ đẹp, sống bất tử, họ ước ao có thầy thuốc tài giỏi chữa bệnh cứu người Hay những trang văn miêu tả vẻ đẹp đầy chất thơ cảnh sinh hoạt thanh bình: Hoàng hậu Leda ngồi bên bờ sông ngắm nhìn đàn thiên nga vui đùa trên mặt nước Nàng công chúa Europ mặc xiêm y đỏ thắm, tay cầm lẵng bằng vàng hái hoa hồng bên đám thiếu nữ đảo Crete xiêm áo trắng ngần vui đùa trên đám

cỏ xanh Cái đẹp của thế giới đã được tái tạo qua trí tưởng tượng và cảm xúc thẩm mĩ phong phú của người Hy Lạp Họ suy tôn cái đẹp, ca ngợi hết lời cái đẹp, câu chuyện tranh chấp quả táo vàng thực ra là tranh chấp danh hiệu người đẹp nhất – được coi là cuộc thi hoa hậu đầu tiên của loài người Đối với dân tộc này, cái đẹp là tuyệt đối và trên hết Trong nghệ thuật sáng tạo thần thoại, trí tưởng tượng của người xưa đã tạo ra hình ảnh kì diệu về bản thân con người Hình tượng thần Atlas, Heracles ghé vai đỡ cả bầu trời nói lên ý chí và sức mạnh tinh thần của con người Trí tưởng tượng của thần thoại Hi Lạp dựa trên một trình độ tư duy rất cao cùng với sự quan sát thực tế chính xác tỉ mỉ Đứng trước những trang văn, những hình ảnh, những tư duy đó chúng ta ngày nay càng phải kế thừa và tiếp tục phát huy những phẩm chất tốt đẹp, những tác phẩm và những câu chuyện thần thoại Hy Lạp ấy

“Không có thần thoại Hy Lạp thì không có nghệ thuật Hy Lạp” (nhận xét của Karl Marx) Thần Thoại Hi Lạp là chương đầu tiên của pho lịch sử đất nước và dân tộc Hi Lạp – cũng là chương đầu của bộ lịch sử văn học nước này Đối với Phương Tây, ảnh hưởng của thần thoại Hi Lạp xuyên suốt và bao trùm mọi thời kì, mọi loại hình nghệ thuật và sinh hoạt văn hóa Thần Thoại Hi Lạp là kho điển tích vô tận cho mọi trào lưu văn học – nghệ thuật châu Âu kể từ thời đại Phục Hưng về sau

Nhìn chung ta dễ dàng nhận xét được, thần thoại Hy Lạp dù hoang đường, dù có

màu sắc thần thánh, nhưng ít bị tôn giáo đồng hóa, ít bị hòa vào tôn giáo Do vậy, ngay từ đầu, thần thoại Hy Lạp vừa mang tính chất hoang đường, nhưng cũng mang đậm tính lịch sử xác thực, phản ánh thực trạng xã hội, duy lý và triết lý

Vậy tổng kết qua thần thoại Hy Lạp ta thấy chủ nghĩa duy vật thô sơ hình thành

Mặc dù thần thoại thấm đẫm thế giới quan thần linh, nhưng cách giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội vẫn mang màu sắc hiện thực duy vật Ví dụ như kể chuyện 4 gia hệ thần, người Hy Lạp muốn trình bày sự biến chuyển của thế giới từ thấp đến

Trang 9

cao, từ hoang sơ đến tinh xảo, đẹp đẽ nhân vật con trai út bao giờ cũng phát triển thành công hơn những người anh Nhân vật chính thay đổi từ thần linh dần dần chuyển sang con người, tức là từ chủ nghĩa thần linh sang chủ nghĩa nhân văn Qua đó càng bộc lộ rõ hơn vai trò, ý nghĩa của con người, một bài học nhân văn ng để lưu đátruyền từ đời này sang đời khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, sự kế thừa những bài học quý giá sâu sắc ấy càng giúp thế giới văn minh hơn, tiến bộ hơn

b Thần thoại La Mã

Người La Mã tiếp thu gần như hoàn toàn kho tàng thần thoại và hệ thống các vị thần của người Hy Lạp cổ đại, nhưng có sáng tạo hơn khi các vị thần lại mang tên mới và những sắc thái riêng theo nét đặc trưng riêng của người La Mã Thần Zeus, vị thần tối cao của người Hy Lạp trở thành vị thần Jupiter tối cao của người La Mã; nữ thần Hera, vợ thần Zeus đổi tên thành thần Jounon; nữ thần Tình yêu và Sắc đẹp Aphrodite đổi tên thành nữ thần Venus; thần biển Poisedon đổi tên thành Neptune

2.2.2 Thơ – Sử thi

a Hy Lạp

Đây là một thể loại văn học rất phổ biến và rất thành công của văn minh Hy Lạp cổ đại

Ở thể loại thơ, xuất hiện sớm nhất và lớn nhất là hai bản anh hùng ca Illiad và Odyssee, tương truyền là cảu nhà thơ mù Homer, sinh ra tại một thành phố miền tiểu Á vào khoảng thế kỉ IX TCN Nội dung hai bộ sử thi này phản ánh một thời kì quan trọng trong lịch sử

Hy Lạp – thời kỳ Homer, khai thác cuộc chiến tranh giữa các quốc gia ở Hy Lạp với thành Troy

Nhận thấy hai tập Illiad và Odyssee là hai trong những tác phẩm thành văn đầu tiên quan trọng trong kho tàng văn học thế giới và nó còn đem lại những giá trị lịch sử bền vững, lâu đời đáng được học hỏi và kế thừa

- Illiad bao gồm 15.693 câu thơ, được chia làm 24 khúc ca, thuật lại một giai đoạn ngắn kéo dài khoảng 50 ngày của năm thứ 10, đây cũng chính là năm đánh dấu kết thúc chiến tranh giữa Hy Lạp với thành Troy Nội dung tác phẩm phong phú, ca ngợi lòng dũng cảm, sức mạnh, ý chí chiến đấu, tư duy linh hoạt, khát vọng thắng lợi cũng như phản ánh mặt tối của các anh hùng trong trận chiến

- Odyssee bao gồm 12.110 câu thơ, cũng được chia thành 24 khúc ca, kể về cuộc hành trình phiêu bạt trong 10 năm trên đường trở về quê hương của nhà vua Odyssee sau khi Hy Lạp chiếm được thành Troy Tác phẩm ca ngợi nghị lực, sức mạnh của con người trước hiểm nguy, đề cao và biểu dương tình yêu với gia đình, quê hương đất nước, lòng thủy chung son sắt của vợ chồng Odyssee và đồng đội

Trang 10

Nhìn chung, tập Illiad đem lại cho mỗi người đọc ngày nay một cảm nhận về tinh thần trượng nghĩa, dám hy sinh, sống ngay thẳng, có trách nhiệm với công việc, với những người thân yêu xung quanh mình và với chính bản thân mình Tinh thần vì tập thể bộ lạc,

ý thức trách nhiệm của một người thủ lĩnh của một bộ lạc trong một trận chiến Khoảnh khắc Achille xuất trận đã khẳng định ý chí “thà chết vinh còn hơn sống nhục”, khẳng định lòng ham muốn trả thù cho chiến hữu, khao khát lập chiến công để lưu danh thiên

cổ Một mặt u tối chính là lối sống tầm thường hèn nhát, xa rời lý tưởng, không tôn trọng danh dự của người dũng sĩ là một điều không thể tha thứ được đối với thời đại Homer Sau đây là một số so sánh (mang tính chủ quan) lý tưởng anh hùng thời cổ đại

Hy Lạp với lý tưởng anh hùng thời trung đại châu Âu và cách mạng vô sản: Vào thời kì trung đại châu Âu còn gọi là “đêm trường ngàn năm trung cổ”, nó đẩy lùi

sự phát triển của lịch sử xã hội Văn học vào thời kì này còn được gọi là văn học kinh thánh hay văn học hiệp sĩ, người anh hùng lý tưởng là người tuyệt đối phục tùng nhà thờ và vua chúa Người anh hùng lý tưởng thời trung cổ là những hiệp sĩ nhà thờ hay hiệp sĩ quý tộc, họ chiến đấu để bảo vệ và bênh vực cho hai thế lực ấy

Lý tưởng người anh hùng thời cổ đại mặc dù ra đời trước nhưng vẫn đạt trình độ cao hơn thời trung cổ Người anh hùng lý tưởng là những chiến binh dũng mãnh chiến đấu

để giành quyền lợi cho cộng đồng, bảo vệ quê hương và bảo vệ danh dự bản thân trước sự xâm lược của ngoại bang và biết tìm ra những vùng đất mới để xây dựng cuộc sống…Mặc dù thời trung cổ đã xuất hiện quân chủ nhưng không phải là đàn áp con người mà họ biết hoà hợp giữa cá nhân người cầm quyền với cộng đồng, với tập thể

Sang đến thời cách mạng vô sản, người anh hùng lý tưởng không đi theo lí tưởng quân chủ hay nhà thờ như thời trung đại Họ chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của đất nước, của nhân dân, cái cá nhân tạm gác đi Ở Việt Nam đã có nhiều người anh hùng chiến đấu vì mục tiêu cách mạng vô sản như chủ tịch Hồ Chủ Minh, anh Nguyễn Văn Trỗi, chị Trần Thị Lý, anh Phan Đình Giót và rất nhiều vị anh hùng không tên khác

Như vậy, lý tưởng anh hùng cách mạng vô sản đạt đến trình độ phát triển cao nhất Đối với người phương Tây, họ xem trọng hai bản trường ca này vì chúng là biên niên sử của quá trình tiến hóa của ý thức con người, nhất là ý thức về thời gian Nhưng điều đặc biệt và thú vị hơn cả là sự tương tác giữa thần và người trong hai thiên sử thi này Các vị

Trang 11

thần Hy Lạp mang hình dáng con người, khác với các nền văn minh đương thời như Ai Cập hay Mesopotamian Họ không phải là những đấng toàn năng vô biên, lại còn mang đầy đủ những thói hư tật xấu như con người Nhưng điều này lại chính là ý tưởng đột phá

vĩ đại: vũ trụ mang vẻ đẹp và huyền bí của con người Con người chính là trung tâm của

vũ trụ Trong quá trình đọc, hẳn mỗi ai trong chúng ta cũng sẽ tự tìm thấy cho mình những hữu ích từ tương đồng và dị biệt giữa hiện tại và quá khứ

Ngoài ra, thơ Hy Lạp không thể quên nhắc đến Hesios, người đã viết hai tác phẩm vô cùng nổi tiếng là Gia phả các thần và Lao động và ngày tháng Đến thế kỉ VI và nửa đầu

thế kỉ V TCN đã xuất hiện những bài thơ trữ tình Tiêu biểu trong hàng ngũ các nhà thơ trữ tình là các tác giả Pindar, Paros, Ackilocle và đặc biệt là nữ sĩ Sappo Bà vừa là nhà thơ, vừa là nhà giáo nổi tiếng với các bài thơ trữ tình viết về nữ thần Aphrodite, được người Hy Lạp coi là nàng thơ thứ mười, sau chín nàng thơ trong thần thoại

b La Mã

Thơ La Mã cổ đại chịu nhiều ảnh hưởng phong cách thơ của Hy Lạp Thời kỳ cộng hòa,

ở La Mã đã xuất hiện khá nhiều thi sĩ với các tác phẩm nổi tiếng như: Andronicus, người dịch Illiad và Odyssée cùng nhiều bài thơ khác của Homer sang tiếng Latin; Neuvius, với Cuộc chiến tranh Punic (gồm 7 quyển), đề cập đến cuộc chiến tranh giữa La Mã với Carthage; Cartulus - nhà thơ đặc sắc Thời Cộng hòa với nhiều bài thơ tình nồng cháy trong mối tình với vợ một chính khách ở Roma

Thời hoàng kim của văn học La Mã kéo dài từ khoảng 100 CN đến những năm 40 T SCN, đặc biệt là dưới thời Augustus Octavius Trong giai đoạn này, một người thân cận của Octavius là Mecene đã lập văn đàn và đứng ra bảo trợ cho các thi nhân văn sĩ La

Mã lúc đó Những nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn này là Vigile, Horace, Ovide

- Vigile (70 - 19 TCN) được coi là nhà thơ lớn nhất của Roma với bản anh hùng ca Eneide và các tập thơ như Mục thi những bài thơ của người chăn cừu, Nông thi - - thơ đồng áng, Khuyến nông

- Horace (65 – 87 TCN): ông là bạn của Virgile và chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ trữ tình Hy Lạp Các tác phẩm tiêu biểu: Tập thơ trào phúng phê phán, Thơ ca ngợi, - Thi thư

- Ovide (43 TCN – 17 TCN): là một thi nhân có địa vị cao ở La Mã Ông được mọi người hâm mộ với những bài thơ trữ tình, nhẹ nhàng về đề tài tình yêu, nghệ thuật yêu đương hay về lễ hội, thần thoại Tác phẩm tiêu biểu: Tình ca (3 tập), Nữ anh

hùng, Nghệ thuật yêu đương, Các ngày lễ, Biển hình, Những bài thơ buồn

Ngoài ra, ở La Mã còn có một số nhà thơ khác như Tulius với những tác phẩm mang tính hùng biện, Livy với những bài thơ chan chứa tình yêu đất nước hoặc Ký sự về cuộc chiến

Trang 12

tranh ở xứ Gaul được nhiều người cho rằng đó là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học sử Roma

2.2.3 Kịch

a Hy Lạp

Kịch là một trong những di sản vô giá của người Hy Lạp đóng góp vào kho tàng văn học thế giới Người Hy Lạp là dân tộc mở đầu cho loại hình nghệ thuật này và là ngọn nguồn của sân khấu châu Âu Kịch Hy Lạp bao gồm hai thể loại chính là bi kịch và hài kịch, để lại nhiều tên tuổi các nhà soạn kịch và hàng trăm tác phẩm vĩ đại

Bi kịch Hy Lạp có hai nguồn gốc:

- Nguồn gốc dân gian: Trước khi thành hình thức hoàn chĩnh, bi kịch mang nhiều tính chất vui nhộn sỗ sàng, yếu tố nhảy múa còn chiếm khá nhiều Trong các buổi hội hè cúng tế, đội đồng ca ngồi quanh bàn thờ thần Dyonysos hát lên những ca khúc than vãn cho những nỗi gian truân bi thảm của cuộc đời vị thần, hoặc ca ngợi công lao ân đức, những thắng lợi và sự tái sinh của vị thần ấy Ðó là những ca khúc Ditijanbe Từ những khúc ca này đã nảy sinh ra tính chất bi kịch và mầm mống của đối thoại

- Nguồn gốc xã hội: Nếu hình thức đồng ca trữ tình đã dọn đường cho bi kịch Hy Lạp thì phải đợi đến sự xâm nhập của lịch sử vào cuộc sống thì bi kịch Hy Lạp mới trở thành một bộ môn nghệ thuật Xã hội Athène trong gần 2 thế kỷ ( VI và V TCN ) chính là miếng đất đã vun xới cho bi kịch Hy Lạp và nuôi dưỡng nó trưởng thành

Nguyên nhân xã hội có tính chất quyết định đối với sự ra đời của bi kịch, chuyển bi kịch

từ những nghi thức tôn giáo nguyên thủy thành một loại hình văn học, là những cuộc đấu tranh giai cấp giữa quý tộc công thương và dân tự do, đại diện cho lực lượng tiến bộ, với lớp quý tộc ruộng đất Cuộc đấu tranh này gắn liền với sự hình thành nhà nước dân chủ

nô lệ Trong cuộc đấu tranh đó con người luôn luôn có khát vọng nhận thức và giải thích những biến cố lịch sử, và những lực lượng xã hội mới đã tìm thấy trong tôn giáo của Dyonysos một biểu hiện cho lý tưởng và khát vọng của mình Như vậy, yếu tố quyết định

sự ra đời của bi kịch là sự hình thành nhà nước nô lệ và cuộc đấu tranh giai cấp của thế

kỷ VI, V TCN Bi kịch trở thành vũ khí của cuộc đấu tranh đó

Vĩ đại nhất trong thể loại bi kịch là nhà soạn kịch Sophocle với những tác phẩm tiêu biểu như: Antigone, Oedipe làm vua, Oedipe ở Colon ; Eschyle với vở Promethée bị xiềng,

Những người phụ nữ câu xin, Oresté ; Euripide với Médée

Thông tin các tác giả và tác phẩm tiêu biểu:

Eschyle (525-456 TCN) (Hình 2.2)

Trang 13

- Tiểu sử: Eschyle xuất thân trong một gia đình quý tộc ruộng đất ở Eleusis gần Athène Tuy vậy ông vẫn đứng về phía nhà nước dân chủ chủ nô và suốt đời đã dùng ngòi bút của mình để chiến đấu cho nền trật tự và văn hóa của xã hội mới Cuộc đời ông gắn liền với những biến cố lớn lao của thời đại: đó là sự hình thành của nhà nước dân chủ nô lệ và cuộc chiến tranh chống đế quốc Ba tư xâm lược Trong chiến tranh Ba tư Hy Lạp (500-446 TCN), ông là một chiến sĩ dũng cảm cùng với hai anh tham gia chiến đấu Ông có mặt trong cả ba cuộc chiến thắng vẻ vang của người Hy Lạp (Marathon 490, Salamin 480 và Platé 479)

- Ông đã sống và sáng tác trong không khí sôi sục đó của lịch sử Ông viết tất cả 70

vở nhưng hiện nay chỉ còn lại có 7 vở

- Ông đã đoạt được 13 giải thưởng trong đời và 28 giải sau khi mất Qua 7 vở kịch còn lại của ông ta thấy những vấn đề mà ông quan tâm là những vấn đề lớn của thời đại và nhân loại.: Cuộc đấu tranh giữa mẫu quyền và phụ quyền và cuộc đấu tranh cho tự do hạnh phúc của loài người Bằng thiên tài và sức mạnh sáng tạo của mình, Eschyle đã là người nhìn thấy những bước ngoặc lớn của lịch sử nhân loại Trong các vở kịch lớn của Eschyle qua từng giai đoạn ta có thể thấy những tư tưởng dân chủ của tác giả Ðối với chiến tranh, Eschyle công kích cuộc viễn chinh của Hy Lạp vào nhà nước Athène năm 129 Ðối với thần linh ông có thái độ hoài nghi, và trong nhiều vở kịch ông đã phê phán hành động của các vị thần, mà mạnh

mẽ và tập trung nhất là trong vở Prométhée bị xiềng Trong thế giới quan tiến bộ của ông còn thấy rất nhiều dấu vết của chủ nghĩa duy vật thô sơ thời cổ đại

Hình 2.2 Eschyle ( 526 456 TCN)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Trang 14

Sophocle (496-406 TCN) (Hình 2.3)

- Tiểu sử: Sophocle sinh ra đời tại Colon, một thị trấn gần Athène trong một gia đình quý tộc có thế lực Cha ông là chủ một xưởng sản xuất vũ khí Từ nhỏ Sophocle đã được hấp thu một nền giáo dục đầy đủ Truyền thuyết xưa kể lại rằng vào năm 480 TCN khi quân Hy Lạp đánh Ba Tư trong trận thủy chiến Salamin, khi đó mới 16 tuổi, Sophocle đã chỉ huy đội đồng ca thiếu sinh quân hát mừng đoàn quân chiến thắng trong đó có Eschyle trở về Ðó cũng là năm ra đời của Euripide Năm 480 TCN được xem như thời điểm hội tụ của ba nhà viếi bi kịch xuất sắc nhất của Hi Lạp cổ đại

- Cuộc đời Sophocle gắn với hai biến cố lớn lao cuả thời đại: Thời cực thịnh của vương triều Périclès (461-429 TCN) Trong 32 năm cầm quyền, Périclès dã biến Athène không chỉ là thủ đô kinh tế, chính trị mà còn là trung tâm văn hóa của toàn cõi Hy Lạp

- Cuộc chiến tranh Péloponèse (431-402 TCN) chia Hy Lạp ra làm hai khối liên minh do Sparta và Athène cầm đầu, kết thúc bằng sự thất bại của Athène Thể chế Cộng hòa dân chủ bị xóa bỏ để thay thế bằng chế độ quý tộc theo mô hình của Sparta

- Sophocle đã tạo bước chuyển biến quyết định làm cho nghệ thuật sân khấu trở thành sinh động Ông đã viết trên 120 vở kịch, ngày nay chỉ còn lại 7 vở, trong đó nổi tiếng nhất có vở bi kịch Oedipe làm vua

Hình 2.3 Sophocle (496-406 TCN)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Euripide (480-406 TCN) ( Hình 2.4)

Trang 15

- Tiểu sử: Euripide là nhà bi kịch cuối cùng của đất nước Hy L p cạ ổ đại Xuất thân quý tộc, có trình độ ọc vấ h n uyên bác, ông lớn lên và trưởng thành ở giai đoạn nước C ng hòa Athène sau một thế kỷ phát triển rực r , bắt đầu suy vong, nội bộ ộ ỡ

chia rẻ và bị Sparta đánh chiếm

- Ông sáng tác khoảng 92 v k ch, còn lở ị ại được 19 vở Ông đã biết tiếp thu được yếu tố cơ bản nh t cấ ủa thời đại, là lòng tin ở lý trí, tư duy của con người Các nhân vật thần trong k ch cị ủa ông tốt ít, x u nhi u Các nhân vấ ề ật người của ông không phải là những con r i trong bàn tay các vố ị thần H ọ là những con người có tự do tư tưởng, biết lý luận, phân tích, phê bình, biết tư duy đồng thời cũng biết xúc động

Họ hành động là t ý mình và do s ự ự thôi thúc bên trong Con người trong bi kịch Euripide là những con người đam mê Và chính từ những nỗi đam mê cuồng nhiệt không được thỏa mãn sẽ dễ dàng dẫn đến bi kịch Ðam mê cũng lấn át lý trí và quyết định hành động của các nhân v t

- Trong kịch c a ông nhân vủ ật thường b ị đưa vào những tình huống bi đát, những cơn khủng hoảng nặng nề Không ai bằng ông trong việc kích động lòng thương xót cũng như những nỗi kinh hoàng Không ai hơn ông trong việc khắc họa những bức tranh về lòng say đắm, căm giân hoặc hờn ghen Và người ta hiểu vì sao nhân vật phụ nữ chiếm một v ị trí trọng đại trong các v kở ịch của ông

- Euripide vừa là người của thời đại mình, vừa đi trước thời đại.Ông chủ trương sân khấu phải tổng h p c ng khóc l n nợ ả tiế ẫ ụ cười, c ngôn t tả ừ ầm thường l n ngôn t ẫ ừcao cả, cái l n lao và bé nhớ ỏ, cái cao thượng l n th p hèn.ẫ ấ

Hình 2.4 Euripides (480-406 TCN)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Lĩnh vực hài kịch cũng xuất hiện những nhà soạn kịch nổi tiếng như Catinos, Crate nhưng đại biểu xuất sắc và được coi là thủy tổ của hài kịch Hy Lạp cổ đại là Arixtốphan (Hình 2.5) Hầu hết 44 tác phẩm của ông đều có nội dung chế nhạo những ý tưởng tiến bộ

Trang 16

của giới dân chủ đương thời, nổi tiếng là các vở Kỵ sĩ, Hòa bình, Đàn ong bò vẽ, Đàn nhái Ngoài ra, các tác phẩm của ông còn đả kích mạnh mẽ những thói xấu xa, để tiện trong xã hội

Hình 2.5 Arixtophan (446-386 TCN)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Sau cùng có thể nói rằng, văn học Hy Lạp cổ đại là kho tàng nghệ thuật phong phú,

nhiều loại hình đạt tới trình độ mẫu mực, là sự kết hợp giữa cái đẹp và cái hài hòa, là tài sản vô giá trong kho tàng văn học thế giới

b Kịch La Mã

Nghệ thuật kịch được biểu diễn đầu tiên ở La Mã là vào năm 240 TCN Chính nhà thơ

Andronicus là người đầu tiên được giao nhiệm vụ chuẩn bị kịch bản cho buổi biểu diễn

ấy Ở La Mã, nhiều nhà thơ cũng đồng thời là nhà soạn bị hài kịch như Andronicust, Neuvius, Enninust, Plantus, Sénèque Nhưng nhìn chung, kịch của La Mã cổ đại ảnh

hưởng rất nhiều từ kịch Hy Lạp Các nhà soạn kịch La Mã thường dịch lại các vở bi, hài kịch của Hy Lạp, cải biến các vở kịch Hy Lạp thành kịch La Mã hoặc phỏng theo đó để soạn những vở kịch lịch sử của người Roma

Trang 17

nghiệp và lịch sử được ghi chép thành văn Nhìn chung, nền sử học Hy Lạp đã có quá trình phát triển từ rất sớm, có nhiều ảnh hưởng đối với nền sử học thế giới, đặc biệt là nền

sử học của các quốc gia châu Âu

Nhà sử học tiêu biểu nhất của Hy Lạp cổ đại là Herodos (484 - 425 TCN) (Hình 2.6) Ông là nhà sử học lớn đầu tiên của Hy Lạp, được coi là “Người cha của sử học Phương Tây” với các tác phẩm Lịch sử cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư và bộ Lịch sửđồ sộ (gồm 9 tập) Ngoài ra, phải kể đến Thuycydides (Hình 2.7) với bộ Lịch sử chiến tranh

Peloponese, Senophone với bộ Lịch sử Hy Lạp

Hình 2.6 Herodos ( 484-425 TCN)

Nguồn: Carol M Highsmith Archive/Library of Congress, Washington, D.C highsm-02111)

(LC-DIG-Nhận xét về Herodotus, nhà chép sử cổ điển là Arnaldo Momigliano viết: “Giờ đây

chúng tôi thu thập đủ chứng cớ để có thể nói rằng Herodos đáng tin cậy Những nhà nghiên cứu về phương Đông đã xem xét tỉ mỉ về Herodos với sự trợ giúp của khảo cổ học cũng như những kiến thức về ngôn ngữ mà lúc bấy giờ ông không hiểu Họ khẳng định rằng ông miêu tả trung thực những gì ông đã chứng kiến và tường thuật đúng với những gì đã nghe Nếu có sai sót nào, thì có thể do người ta cố tình cung cấp thông tin sai hoặc ông hiểu lầm ý người ta nói với ông”

Trang 18

Vậy rất có thể bộ Bộ Lịch sử là tác phẩm vĩ đại nhất trong cuộc đời của Herodos Dù thời bấy giờ không có nhiều điều kiện, tiện nghi và công cụ như hiện nay, nhưng ông vẫn đạt được thành tựu nổi bật ì bộ sử bao gồm nhiều thông tin nhất liên quan đến các biến cố Vlịch sử đã xảy ra thời bấy giờ, nên tác giả viết tiếng La-tinh tên là Cicero (106-43 TCN)

đã gọi Herodos là cha đẻ của môn lịch sử Một tác giả thời hiện đại nói bộ sử của

Herodos là “kiệt tác vượt thời gian Tác phẩm không chỉ nói về lịch sử mà còn về nhân

chủng học, địa lý, thần học, triết học, khoa học chính trị và các vở bi kịch” Và quan trọng hơn cả trong giai đoạn đặc biệt của lịch sử thế giới, Herodos đã bảo tồn những thông tin về Hy Lạp, Tây Á và Ai Cập mà ông đã tai nghe mắt thấy

Ông được gọi là cha đẻ của ‘lịch s khoa hử ọc’ và đồng thời là cha đẻ của ‘chủ nghĩa hiện th c chính trự ị’ Ông nói v i chúng ta: ớ “ câu chuyện một ph n d a trên nh ng ầ ự ữ

gì tôi t n m t thậ ắ ấy, mộ t ph n d a trên nhầ ự ững gì người khác đã thấy hộ tôi, độ chính xác c a câu chuy n thu t lủ ệ ậ ại này luôn được th thách b ng nh ng cu c th m tra chử ằ ữ ộ ẩ i tiết nhất và nghiêm ng t nh t có th Tôi e r ng vi c thi u tính lãng m n trong cuặ ấ ể ằ ệ ế ạ ốn

Trang 19

sử ký củ a tôi s làm nó b t ph n thú v ẽ ớ ầ ị đi đôi chút; nhưng nếu nó được đánh giá là

hữu ích b i những người tìm tòi với mong muốn có được sự hiểu bi t chính xác v quá ế ề

khứ như một phương tiệ n giúp giải đoán tương lai, mà trong tiến trình của nhân loại nếu quá kh ứ đó không lặp lại ắt cũng phải có s ự tương đồng, thì tôi s l y làm mãn ẽ ấ

nguyện Nói tóm lại, tôi đã viết tác ph m c a mình không phẩ ủ ải như một bài lu n ch ậ ỉ

để nhận đượ c tràng v tay hoan ngênh trong chốc lát mà như một tài sản vĩnh tồn.”

Trên thực tế, di sản mà Thucydides để ại đã vượ l t gần 2500 năm để đến với chúng ta,

và ông là người góp ph n bi n l ch s Hy L p thành m t ph n không th thiầ ế ị ử ạ ộ ầ ể ếu được của lịch sử thế giới nói chung

2.3.2 S h c La Mã ử ọ

Sau khi tiếp thu hệ thống chữ viết của Hy Lạp, vào giữa thế kỷ V CN, ở La Mã đã xuất Thiện những tài liệu gọi là biên niên kỷ (anales) Nhưng thực sự chỉ đến cuối thế kỷ III TCN, nền sử học La Mã mới xuất hiện với tác phẩm văn học lịch sử Cuộc chiến tranh

Punic của nhà thơ, nhà soạn kịch Neuvius.

Tuy xuất hiện muộn hơn Hy Lạp, nhưng sử học La Mã cũng để lại nhiều tên tuổi các nhà chép sử lừng danh Người đầu tiên viết sử La Mã bằng văn xuôi (tiếng Hy Lạp) là

Phebius (254 - 200 T CN), nhưng người đầu tiên viết sử La Mã bằng tiếng Latin là Caton.

Phương pháp viết sử của ông không theo niên đại mà theo từng vấn đề Có thể coi ông là nhà sử học thực sự đầu tiên của La Mã Ông đã chọn lọc những điều trong thần thoại Hy Lạp nói về La Mã và lịch sử La Mã cho đến thời của ông để viết cuốn Nguồn gốc Sau

Caton còn có nhiều nhà sử học lỗi lạc với các tác phẩm vẫn được ngày nay lưu truyền

như Polibius (205 - 125 TCN) với bộ Thông sử gồm 40 quyển ; Titus Livius (59 TCN -

17 CN) với Lịch sử La Mã từ khi xây thành tới nay, Tacius (55 - 125) với các tác phẩm Lịch sử biên niên, Xử German, Lịch sử ; Plutarque(50 125) với - Tiểu sử các danh nhân

Hy Lạp - La Mã còn được lưu giữ tới ngày nay

2.4 Khoa h ọc tự nhiên

2.4.1 Hy L p

Hy Lạp cổ đại được coi là quê hương của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau thuộc khoa học tự nhiên Tư duy khoa học của người Hy Lạp cổ đại đã vươn tới trình độ khái quát hóa cao, hình thành những tiền đề, định lý, nguyên lý có giá trị Đây là nơi sản sinh ra những nhà khoa học khổng lồ, kiến thức uyên bác và để lại nhiều thành tựu lớn lao trong kho tàng khoa học của nhân loại, đặc biệt là các lĩnh vực như toán học, vật lý, thiên văn Một số tên tuổi tiêu biểu:

Trang 20

- Thales (642 - 548 TCN) (Hình 2.8): nhà toán học, triết học, thiên văn học, là người

đã đặt nền móng cho khoa học và triết học Ông sinh ra trong một gia đình thương nhân giàu có ở Milet (Tiểu Á), nhưng có quá trình sống và làm việc khá lâu ở Ai Cập trước khi về quê hương thành lập trường phái khoa học Milet Ông là người

đã chứng minh được rằng, mọi đường kính thì chia đôi một đường tròn; Các góc đáy của một tam giác cân thì bằng nhau; Góc nội tiếp trong nửa hình tròn là một góc vuông Ông cũng đã tính toán và đưa ra dự báo một cách chính xác là vào ngày 28/5/585 TCN ở Milet sẽ quan sát thấy hiện tượng nhật thực Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của ông chính là việc tìm ra tỷ lệ thức Ông được mọi người tôn vinh là nhà toán học đầu tiên, nhà thiên văn học đầu tiên

Hình 2.8 Thales (642 - 548 TCN)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

- Pythagore (580 - 500 TCN) (Hình 2.9), được xem là người đem lại nhiều biến đổi cho nền toán học thế giới Ông cũng đã đến Ai Cập, ở lại đó trong 12 năm và tiếp thu các tri thức khoa học của cả Ai Cập và Lưỡng Hà Sau đó, ông về sống ở đảo Scicile và lập nên trường phái khoa học Pythagore Tại đây, ông cùng các học trò của mình đã tổng kết những tri thức về toán học, thiên văn học , thiết lập nhiều công thức, định lý và chứng minh chúng bằng suy luận logic chứ không phải bằng trực giác Đóng góp lớn nhất của ông là định lý mang chính tên ông định lý - Pythagore Đặc biệt, về thiên văn học, ông khẳng định rằng trái đất hình tròn và chuyển động theo một quỹ đạo nhất định (một trong những tiền đề để Copecnik, nhà bác học người Ba Lan đã phát triển thành thuyết Nhật tâm sau này)

Trang 21

Hình 2.9 Pyth agore (580 - 500 TCN)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

- Euclide (330 – 275 TCN) (Hình 2.10): Được xem là một trong những người sáng lập trường toán học thuộc đại trường học Alecxandri (Ai Cập) Ông cũng đã để lại cho hậu thế những công trình nghiên cứu vĩ đại, được tập trung trong các tác phẩm Catropque hay hình học những tia phản chiếu, Những dữ kiện, Phép chia các hình, Quang học Đặc biệt, mọi tâm huyết của ông tập trung trong bộ Elements (Những khái niệm cơ bản), gồm 13 tập, vẫn được ngày nay lưu giữ và sử dụng Trong lịch

sử toán học, đây là tác phẩm khoa học duy nhất đã tồn tại trên 2000 năm mà giá trị không hề giảm sút

Hình 2.10 Euclide (330 275 TCN)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Ngày đăng: 26/04/2022, 19:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nếu đem so sánh hệ thống chữ cái Hy Lạp với hệ thống chữ tượng hình của các nước - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
u đem so sánh hệ thống chữ cái Hy Lạp với hệ thống chữ tượng hình của các nước (Trang 6)
Hình 2.5. Arixtophan (446-386 TCN) - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
Hình 2.5. Arixtophan (446-386 TCN) (Trang 16)
Nhà sử học tiêu biểu nhất của Hy Lạp cổ đại là Herodos (484 -425 TCN) (Hình 2.6). - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
h à sử học tiêu biểu nhất của Hy Lạp cổ đại là Herodos (484 -425 TCN) (Hình 2.6) (Trang 17)
Hình 2.7. Thuycydides (460-395 TCN) - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
Hình 2.7. Thuycydides (460-395 TCN) (Trang 18)
- Thales (642 - 548 TCN) (Hình 2.8): nhà toán học, triết học, thiên văn học, là người đã đặt nền móng cho khoa học và triết học - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
hales (642 - 548 TCN) (Hình 2.8): nhà toán học, triết học, thiên văn học, là người đã đặt nền móng cho khoa học và triết học (Trang 20)
- Euclide (330 – 275 TCN) (Hình 2.10): Được xem là một trong những người sáng lập trường toán học thuộc đại trường học Alecxandri (Ai Cập) - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
uclide (330 – 275 TCN) (Hình 2.10): Được xem là một trong những người sáng lập trường toán học thuộc đại trường học Alecxandri (Ai Cập) (Trang 21)
Hình 2.9. Pythagore (58 0- 500 TCN) - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
Hình 2.9. Pythagore (58 0- 500 TCN) (Trang 21)
- Archimede (28 5- 212 TCN) (Hình 2.11): được sinh ra trong một gia đình giàu có ở Siracure, một thành bang của Hy Lạp trên đảo Scicile - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
rchimede (28 5- 212 TCN) (Hình 2.11): được sinh ra trong một gia đình giàu có ở Siracure, một thành bang của Hy Lạp trên đảo Scicile (Trang 22)
- Eurathosthène (28 4- 192 TCN) (Hình 2.13): nhà khoa học tài năng ở nhiều lĩnh vực như toán học, thiên văn, vật lý, sử học, ngôn ngữ.. - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
urathosth ène (28 4- 192 TCN) (Hình 2.13): nhà khoa học tài năng ở nhiều lĩnh vực như toán học, thiên văn, vật lý, sử học, ngôn ngữ (Trang 23)
Hình 2.12. Aristarque (31 0- 230 TCN) - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
Hình 2.12. Aristarque (31 0- 230 TCN) (Trang 23)
- Pline (23- 79) (Hình 2.14 ): Ông là người đã viết tác phẩm Vạn vật, được xem là bộ bách khoa toàn thư, tổng kết những thành tựu khoa học kỹ thuật thời cổ đại về các lĩnh  vực địa lý, sinh học, nông học, y dược, kiến trúc, hội họa.. - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
line (23- 79) (Hình 2.14 ): Ông là người đã viết tác phẩm Vạn vật, được xem là bộ bách khoa toàn thư, tổng kết những thành tựu khoa học kỹ thuật thời cổ đại về các lĩnh vực địa lý, sinh học, nông học, y dược, kiến trúc, hội họa (Trang 24)
- Ptolemée (thế kỷ II) (Hình2.15): sinh trưởng tại Alecxandri, lúc đó thuộc lãnh thổ La Mã - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
tolem ée (thế kỷ II) (Hình2.15): sinh trưởng tại Alecxandri, lúc đó thuộc lãnh thổ La Mã (Trang 25)
Các công trình kiến trúc thời tiền Hy Lạp: Cung vua Mino sở Knossos (Hình2. 17); - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
c công trình kiến trúc thời tiền Hy Lạp: Cung vua Mino sở Knossos (Hình2. 17); (Trang 27)
Hình 2.16. ba kiểu kiến trúc cột phổ biến nhất thời Hy Lạp cổ đại Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/ - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
Hình 2.16. ba kiểu kiến trúc cột phổ biến nhất thời Hy Lạp cổ đại Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/ (Trang 27)
Hình2. .19 Lăng mộ vua Agamemnon Nguồn:  https://www.hinhanhlichsu.org/ - Những thành tựu văn hóa mà thế giới hiện đại kế thừa từ hy – la
Hình 2. 19 Lăng mộ vua Agamemnon Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/ (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w