Tác động tiêu cực của du lịch đến các làng người H’mông ở Sapa 16 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÌN GIỮ VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA TỘC NGƯỜI H’MÔNG 3.1.. MỞ ĐẦU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC
VIỆT NAM
Họ và tên: Nguyễn Đặng Thanh Trúc
Mã sinh viên: 2057810021 Lớp tín ch s : 01 ỉ ố GVHD: Bùi H ồng ạnh H
Hà Nội, tháng 10, năm 2021
Trang 2A MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1: C Ơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA CỦA TỘC NGƯỜI
1.1 Các khái niệm liên quan về văn hóa, tộc người 02
1.1.3 Khái niệm về văn hóa tộc người 03
1.2 Khái quát về hoạt động du lịch ở Sapa, Lào Cai 04
1.2.3 Hoạt động kinh doanh du lịch ở Sapa 06
1.2.4 Vai trò của người H’mông trong phát triển du lịch ở Sapa 07 1.3 Những nét đặc trưng văn hóa của tộc người H’mông ở Sapa 07
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC
NGƯỜI H’MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở SAPA HIỆN NAY 13
2.1 Những thực trạng trong khai thác du lịch văn hóa tộc người H’mông tại Sapa 13
2.1.1 Thực trạng các giá trị văn hóa tộc người 13
2.1.2 Tình hình du khách đến tham quan các làng ở Sapa 14
2.1.3 Thực trạng về các nhà quản lí và đội ngũ lao động 142.2 Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa – xã hội của tộc người H’mông
2.2.1 Du lịch làm nảy sinh và phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các nghề
2.2.2 Du lịch góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống người
H’mông, giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo ở các làng người H’mông 15
2.2.3 Du lịch tác động tích cực đến nếp sống ở các làng người H’Mông 15
2.2.4 Tác động tiêu cực của du lịch đến các làng người H’mông ở Sapa 16
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÌN GIỮ VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA TỘC NGƯỜI H’MÔNG
3.1 Nâng cao vai trò của cộng đồng người dân địa phương (cộng đồng
3.2 Xây dựng mô hình các làng du lịch văn hoá trở thành điểm du lịch
3.3 Thu hút đầu tư và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch 18
3.5 Xây dựng một số ch ng trình du lịch có khai thác văn hóa tộc người ươ
Trang 3A MỞ ĐẦU
Ngày nay, du lịch đã trở thành hoạt động phổ biến trong đời sống văn hóa xã hội của mỗi con người và ngành du lịch đã đem lại những lợi ích to lớn về nhiều mặt cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nước
ta là một quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Bên cạnh tiềm năng
du lịch về tự nhiên thì ở Việt Nam điểm đặc biệt thu hút khách du lịch đó chính
là sự đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc, với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều
có những nét đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán và lối sống riêng tạo nên một bức tranh văn hóa đầy màu sắc Nằm trong vùng du lịch Tây Bắc Bộ, Sapa là thị trấn thuộc tỉnh Lào Cai, đây là m trong nhột ững điểm du lịch ổi tiếng ở nước n
ta được tạo hóa thiên nhiên ưu ái ban tặng cho một bức tranh phong cảnh vừa lãng mạn vừa hùng vĩ, bao la Khí hậu Sapa quanh năm mát mẻ cùng những dấu ấn bản địa độc đáo bởi Sapa còn là nơi sinh sống của các dân tộc H’mông, Dao và một số dân tộc ít người khác cùng nhau tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho du khách muốn khám phá nơi đây Trong đó, người H’Mong là dân tộc sinh sống đông nhất
ở Sapa Tộc người H’mông ở Sa Pa có nhiều nét văn hóa đặc sắc về phong tục tập quán, văn hóa ăn mặc, văn hóa ẩm thực, tôn giáo tín ngưỡng Những nét văn hóaphong phú, đa dạng của tộcngười H’mông đã tạo cho Sapa một nét đẹp rất riêng
và đem lại cho vùng đất này một tiềm năng phát triển du lịch rất lớn.Tuy nhiên, vẫn chưa được khai thác hết tiềm năng của nó để phát triển du lịch nâng cao mức , sống cho người dân địa ph ng, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân ươ
tộc nơi đây Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Tìm hiểu giá trị văn hóa của người H’mông trong phát triển du lịch ở Sapa hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình
để phần nào thấy được giá trị văn hóa của tộc người H’mông Cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc khai thác các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch, bên cạnh đó đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển du lịch thị trấn Sapa, tỉnh Lào Cai
Trang 4B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: C Ơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA CỦA TỘC
NGƯỜI H’MÔNG Ở SAPA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 Các khái niệm liên quan về văn hóa, tộc người
1.1.1 Khái niệm về văn hóa
Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa lại phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau của tác giả Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nghiên cứu về văn hóa, Người viết rằng:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Có thể thấy quan điểm này của Bác xuất phát từ cuộc sống cần lao, cả đời hy sinh phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân lao động Văn hóa phản ánh cuộc sống của tất cả những người lao động, những sáng tạo từ cuộc sống
Trong cuốn sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”
Theo UNESCO: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia” Cũng trên quan điểm như vậy, ngài Fedérico Mayor – nguyên Tổng Giám đốc UNESCO cũng đã từng nói: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ, lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”
Nhìn chung các định nghĩa về văn hóa đều rất đa dạng Tuy nhiên, để thấy điểm chung thì các định nghĩa này đều cùng cho thấy rõ rằng văn hóa là sản phẩm của con người Đây là cách hiểu dễ nhất về văn hóa Văn hóa bị chi phối bởi con người và môi trường sống của họ nên văn hóa sẽ khác nhau ở mỗi nơi, mỗi vùng, mỗi tộc người
1.1.2 Khái niệm về tộc người
Theo GS.TS.Phan Hữu Dật, tộc người là cộng đồng người ình th h ành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối b ềnvững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, thức sự thống nhất của mình và làm cho ý mình khác ới ác tộc người khác v c thông qua tên t ự gọi
Còn v PGS.TS.Bới ùi Xuân Đính, ông cho rằng: Tộc người là hình thái đặc
thù c mủa ột tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển c tủa ự nhiên và xã hội, được phân biệt ởi ba đặc trưng c b ơ bản, mang tính
ổn định và tương đối bền vững qua hàng ngàn năm lịch sử là ngôn ngữ, văn hóa,
ý thức tự giác ề ộng đồng v c
Trang 5Có thể nói, tộc người (Ethnic) là một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hoá văn hóa, có mối quan hệ nguồn gốc, có chung ý thức tự giác tộc người và tên tự gọi Bên cạnh đó, tộc người còn được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa hẹp, tộc người có thể được hiểu là một cộng người
có chung tiếng mẹ đẻ Như vậy, tộc người tương đương với nhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc - ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhóm nói tiếng
mẹ đẻ Theo nghĩa này, tộc người là dùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau và có chung các đặc điểm về văn hoá mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc sử dụng một ngôn ngữ Nhưng, vấn đề đặt ra là, có rất nhiều cá nhân sống đây đó trên thế giới có cùng một ngôn ngữ mẹ đẻ song lại cách xa nhau về nhiều mặt, như về mặt địa lý (giữa các châu lục), về mặt lịch sử (thuộc nhiều quốc gia khác nhau), về mặt chủng tộc (thuộc các nguồn gốc khác nhau)… thì liệu họ có cùng một tộc người kg, hay họ là những tộc người khác nhau có cùng một ngôn ngữ, hay họ là một tộc người được chia ra làm nhiều tộc người nhỏ…
Theo nghĩa rộng, tộc người được hiểu là một cộng đồng người liên kết với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ, chính trị,… Sự kết hợp các tính chất đó tạo thành một hệ thống riêng, một cấu trúc mang tính văn hoá chủ yếu một nền văn hoá riêng biệt Nói một- cách ngắn gọn, tộc người là một tập thể hay đúng hơn, là một cộng đồng người, được gắn bó với nhau bởi một nền văn hoá riêng biệt Theo nghĩa này, các yếu tố trong
hệ thống tộc người có thể phát triển không đồng đều ở mỗi thành viên, hay sự vắng mặt của một trong số các yếu tố ở một thành viên cũng không làm cho họ tách khỏi nhóm tộc người của mình
1.1.3 Khái niệm về văn hóa tộc người
Theo đa số c ác nhà Nhân học, văn hóa t ộc người là tổng thể c ác yếu tố tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa ật chất v và văn hóa tinh thần, các ắc thái s tâm lý tình cảm, phong tục và l nghi khi ễ ến người ta có thể phân bi t ệt ộc người này v ớitộc người khác
Vì thế văn hóa tộc người là cơ sở, nền ảng nảy sinh, phát triển, duy tr t ì và củng c ý ố thức t ự giác dân tộc Đây là điều quan trọng số một của một tộc người Văn hóa t ộc người còn là tổng thể c ác yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù dân tộc, n thực hiện chức năng cố ết ộc ngườió k t và phân bi tệt ộc người này với tộc người khác Hay văn hóa tộc người là khái niệm chỉ toàn b c ộ ác giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của các dân tộc thiểu s có ố quá trình sinh tụ lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện của sự thích ứng và sáng tạo của con người trong môi trường, hoàn cảnh ự t nhiên và xã h c ội ụ thể, các giá trị đó v ừa phản ánh những nét thống nhất, sự giao thoa văn hóa tộc người trong phạm vi qu gia và ốc quốc tế Vào những năm 70 của thế kỉ XX, c ác nhà Dân t h cộc ọc ủa Liên Xô đã chia văn hóa tộc người thành c bác ộ phận: Văn hóa sản xuất, văn hóa bảo đảm đời sống, văn hóa chu ẩn mực x hội, văn hóa nhận ã thức xã hội
Trang 6Từ năm 1988, UNESSCO chia văn hóa thành hai bộ phận: văn hóa v ật thể -
những yếu tố văn hóa tồn tại dưới dạng ật chất, v văn h phi v v à óa ật thể những- yếu tố văn hóa tồn tại vô hình, không dở ạng ật chất v
1.2 Khái quát về hoạt động du lịch ở Sapa, Lào Cai
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Sa Pa là một thị trấn vùng cao, là một khu nghỉ mát nổi tiếng thuộc huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam Nơi đây ẩn chứa nhiều điều kỳ diệu của tự nhiên, phong cảnh thiên nhiên với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng cây, tạo nên bức tranh có bố cục hài hoà, có cảnh sắc thơ mộng và hấp dẫn từ cảnh quan đất trời vùng đất phía Tây Bắc
• Lịch sử
Năm 1897, chính quyền thuộc địa Pháp quyết định mở một cuộc điều tra về người dân tộc thiểu số miền núi vùng cao Những đoàn điều tra đầu tiên đến Lào Cai vào năm 1898
Mùa đông năm 1903, trong khi tiến hành đo đạc xây dựng bản đồ, đoàn thám hiểm của Sở địa lý Đông Dương đã khám phá ra cảnh quan mặt bằng Lồ Suối Tủng
Năm 1905, người Pháp đã thu thập được những thông tin đầu tiên về địa lý, khí hậu, thảm thực vật Sapa bắt đầu được biết tới với không khí mát mẻ, trong lành và cảnh quan đẹp Năm 1909, một khu điều dưỡng được xây dựng Năm
1917, một văn phòng du lịch được thành lập ở Sapa và một năm sau, người Pháp bắt đầu xây dựng những biệt thự đầu tiên Năm 1920, tuyến đương sắt Hà Nội – Lào Cai hoàn thành, Sapa được xem như thủ đô mùa hè của miền bắc Tổng cộng người Pháp đã xây dựng ở Sapa gần 300 biệt thự.
Sapa bị tàn phá nhiều trong chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979 Hàng ngàn ha rừng thông bao phủ thị trấn bị đốt sạch, nhiều toà biệt thự cổ do Pháp xây cũng bị phá huỷ Vào thập niên 1990, Sapa được xây dựng, tái thiết trở lại Nhiều khánh sạn, biệt thự mới được xây dựng Từ 40 phòng nghỉ vào năm 1990, lên tới
300 vào năm 1995 Năm 2003, Sapa có khoảng 60 khách sạn lớn nhỏ với 1.500phòng Lượng khách du lịch tới Sapa tăng lên từ 2.000 khách vào năm 1991 đến 60.000 khách vào 2002
• Vị trí
Sapa nằm trên một mặt bằng ở độ cao 1500 đến 1650 mét ở sườn núi Lô Suây Tông Đỉnh của núi này có thể nhìn thấy ở phía đông nam của Sapa, có độ cao 2228 mét Từ thị trấn nhìn xuống có thung lũng Ngòi Dum ở phía đông và thung lũng Mường Hoa ở phía tây nam
• Địa hình Khí hậu -
Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sapa ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38 km và 376 km tính từ Hà Nội
Trang 7Sapa có khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới, không khí mát mẻ quanh năm Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ, thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời thu và ban đêm là cái rét của mùa đông Nhiệt độ không khí trung bình năm của Sapa là 15 °C Mùa
hè, thị trấn không phải chịu cái nắng gay gắt như vùng đồng bằng ven biển, khoảng
13 °C – 15 °C vào ban đêm và 20 °C – 25 °C vào ban ngày Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 0 °C, đôi khi có tuyết rơi Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây khoảng từ 1.800 đến 2.200 mm, tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 5 tới tháng 8
Thị trấn Sapa là một trong những nơi hiếm hoi của Việt Nam có tuyết Trong khoảng thời gian từ 1971 tới 2011, 15 lần tuyết rơi tại Sapa Lần tuyết rơi mạnh nhất vào ngày 13 tháng 2 năm 1968, liên tục từ 3 giờ sáng đến 14 giờ cùng ngày, dày tới 20 cm
1.2.2 Các địa điểm du lịch ở Sapa
Vào thập niên 1940, người Pháp đã quy hoạch, xây dựng Sapa thành nơi nghỉ mát, điều dưỡng khá lý tưởng Bởi vậy, thị trấn apa mang nhiều dáng dấp của Smột thành phố châu Âu
Sapa có nhiều cảnh đẹp tự nhiên như thác Bạc cao khoảng 200 m, cầu Mây
là một di tích lịch sử của người dân tộc, cổng Trời là điểm cao nhất mà đường bộ
có thể đi tới để đứng ngắm đỉnh Phan Xi Păng, rừng Trúc, động Tả Phìn, bãi đá
cổ Sa Pa nằm trong Thung lũng Mường Hoa Hàm Rồng là nơi trồng rất nhiều loại hoa, màu sắc sặc sỡ và được trồng theo từng khuôn viên Ở nơi đây cũng có vườn lan với nhiều loại hoa quý hiếm
Sapa có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m trên dãy Hoàng Liên Sơn Dãy Hoàng Liên Sơn có nhiều loài gỗ quý và chim thú Trong khu rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn có nhiều loài thú được ghi trong sách đỏ Việt Nam
Vườn hoa Hàm Rồng được xây dựng theo địa thế tự nhiên của đỉnh Hàm rồng Đỉnh Hàm Rồng được bố trí như một đài quan sát, từ đây du khách có thể phóng tầm mắt thu toàn bộ thị trấn Sapa vào tầm mắt của mình Sapa có núi Hàm Rồng ở sát ngay thị trấn, bất kỳ du khách nào cũng có thể lên đó để ngắm toàn cảnh thị trấn, Thung lũng Mường Hoa, Tả Phìn ẩn hiện trong sương khói Sapa còn có nhà thờ cổ ở ngay thị trấn và từ thị trấn đi ngược về hướng đông bắc, trên đường đi tới động Tả Phìn lại có một tu viện cổ được xây bằng đá tại một sườn đồi quang đãng, thoáng mát Tại Tả Phìn này với hai tộc người là Mông
và Dao đã tạo nên cơ sở sản xuất mặt hàng thổ cẩm xuất bán cho cả nước và nước ngoài khá nổi tiếng
Đặc biệt Thung lũng Mường Hoa có 196 hòn chạm khắc nhiều hình kỳ lạ của những cư dân cổ xưa cách đây hàng ngàn vạn năm mà nhiều nhà khảo cổ học vẫn chưa giải mã được những thông tin đó Khu chạm khắc cổ đã được xếp hạng
di tích quốc gia và đang được Nhà nước Việt Nam đề nghị xếp hạng di sản thế giới Thác Bạc từ độ cao trên 200 m với những dòng nước đổ ào ào tạo thành âm thanh núi rừng và mưa xuân
Sapa với 6 tộc người cũng cư trú, mỗi tộc người có một vốn văn hoá riêng
Trang 8Đặc trưng nổi bật của Sapa là lễ hội "Roóng pọc" của người Giáy ở bản Tả Van vào ngày Thìn tháng giêng âm lịch, cùng với lễ hội “Roóng pọc” còn có hội "Sải Sán" (đạp núi) của người Mông, lễ "Tết nhảy" của người Dao đỏ, tất cả đều diễn
ra vào tháng tết hàng năm
Chợ phiên của Sapa họp vào ngày chủ nhật tại huyện lỵ Vào tối thứ bảy, có nhiều người đến chợ cùng chung vui với nhau bằng những bài hát dân ca của trai gái bản làng người H'mông, người Dao, bằng những âm thanh của đàn môi, sáo, khèn và người ta gọi đó là "chợ tình" Vào ngày chủ nhật, tại chợ có thể mua các loại dược phẩm, lâm thổ sản quý hiếm, sản phẩm nhân tạo truyền thống của các dân tộc như hàng thổ cẩm thủ công; các món ăn dân tộc như thắng cố, thịt hun khói, cải mèo, su su, rượu ngô, rượu mầm thóc xã Thanh Kim, rượu táo mèo, rượu sán lùng; các lâm sản và dược liệu như củ hoàng liên, nấm linh chi, cây mật gấu
1.2.3 Hoạt động kinh doanh du lịch ở Sapa
• Về khách du lịch
Khách du lịch quốc tế đến Sa a có mức tăng trưởng hàng năm khá cao.pLượng khách quốc tế đến Sapa tăng từ 130.603 lượt năm 2010 lên đến 253.000 lượt vào năm 2014 Khách nội địa đến Sa a lớn hơn nhiều so với khách quốc tế p
do tài nguyên du lịch phù hợp cho việc phục vụ khách nội địa và xu hướng đi du lịch trong nước tăng, cụ thể là trong 5 năm, từ 2010 đến năm 2014, lượng khách nội địa tăng từ 319.665 lượt lên đến con số 596.000
• Về doanh thu du lịch
Giai đoạn 2010 2014 mức tăng trưởng khách du lịch cao nên doanh thu - xã hội từ du lịch của Sa a cũng tăng đáng kể Năm 2010, doanh thu thuần du lịch pSapa đạt 325 tỷ đồng, đến năm 2014 tăng lên 600 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi (Nguồn: Phòng Văn Hoá Thông tin huyện Sa- pa)
• Về cơ sở vật chất, lưu trú và ăn uống
Trong những năm qua huyện Sa Pa đã tập trung chỉ đạo đúng mức, bước đầu
đã hình thành nên các điểm du lịch, hệ thống cơ sở vật chất đủ điều kiện phát triển nhanh về số lượng từng bước đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ và vui chơi giải trí của du khách
Đến năm 2014, trên địa bàn huyện có 170 cơ sở lưu trú với tổng số 2.775 phòng, 4.990 giường, trong đó có 47 khách sạn đạt từ 1 4 sao; 01 khu nghỉ dưỡng -(resort) Ngoại trừ các khách sạn Victoria Sa Pa, khách sạn Châu Long, khách sạn Bamboo, Hoàng Gia View, Holiday có qui mô lớn, còn lại hầu hết các cơ sở lưu trú khác đều có qui mô nhỏ, lượng phòng ít, thiếu các dịch vụ hỗ trợ và các phòng họp lớn phục vụ hội nghị hội thảo Ngoài ra có 107 hộ kinh doanh lưu trú tại gia -tại các xã: Tả Phìn, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, Thanh Phú, San Sả Hồ, Nậm Sài Toàn bộ số hộ kinh doanh lưu trú nhà nghỉ dân có thể đón hơn 1000 lượt khách/đêm
Trên địa bàn thị trấn hiện có 84 cơ sở nhà hàng và 01 khu ẩm thực trong đó
có 50 nhà hàng nằm trong các cơ sở lưu trú với khoảng 800 chỗ ngồi 41 và 34 nhà hàng độc lập với 1.120 chỗ ngồi chủ yếu phục vụ các món Âu, Á đáp ứng nhu cầu
Trang 9cho 6.000 khách lưu trú/ngày đêm Ngoài ra còn có rất nhiều các quán ăn có qui
mô từ 40 đến 50 ghế/quán, phục vụ các món ăn với giá cả phù hợp khả năng và nhu cầu đa dạng khách du lịch
• Phương tiện vận chuyển, đưa đón khách
Những phương tiện vận chuyển khách du lịch Sa Pa chủ yếu là các phương tiện chuyên chở khách du lịch đường bộ Các phương tiện này phần lớn thuộc sở hữu của các doanh nghiệp tư nhân và các thành phần kinh tế khác Phương tiện vận chuyển khách du lịch hiện có 154 xe từ 04 đến 50 chỗ ngồi với sức chứa 1.300 khách và 15 đầu xe buýt Lào Cai-Sa Pa-Lào Cai
1.2.4 Vai trò của người H’mông trong phát triển du lịch ở Sapa
Cộng đồng người H’Mông đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch ở Sa Pa Cộng đồng người H’Mông đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch ở Sa Pa Họ đã tham gia vào một số hoạt động du lịch như dẫn đường,
43 hướng dẫn viên, khuân vác, cung cấp lương thực, thực phẩm, bán hàng và một
số dịch vụ khác
Bản Cát Cát có 610 người H’Mông mà có tới 120 người tham gia hoạt động
du lịch chiếm tỷ lệ 19,7% dân số Làng Lý Lao Chải có 950 người H’Mông có
121 người tham gia dịch vụ du lịch chiếm tỷ lệ 12,7% dân số lịch rất cao Như vậy là số người trực tiếp tham gia dịch vụ du lịch khá đông Đó là chưa kể số người gián tiếp tham gia các dịch vụ này như sản xuất, đi mua thổ cẩm, hàng lưu niệm
Bên cạnh việc xuất hiện các ngành nghề mới, một số ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá như nghề thêu dệt thổ cẩm, làm đồ chạm khắc bạc Các sản phẩm chăn nuôi của các làng H’Mông trước kia chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ăn uống và tín ngưỡng của từng gia đình thì nay đã bước đầu trở thành các sản phẩm hàng hoá cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn Thông qua trao đổi hàng hoá, giao dịch với du khách, khả năng nắm bắt nhu cầu, giá cả thị trường của người H’Mông được nâng cao
Về t ổ chức c ác hoạt động v n ngh , v n h dân gian: ă ệ ă óa 16 làng người H’Mông còn thành lập các đội văn nghệ phục vụ khách du lịch, thu hút khoảng 200 nam
nữ diễn viên không chuyên tham gia Một số đội ở Lao Chải, Sa Pa, San Sả Hồ không chỉ biểu diễn ở làng mà còn trở thành đội văn nghệ không chuyên của các khách sạn Victorya, BamBeo, khách sạn Châu Long, khách sạn Hàm Rồng
1.3 Những nét đặc trưng văn hóa của tộc người H’Mông ở Sapa
Dân tộc H’mông sinh sống ở Việt Nam có khoảng 80 vạn người thuộc nhóm ngôn ngữ: H’Mông- Dao Người H’mông (từ Quý Châu- Vân Nam- Quảng Tây- Trung Quốc) thiên di vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm, bằng nhiều đợt, rải rác suốt thời gian dài cho tới cuối thế kỷ XIX Người H’mông vào Việt Nam
là do nguyên nhân: trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Hoa đã gây ra nhiều cuộc chiến tranh tàn bạo và đẫm máu, đàn áp nhiều tộc người (trong đó có dân tộc H’mông), để giành quyền cai trị đất nước, làm người H’mông phải thiên
di đi khắp nơi Đầu tiên, họ đặt chân đến là Mèo Vạc trên cao nguyên Đồng Văn
Trang 10(Hà Giang) Vì thế, người H’mông sinh sống ở Việt Nam đều coi cao nguyên Đồng Văn là quê hương đất tổ của mình Người H’mông phân chia thành 4 nhóm: H’mông Hoa (H’mông Lềnh), H’mông Đen (H’mông Dú), H’mông Xanh (H’mông Chúa), H’mông Trắng (H’mông Đu) Tuy có 4 nhóm H’mông khác nhau, nhưng về ngôn ngữ và văn hoá cơ bản giống nhau, sự khác nhau giữa các nhóm chủ yếu là dựa trên trang phục phụ nữ Dân tộc H’mông phân bố khắp trên các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An và số ít ở Phú Thọ Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), một bộ phận Người H’mông di cư vào sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên Có thể nói rằng người H’mông ở SaPa là một trong số ít các dân tộc đặt chân lên gồm ba nhóm địa phương: H’mông Trắng, H’mông Đen, H’mông Hoa Tuy c ú ư tr ở cao t 700m độ ừ đến 1500m, r i tả ác khắp n i ơ trên mi nền úi phíaBắc Việt Nam và ên Tây Nguyên, nhtr ưng tộc người H’mông v duy trì ẫn đươc bản sắc v n hă óa độc đáo c mình trong của ộng đồng quốc á dân t c Vi Nam.gi ộ ệt
1.3.1 Văn hóa vật thể
• Nhà ở
Với môi trường sống trên các triền núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt thì ngôi
là cột chủ đạo trong nhà, thể hiện sự ngay thẳng, cứng cáp, vững vàng của chủ nhà nên cây cột phải là cây rừng không bị sâu thối cụt ngọn Nhà của người H’mông dù to hay nhỏ đều theo một khuôn mẫu, nhà ba gian và hai cửa, một cửa chính, một cửa phụ và phải có hai cửa sổ trở lên Trong 3 gian nhà chính, gian bên trái dùng để đặt bếp lò và chỗ ngủ của vợ chồng chủ nhà Gian bên phải đặt bếp sưởi và giường khách Gian giữa rộng hơn để đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình Hai gian trái đặt cối xay ngô, giã gạo Nhà của người H’mông bao giờ cũng có sàn gác để cất giữ đồ đạc, lương thực, thực phẩm Ngô lúa khi mang từ nương về bao giờ cũng được cất lên gác , ngoài ra, sàn gác có còn
có thể làm nơi ngủ khi nhà đông khách Khói bếp sẽ làm khô và giữ cho không bị
Khi đàn ông trong nhà đi vắng thì con dâu không được phép lên gác Nhà của người H’mông không bao giờ làm dính sát vào nhau, cho dù là anh em ruột thịt Làm nhà được coi là một việc hệ trọng trong đời người H’ ông, do vậy ngày m
về nhà mới là ngày đại sự của gia chủ Ngày hôm ấy, người ta tổ chức ăn uống vui vẻ, chúc nhau mọi sự tốt lành
Dù đi bất cứ địa phương nào có người H’Mông sinh sống chúng ta sẽ thấy được những ngôi nhà có kiểu thiết kế giống nhau Vậy nếu khi tới du lịch Sapa
mà không tới thăm những ngôi nhà của người H’Mông thì thật đáng tiếc
Không giống các nhóm H’mông khác thường mặc váy nhóm dân tộc , H’mông sinh sống ở Sapa lại mặc quần, cả đàn bà và đàn ông đều mặc quần, họ chỉ mặc váy khi ất hoặc vào các dịp đặc biệt.m
Trang 11Bộ trang phục nữ gồm có y phục (khăn, áo, thắt lưng, xà cạp, quần) và đồ trang sức Trong đó khăn là tấm vải vải chàm hình chữ nhật khổ 18 x 50cm Áo của phụ nữ H’mông có hai loại: Loại áo mặc trong màu chàm, xẻ ngực Các loại
áo khoác ngoài cộc tay, thân dài, cổ áo thêu các loại họa tiết hoa văn kỉ hà theo
mô típ các họa tiết cổ móc câu kép biến thể như họa tiết trang trí mặt trống đồng Đông Sơn Thắt lưng được làm bằng vải có tua ở hai đầu, giữa thêu các họa tiết hoa văn Người còn sống thắt dải hoa văn về phía sau lưng Khi ất thắt dải hoa mvăn về phía trước bụng Quần của phụ nữ mông là quần lửng qua gối, bắp chân quấn xà cạp bằng màu chàm Đồ trang sức của phụ nữ khá phong phú, trong đó bao gồm: vòng khuyên tai to và vòng cổ, ngày thường thì đeo loại đơn, ngày lễ thì đeo loại kép có nhiều vòng biểu hiện của sự giàu có Vòng cổ có hình hai đầu chim hoặc hai đầu rắn - biểu tượng của vật tổ Ngoài ra còn có vòng tay và xà tích Trang phục nam: Mũ bằng vải lanh hình quả dưa gồm tám miếng vải khâu ghép Áo trong xẻ nách ngắn, áo ngoài dài Cổ áo thêu hoa văn móc câu kiểu hoa văn đơn Quần thì chàm màu đen ống rộng, đũng rộng
Trang phục nữ mặc khi mất: Người H’mông khi về già đều chuẩn bị một bộ trang phục để khi ất sẽ mặc đẹp đi gặp tổ tiên Bộ trang phục nữ gồm có khăn, m
áo như ngày thường nhưng có thêm một áo khoác dài tay toàn bộ phía lưng vai, sau ống tay đều thêu, in sáp ong các băng dải hoa văn rực rỡ Nền vải áo là vải lanh nhuộm chàm pha củ nâu tạo thành màu tím than Khi sang thế giới bên kia, người phụ nữ Mông phải mặc váy bằng vải lanh Thân váy in hoa sáp ong, gấu váy thêu các hoạ tiết hoa văn khổ to, phối nhiều gam màu nóng: đỏ, vàng, da cam tạo vẻ rực rỡ
Từ đây có thể thấy, bộ trang phục của người H’mông không chỉ có ý nghĩa phục trang bình thường mà nó còn phản ánh của thế giới quan, phản ánh cả một nền văn hoá rất sâu sắc bên trong đó và rất cần những định hướng cụ thể để giúp đồng bào gìn giữ những kĩ thuật chế tác trang phục độc đáo của mình
Người H’mông ăn bột ngô đồ là chính, ăn cơm là phụ.Thường ngày, họ ăn cơm gạo tẻ theo cách chế biến đồ trong chõ gỗ Đa số các món ăn chủ yếu được chế biến theo cách luộc hoặc xào Các loại thịt nếu có nhiều ăn tươi không hết, họ thường để dành bằng cách sấy khô để trên rách bếp (giàn bếp) Người H’mông xúc thức ăn bằng thìa gỗ, dùng đũa chỉ là phụ Khi có khách phụ nữ không được ngồi ăn chung, chủ nhà bao giờ cũng ngồi ở trên,lưng quay vào bức vách hậu gian giữa Trong dịp lễ tết, hay nhà có khách thường được thiết đãi bằng thịt gà, rượu
Họ hút thuốc lào bằng điếu cày là phổ biến Nếu chủ nhà tự tay nạp thuốc vào điếu mời khách hút, được coi là cử chỉ quí mến khách
1.3.2 Văn hóa phi vật thể
• Hôn nhân và ma chay
Hôn nhân của người H’mông thông qua mua bán và có phần tin vào tín ngưỡng Trong lễ ăn hỏi, người H’mông tin rằng đôi trai gái có hợp nhau hay không là do lễ cúng “xem chân gà” Người con gái được định giá thông qua giá trị vật chất thịt, rượu, bạc trắng, thuốc phiện Mỗi đám cưới thường nhà gái yêu
Trang 12cầu từ 60 đến 120 đồng bạc trắng, từ 60kg đến 120kg thịt lợn, từ 60kg đến 120kg rượu và một số thuốc phiện Giá trị vật chất nhà gái yêu cầu càng nhiều đối với nhà trai thì người con gái đó càng hoàn hảo về tài sắc Trong quan hệ hôn nhân con dì, con cô, con cậu được phép lấy nhau Người H’mông có phong tục em chồng được phép lấy chị dâu (nếu anh trai đã mất), ngược lại chị dâu có quyền lấy em chồng là để giữ gìn tài sản và có trách nhiệm nuôi dưỡng các cháu của anh trai Nếu em chồng đã có vợ thì chị dâu chỉ được làm vợ lẽ Trong trường hợp gia đình không có em chồng thì chị dâu được phép lấy em họ
Tục cướp vợ rất phổ biến: một nhóm thanh niên từ 3 đến 5 người, tổ chức
họp nhau đón đường bắt cóc người con gái mang về nhà mình (dù người con gái
đó có bằng lòng hay không bằng lòng) Trong thời điểm người con gái bị cướp mọi người trong họ hàng, gia đình, anh em không được phép tham gia giải cứu Sau hai hôm cướp vợ, nhà trai cử người sang nộp phạt tiền danh dự cướp vợ và báo cho gia đình nhà gái biết sự việc Sau đó, hai bên gia đình bàn bạc, ấn định ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ thành hôn cho đôi trai gái Người H’mông tin rằng quan hệ hôn nhân với dòng họ khác thì làm ăn mới phát đạt, nòi giống mới phát triển tốt
Theo phong tục của người H’Mông, hôn nhân phải đủ nghi lễ như dạm hỏi,
ăn hỏi và lễ đón dâu, tất cả đều được tổ chức vào ngày lành tháng tốt Lễ dạm hỏi bắt buộc phải có hai ông mối thông thuộc các bài hát nghi lễ cưới xin, kết nối hai nhà để làm thủ tục dạm hỏi và hẹn ngày đón dâu Lễ cưới chính thức, nhà trai mang lễ vật sang nhà gái từ chiều hôm trước Lễ đón dâu được tổ chức vào sáng hôm sau Cô dâu mặc áo màu đỏ, váy hoa, đầu quấn khăn xanh Lễ cưới diễn ra trong những cuộc mời rượu, đối đáp giữa các thanh niên, thiếu nữ Sau đó cô dâu làm lễ cúng tổ tiên, ma nhà, ma cửa để về nhà chồng Khi về nhà chồng, gia đình nhà chồng bày một mâm cơm cúng tổ tiên để ra mắt con dâu
V ma chay, tề rước kia thường được tổ chức kéo dài từ 5 đến 7 ngày, ngày nay giảm xuống còn từ 2 đến 3 ngày Khi gia đình có người ất, họ đi mời người m(thầy mo) đến làm thủ tục cúng hát mở đường, sau đó mới tiến hành khâm liệm (áo ngoài bằng lanh thì mới được đoàn tụ với tổ tiên) Cách hành xử mỗi nơi mỗi khác: có nơi để người chết trên “cáng” treo trước bàn thờ hoặc để trên ghế dài đặt ngang cửa ra vào Có nơi người chết được đặt vào quan tài nhưng không đậy nắp
để dễ dàng xem mặt người chết Trong lúc hát mở đường đến đoạn sự tích gà dẫn đường cho người chết về với tổ tiên, người ta mang một con gà đã chết để nguyên lông đặt trong âu bột ngô để phía dưới người chết Trong đám ma người H’mông dùng khèn và trống để thực hiện nghi lễ tiễn đưa người chết về với tổ tiên được êm đẹp Sau khi chôn cất xong, nếu là nam giới, người ta cắm 9 cành
lá, nữ giới cắm 7 cành để đánh lạc hồn người chết không quay về làm hại những người thân trong gia đình Lễ cúng đưa hồn người chết về với tổ tiên sau khi chôn cất hoặc kéo dài một hay vài năm
• Tín ngưỡng tôn giáo
Người mông còn tiếp thu yếu tố văn hoá mới Kitô giáo (đạo Thiên Chúa H’
và đạo Tin Lành) Từ năm 1888, thực dân Pháp chiếm đóng Sapa đã có ý định
Trang 13xây dựng các cơ sở truyền giáo Nhưng mãi tới năm 1921, mới có 5 gia đình H’mông theo đạo và đến những năm 40 của thế kỷ XX, chỉ có 33 hộ gia đình người mông ở 11 làng theo đạo.H’ Người H’mông Sapa ở theo đạo không chỉ do yêu cầu tín ngưỡng khao khát một niềm tin mà chủ yếu là do sự thúc đẩy của tâm
lí thực dụng Họ cần đi theo chúa không chỉ vì hạnh phúc trên thiên đàng mà vì những vấn đề thiết thân trong cuộc sống đang đặt ra Người H’mông coi tôn giáo chỉ là phương tiện nhằm giải quyết những nhu cầu bức xúc của đời sống chứ không quan tâm nhiều về triết lí, về hạnh phúc hư ảo ở thế giới bên kia
• Tín ngưỡng tâm linh và thờ cúng tổ tiên
Thờ cúng tổ tiên, đó là thờ cúng ông bà, cha mẹ và những người đồng tộc đã mất Người ta tin rằng tổ tiên đã ất, che chở cho con cháu đang sống làm những mnghi lễ cầu xin cho các thành viên thị tộc hay gia đình và tiến hành những nghi thức nhằm thờ phụng tổ tiên
Bên cạnh thờ cúng tổ tiên, người H’mông còn tồn tại một hệ thống ma nhà với những lễ thức cúng bái riêng biệt: “Xử Cả” là ma có vị trí quan trọng trong hệ thống các ma nhà người mông, gắn liền với sự giàu có, nhất là tiền bạc H’ Bên cạnh đó là “Bùa Đáng” (ma lợn), “Xìa Mình” (ma cửa), “H Sinh” (ma bếp), ú
“Nhìu Đáng” (ma trâu)
Người H’mông còn thờ cúng thần cộng đồng “Giao” (thần thổ địa) Đồng bào quan niệm: Người dân trong “Giao” khoẻ mạnh, mùa màng bội thu, gia súc nhiều, dân số tăng là nhờ thần thổ địaphù hộ Hàng năm vào ngày Thìn của tháng hai (hoặc ngày mồng 2 tháng 2) đại diện các gia đình trong “Giao” đến khu rừng cấm, nơi thờ thần làm lễ cúng thần, lễ vật cúng là gà, hoặc lợn và rượu
• Văn hóa nghệ thuật
Người mông có một nền văn hoá nghệ thuật phong phú,H’
truyện cổ dân ca chiếm một vị trí quan trọng, gồm nhiều loại (cúng ma, tình yêu, cưới xin, làm dâu,…) Trong dân ca không chỉ có những bài ngắn mà đã có những liên khúc dài nổi tiếng như “ Tiếng hát làm dâu” được nhiều dân tộc biết đến Mỗi người H’mông ít nhiền đều biết dân ca cũng như nhiều nam nữ thanh niên biết gảy đàn môi, thổi kèn lá rất điêu luyện.
Các loại nhạc cụ như khèn, kèn lá, đàn môi và các loại hình hoa văn trang trí trên trang phục phụ nữ là những tác phẩm nghệ thuật dân gian đẹp, cái đẹp tươi sáng tự nhiên của vùng cao
• Lễ hội
Trong một năm, đồng bào H’mông có hai Tết lớn: Tết năm mới và Tết mồng
5 tháng 5 Tết đón mừng năm mới là cái tết quan trọng nhất của cộng đồng H’mông, đó là thời khắc thiêng liêng để người H’mông tưởng nhớ tổ tiên, tỏ lòng biết ơn trời – đất đã cho thu hoạch mùa màng và cầu mong vụ mùa năm mới tươi tốt… Bắt đầu từ ngày 26 tháng 11 âm lịch, mọi người đã chuẩn bị các vật dụng cần thiết như rượu, hương, củi, mổ lợn và làm bánh dầy để đón mừng năm mới.Đêm 30 rạng sáng ngày mồng 1, khi gà cất tiếng gáy chào ngày mới, một người