Trong báo cáo tổng kết năm 2006 của Tòa án Nhân dân tối cao về vấn đề hôn nhân và gia đình ở nước ta, tình trạng ly hôn có xu hướng gia tăng từ năm này qua năm khác, đặc biệt là sau khi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THU T TP.HCM Ậ
- -
MÔN HỌC: NHẬP MÔN XÃ HỘI HỌC
TIỂ U LU N Ậ
GVHD: GVC.TS NGUYỄN TH Ị NHƯ THÚY
SVTH:
1 Huỳnh Huy Hoàng 20155088
2 Phạm Gia Phú 20155109
3 H Sồ ỹ Châu 20142471
4 Nguy n Th ễ ị Bích 20161293
5 H a Nguy n Huy n My 20129064 ứ ễ ề
6 Nguy n Ngễ ọc Thùy Trang 20129087
7 Hu nh Th ỳ ị Ngọc C m 20159055 ầ
8 Lý Trung Hậu 18161216
Mã lớp học phần: INSO321005_12
Thành phố H ồ Chí Minh, tháng 10 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC PHẦN M ỞĐẦ 1 U
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
PHẦN NỘI DUNG 2
1.1 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu 2
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.1.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.1.3 Khách thể nghiên cứu 2
1.2 Tính bức xúc của vấn đề 2
1.3 Giải thích trên cơ sở lý thuyết dữ liệu kết qu nghiên cứu v ả ề nguyên nhân của vấn đề 5
1.3.1 Các khái niệm 5
1.3.2 Lý thuyết xung đột - cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu trong luận văn 8 1.3.3 Nguyên nhân và giải thích nguyên nhân 9
1.4 Xu hướng c a vủ ấn đề trong tương lai 11
PHẦN KẾT LU N Ậ 16
TÀI LIỆU THAM KH O Ả 17
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦ U
1 Lý do chọn đề tài
Ly hôn đang là một thực trạng đáng báo động ở Việt Nam trong những năm gần đây Trong báo cáo tổng kết năm 2006 của Tòa án Nhân dân tối cao về vấn đề hôn nhân và gia đình ở nước ta, tình trạng ly hôn có xu hướng gia tăng từ năm này qua năm khác, đặc biệt là sau khi đất nước ta đổi mới Năm 1992, cả nước có 32.000 vụ ly hôn, năm 1996 là 43.000, năm 2001 là 54.479 vụ và 2006 là 69.523 vụ
Tỷ l ệ ly hôn ở nước ta đang ngày một tăng Cuộc điều tra do Bộ Văn hoá-Thể thao
& Du lịch, phố ợp với h i Tổng c c Thụ ống kê, vớ ự h i s ỗ trợ c a UNICEF cho th y, s ủ ấ ố
vụ ly hôn đang tăng nhanh Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ Người vợ đứng đơn ly hôn hiện gấp 2 lần so với người chồng đứng đơn Người tốt nghiệp đại học, cao đẳng có tỷ lệ ly hôn từ 1,7- 2%, thấp hơn tỷ
lệ 4- 6% của người không có bằng c p Sấ ố năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp v ợ chồng 18- 60 tuổi là 9,4 năm; còn riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố ớ l n, ch 8 năm Có 4 nguyên nhân thườỉ ng xảy ra nhiều là: mâu thuẫn về lối sống (chi m 27,7%); ngoế ại tình (25,9%); kinh t (13%); bạ ực gia đình (6,7%).ế o l Theo những cuộc điều tra nghiên cứu mới đây, tình trạng ly hôn ở các nước châu Á trong đó có Việt Nam có xu hướng tăng mạnh PGS.TS Nguyễn Hữu Minh- Viện trưởng Viện Nghiên cứu gia đình và giới (Viện Khoa học xã hội VN) cho biết gần đây
có trên 60.000 vụ ly hôn/năm ở Việt Nam và xu hướng này đang tiếp tục tăng "Ly hôn nhiều, khi đi sâu phân tích các nguyên nhân để làm giảm tỉ lệ này, chúng tôi thấy các cặp v ợ chồng đang rất thiếu kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử trong cuộc sống chung khó khăn, nhiều khác biệt trong sinh hoạt"
2 M ục đích nghiên cứ u
Tìm hiểu về vấn đề ly hôn ở giới trẻ hi n nay TP.HCM ệ ở
Giúp các bạn trẻ thấy được nhũng tác hại của việc ly hôn sớm, từ đó hạn chế, suy nghĩ kỹ trước khi đưa ra quyế ịnh ly hônt đ
Đề xuất các giải phải khi gặp các vấn đề vợchồng, các hướng giải quyết giảm tình trạng ly hôn
Trang 43 Phương pháp nghiên cứ u
Phương pháp tham khảo và sưu tầm tài liệu: tài liệu nghiên cứu dựa vào thông tin truy cập trên sách bào mạng
PHẦN NỘI DUNG
Thực trạng li hôn sớm trong gi i tr ớ ẻ
Phạm vi không gian: Nghiên cứu các trường hợp ly hôn tại địa bàn Thành phố H ồ Chí Minh, theo kết quả cuộc khảo sát “Tình hình ly hôn trong thanh niên ở TP.Hồ Chí Minh” của Trung tâm Tư vấn giáo dục tâm lý - thể chất TP.Hồ Chí Minh
Các vấn đề được đề ập, nghiên cứu đều có thời gian và không gian rõ ràng, c được thu thập vào tháng 1/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh
Các hồ sơ ly hôn tại Thành phố Hồ Chí Minh và những người dân tham gia vào cuộc khảo sát
Ly hôn đang là một thực trạng đáng báo động ở Việt Nam trong những năm gần đây Trong báo cáo tổng kết năm 2006 của Tòa án Nhân dân tối cao về vấn
đề hôn nhân và gia đình ở nước ta, tình trạng ly hôn có xu hướng gia tăng từ năm này qua năm khác, đặc biệt là sau khi đất nước ta đổi mới Năm 1992, cả nước có 32.000 vụ ly hôn, năm 1996 là 43.000, năm 2001 là 54.479 vụ và 2006
là 69.523 vụ
Tỷ l ệ ly hôn ở nước ta đang ngày một tăng Cuộc điều tra do B ộ Văn hoá-Thể thao & Du l ch, ph i h p v i Tị ố ợ ớ ổng c c Thụ ống kê, với s h ự ỗ trợ c a UNICEF ủ cho th y, s v ấ ố ụ ly hôn đang tăng nhanh Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ Người vợ đứng đơn ly hôn hiện g p 2 lấ ần
so với người chồng đứng đơn Người tốt nghiệp đại học, cao đẳng có tỷ lệ ly hôn t 1,7- 2%, thừ ấp hơn tỷ ệ l 4- 6% của người không có bằng cấp Số năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ chồng 18- 60 tuổi là 9,4 năm;
Trang 5còn riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố lớn, chỉ 8 năm Có 4 nguyên nhân thường xảy ra nhiều là: Mâu thuẫn v lề ối s ng (chi m 27,7%); ngoố ế ại tình (25,9%); kinh t (13%); b o lế ạ ực gia đình (6,7%)
Theo nh ng cuữ ộc điều tra nghiên cứu mới đây, tình trạng ly hôn ở các nước châu Á trong đó có Việt Nam có xu hướng tăng mạnh PGS.TS Nguy n Hễ ữu Minh- Viện trưởng Viện Nghiên cứu gia đình và giới (Viện Khoa học xã hội VN) cho bi t gế ần đây có trên 60.000 vụ ly hôn/năm ở Việt Nam và xu hướng này đang tiếp tục tăng "Ly hôn nhiều, khi đi sâu phân tích các nguyên nhân để làm giảm tỉ lệ này, chúng tôi thấy các cặp vợ chồng đang rất thiếu k ỹ năng sống,
kỹ năng ứng x trong cu c sử ộ ống chung khó khăn, nhiều khác biệt trong sinh hoạt", ông Minh nói
Hôn nhân và gia đình luôn có mối liên hệ mật thi t, gế ắn bó với nhau Hôn nhân là cơ sở, là viên gạch đầu tiên xây dựng nên một gia đình Quan hệ hôn nhân được thiết l p mậ ột cách tự nguyện, gia đình sẽ bền vững Ngượ ại, hôn c l nhân bị ép buộc, lạc hậu thì rất khó để xây dựng một gia đình hạnh phúc Trên thế giới cũng như ở nước ta, quan hệ hôn nhân và gia đình đang biến đổi mạnh
mẽ Sự biến đổ ủa xã hội kéo theo nhữi c ng biến đổ ớn trong đờ ống gia đình.i l i s
Ly hôn là một hiện tượng xã hội ph c tứ ạp, để ại cho cá nhân trong cuộc và l
xã hội những hậu qu n ng nả ặ ề Ly hôn được rất nhiều ban ngành quan tâm, nghiên cứu, trong đó có xã hội học Xét từ góc độ xã hội học: “Nếu hôn nhân là hiện tượng bình thường thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng nó không thể thiếu được khi quan h ệ hôn nhân đã thực sự tan
vỡ, khi hôn nhân không còn mang ý nghĩa như ban đầu, khi tình yêu hôn nhân
ấy đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là cái vỏ ề ngoài , là sự b giả dối” (Lê Thi, Vấn
đề ly hôn, nguyên nhân và xu hướng vận động Tạp chí Xã hội học, s 1(57), ố năm 1997) Mặt ti n b cế ộ ủa ly hôn là giải phóng cho mỗi cá nhân khi hôn nhân của h ọ đã thực sự tan v ỡ
Ly hôn mang đến cho họ một cu c s ng mộ ố ới Nhưng mặt không tiến bộ của
ly hôn là để lại hậu qu n ng n ả ặ ề cho cá nhân trong cuộc và cho xã hội
Gia đình là một trong những nhân tố quan tr ng, quyọ ết định s ự phát triển bền vững của xã hội Xây dựng gia đình Việt Nam ít con, no ấm, ti n bế ộ, bình đẳng, hạnh phúc là động lực c a chiủ ến lược phát triển kinh t ế xã hội đất nước ta trong giai đoạn mới hiện nay
Trang 6Song, ly hôn đang là thực trạng bức xúc của xã hội Bởi, ly hôn kéo theo sự phân chia tài sản, con cái, chấm dứt quan hệ thân nhân vợ chồng Xã hội phải gánh chịu hậu qu n ng n ả ặ ề khi ly hôn xảy ra như tình trạng tr em ph m tẻ ạ ội trong các gia đình ly hôn tăng nhanh
Bên cạnh đó, có một thực trạng đáng báo động, đang ngày một phổ biến và
có xu hướng gia tăng là hiện tượng ly hôn ở các cặp vợ chồng trẻ Theo th ng ố
kê của tòa án nhân dân các cấp, năm 1994 cả nước có 22.000 vụ ly hôn Bốn năm sau, con số này đượ nhân lên hai lần Và theo ước tính, năm 2006 vừc a qua, c ả nước có khoảng 66.000 vụ ly hôn Tòa án nhân dân (TAND) lúc nào cũng trong tình trạng bận rộn bởi án ly hôn chiếm tới 50% các án về dân sự nói chung Theo thống kê của Tòa án Nhân dân tối cao, năm 2010, nước ta có gần 88.000 v ụ ly hôn, tăng hơn 9.700 vụ so với năm 2009 Trong đó, số cặp v ợ chồng tr ẻ dưới 40 tuổi ly hôn chiếm khoảng 30% Nh ng con s ữ ố trên cho thấy, tình trạng ly hôn trong giới trẻ đang ở ức báo độ m ng
Còn theo một công trình nghiên cứu xã hội h c c a ti n s Nguyọ ủ ế ỹ ễn Minh Hòa (Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TP Hồ Chí Minh): tỷ l ly ệ hôn/kết hôn ở Việt Nam là 31,4% , tức là cứ ba c p kặ ết hôn lại có một cặp ly hôn Con số khó tin, nhưng đó là sự ực Điều đáng buồn hơn là 60% số th vụ ly hôn này thuộc về các gia đình trẻ, tuổi vợ chồng chỉ từ 23 - 30, trong đó 70% ly hôn khi mớ ết hôn chỉi k từ 1 - 7 năm và hầu hết đã có con Kết quả này cũng được phản ánh rõ nét qua thực tiễn xét xử án ly hôn, khi độ ổi xin ly hôn ngày tu càng trẻ hóa Ly hôn trong gia đình trẻ đang gia tăng, từ18-30 tuổi là 34,7%, từ 30-dưới 50 là hơn 55%, hơn 50 tuổi là 8,7% Như vậy, qua tư vấn cho thấy, thực tr ng s ạ ố năm kết hôn ngày càng ngắ ại Đây là là thựn l c tế mà trung tâm tư vấn nào cũng thấy rất rõ ”
Thực tr ng này đang trở nên thựạ c sự nghiêm trọng, phổ biến ở nhi u tề ỉnh thành trong nước, đặc biệt là tại các đô thị ớn Theo báo cáo của tòa án nhân l dân Tp Sài Gòn thì từ năm 1985-1990 ch ỉ riêng Tp Sài Gòn có 21.834 vụ ly hôn, vậy trung bình một năm là 3.639 vụ thì từ năm 1990 1995 lên tớ- i 31.697
vụ, trung bình mỗi năm là 5.283 vụ Như vậ y so với các năm trước 1990 thì mỗi năm sau tăng lên gần 2000 v Theo s ụ ố liệu năm 1995 tại Tp Sài Gòn, có 5.195
vụ ly hôn trên tổng số 15.918 đôi kết hôn Như vậy c ứ 3 đôi kết hôn thì có 1 đôi
ly hôn Bà Nguyễn Thị Thương, Giám đốc Trung tâm Tư vấn gia đình và ly hôn
Trang 7FDC, thu c Hộ ội Kế hoạch hoá gia đình Việt Nam chia sẻ: “Nhiều thông tin phản ánh cho rằng, tình trạng ly hôn ở TP HCM đang gia tăng là sự thật” Việt Nam đang trên chặng đường Công nghiệp hoá – hiệ đại hoá, tiến lên chủ nghĩa xã hội trước những biến đổi to lớn, bên cạnh đó gia đình Việt Nam cũng
có những chuyển mình nhanh chóng theo cả xu hướng tích cực và tiêu cực Biểu hiện cho s ự biến đổi đó là tỷ ệ ly hôn tăng với xu hướng ph c t l ứ ạp, đặc biệt là ở các đô thị ớn như Thành phố l Hồ Chí Minh
1.3 Giải thích trên cơ sở lý thuyế t d ữ liệ u k t qu ế ả nghiên cứu
về nguyên nhâ n c a v ủ ấn đề
1.3.1.1 Gia đình
“Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhím xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn với nhau b ng mằ ối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc mối quan hệ nhận con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt trách
nhiệm, đạo đức v i nhau, nhớ ằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên, cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hộ ề i v tái sản xuất con
người” (Theo Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (đồng ch ủ biên) cùng nhóm tác giả, “Xã hộ ọc”, Nhã xuấ ản Đại h t b i học Quốc Gia Hà Nội năm 1997, tr.306)
Con người, phần lớn đượ ốc s ng trong một nhóm gọi là gia đình Trong nhóm đó, con ngườ ần đầu tiên đượi l c học về luật lệ, sự bất bình đẳng,
quyền l c, nhự ững giá trị, những chuẩn mực, ngôn ngữ, nhận d ng t t c ạ ấ ả các yếu t ố khác tồ ại trong đờ ống xã hội…Gia đình là mối liên hện t i s giữa v ợ chồng và con cái Mọi thay đổ ớn trong xã hội l i chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới cấu trúc và văn hoá của từng nhóm, từng gia đình Gia đình chính là một nhân tố đặt con người trong một hệ thống phân tầng, đặt con người vào vị trí của mình trong hệ thống xã hội
Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan h ệ tình cảm, quan h ệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và/hoặc quan h ệ giáo dục
Trang 81.3.1.2 Hôn nhân
“Hôn nhân” là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà trên cơ sở
tự nguyện, bình đẳng được thực hiện v i s ớ ự tuân theo các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, nhằm để chung s ng vố ới nhau và xã hội gia đình hạnh phúc, hoà thuận dân chủ”
Trong xã hội, hôn nhân được coi như một thiết chế xã hội, là một yêu cầu cần phải có đố ới v i mỗi các nhân, hôn nhân như là một nếp sống cần phải theo, ý thức hôn nhân luôn tồ ại trong đầu óc củn t a từng con người thông qua s ự xã hội hoá trong gia đình và ngoài xã hội
Hôn nhân là một sự hợp nhất được công nhận về mặt văn hóa giữa những người, được gọi là vợ chồng Hôn nhân tạo ra quy n lề ợi và nghĩa vụ giữa họ, cũng như giữa họ và con cái của họ, và giữa h ọ và gia đình ủa người kia c
1.3.1.3 Ly hôn
Nếu như kết hôn là sự kiện bình thường, là thời điểm bắt đầu của hôn nhân, là bước khởi đầu cho vi c t o lệ ạ ập gia đình, thì ly hôn là mặ ất bìnht b thường, là sự tan vỡ các quan hệ hôn nhân và gia đình, hay nói cách khác ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình “Ly hôn là việc chấm d t ứ quan h v - ệ ợ chồng khi hai người còn sống do một bên yêu cầu hoặc do hau bên thuận tình, được Toà án nhân dân công nhận bằng bản án xử cho ly hôn hoặc b ng quyằ ết định thuận tình ly hôn Nói cách khác, ly hôn là việc làm chấm d t quan h v - ứ ệ ợ chồng trước pháp luật”
Nguyên nhân:
Ngoại tìn
Vợ hoặc Chồng thiếu tôn trọng l n nhaẫ
Kết hôn khi còn quá trẻ tuổi
Không tin tuông nhau,ghen tuông quá đà
Áp lực trong đời sống V ợ Chồng
Bạo lực gia đình
Biện pháp:
Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gi
Nâng cao chất lượng giáo dục trong gia đình cũng như Nhà trường và
xã hội đối với giới tr
Trang 9 Đẩy mạnh vai trò củaHội liên hiệp phụ nữ để làm tốt công tác hòa giải ngay từ cơ sở, giải quyết những mâu thuẫn ngay khi mới phát sinh, từ
đó hạn chế việc gửi đơn ra Tòa để xin ly hôn
Cần đưa chỉ tiêu nângcaoviệc hòa giải thành trong việc giải quyết án
ly hôncủa ngành Tòa án,để góp phần kìm chế tình trạng ly hôn gia tăng
1.3.1.4 X ung đột vợ chồng
Theo Simmel, nhà triế ọc, tâm lý học, xã hộ ọc người Đức, các cát h i h
nhân rất dễ xung đột với nhau, bởi vì khác với muôn loài, các cá nhân sử dụng xung đột với tư cách là phương tiện, hình thức, phương thức để đạt được mục tiêu (Theo Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2002)
Xung đột giữa vợ - chồng có thể xảy ra khi c v ả ợ và chồng có quan điểm đối ngược nhau nhưng lại được thừa nhận có cùng một mục tiêu, mục đích
Xung đột vợ chồng gắn liền với quy n l c c a m t trong hai v ề ự ủ ộ ợ chồng, khi người này muốn sử dụng quy n lề ực để áp đặ ợi ích của mình đố ới ngườt l i v i kia
Xung đột về mặt lợi ích hay kinh tế giữa vợ và chồng gắn liền với quyền l i ợ hay lợi ích, khả năng sử dụng những cơ may vật chất giữa vợ và chồng
Xung đột vợ chồng cũng xuất hiện khi cách cư xử giữa hai v ợ chồng liên quan đến các giá trị khác nhau ảnh hưởng đế ợi ích (lợi ích vận l t ch t ho c ấ ặ lợi ích về mặt tinh thần) của người kia
Nguyên nhân:
Chuyện sinh con
Tiền
Các mối quan hệ bên ngoài
Quyền hành trong nhà
Biện pháp:
Chủ ng b t chuyđộ ắ ện để trở ại bình thường l
Nói chuyện với nhau một cách bình tĩnh
Nhận một phần trách nhiệm và xin lỗi
Lắng nghe nhau
Trang 10 Cùng nhau hòa giải để vui vẻ trở lại
Theo quan điểm của Marx, Marx là người đã áp dụng một cách nhìn tổng quát để giải thích các nhóm xã hội Theo Marx chính trong quá trình phân công lao động xã hội, mối quan hệ về mặt tư liệu sản xuất là vấn đề tất yếu để hình thành các tầng lớp, giai cấp khác nhau Vì chúng khác nhau về quyền sở hữu tư liệu sản xuất dẫn đến sự phân hóa trong quá trình sản xuất và bất bình đẳng là không thể tránh khỏi trong việc phân công sản phẩm xã hội và mâu thuẫn nảy sinh từ đó Vì thế Marx nói rằng mọi nguyên nhân đều có nguyên nhân từ yếu tố kinh tế Sự khác nhau về quyền lợi kinh tế dẫn đến sự khác nhau về vị thế xã hội
và các quan hệ bất bình đẳng trong các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân, khi đó mâu thuẫn nảy sinh Từ mâu thuẫn kinh tế chuyển sang mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, quyền lực là một chặng đường không xa Mâu thuẫn hoặc xung đột xuất hiện do bất bình đẳng trong các giai cấp, các cá nhân trong xã hội, do mối quan hệ thống trị và bị trị Mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quan hệ
xã hội Mâu thuẫn có mối liên hệ mật thiết với các tổ chức xã hội mà ông gọi là các hình thái kinh tế xã hội và xung đột không phải là cái gì khác nằm ngoài cơ cấu xã hội mà nó là kết quả của quá trình vận hành xã hội trên với tư cách là một hệ thống có cấu trúc xác định
Sống trong một xã hội với nhau, mâu thuẫn và xung đột là không thể tránh khỏi mà nguyên nhân không đâu khác đều bắt nguồn từ yếu tố kinh t , kinh t ế ế là yếu t dố ẫn đến s bự ất bình đẳng trong xã hội, phân chia giai cấp, người giàu bóc lột s c l c c a cứ ự ủ ải của người nghèo từ đó dẫn đến mâu thuẫn gay gắt trong xã hội
Theo quan điểm c a Dahrendorf, Dahrendorf cho r ng trong b t củ ằ ấ ứ một mô hình tổ chức xã hội như thế nào thì quá trình xung đột là không thể tránh khỏi Theo ông, muốn giải quyết được xung đột trước tiên phải xây dựng được mô hình xung đột Trong xã hội có những loại mô hình xung đột cơ bản như “xung đột theo mô hình quyề ực”, nó gắn l n li n về ới các quyề ợi chính trịn l của t ng ầ lớp th ng tr ố ị trong xã hội Loại th ứ hai là “xung đột mặt lợi ích hay kinh tế”, nó gắn li n v i quy n l i hay lề ớ ề ợ ợi ích, khả năng sử dụng những cơ may vật chất, mô hình này liên quan tới toàn thể các thành viên trong xã hội Loại thứ ba là “xung đột về mặt đạo đức, tinh thần”, nó liên quan đến cách cư xử giữa con người với nhau liên quan đến giá trị vật chất và tinh thần, thẩm m ỹ và tôn giáo Ông đưa