1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BỘ GIÁO dục và đào tạo

94 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (10)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu (12)
    • 2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (12)
    • 2.3. Đánh giá về tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu (16)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
    • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (17)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (17)
  • 6. Bố cục của Luận văn (18)
  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ (19)
    • 1.1. Tổng quan về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá (19)
      • 1.1.1. Khái niệm về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa (19)
      • 1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa (21)
      • 1.1.3. Nội dung cơ bản của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa (23)
      • 1.1.4. Vai trò của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa (23)
    • 1.2. Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá (24)
      • 1.2.1. Đối tượng của hợp đồng nhập khẩu hàng hoá (24)
      • 1.2.2. Điều kiện hiệu lực của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa (24)
      • 1.2.3. Thẩm quyền ký kết hợp đồng (27)
      • 1.2.4. Điều kiện giao hàng (28)
      • 1.2.5. Điều khoản chất lượng (30)
      • 1.2.6. Điều khoản thanh toán (31)
      • 1.2.7. Nghĩa vụ nhận hàng (33)
      • 1.2.8. Kiểm tra hàng hóa (33)
      • 1.2.9. Chuyển giao rủi ro (34)
      • 1.2.10. Luật áp dụng (35)
      • 1.2.11. Giải quyết tranh chấp (37)
      • 1.2.12. Vi phạm hợp đồng (38)
      • 1.2.13. Các chế tài áp dụng khi vi phạm hợp đồng (39)
      • 1.2.14. Căn cứ miễn trách khi vi phạm hợp đồng (41)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THAN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY PHÁT ĐIỆN 1 (45)
    • 2.1. Tổng quan về Tổng công ty Phát điện 1 (45)
      • 2.2.1. Giới thiệu chung (45)
      • 2.2.2. Quy mô hoạt động (45)
      • 2.2.3. Ngành nghề kinh doanh chính (46)
      • 2.2.4. Nhiệm vụ cơ bản (46)
      • 2.2.5. Cơ cấu tổ chức (47)
      • 2.2.6. Hoạt động sản xuất kinh doanh (48)
    • 2.2. Thực trạng hoạt động nhập khẩu than tại EVNGENCO1 (50)
      • 2.3.1. Chiến lược mua than nhập khẩu của EVNGENCO1 (50)
      • 2.3.2. Quy trình mua than nhập khẩu tại EVNGENCO1 (51)
      • 2.3.3. Tình hình nhập khẩu than của EVNGENCO1 đến nay (52)
    • 2.3. Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu than của (53)
      • 2.3.1. Đối tượng của hợp đồng (53)
      • 2.3.2. Vấn đề về thẩm quyền ký kết hợp đồng (54)
      • 2.3.3. Vấn đề về Luật áp dụng (55)
      • 2.3.4. Vấn đề về lịch giao hàng (56)
      • 2.3.5. Vấn đề bố trí phương tiện vận tải của Bên Bán (59)
      • 2.3.6. Chất lượng than cấp không đồng đều (63)
      • 2.3.7. Vấn đề về điều khoản thanh toán (66)
      • 2.3.8. Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại (67)
      • 2.3.9. Các trường hợp miễn trách (70)
      • 2.3.10. Chưa chú trọng đến nghĩa vụ “thiện chí” khi thực hiện hợp đồng (73)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP (77)
    • 3.1. Xác định thẩm quyền ký kết hợp đồng (77)
    • 3.2. Hiệu chỉnh điều khoản về Luật áp dụng (77)
    • 3.3. Bổ sung phương án giải quyết khi hai bên không thống nhất được lịch (78)
    • 3.4. Bổ sung quy định về phương tiện chuyển tải để đảm bảo năng suất bốc dỡ (79)
    • 3.5. Bổ sung quy định về giảm trừ đơn giá thanh toán trong trường hợp chất lượng than cấp không đồng đều (80)
    • 3.6. Hiệu chỉnh điều khoản thanh toán (82)
    • 3.7. Sửa quy định về bồi thường thiệt hại ước tính (82)
    • 3.8. Bổ sung định nghĩa về “tháng giao hàng” (84)
    • 3.9. Chú trọng nguyên tắc “thiện chí” khi thực hiện hợp đồng (84)
  • KẾT LUẬN (87)
    • II. Danh mục Bảng biểu Bảng 1: Ví dụ về lịch giao hàng trong hợp đồng than nhập khẩu (0)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Thương mại quốc tế và hoạt động xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Kể từ khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam đã mở cửa mạnh mẽ cho hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy hoạt động kinh doanh và hợp tác với các đối tác nước ngoài Xu hướng này là cần thiết để phát triển bền vững trong thời đại hội nhập Hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng trở thành trụ cột chính khi nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi toàn cầu hóa kinh tế, gia nhập WTO năm 2006 và ký kết các hiệp định như CPTPP, EVFTA, RCEP cùng nhiều hiệp định song phương khác Mặc dù mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, nhưng cũng đặt ra thách thức, yêu cầu doanh nghiệp phải trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế.

Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu giữa các quốc gia Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã dẫn đến sự gia tăng số lượng hợp đồng này Tuy nhiên, tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng là điều khó tránh khỏi, và thường phức tạp hơn do tính chất quốc tế của chúng Việc giải quyết các tranh chấp này gặp nhiều khó khăn do khoảng cách địa lý, rào cản ngôn ngữ và các yếu tố chính trị, dẫn đến tốn kém về thời gian và chi phí cho các bên liên quan.

1 Chính thức có hiệu lực từ 1/4/2019

Từ ngày 1/8/2021, việc ký kết hợp đồng chính thức có hiệu lực, yêu cầu các bên phải chuẩn bị kỹ lưỡng các điều khoản hợp đồng Để tránh phát sinh tranh chấp, các bên cần nắm rõ các vấn đề pháp lý liên quan, nhằm giảm thiểu tối đa các rủi ro có thể xảy ra trước khi đi đến ký kết hợp đồng.

“hoàn hảo” nhất có thể

Trong thương mại quốc tế, nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa chưa sản xuất trong nước Tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu rất đa dạng, trong đó nhập khẩu than là một lĩnh vực đặc thù, thiết yếu cho an ninh năng lượng quốc gia Việt Nam đã tăng cường nhập khẩu than, với khối lượng đạt kỷ lục 54,81 triệu tấn vào năm 2020, tăng 25% so với năm 2019, nhằm cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện Hoạt động nhập khẩu than được thực hiện thông qua hợp đồng nhập khẩu, mang đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng cũng có những tranh chấp pháp lý riêng biệt liên quan đến ngành than.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam là một trong những đơn vị nhập khẩu than lớn nhất tại Việt Nam, bên cạnh các tập đoàn lớn như Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc Trong số đó, Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1), thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nổi bật là đơn vị tiên phong trong hoạt động nhập khẩu than.

Việt Nam đã gia tăng nhập khẩu than để phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện, tuy nhiên, quá trình này tại EVNGENCO1 gặp phải nhiều tranh chấp do các quy định hợp đồng chưa hoàn thiện Những tranh chấp này thường không thể giải quyết qua thương lượng và phải đưa ra Trung tâm trọng tài VIAC, dẫn đến lãng phí thời gian và chi phí Do đó, việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề pháp lý trong hợp đồng nhập khẩu than là cần thiết để chỉ ra những hạn chế và tìm ra giải pháp hoàn thiện hợp đồng Học viên đã chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu than: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1)” cho luận văn thạc sĩ Luật kinh tế.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên toàn cầu, đã có nhiều nghiên cứu đáng chú ý về các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trong đó có một số công trình tiêu biểu nổi bật.

Tác giả Petar Sarcevie và Paul Volken trong cuốn sách "The International Sale of Goods Revisited" đã phân tích các vấn đề liên quan đến Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) Họ cũng đề cập đến sự phát triển của các nguyên tắc quốc tế về luật hợp đồng, bao gồm Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng và Bộ nguyên tắc UNIDROIT.

Tác giả Djakhongir Saidov, Giáo sư Luật Thương mại tại Trường Luật Dickson Poon, Kings College London, đã xuất bản cuốn sách "Research Handbook on International and Comparative Sale of Goods Law" vào năm 2019, nghiên cứu sự phức tạp trong quản lý hợp đồng mua bán trong thế giới hiện đại Cuốn sách phân tích nhiều khía cạnh của luật và thông lệ bán hàng, nhấn mạnh sự đa dạng trong bối cảnh giao dịch thương mại, bao gồm công nghệ kỹ thuật số, hợp đồng dài hạn, chuỗi cung ứng toàn cầu và các nguồn điều chỉnh hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng mẫu tiêu chuẩn, tập quán thương mại và điều khoản thương mại.

Tác giả Michael Bridge với cuốn sách The International Sale of Goods của

Nhà xuất bản Oxford University Press đã tái bản lần thứ tư vào năm 2017, tập trung vào Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) Bài viết thảo luận về các vấn đề liên quan đến tài sản và giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc sử dụng chứng từ quyền sở hữu như vận đơn đường biển Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra nhiều phương pháp xử lý các vấn đề này, bao gồm biện pháp khắc phục hậu quả, chuyển giao tài sản, hợp đồng mẫu tiêu chuẩn và giao dịch hàng hóa quốc tế.

Hai tác giả Schlechtriem & Schwenzer trong cuốn sách Commentary on the

UN Convention on the International Sale of Goods (CISG) tái bản lần thứ tư của

Oxford University Press cung cấp những bình luận và phân tích sâu sắc về CISG, đặc biệt là tổng hợp chi tiết các phán quyết từ tòa án và hội đồng trọng tài trên toàn cầu, tạo thành một nguồn tham khảo quý giá trong cuốn sách này.

Stefan Kröll, Loukas Mistelis, and Pilar Perales Viscasillas authored the second edition of "UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG): A Commentary," published by C.H Beck in 2018 The authors, representing diverse legal systems, address specific issues related to the application of the CISG in various regions This comprehensive commentary examines the provisions of the CISG clause by clause, highlighting its structure and offering insights into special topics, such as e-commerce, with detailed analysis of the relevant articles.

Năm 2010, Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) đã xuất bản ấn phẩm “Model

Cuốn sách "Hợp đồng cho Doanh Nghiệp Nhỏ – Hướng dẫn pháp lý cho việc kinh doanh quốc tế" cung cấp các mẫu hợp đồng tham khảo cho doanh nghiệp Những mẫu hợp đồng này được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn quốc tế và thông lệ phổ biến trong giao dịch thương mại quốc tế Ngoài ra, sách còn đưa ra những lời khuyên pháp lý hữu ích cho các doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh doanh toàn cầu.

Cũng trong năm 2010, Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã cho ra đời ấn phẩm “Incoterm 2010: ICC rules for the Use of Domestic and International Trade

Incoterms đã trở thành một nguồn tham khảo thiết yếu cho nhiều quốc gia trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, quy định cách thức phân chia nghĩa vụ, rủi ro và chi phí giữa người mua và người bán Tuy nhiên, Incoterms không đề cập đến giá cả, phương thức thanh toán, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hay hậu quả của việc vi phạm hợp đồng Phiên bản Incoterms 2010 bao gồm 11 điều kiện giao hàng, được chia thành hai nhóm: điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải và điều kiện dành riêng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa.

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở trong nước dường như chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung vào các vấn đề pháp lý của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa nói riêng Tuy nhiên, đã có một số công trình nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói chung, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

Năm 2016, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã phối hợp với Trường Đại học Ngoại thương (FTU) và Nhóm CISG Việt Nam biên soạn cuốn sách

Cuốn sách "101 câu hỏi – đáp về Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)" cung cấp thông tin cơ bản về CISG, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung sách được trình bày dưới dạng câu hỏi – câu trả lời, không chỉ trích dẫn các điều khoản trong CISG mà còn làm rõ chúng qua bình luận, bài viết liên quan, án lệ và so sánh với pháp luật Việt Nam Đây là tài liệu đầy đủ và chi tiết nhất về CISG tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại.

Cuốn giáo trình “Luật hợp đồng thương mại quốc tế” do các tác giả Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ và Dương Anh Sơn biên soạn, được xuất bản vào năm 2005.

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và trình bày những vấn đề chung liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế, đồng thời phân tích và so sánh các quy định pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau trong lĩnh vực này Bài viết cũng đề cập đến các loại hợp đồng thương mại quốc tế phổ biến, giúp người đọc hiểu rõ hơn về các khía cạnh pháp lý trong giao dịch thương mại toàn cầu.

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Trinh với bài viết “Phạm vi áp dụng của Công ước

Bài viết "CISG cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế" trên tạp chí Toà án nhân dân điện tử ngày 26/9/2018 phân tích tính chất quốc tế và phạm vi áp dụng của Công ước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nó so sánh việc áp dụng Công ước trong tố tụng tòa án và trọng tài, đồng thời bình luận về những trường hợp mà Công ước không được áp dụng Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến cách các bên có thể loại trừ việc áp dụng Công ước, phân tích mối quan hệ giữa Công ước và luật quốc gia, cũng như khả năng kết hợp Công ước với Incoterms và Bộ nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế.

Tác giả Nguyễn Thu Hương với bài viết “Một số vấn đề cần lưu ý khi thực thi

Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) tại Việt Nam” trong

Tạp chí Nghề luật số 1/2019 đã phân tích tác động của CISG đối với Việt Nam, đồng thời chỉ ra những điểm khác biệt giữa CISG và pháp luật Việt Nam Bài viết cũng đưa ra một số lưu ý quan trọng về luật áp dụng trong bối cảnh này.

Tác giả Trịnh Đức Thuận trong luận văn thạc sỹ luật học về “Phạm vi áp dụng

Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được bảo vệ vào năm 2018 tại Trường Đại học Ngoại thương, nêu rõ phạm vi áp dụng của CISG thông qua việc phân tích các quy định của nó và thực tiễn áp dụng tại tòa án quốc gia cũng như trọng tài thương mại.

Đánh giá về tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Mặc dù có nhiều nghiên cứu về hợp đồng này, đặc biệt liên quan đến CISG, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là hợp đồng nhập khẩu than tại Việt Nam Luận văn tốt nghiệp này sẽ nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1), nhằm phản ánh thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp lý cho hợp đồng này.

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như phân tích tổng hợp, đánh giá, hệ thống hóa, đối chiếu, so sánh, mô tả, thống kê và khảo sát thực tế.

Trong Luận văn, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp phân tích được áp dụng đồng thời để làm rõ các vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu Đặc biệt, hai phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong Chương 1, nhằm làm rõ các quy định pháp luật về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện và đầy đủ về pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng này.

Chương 2 áp dụng các phương pháp mô tả, đánh giá, so sánh, thống kê và khảo sát thực tế để phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng nhập khẩu than của EVNGENCO1 Phân tích này được thực hiện dựa trên sự so sánh với quy định pháp luật hiện hành và các thông lệ quốc tế liên quan Bài viết đánh giá những ưu điểm và hạn chế của hợp đồng, đồng thời thống kê các tranh chấp thực tế phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại Chương 3 nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện hợp đồng nhập khẩu than của EVNGENCO1.

Bố cục của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 03 chương, bao gồm:

Chương 1 Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Chương 2 Thực trạng những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu than và thực tiễn thực hiện tại Tổng công ty Phát điện 1

Chương 3 Phương hướng và giải pháp.

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ

Tổng quan về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Hợp đồng nhập khẩu hàng hóa hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể, mà chỉ được hiểu thông qua cách diễn giải theo luật Nhập khẩu hàng hóa được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại 2005 là việc đưa hàng hóa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam Theo Khoản 1 Điều 27 cùng luật, mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm nhiều hình thức, trong đó có nhập khẩu Do đó, hợp đồng nhập khẩu hàng hóa thực chất là một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, và việc tìm hiểu về hợp đồng này cũng chính là tìm hiểu về mua bán hàng hóa quốc tế.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một dạng hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường nhưng mang tính chất đặc biệt do yếu tố quốc tế Hiện tại, chưa có khái niệm thống nhất về loại hợp đồng này, và các quy định pháp luật của từng quốc gia về yếu tố quốc tế trong hợp đồng cũng khác nhau Do đó, cần làm rõ cách thức quy định yếu tố quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời so sánh với hệ thống pháp luật toàn cầu, đặc biệt là trong khuôn khổ của Công ước Viên về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế (CISG).

Hợp đồng mua bán hàng hóa là thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng này không được định nghĩa cụ thể trong pháp luật Việt Nam, mà chỉ được giải thích qua hoạt động mua bán hàng hóa Căn cứ vào khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005, mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, đồng thời nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng cùng quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được định nghĩa là sự thoả thuận giữa các bên, với nghĩa vụ rõ ràng về giao hàng và thanh toán, tương đồng với cách hiểu của nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Yếu tố quốc tế của hợp đồng không được quy định thống nhất giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới Theo Bộ luật dân sự 2015 của Việt Nam, hợp đồng có yếu tố nước ngoài khi các bên có quốc tịch khác nhau, được ký kết hoặc thực hiện ở nước ngoài, hoặc đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài Trong khi đó, Luật thương mại 2005 quy định tính quốc tế trong mua bán hàng hóa thông qua các hình thức xuất nhập khẩu và chuyển khẩu, thể hiện sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới Việt Nam Điều này khác với quy định của CISG, trong đó hợp đồng được coi là quốc tế nếu các bên có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau.

Cách quy định không thống nhất về tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể gây khó khăn trong việc xác định nguồn luật áp dụng Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016 của Việt Nam quy định rằng, trong trường hợp có sự khác biệt giữa văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì quy định của điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng, trừ Hiến pháp.

Do Việt Nam đã trở thành thành viên của CISG từ năm 2015 nên các quy định của Công ước này phải được tuân thủ

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Hợp đồng nhập khẩu hàng hóa là một loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, mang đầy đủ bản chất và đặc trưng của hợp đồng thông thường Tuy nhiên, nó có những điểm khác biệt quan trọng so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, đặc biệt ở tính chất quốc tế của giao dịch.

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng

Chủ thể của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa bao gồm người mua và người bán, thường là bên xuất khẩu và bên nhập khẩu, với trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau Trong trường hợp một bên có nhiều trụ sở thương mại, trụ sở có mối quan hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng sẽ được xác định là trụ sở của bên đó Nếu bên đó không có trụ sở thương mại, nơi cư trú thường xuyên sẽ được sử dụng để xác định tính quốc tế của hợp đồng, theo quy định tại Điều 10 CISG.

Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP, chỉ có thương nhân mới được phép kinh doanh xuất nhập khẩu Thương nhân được định nghĩa tại Mục 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005 là tổ chức kinh tế hợp pháp hoặc cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và đã đăng ký kinh doanh.

Phạm vi chủ thể kinh doanh nhập khẩu tại Việt Nam rất đa dạng, bao gồm hầu hết các thành phần kinh tế Tất cả các tổ chức và cá nhân đã đăng ký kinh doanh đều có quyền thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa.

Đối tượng của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa chủ yếu là hàng hóa, được định nghĩa theo Khoản 2 Điều 3 của Luật Thương mại 2005, bao gồm mọi loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, cùng với những vật gắn liền với đất đai Tuy nhiên, theo Điều 2 của CISG, hàng hóa không bao gồm tàu thủy, máy bay, điện năng, cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ.

Pháp luật Việt Nam không xác định rõ ràng các mặt hàng được phép xuất nhập khẩu, cho phép thương nhân nhập khẩu đa dạng hàng hóa, kể cả những mặt hàng không nằm trong danh mục ngành nghề đã đăng ký kinh doanh.

Theo Nghị định số 69/2018/NĐ-CP, hàng hóa được phép nhập khẩu rất đa dạng, chỉ trừ những mặt hàng nằm trong danh mục cấm xuất khẩu và nhập khẩu Danh mục này quy định cụ thể tại mục II, Phụ lục 1 của nghị định, bao gồm các mặt hàng như vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, pháo, hàng tiêu dùng, thiết bị y tế, phương tiện đã qua sử dụng và một số loại hóa chất Trong hợp đồng xuất nhập khẩu, hàng hóa thường được vận chuyển từ nước bán sang nước mua qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam, được coi là khu vực hải quan riêng, như khu chế xuất, theo Điều 28 Luật thương mại 2005.

Thứ ba, về hình thức của hợp đồng

Tại Việt Nam, giao dịch dân sự có thể được thực hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật yêu cầu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

Theo Điều 11 CISG, hợp đồng mua bán hàng hóa không cần phải có văn bản mà có thể được chứng minh bằng nhiều cách, bao gồm cả lời khai của nhân chứng Tuy nhiên, Điều 12 CISG cho phép các quốc gia thành viên bảo lưu quy định về hình thức hợp đồng, và Việt Nam đã thực hiện quyền này Do đó, khi áp dụng pháp luật Việt Nam cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cần phải được lập bằng văn bản hoặc dưới hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương theo Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại.

Thứ tư, về đồng tiền thanh toán

Hợp đồng nhập khẩu hàng hóa khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, bởi vì trong khi hợp đồng nội địa thường sử dụng đồng nội tệ làm phương thức thanh toán, thì hợp đồng nhập khẩu thường yêu cầu ít nhất một bên thanh toán bằng ngoại tệ.

1.1.3 Nội dung cơ bản của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá

Ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt là hợp đồng nhập khẩu, đòi hỏi doanh nghiệp phải có kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc về chuyên môn cũng như luật pháp Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn và lúng túng khi tham gia vào quan hệ hợp đồng này do sự khác biệt trong hệ thống pháp luật giữa các quốc gia, khiến việc tìm hiểu quy định cụ thể trở nên phức tạp và tốn thời gian Hơn nữa, doanh nghiệp còn cần nắm rõ các Điều ước quốc tế liên quan có thể ảnh hưởng đến hợp đồng Dưới đây là một số vấn đề pháp lý thường gặp liên quan đến hợp đồng nhập khẩu hàng hóa.

1.2.1 Đối tượng của hợp đồng nhập khẩu hàng hoá

Pháp luật của mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về hàng hóa được phép giao dịch, mua bán, dẫn đến việc một số hàng hóa được cho phép ở nước này nhưng lại bị cấm ở nước khác Khi tham gia vào hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần xác minh rằng hàng hóa đó được pháp luật của cả hai bên cho phép Tại Việt Nam, Nghị định số 69/2018/NĐ-CP quy định danh mục hàng hóa bị cấm xuất nhập khẩu, bao gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ và một số loại hóa chất.

1.2.2 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

CISG không quy định rõ về điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, bao gồm cả hợp đồng nhập khẩu Tại Việt Nam, điều kiện hiệu lực của hợp đồng được xác định theo Bộ luật Dân sự 2015.

Theo Điều 117, để hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hoặc hợp đồng nhập khẩu hàng hóa có hiệu lực, cần đáp ứng các điều kiện nhất định, trong đó điều kiện về chủ thể là rất quan trọng.

Các bên tham gia hợp đồng cần có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, theo quy định tại điểm a Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.

Theo Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định là khả năng có quyền và nghĩa vụ dân sự, bắt đầu từ khi cá nhân được sinh ra và kết thúc khi cá nhân đó qua đời Để bảo vệ quyền tự do giao kết hợp đồng của mọi cá nhân, Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra các quy định cụ thể.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định dựa trên quốc tịch của họ Tại Việt Nam, người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tương đương với công dân Việt Nam, trừ khi có quy định khác trong pháp luật Việt Nam.

Theo Điều 673 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được quy định tại Điều 86, cho thấy khả năng của pháp nhân trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự Năng lực này bắt đầu từ thời điểm pháp nhân được thành lập, thường là khi đăng ký kinh doanh, và kết thúc khi pháp nhân ngừng hoạt động.

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, thường đạt được khi cá nhân đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp có vấn đề về nhận thức (Điều 19, BLDS 2015) Bộ luật Dân sự 2015 không quy định về năng lực hành vi dân sự của pháp nhân, nhưng nó được thể hiện qua hành vi của người đại diện và sẽ phát sinh, chấm dứt cùng với năng lực pháp luật của pháp nhân Do đó, khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần lưu ý xem người ký có phải là người đại diện hợp pháp của pháp nhân hay không (Điều 85).

Theo Bộ luật Dân sự, đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Đại diện theo pháp luật là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của doanh nghiệp và có quyền ký kết hợp đồng Trong khi đó, đại diện theo ủy quyền là người được ủy quyền bởi người có thẩm quyền để thực hiện giao dịch ký kết hợp đồng, nhưng chỉ trong phạm vi được ủy quyền Người uỷ quyền vẫn phải chịu trách nhiệm cho các công việc do người được ủy quyền thực hiện.

Pháp luật của mỗi quốc gia quy định khác nhau về tư cách chủ thể, dựa trên nguyên tắc chủ quyền quốc gia Để xác định năng lực pháp lý của một chủ thể trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, cần xem xét quy định pháp luật của quốc gia mà chủ thể đó mang quốc tịch Điều này giúp đảm bảo hợp đồng không bị vô hiệu Đối với hợp đồng nhập khẩu, nhiều người nhầm lẫn rằng tư cách chủ thể của Bên Bán được xác định theo pháp luật của nước xuất khẩu Tuy nhiên, nếu Bên Bán có trụ sở tại một quốc gia khác, như Singapore, thì pháp luật của Singapore mới là căn cứ chính xác để xác định tư cách chủ thể, không phải pháp luật của Indonesia, dù hàng hóa xuất khẩu từ quốc gia này.

Việc tìm hiểu hệ thống pháp luật nước ngoài là một thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, dẫn đến việc họ có thể bỏ qua vấn đề này và gặp rủi ro về tính hợp pháp của hợp đồng Để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa, các bên tham gia phải thực hiện giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, theo quy định tại Điểm b Điều 117 Bộ luật Dân sự.

Theo Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu được ký kết dựa trên sự lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc nhầm lẫn, như quy định tại các Điều 126 và 127 Trong những trường hợp này, các bên không đạt được mục đích và mong muốn ban đầu khi giao kết hợp đồng Ngoài ra, theo Điều 117, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự phải không vi phạm điều cấm của luật và không trái với đạo đức xã hội.

Nội dung hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa hai bên, miễn là không vi phạm luật pháp và đạo đức xã hội Nếu vi phạm, hợp đồng sẽ bị vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 Trong trường hợp một phần nội dung hợp đồng bị vô hiệu, hợp đồng sẽ bị vô hiệu từng phần theo Điều 130 BLDS 2015.

Theo Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện cần thiết để giao dịch có hiệu lực khi luật có quy định Cụ thể, Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại 2005 yêu cầu hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam phải được lập dưới hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Việt Nam cũng đã ghi nhận quy định này trong CISG, do đó, yêu cầu về hình thức theo Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại cần phải được tuân thủ.

1.2.3 Thẩm quyền ký kết hợp đồng

THỰC TRẠNG NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THAN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY PHÁT ĐIỆN 1

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

Ngày đăng: 26/04/2022, 16:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Cơ cấu nguồn điện toàn hệ thống theo chủ sở hữu - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Hình 1 Cơ cấu nguồn điện toàn hệ thống theo chủ sở hữu (Trang 46)
Hình 2: Cơ cấu tổ chức EVNGENCO1 - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Hình 2 Cơ cấu tổ chức EVNGENCO1 (Trang 47)
Hình 3: Tổng công suất lắp đặt các nhà máy điện của EVNGENCO1 - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Hình 3 Tổng công suất lắp đặt các nhà máy điện của EVNGENCO1 (Trang 48)
Hình 4: Cơ cấu nguồn điện của EVNGENCO1 - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Hình 4 Cơ cấu nguồn điện của EVNGENCO1 (Trang 48)
Hình 5: Sản lượng điện sản xuất của EVNGENCO1 năm 2018-2020 - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Hình 5 Sản lượng điện sản xuất của EVNGENCO1 năm 2018-2020 (Trang 49)
Bảng 1: Ví dụ về lịch giao hàng trong hợp đồng than nhập khẩu - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Bảng 1 Ví dụ về lịch giao hàng trong hợp đồng than nhập khẩu (Trang 57)
Cho dù áp dụng hình thức nào thì Bên Mua cũng vẫn phải chịu thiệt hại nếu không đảm bảo năng suất dỡ hàng theo cam kết hoặc theo tập quán cảng - BỘ GIÁO dục và đào tạo
ho dù áp dụng hình thức nào thì Bên Mua cũng vẫn phải chịu thiệt hại nếu không đảm bảo năng suất dỡ hàng theo cam kết hoặc theo tập quán cảng (Trang 62)
Bảng 3: Bảng thông số kỹ thuật than nhập khẩu của EVNGENCO1 - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Bảng 3 Bảng thông số kỹ thuật than nhập khẩu của EVNGENCO1 (Trang 63)
Bảng 4: Bảng thống kê nhiệt trị của các lớp than của một số tàu than năm 2020 tại CTNĐ Duyên Hải - BỘ GIÁO dục và đào tạo
Bảng 4 Bảng thống kê nhiệt trị của các lớp than của một số tàu than năm 2020 tại CTNĐ Duyên Hải (Trang 65)
*** Thỏa thuận khung trong hình thức đấu thầu cạnh tranh có lựa chọn danh sách ngắn: là thỏa thuận giữa Tổng công - BỘ GIÁO dục và đào tạo
ho ̉a thuận khung trong hình thức đấu thầu cạnh tranh có lựa chọn danh sách ngắn: là thỏa thuận giữa Tổng công (Trang 93)
* Hồ sơ mời chào giá: là toàn bộ tài liệu sử dụng cho giai đoạn chào giá của hình thức đấu thầu cạnh tranh có lựa chọn danh sách ngắn, bao gồm các yêu cầu cho gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ chào giá  và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ - BỘ GIÁO dục và đào tạo
s ơ mời chào giá: là toàn bộ tài liệu sử dụng cho giai đoạn chào giá của hình thức đấu thầu cạnh tranh có lựa chọn danh sách ngắn, bao gồm các yêu cầu cho gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ chào giá và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w