1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) PHÁP LUẬT về THÀNH lập và QUẢN lý điều HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA học và CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC cơ sở GIÁO dục đại học CÔNG lập tại VIỆT NAM

90 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Thành Lập Và Quản Lý Điều Hành Doanh Nghiệp Khoa Học Và Công Nghệ Trực Thuộc Cơ Sở Giáo Dục Đại Học Công Lập Tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Phương Thảo
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Minh Hằng
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 222,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, luận văn phân tích các quy định pháp luật liên quan đến việc thành lập và quản lý điều hành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trực thuộc cơ sở giáodục đại học công lập, từ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380107

Họ và tên học viên:

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN MINH HẰNG

Hà Nội - 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TSNguyễn Minh Hằng đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiêncứu đề tài này Mặc dù bận rộn với công tác quản lý và giảng dạy, nhưng cô vẫndành thời gian quý báu của mình để hướng dẫn và giúp tôi đi đúng hướng với luậnvăn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Luật – Trường Đại họcNgoại Thương đã giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và tạo mọiđiều kiện để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện luận văn này Tôi xin gửi lời cảm

ơn đến các thầy cô trong Khoa Sau Đại học đã nhiệt tình hỗ trợ trong quá trình họctập và rèn luyện trong thời gian qua, đặc biệt là khi đại dịch COVID-19 diễn ra căngthẳng khiến mọi thứ thay đổi và trở nên khó khăn hơn bao giờ hết

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến tập thể lớp cao học LKT4A cùng với gia đình,bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu thực hiện luậnvăn này

Do hạn chế về khả năng cũng như thời gian nghiên cứu, luận văn chắc chắncòn những sai sót và hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đónggóp của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT IIDANH MỤC HÌNH VẼ IIITÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU IV

MỞ ĐẦU 1CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC

CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 61.1 Khái quát về CSGDĐH công lập và doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

CSGDĐH công lập 6

1.1.1 Khái quát về CSGDĐH công lập 6

1.1.2 Khái quát về doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 8

1.1.3 Mô hình công ty áp dụng trong các doanh nghiệp trực thuộc 13

1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của việc thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

1.2.1 Khái niệm về pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệp

KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 22

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thành lập và quản lý điều hành

doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC

CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM 27

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 27

Trang 4

2.1.1 Các quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

CSGDĐH công lập 27

2.1.1.1 Quyền thành lập và góp vốn, điều kiện thành lập doanh nghiệp

KH&CN 27

2.1.1.2 Chứng nhận doanh nghiệp KH&CN 29

2.1.1.3 Thẩm quyền quyết định thành lập doanh nghiệp trực thuộc 33

2.1.2 Các quy định pháp luật về tổ chức quản lý và điều hành doanh nghiệp

KH&CN trực thuộc đại học công lập 34

2.1.2.1 Quy định về chính sách ưu đãi hỗ trợ các doanh nghiệp KH&CN 34

2.1.2.2 Quy định về việc quản lý và sử dụng đất đai, tài sản và nguồn nhân

lực giữa CSGDĐH công lập và doanh nghiệp KH&CN trực thuộc 37

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc đại học công lập 48

3.1 Xu thế phát triển doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 58

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 61

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 64

3.4 Biện pháp cho các CSGDĐH công lập nhằm hỗ trợ cho quá trình thành lập

và quản lý điều hành doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

KẾT LUẬN CHUNG 73

Trang 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 80

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

1 Tôi biết rằng đạo văn là điều sai trái Đạo văn là việc sử dụng công trình (bàiviết, tiểu luận, khóa luận dưới mọi hình thức) của người khác và thể hiện rằng đó làcông trình của mình

2 Tôi đã trích dẫn đầy đủ tất cả những phần hoặc toàn bộ công trình mà tôi tham khảo, mọi ý tưởng của người khác mà tôi sử dụng

3 Tôi đã và sẽ không cho phép bất kỳ ai sao chép công trình của tôi với ý định xem luận văn của tôi như công trình của họ

4 Tôi xin cam đoan đây là công trình độc lập của chính tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2021

NGƯỜI THỰC HIỆN

Nguyễn Phương Thảo

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS Bộ luật Dân sự

ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

CSGDĐH Cơ sở giáo dục đại học

GDĐH Giáo dục đại học

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

KH&CN Khoa học và công nghệ

HĐTV Hội đồng thành viên

HĐQT Hội đồng quản trị

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

TTO Technology Transfer Office

(Văn phòng chuyển giao công nghệ)R&D Research & Development

(Nghiên cứu và phát triển)UREs University-run enterprises

(Doanh nghiệp trực thuộc trường đại học)

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1 Quá trình “spin-off” từ kết quả nghiên cứu đến thương mại hóa thông quadoanh nghiệp spin-off 12

Hình 2 Mô hình thành lập Công ty TNHH MTV BK Holdings 50

Hình 3 Statist model theo mô hình xoắn Triple Helix 62

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung

1.1 Tên luận văn: Pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệp

khoa học công nghệ trực thuộc cơ sở giáo dục đại học công lập tại Việt Nam

1.2 Tác giả: Nguyễn Phương Thảo

1.3 Chuyên ngành: Luật Kinh tế

1.4 Thời gian bảo vệ: 2022

1.5 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hằng

2 Những đóng góp của luận văn

Thứ nhất, thông qua việc phân tích các khái niệm cơ bản về doanh nghiệp

khoa học và công nghệ trực thuộc cơ sở giáo dục đại học công lập, luận văn đã hệthống hóa các cơ sở lý luận về pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanhnghiệp khoa học và công nghệ trực thuộc cơ sở giáo dục đại học công lập

Thứ hai, luận văn phân tích các quy định pháp luật liên quan đến việc thành lập

và quản lý điều hành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trực thuộc cơ sở giáodục đại học công lập, từ đó nhận diện được những thuận lợi và khó khăn về mặt pháp lý

mà loại hình doanh nghiệp này đang phải đối mặt trong hoạt động thực tiễn

Thứ ba, luận văn đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật và đề xuất các giải

pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệpkhoa học và công nghệ trực thuộc cơ sở giáo dục đại học công lập

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước sự đổi mới phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0, đẩy mạnh đầu

tư cho lĩnh vực giáo dục đại học là một yếu tố mang tính chiến lược nhằm kiến tạo

nền tảng cho sự phát triển lâu dài bền vững Các cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH)công lập tại Việt Nam đang có những sự thay đổi mạnh mẽ, không chỉ thực hiện

mục đích nghiên cứu và truyền bá kiến thức hàn lâm mà còn phát triển theo hướngđổi mới sáng tạo gắn liền với khởi nghiệp Chính vì vậy, việc thành lập các doanhnghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) trực thuộc CSGDĐH đang ngày càng phổbiến do các CSGDĐH muốn đưa các nghiên cứu của mình áp dụng vào hoạt động

sản xuất kinh doanh và tạo ra sản phẩm có giá trị thương mại Hơn nữa, không thể

chỉ dựa vào duy nhất nguồn ngân sách Nhà nước cho các hoạt động nghiên cứu

khoa học do gánh nặng nhu cầu về cơ sở vật chất cũng như nội dung nghiên cứu,

nhất là đối với các CSGDĐH với định hướng phát triển KH&CN Nắm bắt đượctình hình thực tiễn cùng với mục đích hướng tới xu thế toàn cầu, pháp luật ViệtNam đã bước đầu cho phép các CSGDĐH được phép thành lập doanh nghiệp

Trên thế giới, mô hình doanh nghiệp KH&CN đang được nhiều quốc gia đẩy

mạnh, vì nó không chỉ mang lại lợi thế về kinh tế mà còn đem đến những lợi ích không

hề nhỏ cho xã hội từ việc đưa những nghiên cứu khoa học từ trong phòng thí nghiệm áp

dụng vào đời sống Tại các quốc gia phát triển, các đạo luật và chính sách được đưa ra

nhằm hỗ trợ cho các CSGDĐH vận hành doanh nghiệp trực thuộc một cách thuận lợi

nhất Tại Việt Nam, mô hình này vẫn được coi là mới trên thị trường, do vậy bên cạnh

những thuận lợi về các quy định và chính sách của Nhà nước đối với loại hình doanhnghiệp này thì vẫn còn tồn tại những điểm chưa hợp lý trong vấn đề thành lập và quản

lý điều hành Vì vậy, học viên chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về thành lập và quản

lý điều hành doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc cơ sở giáo dục đại học

công lập tại Việt Nam” nhằm phân tích các quy định pháp luật Việt Nam mà doanh

nghiệp trực thuộc CSGDĐH công lập phải áp dụng trong quá trình thành lập và quản lý

điều hành, từ đó đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật, tạo điều

kiện cho loại hình doanh nghiệp này có cơ hội được

Trang 11

phát triển và mở rộng Một số gợi ý cũng được đưa ra cho các CSGDĐH công lập

nhằm tạo lập môi trường phát triển cho doanh nghiệp trực thuộc

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tại các quốc gia phát triển, các nghiên cứu về mô hình doanh nghiệp trong cơ

sở đại học (hay còn gọi là mô hình doanh nghiệp spin-off) trên thế giới được thực hiện

khá nhiều và đa dạng Một số công trình tiêu biểu được công bố trong thời gian quanhư “Evaluating Performance of University Spin-Off Companies: Lessons from Italy”(Bigliardi, Galati, F., & Verbano, C., 2013), nghiên cứu về mô hình doanh nghiệp spin-

off tại Ý và tại các quốc gia Châu Âu nói chung cùng với việc đề xuất một mô hình

đánh giá tiền kiến hoạt động của các doanh nghiệp spin-off; “Resources, capabilities,risk capital and the creation of university spin-out companies” (Lockett, A & Wright,M., 2005), đánh giá tác động từ các nguồn lực, quy trình cũng như năng lực của trường

đại học đối với việc hình thành các doanh nghiệp spin-off tại Anh Tại nước láng giềng

Trung Quốc, mô hình doanh nghiệp trong trường đại học cũng nhận được sự quan tâm

của các nhà khoa học do nó mang những tính chất riêng biệt Một số công trình nổi bật

được công bố như Eun, J.H., Lee, K., & Wu, G (2006), “Explaining the

“University-run enterprises” in China: A theoretical framework for university–industry relationship

in developing countries and its application to China”, nhằm giải thích và đánh giá về sự

phát triển của mô hình doanh nghiệp trong trường đại học tại Trung Quốc bằng cáchxây dựng khung lý thuyết mới về mối quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp; Li,

He, L., & Zhao, Y (2020), “The triple helix system and regional entrepreneurship in

China”, đánh giá các tác động của mô hình xoắn Triple Helix tới tinh thần khởi nghiệptại Trung Quốc, hơn nữa nhấn mạnh ảnh hưởng đa chiều của sự hợp tác giữa trường đại

học – doanh nghiệp - chính phủ trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong khuvực

Trong thời gian qua, đề tài về doanh nghiệp trực thuộc đại học nhận được khá

nhiều sự quan tâm của giới học thuật Có rất nhiều hội thảo khoa học cấp trường cũng

như các công trình nghiên cứu về đề tài này, chủ yếu là nhìn từ góc độ kinh tế học như

Hội thảo về mô hình “Doanh nghiệp trong trường đại học” được Thời báo Kinh tế Sài

Gòn (Saigon Times Group) phối hợp với Trường Đại học Nam Cần Thơ tổ

Trang 12

chức, bàn luận về sự phát triển của mô hình doanh nghiệp trong trường đại học như

một đóng góp cho sự phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao (Kinh Tế Sài

Gòn Online, 2020) Nổi bật nhất trong số các công trình nghiên cứu phải kể đến tác

giả Đinh Văn Toàn với một số công trình tiêu biểu như: “Phát triển doanh nghiệp

trong các cơ sở giáo dục đại học - Từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam”

(Đinh Văn Toàn, 2019), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN);

“Phát triển doanh nghiệp trong trường đại học và những gợi ý chính sách về đổi

mới quản trị đại học ở Việt Nam” (Đinh Văn Toàn, 2019), Tạp chí Khoa học: Kinh

tế và Kinh doanh, ĐHQGHN Tác giả đã miêu tả rõ bức tranh toàn cảnh về hoạt

động của các doanh nghiệp trực thuộc trường đại học tại Việt Nam hiện nay và đưa

ra giải pháp đóng góp cho công tác nâng cao hiệu quả

Một số công trình về đề tài doanh nghiệp KH&CN trực thuộc trường đại họcđược thực hiện bởi các nghiên cứu sinh và cán bộ trường ĐHQGHN cũng được

công bố trong thời gian gần đây Công trình luận án “Chính sách phát triển doanh

nghiệp khoa học và công nghệ trong các trường đại học tại Việt Nam” (Mai Hoàng

Anh, 2020) đã đưa ra đề xuất xây dựng chính sách phát triển dành cho các doanhnghiệp KH&CN trực thuộc ĐHQGHN thông qua việc nghiên cứu thực tiễn mô hìnhdoanh nghiệp spin-off tại một số nước trên thế giới và nghiên cứu thực trạng hoạt

động của một số doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập tại Việt

Nam Bài viết “Đề xuất chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ tại

Đại học Quốc gia Hà Nội” (Đinh Văn Toàn, 2021) àn trên tạp chí Kinh tế và Dự

báo phân tích chính sách liên quan đến việc phát triển doanh nghiệp KH&CN tạiĐHQGHN và đưa ra kiến nghị hoàn thiện chính sách này

Đặc điểm chung của các công trình trên là đều nhấn mạnh về khía cạnh quản trị

đại học, yếu tố pháp lý về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệp lại chưa được

khai thác triệt để Trong khi đó, xu hướng thành lập doanh nghiệp trong các CSGDĐH

đang ngày một gia tăng cũng như vai trò hết sức quan trọng của nó đối với tình hình

kinh tế xã hội chung Việc chưa làm rõ được các vấn đề pháp lý của việc thành lập và

quản lý điều hành doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp KH&CN nói riêng sẽ dẫn

đến các rủi ro đối với các CSGDĐH công lập khi triển khai mô hình

Trang 13

mới này Do đó, đề tài luận văn thạc sĩ mà học viên lựa chọn không trùng lặp với

các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở lý luận về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệp KH&CN

trực thuộc các CSGDĐH, thông qua việc phân tích các quy định pháp luật về thủ

tục thành lập doanh nghiệp KH&CN trong các CSGDĐH ở Việt Nam và các quy

định pháp luật chi phối hoạt động quản lý điều hành của loại doanh nghiệp này,

mục đích của luận văn là nhận diện những thuận lợi và khó khăn về mặt pháp lý mà

mô hình doanh nghiệp này phải đối mặt, từ đó đưa ra một số đề xuất giải pháp hoàn

thiện pháp luật về thành lập và quản lý điều hành các doanh nghiệp KH&CN trực

thuộc CSGDĐH công lập

Nhiệm vụ của luận văn này nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập, nghiên cứu và phân tích các quy

định pháp luật về vấn đề thành lập và quản lý điều hành loại hình doanh nghiệp này,

cũng như đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm

hoàn thiện pháp luật về thành lập và quản lý điều hành các doanh nghiệp KH&CN

trực thuộc CSGDĐH công lập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về thành lập và quản lý điều

hành doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập tại Việt Nam Đối

tượng nghiên cứu của đề tài còn là thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này

Phạm vi nghiên cứu của luận văn này tập trung vào phân tích các quy định pháp

luật về thành lập doanh nghiệp trong các CSGDĐH công lập tại Việt Nam và các quyđịnh pháp luật liên quan đến các hoạt động quản lý điều hành loại hình doanh nghiệp

này tại Việt Nam Về mặt không gian, luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luậtViệt Nam, phân tích và đánh giá các quy định liên quan đến việc thành lập và quản lýđiều hành doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập tại Việt Nam Về mặtthời gian, luận văn lấy mốc thời gian từ năm 2018 khi Luật Giáo dục đại học (GDĐH)

sửa đổi cho phép các CSGDĐH công lập được thành lập doanh

Trang 14

nghiệp trực thuộc Một số văn bản pháp luật được đưa vào nghiên cứu như Luật

Doanh nghiệp năm 2020; Luật GDĐH năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2018; LuậtKH&CN năm 2013; Luật Quản lý sử dụng tài sản công năm 2017; Luật Viên chức

năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành của nhữngluật này cùng một số văn bản pháp luật khác có nội dung liên quan

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp

phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa, khái quát, bình luận làm rõ những nội

dung nghiên cứu và nhằm đạt được kết quả nghiên cứu của đề tài Cụ thể:

Chương 1 sử dụng phương pháp hệ thống hóa và phương pháp phân tích

tổng hợp để làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của doanh nghiệp

KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập Chương này còn sử dụng phương pháp so

sánh để chỉ ra những điểm khác biệt của mô hình doanh nghiệp trực thuộc

CSGDĐH công lập đối với mô hình doanh nghiệp spin-off

Chương 2 sử dụng phương pháp thống kê và phương pháp phân tích tổng

hợp để nghiên cứu và phân tích các quy định pháp luật về thành lập và quản lý điều

hành doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập tại Việt Nam

Chương 3 sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để luận giải cho các giải

pháp và kiến nghị được nêu ra trong luận văn

6 Kết cấu của luận văn

Nội dung luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1 Khái quát về pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập tại Việt Nam

Chương 2 Thực trạng pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập tại Việt Nam

Chương 3 Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập và quản lý

điều hành doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập tại Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ

ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC

THUỘC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái quát về CSGDĐH công lập và doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

CSGDĐH công lập

1.1.1 Khái quát về CSGDĐH công lập

Trong hệ thống giáo dục quốc dân tại Việt Nam, giáo dục đại học là bậc đàotạo cao nhất thực hiện chức năng đào tạo các chương trình đại học và sau đại học

nhằm mục đích phục vụ cộng đồng; ngoài ra, CSGDĐH còn có nhiệm vụ thực hiệncác hoạt động KH&CN (khoản 1 Điều 4, Luật GDĐH sửa đổi năm 2018)

CSGDĐH bao gồm đại học, trường đại học và CSGDĐH có tên gọi khác phù hợp

với quy định của pháp luật Theo đó, Luật GDĐH phân biệt sự khác nhau giữa hai

khái niệm đại học và trường đại học Trường đại học, học viện (gọi chung là trườngđại học) là CSGDĐH cung cấp dịch vụ đào tạo nghiên cứu đa ngành nghề, còn đại

học là CSGDĐH cung cấp dịch vụ đào tạo nghiên cứu đa lĩnh vực (khoản 2 và 3

Điều 4, Luật GDĐH sửa đổi năm 2018); cả hai đơn vị này đều thiết lập cơ cấu tổ

chức tuân thủ theo quy định của Luật GDĐH Trong đó, đại học quốc gia, đại họcvùng là các CSGDĐH thực hiện nhiệm vụ chiến lược và phát triển vùng của quốcgia Cơ cấu tổ chức của các CSGDĐH nói chung không có sự khác biệt, quy địnhtrong Điều 14 và 15 Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 bao gồm Hội đồng trường; hiệutrưởng và phó hiệu trưởng; các khoa, phòng chức năng, thư viện, tổ chức KH&CN,

tổ chức phục vụ đào tạo khác; các trường, phân hiệu, viện nghiên cứu, cơ sở dịch

vụ, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh và các đơn vị khác thành lập theo nhu cầu phát

triển của trường đại học Điểm khác biệt duy nhất trong cơ cấu của đại học đó làtrường đại học được liệt kê nằm trong cơ cấu của đại học theo Điều 15 Luật GDĐH,hay nói cách khác đây là mô hình đại học trong đại học

Các loại hình CSGDĐH được phép thành lập theo quy định là CSGDĐH cônglập và CSGDĐH tư thục, trong đó CSGDĐH công lập là “do Nhà nước đầu tư, bảođảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu” (điểm a khoản 2 Điều 7, LuậtGDĐH sửa đổi năm 2018) Hai loại hình CSGDĐH này đều mang những đặc tính cơ

Trang 16

bản chung và đều thực hiện mục tiêu được đề ra như trên, tuy nhiên CSGDĐH công

lập có những đặc trưng về cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành như sau:

Thứ nhất, CSGDĐH công lập được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành

lập, trực thuộc các Bộ và cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền hoặc UBND cấp tỉnh

Do vậy, tổ chức này là một đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ về GDĐHtheo định nghĩa của Luật Viên chức: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơquan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thànhlập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục

vụ quản lý Nhà nước” (khoản 1 Điều 9, Luật Viên chức sửa đổi năm 2019)

Thứ hai, CSGDĐH công lập thuộc sở hữu của Nhà nước và do Nhà nước

thành lập, do vậy thuộc sự quản lý và giám sát về tổ chức và hoạt động theo quyđịnh của Nhà nước cũng như cơ quan chủ quản là Bộ và cơ quan ngang Bộ, và

chính quyền địa phương Về cơ cấu tổ chức, CSGDĐH công lập có những bộ phận

cơ bản như Hội đồng trường, Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng, các phòng ban chức

năng và khoa đào tạo, viện nghiên cứu chuyên ngành Các quy trình, thủ tục thànhlập, công nhận Hội đồng trường cũng như việc công nhận, bổ nhiệm hay bãi nhiệm,miễn nhiệm chủ tịch Hội đồng trường hoặc các thành viên khác của Hội đồng

trường đều phụ thuộc vào cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước Ngoài ra,các vấn đề về tổ chức nhân sự, tài chính, huy động vốn, xây dựng cơ sở vật chất,

chế độ đãi ngộ cán bộ giảng viên… đều bị phụ thuộc nhiều vào cơ quan chủ quản và

chịu sự quản lý chuyên môn của cơ quan quản lý Nhà nước về GDĐH

Thứ ba, cơ sở vật chất và nguồn tài chính đều do Nhà nước đầu tư và đảm

bảo kinh phí, do vậy phải tuân thủ theo các quy định pháp luật về quản lý và sử

dụng các tài sản này Về cơ chế quản lý tài chính, các CSGDĐH công lập được

phép tự chủ trong khuôn khổ nhất định Các CSGDĐH công lập có quyền tự chủ tối

đa ở một số khoản chi nhất định, nhưng đồng thời phải tuân thủ các khoản mục chi

đã được ấn định bởi cơ quan phân bổ và giao dự toán

Là bậc đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục, các CSGDĐH nói chung và

các CSGDĐH công lập nói riêng là nguồn cung cấp trực tiếp nguồn nhân lực có kiếnthức, trình độ và chất lượng cao cho xã hội, đồng thời còn thực hiện nhiệm vụ là trung

Trang 17

tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ cho công cuộc chung phát

triển KH&CN Vai trò này được thể hiện rất rõ trong mục tiêu đề ra trong Luật GDĐH:

“(a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công

nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm

quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; (b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị,

đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát

triển ứng dụng KH&CN tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng

sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức

phục vụ Nhân dân” (Điều 5 Luật GDĐH sửa đổi năm 2018)

1.1.2 Khái quát về doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập

Loại hình doanh nghiệp KH&CN đã xuất hiện trên thế giới từ lâu đời, và đã thu

hút nhiều sự chú ý trong thời gian gần đây Nguồn gốc của loại doanh nghiệp này xuấtphát từ mô hình spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) và start-up (doanh nghiệp khởi

nghiệp) từ các nước công nghiệp phát triển như Mỹ và Châu Âu Doanh nghiệp off được thành lập và quản lý bởi các cá nhân tạo ra các tài sản KH&CN nhằm mục

spin-đích khai thác kết quả nghiên cứu từ các tài sản KH&CN được phát triển bên trong tổchức mẹ Doanh nghiệp start-up được hình thành dựa trên nền tảng của các kết quả pháttriển KH&CN Dù được định nghĩa khác nhau nhưng hai mô hình doanh nghiệp nàyđều có những đặc điểm chung là: đều có sự khởi đầu từ các kết quả nghiên cứu

KH&CN; và có khả năng thực hiện đổi mới và thương mại hóa các kết quả nghiên cứuKH&CN (Vân Anh, 2014) Trong môi trường GDĐH hiện đại, mô hình doanh nghiệpspin-off hiện đang phổ biến hơn cả, do nguồn gốc của loại doanh nghiệp này bắt nguồn

từ các trường đại học và hoạt động của nó cũng gắn liền với công cuộc nghiên cứu và

phát triển sản phẩm và dịch vụ khoa học của trường đại học

Các nhà khoa học nước ngoài đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về

doanh nghiệp spin-off trong nhiều năm vừa qua Trong công trình nghiên cứu củamình, Bigliardi và cộng sự (2013) đã trích dẫn một số định nghĩa mang tính khái quátnhất về hiện tượng này từ những công trình nghiên cứu nổi bật Cụ thể, Roberts vàMalone (1996) định nghĩa doanh nghiệp spin-off là một cơ chế trong đó chính phủ tìm

cách tạo ra tác động kinh tế từ hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của họ,

Trang 18

bằng cách chuyển giao công nghệ từ việc nghiên cứu và phát triển cho các tổ chức

thương mại Tương tự, Rogers và Takegami (2001) định nghĩa doanh nghiệp off là những công ty dựa trên các tổ chức mẹ về R&D, có thể là phòng thí nghiệm

spin-R&D của Chính phủ hay các trường đại học; trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứucủa trường đại học; các tổ chức R&D tư nhân Nico-laou và Birley (2003) đề xuấtmột định nghĩa khác về doanh nghiệp spin-off có tính đến yếu tố con người củachính hoạt động spin-off, cho rằng doanh nghiệp spin-off là một doanh nghiệp đượcthành lập bởi các cá nhân từng là nhân viên của tổ chức mẹ, nơi mà công nghệ và

các nhà nghiên cứu hàn lâm có thể tách ra khỏi tổ chức; hoặc tách riêng công nghệ

ra khỏi tổ chức nhưng các nhà nghiên cứu hàn lâm vẫn làm việc trong trường đạihọc; hoặc tách riêng công nghệ ra khỏi tổ chức nhưng các nhà nghiên cứu hàn lâm

vẫn có phần ở trong đó mặc dù không có mối liên hệ gì với doanh nghiệp mới này

Shane (2004), định nghĩa mô hình doanh nghiệp spin-off học thuật là những doanhnghiệp công nghệ cao có hoạt động kinh doanh cốt lõi dựa trên việc định giá thươngmại các kết quả nghiên cứu KH&CN Trong khi đó, Conti và cộng sự (2011) định

nghĩa doanh nghiệp spin-off là những công ty bắt nguồn từ trường đại học, trong đómột nhóm các nhà nghiên cứu thành lập đơn vị kinh doanh nhằm mục đích khai tháccác kết quả nghiên cứu khoa học được phát triển trong trường đại học Bất kể doanhnghiệp spin-off được hiểu theo định nghĩa nào thì vẫn thể hiện được một tính chấthiện hữu và dễ nhận biết nhất của các doanh nghiệp spin-off học thuật, đó là sự liênquan của nó đến việc chuyển giao công nghệ cốt lõi từ các cơ sở giáo dục học thuậtcho một doanh nghiệp mới, và những người sáng lập doanh nghiệp này có thể baogồm các nhà nghiên cứu học thuật, và họ có thể có hoặc không có mối liên hệ vớicác cơ sở giáo dục học thuật (Bigliardi, Galati & Verbano, 2013)

Tại Việt Nam, định nghĩa về doanh nghiệp KH&CN lần đầu tiên được nhắc đếntrong Hội nghị lần VI Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX, nêu rõ định hướng

chuyển đổi các tổ chức KH&CN “thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát

triển công nghệ sang cơ chế tự trang trải kinh phí, hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp”

(mục 3a, Kết luận số 14-KL/TW ngày 26/7/2002) Định nghĩa doanh nghiệp KH&CN

đã xuất hiện trong Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệpKH&CN và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 sửa đổi, bổ

Trang 19

sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của

Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập

và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về doanh

nghiệp KH&CN Trong thời điểm này, định nghĩa doanh nghiệp KH&CN không đượcđưa ra một cách rõ ràng và khái quát, mà chỉ nhận biết một cách sơ sài về đặc điểm của

loại hình doanh nghiệp này với hoạt động chính là “thực hiện sản xuất, kinh doanh các

loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công

nghệ và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN” (Điều 2, Nghị định 80/2007/NĐ-CP) Các

doanh nghiệp này có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá

khác và thực hiện các dịch vụ khác và không nhất thiết chỉ tập trung vào các sản phẩm

khai thác từ kết quả nghiên cứu KH&CN Định nghĩa này không làm nổi bật được đặc

điểm của doanh nghiệp KH&CN theo đúng nghĩa của nó, vì chỉ cần có hoạt động sản

xuất, kinh doanh sản phẩm hàng hóa hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học là đã

được coi là doanh nghiệp KH&CN mà không cần quan tâm đến việc sản phẩm đó có

phải sản phẩm chủ lực của doanh nghiệp hay không Hơn nữa, doanh nghiệp KH&CN

ở thời điểm này còn phải thực hiện các nhiệm vụ KH&CN được giao phó, nghĩa là nếu

doanh nghiệp không được giao phó thực hiện các nhiệm vụ KH&CN bởi các cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền thì không được coi là doanh nghiệp KH&CN Chính vì vậy, dù

doanh nghiệp có đang thực hiện hoạt động nghiên cứu sản xuất các sản phẩm KH&CN

đi chăng nữa thì cũng không được công nhận là doanh nghiệp KH&CN, bởi không phải

doanh nghiệp nào cũng được chọn để giao phó thực hiện nhiệm vụ KH&CN Do vậy

việc đưa ra định nghĩa này không tạo được động lực cho các doanh nghiệp tham gia

vào công cuộc đổi mới sáng tạo cũng như thúc đẩy tiềm năng phát triển KH&CN trong

xã hội

Cho đến năm 2013, quy định về doanh nghiệp KH&CN chính thức xuất hiện

trong văn bản Luật KH&CN, với định nghĩa cụ thể về doanh nghiệp KH&CN là

“doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ KH&CN để tạo ra sản phẩm,

hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ” (khoản 1 Điều 58,

Luật KH&CN 2013) Sau đó, Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019 quy định về

doanh nghiệp KH&CN ra đời và thay thế cho các văn bản hướng dẫn trước đây Định

nghĩa mới về doanh nghiệp KH&CN đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về doanh

Trang 20

nghiệp KH&CN cũng như làm nổi bật những đặc điểm của loại hình doanh nghiệp

này nhằm phân biệt với các doanh nghiệp khác đang hoạt động trên thị trường, mở

rộng cơ hội cho các doanh nghiệp đã và đang thực hiện các hoạt động đổi mới sáng

tạo bằng các kết quả nghiên cứu KH&CN của mình

Dưới góc độ luật pháp, doanh nghiệp KH&CN có vị thế cân bằng so với các

doanh nghiệp khác Bởi lẽ, khi thành lập doanh nghiệp đều phải thông qua các thủ

tục đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp để được công nhận là một pháp

nhân, có tư cách pháp nhân và tham gia vào các quan hệ pháp luật với các chủ thể

khác Mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của doanh nghiệp KH&CN đều phải tuân

thủ theo các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động doanh nghiệp theo Luật

Doanh nghiệp Điểm khác biệt so với các doanh nghiệp khác, cũng là đặc điểm để

phân biệt doanh nghiệp KH&CN đến từ những yếu tố về KH&CN Cụ thể, doanh

nghiệp này phải có năng lực và khả năng thực hiện nhiệm vụ KH&CN và đổi mới

KH&CN; hơn nữa, doanh nghiệp có các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản

phẩm, dịch vụ dựa trên kết quả nghiên cứu KH&CN và sinh ra doanh thu từ các

hoạt động này theo tỉ lệ nhất định

Mô hình doanh nghiệp KH&CN hoạt động trong các trường đại học đang là

một mô hình phát triển mạnh ở các nước phương Tây, xuất phát từ việc các trường

đại học tìm kiếm cơ hội tiếp cận lợi ích tài chính trong quá trình thương mại hóa kết

quả nghiên cứu KH&CN của mình Mục đích mà các doanh nghiệp này hướng đến

là để khai thác tài sản trí tuệ bắt nguồn từ các trường đại học để tạo ra sản phẩm và

dịch vụ tới tay người dùng Các doanh nghiệp này đóng góp cho quá trình chuyển

giao công nghệ theo hai giai đoạn: chuyển giao công nghệ từ tổ chức mẹ cho chính

doanh nghiệp của họ trong giai đoạn đầu, và chuyển giao công nghệ tới khách hàng

trong giai đoạn sau

Trang 21

Hình 1 Quá trình “spin-off” từ kết quả nghiên cứu đến thương mại hóa thông qua

doanh nghiệp spin-off (Nguồn: Văn Toàn, 2021)

Mô hình doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐG công lập tại Việt Nam

có lẽ mang tính chất gần nhất với các doanh nghiệp spin-off học thuật tại các nước

phát triển trên thế giới, do cùng bắt nguồn từ mong muốn được khai thác và thương

mại hóa các kết quả nghiên cứu KH&CN thực hiện trong trường Các doanh nghiệp

trực thuộc này thường mang những dấu hiệu đặc trưng như (1) gắn liền hoặc liên

quan trực tiếp tới trường đại học; (2) sử dụng phương thức quản lý, kinh doanh hay

công nghệ gắn với kết quả nghiên cứu từ trường đại học; và (3) có sự tham gia quản

lý, điều hành của một hoặc một số cá nhân là thành viên trường đại học (Etzkowitz

& Zhou, 2017) Về cơ bản, CSGDĐH là nơi đầu tư vốn cũng như tài sản, nhân lực

và các kết quả nghiên cứu KH&CN để thành lập doanh nghiệp, với mục đích đưa kết quả

nghiên cứu đi vào thực tiễn thông qua quá trình thương mại hóa Do vậy, hoạt động của

doanh nghiệp này luôn gắn liền và liên quan trực tiếp tới CSGDĐH sở hữu doanh nghiệp

Tuy nhiên, mô hình doanh nghiệp KH&CN trực thuộc này vẫn có những sự

khác biệt nhất định so với mô hình spin-off trên thế giới Thay vì được thành lập và

góp vốn bởi các cá nhân và thực hiện các hoạt động nghiên cứu KH&CN tách biệt với

cơ sở giáo dục giống như mô hình doanh nghiệp spin-off, mô hình doanh nghiệp

KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập được thành lập, góp vốn và quản lý bởi

CSGDĐH công lập mà doanh nghiệp trực thuộc Hơn nữa, doanh nghiệp trực thuộc

còn được hưởng một đặc quyền là tận dụng các tài sản của cơ sở mẹ, bao gồm kết quả

nghiên cứu KH&CN và nguồn tài nguyên liên quan như nguồn tài chính, địa điểm,

nhân lực, các mối liên kết xã hội, hay thậm chí là thương hiệu của trường Khác với mô

hình spin-off - theo đúng nghĩa đen của từ này nghĩa là có sự tách biệt hoàn

Trang 22

toàn với cơ sở chính, mô hình doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH tại Việt

Nam vẫn có một mối liên kết vô hình với các cơ sở đại học nó trực thuộc theo mối

quan hệ “mẹ - con” Mô hình này hiện tại cũng được áp dụng cho các doanh nghiệp

trực thuộc cơ sở đại học tại Trung Quốc, gọi tắt là UREs (University-run

enterproses) và phát triển mạnh trong thời kì những năm 1995 theo như chính sách

mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra trong Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển

hoạt động KH&CN Theo đó, Nghị quyết này khuyến khích thành lập các doanh

nghiệp công nghệ cao bên trong các trường đại học và tổ chức nghiên cứu bằng việc

sử dụng chính nguồn tài nguyên KH&CN của họ, cùng với việc thúc đẩy mối liên

kết giữa cơ sở giáo dục và doanh nghiệp trong ngành (Eun, Lee & Wu, 2006)

Một đặc điểm đáng chú ý đối với mô hình doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

CSGDĐH công lập tại Việt Nam đó chính là về tổ chức mẹ của doanh nghiệp này

-các CSGDĐH công lập Là một đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt động của -các

CSGDĐH công lập thường bị phụ thuộc vào quy định pháp luật đối với các đơn vị

sự nghiệp công lập cũng như sự quản lý của các Bộ ngành trực thuộc Do vậy, hoạt

động của các doanh nghiệp KH&CN trực thuộc cũng sẽ bị ảnh hưởng, từ mục đích

thành lập cho đến cơ chế hoạt động và quản lý điều hành

1.1.3 Mô hình công ty áp dụng trong các doanh nghiệp trực thuộc

Trước đây trong bối cảnh những năm 1990, thời điểm Nhà nước đang đề ra

chính sách nền kinh tế giai đoạn chuyển đổi, việc thành lập doanh nghiệp trực thuộc

các CSGDĐH đã được nhen nhóm Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra Quyết định

số 68/1998/QĐ-TTg về việc cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp Nhà nước trong

các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu Theo đó, các doanh nghiệp trực thuộc trường đại

học trong thời gian này đều được thành lập theo mô hình doanh nghiệp Nhà nước và

không được phép tham gia sản xuất kinh doanh ở một số lĩnh vực như khai thác mỏ,

phân phối điện, sản xuất và lưu thông vật liệu nổ, khách sạn, nhà hàng, xuất bản, vận

tải hàng không, dịch vụ bưu chính viễn thông, tài chính tín dụng, bất động sản Cơ chế

quản lý hoạt động được quy định bởi các Bộ chủ quản của trường, chế độ quản lý tài

chính tuân thủ theo quy định của Bộ Tài chính hiện thời Tuy nhiên, sau một thời gian

dài thực hiện thí điểm, mô hình doanh nghiệp Nhà nước của các

Trang 23

doanh nghiệp trực thuộc trường đại học công lập đã không còn phù hợp với tình

hình kinh tế xã hội nữa Cơ chế điều hành kiểu hành chính, kế hoạch hóa tập trung

và đề ra các chỉ tiêu cố định cho kế hoạch sản xuất kinh doanh không đáp ứng được

với sự phát triển và đòi hỏi của thị trường và các bên liên quan Hơn nữa, các doanh

nghiệp này sử dụng nhân lực, đất đai, tài sản và vốn Nhà nước giao dẫn đến xung

đột về mặt pháp lý và lợi ích khi góp vốn đầu tư hoặc kinh doanh, đặc biệt là khi

đầu tư và khởi nghiệp kinh doanh luôn có rủi ro (Văn Toàn, 2019)

Để giải quyết sự bế tắc trong tổ chức quản lý và hoạt động trong các doanh

nghiệp trực thuộc trường đại học công lập, các Bộ chủ quản đã đưa ra quyết định

chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp để phù hợp với Luật Doanh nghiệp hiện hành

và thông lệ quốc tế Việc áp dụng các mô hình công ty TNHH và công ty cổ phần cho

các doanh nghiệp trực thuộc trường đại học công lập đã giúp cho doanh nghiệp chủ

động hơn về quản lý, vận hành và huy động nguồn lực, góp vốn và tài sản Hơn nữa,

chuyển đổi mô hình doanh nghiệp còn giúp cho các trường đại học có vị thế hơn trong

việc thiết chế quản trị doanh nghiệp thông qua cơ chế góp vốn cho doanh nghiệp

Về chủ thể thành lập doanh nghiệp ở đây được xác định là trường đại học công

lập, là chủ thể sở hữu 100% vốn nếu thành lập dưới hình thức công ty TNHH một

thành viên, hoặc có thể góp vốn thành lập dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên

trở lên hoặc công ty cổ phần Ngoài ra, các trường đại học có thể góp vốn dưới hình

thức công ty hợp danh, tuy nhiên sẽ chỉ được tham gia với tư cách là thành viên góp

vốn và không có quyền quản lý điều hành đối với loại hình doanh nghiệp này Về cơ

cấu tổ chức và quản lý doanh nghiệp sẽ tuân theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện

hành, tùy thuộc vào loại hình mà doanh nghiệp lựa chọn để thành lập

1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của việc thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

CSGDĐH công lập

Vai trò và lợi ích của doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập

Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đào tạo, các cơ sở đại học còn thực

hiện nhiệm vụ liên quan đến hình thành và phát triển các doanh nghiệp học thuật trong

trường, tăng cường mối quan hệ giữa giới học thuật và xã hội (Văn Toàn, 2019)

Trang 24

Nhìn vào mô hình doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học trên thế giới, các

cơ sở đại học đã thực hiện được vai trò chủ yếu của mình trong việc chia sẻ tri thức

thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ cùng với

những ý tưởng mới ra thị trường từ việc khai thác các kết quả nghiên cứu KH&CN

và thương mại hóa các sản phẩm và dịch vụ bắt nguồn từ kết quả và ý tưởng nghiên

cứu KH&CN Chính những hoạt động này đã tạo nên động lực thúc đẩy chuyển

giao và truyền bá kiến thức, phát triển khoa học công nghệ từ việc phát triển doanh

nghiệp KH&CN trong các trường đại học Trong một nghiên cứu của các nhà

nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy rõ, việc phát triển doanh nghiệp trong trường đại

học luôn gắn liền với chuyển giao, phát triển tri thức và công nghệ, thể hiện ở việc

doanh nghiệp trực thuộc các CSGDĐH giúp thu hẹp khoảng cách giữa các nhà khoa

học, chính phủ và các doanh nghiệp trong ngành trong nhiều giai đoạn chuyển giao

công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN (Văn Toàn, 2019)

Hầu hết các doanh nghiệp KH&CN đang hoạt động tại Việt Nam đều là các

doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì vậy khả năng tự đổi mới của họ có sự hạn chế nhất

định Trong khi đó, Nhà nước lại chưa có một cơ chế hay chính sách nào mang lại

hiệu quả thực tiễn để tạo nên sự gắn kết giữa viện nghiên cứu, CSGDĐH và doanh

nghiệp Do vậy, các doanh nghiệp này chưa có nguồn tiếp cận các kết quả KH&CN

mới cho hoạt động của mình, và các nhà khoa học cũng không tìm kiếm được cơ hội

đưa kết quả nghiên cứu KH&CN của mình gần với thực tiễn hơn (Vân Anh, 2014)

Với mô hình doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH, vấn đề này được giải

quyết khá hiệu quả khi các nhà khoa học trong trường đã có một đầu mối sẵn trong

cơ sở giáo dục để thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình, hơn nữa có thêm

nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển từ các hoạt động

chuyển giao công nghệ và thương mại hóa; còn doanh nghiệp KH&CN thì tận dụng

được nguồn tài nguyên có sẵn của cơ sở trực thuộc

Dù có một số đặc điểm khác biệt về phương thức quản trị và điều hành,

nhưng mô hình doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập vẫn mang

những đặc điểm cơ bản của mô hình doanh nghiệp spin-off trên thế giới, bao gồm

cả những vai trò và lợi ích mà nó mang lại Có thể kể đến những lợi ích như sau:

Trang 25

Thứ nhất, mô hình doanh nghiệp này khuyến khích thực hiện quá trình

thương mại hóa đối với các sản phẩm bắt nguồn từ kết quả của các nghiên cứu

KH&CN Trên thực tế, các kết quả nghiên cứu thường tồn tại ở dạng mô hình và

bản thử nghiệm nên thường không có đủ sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt

nếu mối quan tâm của họ chỉ tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn Số lượng các nhà

đầu tư ngoài xã hội sẵn sàng đầu tư cho các lĩnh vực đầu tư công nghệ mới không

có nhiều - được coi là lĩnh vực mang yếu tố rủi ro cao do tính mới của sản phẩm

được tạo ra Sự tham gia của các doanh nghiệp trực thuộc cơ sở giáo dục sẽ giúp

nâng cao tỉ lệ thành công khi đưa sản phẩm vào công cuộc thương mại hóa, do tận

dụng được sự hiểu biết từ cả hai phía nhà trường và doanh nghiệp đối với sản phẩm

bắt nguồn từ kết quả nghiên cứu KH&CN (Hải Tùng, 2018)

Thứ hai, sự ra đời của doanh nghiệp KH&CN góp phần tạo ra các sản phẩm

và dịch vụ mới cho thị trường, từ đó thúc đẩy sự phát triển về kinh tế - xã hội

Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ về thuế cũng như thu hút người lao động, doanh

nghiệp KH&CN nói chung còn có những đóng góp thông qua những yếu tố mới đến

từ sản phẩm, công nghệ của mình, qua đó đóng góp cho sự phát triển của xã hội một

cách trực tiếp hoặc gián tiếp, và từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống con người

Ngoài ra, mô hình doanh nghiệp này còn đóng vai trò hình thành các mối liên kết

nhằm thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp KH&CN nói chung và đối

với địa phương nơi doanh nghiệp được hình thành (Hải Tùng, 2018)

Thứ ba, doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH còn đóng góp cho công

cuộc tạo nên làn sóng khởi nghiệp sáng tạo trong môi trường đại học, theo đó tạo

nguồn động lực hỗ trợ cho việc phát triển nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ứng dụng

với tiềm năng thương mại hóa cao, đưa khoa học đến gần hơn với thực tiễn cuộc sống

Ngoài ra, mô hình doanh nghiệp trực thuộc CSGDĐH còn tạo ra một môi trường lý

tưởng cho các cá nhân trong trường tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và phát

triển, bồi dưỡng những kỹ năng cần thiết trong hoạt động kinh doanh sản xuất thực tiễn

để sau này trở thành những hạt nhân khởi nghiệp sáng tạo cho xã hội Hơn nữa, mô

hình này còn giúp CSGDĐH thu hút và giữ chân các nhà khoa học có trình độ cao,

phục vụ cho mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững khi mô hình doanh

Trang 26

nghiệp thành công có thể mang lại thu nhập cho những người cùng tham gia công

tác nghiên cứu khoa học Sự thành công của doanh nghiệp trực thuộc cơ sở đại học

là một sự đầu tư cho xã hội, qua đó thu hút nguồn lực xã hội hóa cho công cuộc phát

triển trình độ cao cho các CSGDĐH với định hướng nghiên cứu rõ nét (Hải Tùng,

2018)

Theo chủ trương của Đảng tại Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của

Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và

quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công

lập” “khuyến khích thành lập các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập trong lĩnh vực

giáo dục và đào tạo”, hơn nữa đẩy mạnh việc tạo lập các “cơ chế, chính sách tạo

điều kiện thuận lợi để thành lập doanh nghiệp đa sở hữu trong các viện nghiên cứu

và trường đại học nhằm thực hiện hoạt động ứng dụng, triển khai, thương mại hoá

các kết quả nghiên cứu và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công” Thuận theo chủ

trương này, Luật GDĐH đã có sửa đổi năm 2018, bổ sung thêm về các cơ sở dịch

vụ, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh được liệt kê trực thuộc cơ cấu tổ chức của đại

học và trường đại học Hơn nữa, Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 đã sử dụng khái

niệm “doanh nghiệp” thay vì “cơ sở kinh doanh” so với luật cũ nhằm nhấn mạnh

tầm quan trọng của việc thành lập doanh nghiệp trong các CSGDĐH

Ý nghĩa của việc thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH

công lập đối với CSGDĐH công lập.

Thành lập doanh nghiệp KH&CN có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy sự phát

triển mảng nghiên cứu khoa học cho các CSGDĐH công lập, nhất là các cơ sở theo

định hướng nghiên cứu Nó tạo tiền đề cho CSGDĐH công lập đầu tư, đổi mới cơ sở

vật chất hiện đại, góp phần đẩy mạnh giáo dục và phù hợp với yêu cầu của xã hội Bên

cạnh đó, việc thành lập doanh nghiệp KH&CN cũng chính là biện pháp hiệu quả để có

thể tối đa hóa việc ứng dụng và khai thác những tiềm năng và lợi ích từ các công trình

nghiên cứu khoa học tạo ra bởi các cá nhân, đơn vị trong trường Mặc dù việc nghiên

cứu khoa học thường xuyên diễn ra và là một trong những mục tiêu quan trọng của các

CSGDĐH định hướng nghiên cứu, nhưng trên thực tế có nhiều trường chưa tạo đủ điều

kiện để phát huy được tính ứng dụng cho các công trình nghiên cứu

Trang 27

khoa học này, dẫn đến sự lãng phí về đầu tư và chất xám cũng như không tạo được

cơ hội để đội ngũ cán bộ, giảng viên được phát huy hết tiềm năng của mình Một số

nghiên cứu có sự đầu tư của Nhà nước nhằm mang lại những phát minh sáng chế,

giải pháp hữu ích hay là các sản phẩm khoa học công nghệ; tuy nhiên, những sản

phẩm đó mới chỉ dừng lại ở mức sản phẩm mẫu, phải đi qua các bước hoàn thiện và

kiểm thử trước khi đưa ra ngoài thị trường tiêu thụ (Thùy Vân, 2021) Đây là cả một

quá trình khó khăn và kéo dài mặc dù có rất nhiều sản phẩm với giá trị trí tuệ cao

Do vậy, việc thành lập doanh nghiệp KH&CN sẽ tận dụng được các kết quả công

trình nghiên cứu, vốn hóa được tài sản tri thức gồm các sáng chế và giải pháp công

nghệ thuộc sở hữu của trường, từ đó đóng góp cho xã hội những tiến bộ mới nhằm

thúc đẩy quá trình hội nhập cho nền kinh tế chung

Hơn nữa, việc thành lập doanh nghiệp KH&CN còn góp phần cho công cuộc

đổi mới GDĐH, trong bối cảnh các CSGDĐH công lập đang dần tiến tới việc tự chủ

tài chính và quản trị Đây sẽ là một bàn đẩy hiệu quả giúp cho các CSGDĐH có tiền

đề đón nhận xu thế phát triển toàn cầu và thực hiện sự thay đổi kịp thời trước sự

biến động của xã hội và nền kinh tế thị trường hiện nay

Ý nghĩa của việc thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH

công lập đối với đời sống xã hội.

KH&CN là một trong những thành tố quan trọng trong các nguồn lực phát triển

kinh tế xã hội hiện nay bằng cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tác động

đến tổng cung và tổng cầu, tạo điều kiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng

sang chiều sâu và đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế khu vực KH&CN

còn đóng vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

tiến bộ khi làm thay đổi cơ cấu sản xuất, làm xuất hiện nhiều ngành nghề lĩnh vực mới,

tạo ra khả năng thay đổi cơ cấu tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu và

động lực của doanh nghiệp là lợi nhuận Do đó, các doanh nghiệp luôn hướng tới giảm

chi phí, hạ giá thành sản phẩm bằng cách áp dụng các tiến bộ KH&CN nhằm nâng cao

năng suất và chất lượng sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh không chỉ ở thị trường trong

nước mà cả thị trường ngoài nước để tối đa hóa lợi nhuận, đóng góp cho sự phát triển

kinh tế chung Hơn nữa, sự tiến bộ về KH&CN

Trang 28

còn đóng góp cho việc nâng cao đời sống con người về mọi mặt, từ sức khỏe, vật

chất cho đến tinh thần; góp phần tạo điều kiện cải thiện và bảo vệ môi trường sinh

thái tốt hơn, nâng cao chất lượng môi trường sống cho con người (Hưng, 2020) Để

phát huy được những vai trò này của KH&CN cần đến sự vận hành trơn tru của các

doanh nghiệp KH&CN – cầu nối hiệu quả giữa KH&CN và đời sống kinh tế xã hội

Doanh nghiệp KH&CN ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển

của nền kinh tế, do đây là nơi trực tiếp ứng dụng thành công các kết quả nghiên cứu

khoa học vào đời sống kinh tế xã hội nên nó đóng vai trò quan trọng trong việc đưa

các kết quả nghiên cứu ứng dụng KH&CN chuyển giao vào hoạt động sản xuất

hàng hóa Sự phát triển của các doanh nghiệp KH&CN sẽ là bước đệm cơ bản nhằm

thúc đẩy sự phát triển của ngành KH&CN Các doanh nghiệp KH&CN là những

nhân tố thực hiện khai thác hiệu quả các nguồn lực, sản phẩm KH&CN đóng góp

trực tiếp vào GDP quốc gia Với sự ra đời của hàng loạt công nghệ mới tạo ra bởi

các doanh nghiệp KH&CN như vật liệu xây dựng, công nghệ nano, công nghệ sinh

học… làm gia tăng các yếu tổ sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cũng như

thu nhập cho nguồn lao động Doanh nghiệp KH&CN còn đóng góp cho công cuộc

nâng cao năng lực sáng tạo công nghệ của xã hội, tạo ra thị trường mới và tăng năng

lực cạnh tranh quốc gia trên thị trường quốc tế và khu vực

Ý nghĩa của việc thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH

công lập đối với người học.

Việc thành lập doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa đối với các CSGDĐH công

lập mà còn mang lại những lợi ích dành cho các sinh viên, người học đang theo học tại

các CSGDĐH đó Trên thực tế, các CSGDĐH công lập tại Việt Nam đã áp dụng rất tốt

trong khâu đào tạo lý thuyết, nhưng lại chưa phát huy tối đa năng lực thực tiễn của sinh

viên Do vậy, doanh nghiệp KH&CN trực thuộc trường sẽ là cầu nối hiệu quả tạo cơ

hội cho các sinh viên và người học được học hỏi không chỉ trên lý thuyết mà còn được

tiếp cận với thực tiễn, liên hệ trực tiếp với môi trường làm việc mà sau này họ sẽ áp

dụng những kiến thức đang học trên trường Hơn nữa, thông qua các trải nghiệm thực

tiễn qua kì thực tập tại doanh nghiệp sẽ giúp sinh viên có cái nhìn khách quan để đưa ra

định hướng nghề nghiệp cho bản thân cũng như đúc rút kinh nghiệm

Trang 29

để sau này vận dụng linh hoạt cơ sở lý thuyết vào thực tế Không chỉ tạo cơ hội cho

sinh viên và người học trong quá trình học, các doanh nghiệp trực thuộc này còn tạo cơ

hội việc làm cho họ sau khi tốt nghiệp Đây là lợi thế dành cho cả sinh viên lẫn doanh

nghiệp và CSGDĐH công lập, khi sinh viên đạt được mục tiêu có việc làm sau khi tốt

nghiệp còn doanh nghiệp thì tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao được đào

tạo bởi CSGDĐH công lập trực thuộc và bởi chính doanh nghiệp của họ

Bên cạnh đó, doanh nghiệp KH&CN trực thuộc còn là nguồn động lực

khuyến khích phát triển tinh thần khởi nghiệp cho sinh viên cùng với các yếu tố về

sáng tạo, độc lập và mạo hiểm Doanh nghiệp KH&CN trực thuộc sẽ cung cấp cho

sinh viên vốn kiến thức về giới kinh doanh cũng như cách tạo dựng các mối quan hệ

trong ngành, nâng cao hiểu biết về vai trò của các doanh nhân trong cộng đồng, và

nâng cao nhận thức của sinh viên về việc làm chủ doanh nghiệp Hơn nữa, sinh viên

còn có cơ hội được tiếp cận với những kiến thức đi sâu vào thực tiễn mà trên trường

không đề cập đến, như việc thành lập doanh nghiệp mới, chuyển giao cách thức tiếp

cận khởi nghiệp nhằm tăng cường năng lực kinh doanh và thái độ làm việc của

doanh nghiệp và nâng cao kỹ năng quản lý công việc, phục vụ cho mục tiêu phát

triển sự nghiệp sau này của sinh viên dù là làm việc trong các doanh nghiệp hay tự

làm chủ chính doanh nghiệp của mình

1.1.5 So sánh sự khác biệt giữa doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH

công lập và tổ chức KH&CN thuộc CSGDĐH công lập

Về cơ bản, doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập và tổ chức

KH&CN thuộc CSGDĐH công lập có một số điểm chung, đó là đều xuất phát từ

các nghiên cứu KH&CN, đều có năng lực thực hiện nhiệm vụ KH&CN và đóng

góp cho sự phát triển chung về hoạt động KH&CN cho xã hội nói chung và hoạt

động của CSGDĐH nói riêng, và đểu nằm trong cơ cấu tổ chức của CSGDĐH công

lập Hơn nữa, hai đơn vị này đều được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà

nước về hoạt động nghiên cứu KH&CN Tuy nhiên, giữa các đơn vị này có những

sự khác biệt nhất định, và có thể nói là mô hình doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

mang lại nhiều lợi ích cho CSGDĐH công lạp hơn là mô hình tổ chức KH&CN

Trang 30

Thứ nhất, doanh nghiệp KH&CN có tư cách pháp nhân, còn tổ chức KH&CN

không có tư cách pháp nhân, dù cùng là các đơn vị trực thuộc CSGDĐH công lập Bộ

luật dân sự (BLDS) quy định điều kiện để được công nhận là pháp nhân với các yếu tố

sau: “(1) Được thành lập theo quy định của BLDS hoặc các luật khác có liên quan; (2)

Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 BLDS; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân,

pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhân danh mình

tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập” (Điều 74, BLDS 2015) Doanh nghiệp

KH&CN có đầy đủ các yếu tố được liệt kê ở trên, do vậy nó là một doanh nghiệp và có

tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Còn đối

với tổ chức KH&CN, mặc dù được thành lập theo quy định của Luật KH&CN và có cơ

cấu tổ chức quy định theo BLDS, nhưng tổ chức này lại không độc lập về tài sản với

CSGDĐH mà nó trực thuộc, nó không phải doanh nghiệp và cũng không nhân danh

mình tham gia bất kì quan hệ pháp luật nào một cách độc lập nên tổ chức này không có

tư cách pháp nhân Với tư cách pháp nhân, doanh nghiệp KH&CN có thể dễ dàng giao

dịch với các đối tác trong và ngoài nước, cũng như việc tách bạch tài sản với CSGDĐH

nó trực thuộc sẽ giảm bớt sự rủi ro cho CSGDĐH cũng như các thành viên góp vốn vào

doanh nghiệp

Thứ hai, doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH hoạt động theo cơ chế

doanh nghiệp và tự chủ về hoạt động của mình Từ cơ cấu tổ chức cho đến bộ máy

nhân lực, cơ chế doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp KH&CN hoàn toàn tự quyết

định các vấn đề này mà không cần phụ thuộc vào CSGDĐH trực thuộc hay các cơ quan

Bộ ngành mà CSGDĐH trực thuộc Hơn nữa, khả năng huy động vốn sẽ được phát huy

mạnh mẽ, do doanh nghiệp có thể tiếp cận với các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, tự

do kêu gọi vốn đầu tư cho các dự án nghiên cứu khoa học từ nhiều nguồn khác nhau

Còn các tổ chức KH&CN trong các CSGDĐH công lập hiện nay được tự chủ theochính sách đối với đơn vị sự nghiệp có thu, và cơ chế cấp phát kinh phí từ CSGDĐH

trực thuộc vẫn là nguồn tài chính chủ yếu xuất phát từ việc thực hiện các nhiệm vụ

nghiên cứu khoa học Do hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, nên doanh nghiệp

KH&CN phải có “doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá hình

thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”, quy định trong

Trang 31

Luật KH&CN Tổ chức KH&CN không có quy định bắt buộc phải tạo ra doanh thu

từ kết quả của các hoạt động nghiên cứu khoa học của mình

1.2 Pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệp KH&CN

trực thuộc CSGDĐH công lập

1.2.1 Khái niệm về pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh

nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập

Trong các tài liệu tại Việt Nam có tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về

pháp luật, tuy có sự khác biệt về câu chữ nhưng tựu chung lại vẫn là thể hiện quan

niệm về pháp luật với tư cách là một loại quy tắc ứng xử của con người, một loại

chuẩn mực xã hội mang những điểm khác biệt so với các loại chuẩn mực xã hội

khác như đạo đức hay phong tục tập quán Định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất

về pháp luật đó là: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra

hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục

đích, định hướng của Nhà nước” (Đại học Luật Hà Nội, 2019)

Từ định nghĩa trên, có thể hiểu rằng pháp luật về thành lập và quản lý điều

hành doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập là các quy tắc xử sự do

Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát

sinh trong quá trình thành lập và quản lý điều hành các doanh nghiệp KH&CN trực

thuộc CSGDĐH công lập theo mục đích, định hướng của Nhà nước nhằm duy trì và

bảo vệ trật tự xã hội Các mối quan hệ xã hội được nhắc đến ở đây là quan hệ xã hội

giữa doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập đối với Nhà nước và các

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp KH&CN trực

thuộc CSGDĐH công lập đối với các đối tượng cá nhân như các nhà khoa học, cán

bộ viên chức công tác tại CSGDĐH công lập; quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp

KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập đối với các tổ chức như doanh nghiệp và

CSGDĐH công lập; và quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

CSGDĐH công lập đối với ngành KH&CN Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu

của luận văn này, các khía cạnh được tập trung nghiên cứu là quy tắc xử sự điều

chỉnh các quan hệ xã hội đối với riêng doanh nghiệp KH&CN và đối với CSGDĐH

công lập mà nó trực thuộc

Trang 32

Pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệp KH&CN trực

thuộc CSGDĐH công lập là cơ sở pháp lý cho các hoạt động quản lý hành chính

của các cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp KH&CN thuộc cơ cấu tổ chức của

CSGDĐH công lập, với những vai trò tiêu biểu như sau:

Thứ nhất, pháp luật được Nhà nước sử dụng là phương tiện thể hiện chức

năng quản lý Nhà nước với doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập

Đây là phương tiện cơ bản nhất và duy nhất có khả năng triển khai các chủ trương,

chính sách của Nhà nước về phát triển doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH

công lập một cách đồng bộ, nhanh nhất và có hiệu quả trên quy mô toàn quốc Hơn

nữa, pháp luật là phương tiện đảm bảo cho tổ chức và hoạt động quản lý Nhà nước

với các đối tượng doanh nghiệp nói chung tiến hành thống nhất nhưng có sự phân

công và phối hợp chặt chẽ, bằng cách thiết lập một hệ thống tổ chức quản lý rõ ràng,

đồng bộ và quy định cụ thể cơ chế điều hành, điều phối của hệ thống tổ chức quản

lý này từ Trung ương đến địa phương (Ngọc Dung, 2020)

Thứ hai, pháp luật còn là phương tiện hỗ trợ cho sự phát triển chung của

doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập cũng như gián tiếp hỗ trợ

hoạt động nghiên cứu KH&CN của CSGDĐH công lập nơi doanh nghiệp trực thuộc

nói chung Thông qua các hoạt động của doanh nghiệp KH&CN trực thuộc, hoạt

động nghiên cứu KH&CN của các CSGDĐH công lập sẽ ngày một hoàn thiện và để

các kết quả nghiên cứu không chỉ còn tồn tại trên quy mô phòng thí nghiệm Từ đó,

gián tiếp tạo nên đón bẩy thúc đẩy sự phát triển chung của CSGDĐH công lập

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thành lập và quản lý điều hành

doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập

Pháp luật đối với doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập là công

cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý với loại hình doanh nghiệp

này, tạo điều kiện cho các chủ thể liên quan thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo

pháp luật Từ khái niệm pháp luật về thành lập và quản lý điều hành doanh nghiệp

KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập được trình bày ở trên cùng với việc đưa ra các

khái niệm cơ bản về loại hình doanh nghiệp này, có thể chỉ ra được những

Trang 33

nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp KH&CN trực

thuộc CSGDĐH công lập theo các nội dung chính như sau:

Những quy định chung của pháp luật về doanh nghiệp.

Doanh nghiệp KH&CN là một loại doanh nghiệp, có doanh thu từ các hoạt

động sản xuất của mình, do vậy sẽ phải tuân theo quy định về thành lập và tổ chức

cơ cấu doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Cụ thể, Luật Doanh nghiệp 2020 là

luật điều chỉnh các quy định chung về doanh nghiệp, bao gồm quy định về các loại

hình doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức của từng loại hình doanh nghiệp, đăng ký thành

lập, tổ chức lại doanh nghiệp… Ngoài ra, thẩm quyền thành lập doanh nghiệp trực

thuộc CSGDĐH công lập còn được quy định tại Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 và

văn bản hướng dẫn thi hành

Những quy định của pháp luật về doanh nghiệp KH&CN.

Những quy định chung về doanh nghiệp KH&CN được quy định tại Luật

KH&CN 2013 và Nghị định 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công

nghệ Các quy định chung bao gồm các quy phạm điều chỉnh các quan hệ có tính

chất chung đối với doanh nghiệp KH&CN nói chung như định nghĩa về doanh

nghiệp KH&CN, kết quả KH&CN, sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN, đất

xây dựng cơ sở nghiên cứu khoa học của doanh nghiệp KH&CN Các quy định cụ

thể đối với riêng doanh nghiệp KH&CN gồm các nội dung: các quy định về ưu đãi

và hỗ trợ dành cho doanh nghiệp KH&CN, quy định về quản lý Nhà nước đối với

doanh nghiệp KH&CN Bên cạnh đó còn có các quy định pháp luật về trình tự, thủ

tục tiến hành thực hiện các quy phạm nội dung

Những quy định của pháp luật về hoạt động của CSGDĐH công lập.

Do vẫn là một phần không tách rời với CSGDĐH công lập, doanh nghiệp

KH&CN trực thuộc vẫn bị ảnh hưởng một phần bởi các quy định này, chủ yếu liên

quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên, đất đai và nhân lực của CSGDĐH công lập

mà nó trực thuộc Những vấn đề này sẽ được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật

điều chỉnh các hoạt động của một đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể như: Luật GDĐH

sửa đổi bổ sung năm 2018 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định

Trang 34

về khái niệm, mục tiêu và cơ cấu tổ chức của CSGDĐH công lập cũng như các

quyền tự chủ của CSGDĐH công lập; Luật Viên chức sửa đổi năm 2019 quy định

về quyền và nghĩa vụ của viên chức công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập; Luật

Đất đai 2013, Luật Đầu tư công 2019, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 và

các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định về sử dụng đất đai, tài sản

công của đơn vị sự nghiệp công lập Ngoài ra còn có Nghị định 70/2018/NĐ-CP

quy định việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai

thực hiện các nhiệm vụ KH&CN sử dụng vốn Nhà nước, Nghị định

60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với việc thay đổi quy định pháp luật cho phép thành lập doanh nghiệp tại các

CSGDĐH nói chung và CSGDĐH nói riêng, Nhà nước đã tạo động lực cho các

CSGDĐH có cơ hội được đổi mới để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN cũng

như góp phần cho sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội thông qua các kết quả

nghiên cứu khoa học tại cơ sở mình Đây cũng là một kết quả tất yếu của quá trình

chuyển đổi nền kinh tế cũng như phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế thế

giới Theo đó, nền giáo dục bậc cao của Việt Nam trong tương lai sẽ nhận được

nhiều sự cải thiện mang tính đột phá và khẳng định được vai trò quan trọng của

mình trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước Chương 1 của luận văn đã nêu

ra những cơ sở lý luận về doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH, bước đầu

làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản liên quan đến loại hình doanh nghiệp này Có thể

thấy rằng, doanh nghiệp trực thuộc CSGDĐH có vai trò quan trọng, không những

thể hiện được mức độ hiệu quả đối với cơ sở mà nó trực thuộc, mà quan trọng hơn

cả là phần nào khắc phục được điểm yếu lớn nhất đối với mô hình đào tạo truyền

thống – đó là sự rời rạc giữa lý thuyết và thực tiễn Doanh nghiệp trực thuộc

CSGDĐH không chỉ là cầu nối giữa chương trình đào tạo với thực tiễn ngành nghề,

mà còn tạo sự kết nối giữa các cơ sở đại học với doanh nghiệp trong ngành Hơn

nữa, nó còn là một bước tiến của CSGDĐH công lập để hỗ trợ thúc đẩy cho quá

trình tự chủ của mình Với một quốc gia nhỏ như Việt Nam, nơi mà nền kinh tế vẫn

đang trên đà phát triển và dần nâng cao vị thế của mình trên bảng xếp hạng quốc tế,

việc đầu tư cho giáo dục nếu chỉ dựa vào nguồn lực Nhà nước thì không thể theo

kịp với xu hướng hiện đại mà các quốc gia phát triển đang đi theo Chỉ khi các

CSGDĐH nói chung và các CSGDĐH công lập nói riêng có những đột phá cải tiến

trong hoạt động của mình thì mới có thể đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, xây dựng

cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho lớp trẻ tương lai của đất nước

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ

ĐIỀU HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC

THUỘC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về thành lập và quản lý điều hành

doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập

Doanh nghiệp KH&CN trực thuộc CSGDĐH công lập về bản chất là một doanh

nghiệp, có tính chất giống như các doanh nghiệp KH&CN khác trên thị trường, được

đối xử bình đẳng mà không có sự ưu tiên nào khác Do vậy, các quy định về thành lập

và quản lý điều hành doanh nghiệp này đều phải tuân theo Luật Doanh nghiệp Tuy

nhiên, do là doanh nghiệp trực thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, ở đây là các CSGDĐH

công lập, nên vẫn chịu những ảnh hưởng gián tiếp bởi một số quy định mà CSGDĐH

công lập bị ràng buộc trong các quy định pháp luật như Luật GDĐH, Luật KH&CN,

Luật Viên chức, Luật Đất đai, Luật Đầu tư công, Luật quản lý, sử dụng tài sản công…

và các văn bản hướng dẫn thi hành của các Luật này

2.1.1 Các quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp KH&CN trực thuộc

CSGDĐH công lập

2.1.1.1 Quyền thành lập và góp vốn, điều kiện thành lập doanh nghiệp KH&CN

Quyền thành lập và góp vốn.

Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 quy định về việc đưa doanh nghiệp thành một

phần của cơ cấu đại học và trường đại học, và không có quy định riêng về việc thành

lập và quản lý vận hành loại hình doanh nghiệp này Như vậy, có thể hiểu là các

CSGDĐH được quyền thành lập doanh nghiệp mà không gặp bất cứ hạn chế nào, miễn

là vẫn tuân thủ theo các quy định chung của pháp luật Nghị định 99/2019/NĐ-CP quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của Luật Giáo dục đại học có quy định về quyền tự chủ của CSGDĐH, theo đó quy

định việc thành lập doanh nghiệp trực thuộc CSGDĐH thực hiện theo quy định pháp

luật hiện hành (điểm d khoản 2 Điều 13, Nghị định 99/2019/NĐ-CP) Do vậy, các

doanh nghiệp trực thuộc trường đại học công lập phải tuân thủ theo các quy định của

Luật Doanh nghiệp và các bộ luật liên quan Luật KH&CN cũng quy định rõ một trong

các yếu tố để doanh nghiệp KH&CN được công nhận là phải được

Trang 37

thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật

doanh nghiệp Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này còn phải thực hiện theo các quy

định của các Nghị định và Thông tư về thủ tục đăng ký doanh nghiệp như các doanh

nghiệp thông thường

Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh

nghiệp là những quyền cơ bản của chủ doanh nghiệp, được pháp luật quy định nhằm

đảm bảo doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình Để đảm bảo

tính minh bạch, công khai đối với chủ thể được thực hiện quyền trên, Điều 17 Luật

Doanh nghiệp 2020 quy định các tổ chức, cá nhân có quyền được thành lập và quản lý

doanh nghiệp tại Việt Nam, trừ những trường hợp như: các tổ chức là “cơ quan Nhà

nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp

kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình”; các cá nhân là cán bộ, công chức,

viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; các cá nhân là

“sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong

các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam, trừ những

người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại

doanh nghiệp”; các cá nhân là “cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp

Nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn

góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác” (…) Về quyền góp vốn, mua cổ phần, mua

phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty tránh nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty hợp

danh, các tổ chức và cá nhân được phép tự do thực hiện trừ những trường hợp sau: các

tổ chức là cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhà

nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; các cá nhân

thuộc đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ,

công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng Việc thu lợi riêng cho cơ

quan, đơn vị mình ở những quy định trên “là việc sử dụng thu nhập dưới mọi hình thức

có được từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào một

trong các mục đích sau đây: (a) Chia dưới mọi hình thức cho một số hoặc tất cả những

người quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này; (b) Bổ sung vào ngân sách hoạt

động của cơ

Trang 38

quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước; (c) Lập quỹ

hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị”

CSGDĐH công lập là một đơn vị sự nghiệp công lập, xét về tư cách pháp lý

không thuộc một trong những trường hợp không được phép thành lập và quản lý doanh

nghiệp ở trên nên hoàn toàn có quyền được thành lập và quản lý doanh nghiệp mà

không bị vướng các quy định của pháp luật Chỉ có các cán bộ, công chức và viên chức

hiện đang công tác tại CSGDĐH công lập mới không được phép tham gia thành lập và

quản lý doanh nghiệp Do vậy, các trường đại học công lập hoàn toàn có vị thế bình

đẳng so với các chủ thể khác trong việc thành lập và quản lý doanh nghiệp, và doanh

nghiệp trực thuộc CSGDĐH được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh và thu lợi

nhuận như các doanh nghiệp khác trên thị trường Các giảng viên, nhân viên, cán bộ

lãnh đạo trong trường cũng có quyền được góp vốn, mua cổ phần và mua phần vốn góp

cho doanh nghiệp theo như quy định trong Luật Viên chức: “được góp vốn nhưng

không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công

ty hợp danh” (khoản 3 Điều 14, Luật Viên chức sửa đổi năm 2019)

2.1.1.2 Chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Luật KH&CN 2013 quy định về ba đặc điểm của doanh nghiệp KH&CN như

sau: Thứ nhất, doanh nghiệp phải tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp hiện hành trong

việc thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý và hoạt động doanh nghiệp

Thứ hai, doanh nghiệp đó phải thể hiện được năng lực của mình trong việc thực

hiện các nhiệm vụ KH&CN Thứ ba, doanh nghiệp bắt buộc phải đạt được một tỉ lệ

doanh thu nhất định theo quy định của pháp luật đến từ việc sản xuất, kinh doanh

sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công

nghệ Đây sẽ là những yếu tố được các cơ quan có thẩm quyền dựa vào để đưa ra

quyết định cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Việc được chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN rất quan trọng đối với các

doanh nghiệp KH&CN nói chung, vì nó không chỉ thể hiện bản chất là thực hiện các

hoạt động KH&CN mà còn là căn cứ pháp lý để doanh nghiệp này được hưởng các

chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với doanh nghiệp KH&CN Các văn bản pháp luật hiện

hành quy định về việc cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN bao gồm: Nghị

Trang 39

định 13/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019 về doanh nghiệp KH&CN; Quyết định

395/QĐ-BKHCN ngày 28/2/2019 của Bộ KH&CN công bố thủ tục hành chính;

Công văn số 1048/BKHCN-PTTTDN ngày 16/4/2019 của Bộ KH&CN hướng dẫn

cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN theo Nghị định 13/2019/NĐ-CP

Điều kiện thành lập doanh nghiệp KH&CN.

Luật Doanh nghiệp hay Luật GDĐH không có quy định về điều kiện cụ thể

cho việc thành lập doanh nghiệp KH&CN nói chung, hay là doanh nghiệp KH&CN

trực thuộc CSGDĐH công lập nói riêng Cho dù trực thuộc CSGDĐH hay không,

các doanh nghiệp này đều phải thông qua thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh

để được coi là một doanh nghiệp Tuy nhiên, để được công nhận là một doanh

nghiệp KH&CN, doanh nghiệp sau khi được thành lập cần đạt một số điều kiện

nhất định để được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số

17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 10/9/2012 đưa ra các điều kiện để được chứng nhận là doanh nghiệp

KH&CN nếu “đối tượng thành lập doanh nghiệp KH&CN hoàn thành việc ươm tạo

và làm chủ công nghệ từ kết quả KH&CN được sở hữu, sử dụng hợp pháp hoặc sở

hữu hợp pháp công nghệ để trực tiếp sản xuất thuộc các lĩnh vực: công nghệ thông

tin - truyền thông, đặc biệt công nghệ phần mềm tin học; công nghệ sinh học, đặc

biệt công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thủy sản và y tế; công nghệ tự động

hóa; công nghệ vật liệu mới, đặc biệt công nghệ nano; công nghệ bảo vệ môi

trường; công nghệ năng lượng mới; công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác do

Bộ KH&CN quy định”; hoặc phải thực hiện “chuyển giao công nghệ hoặc trực tiếp

sản xuất trên cơ sở công nghệ đã ươm tạo và làm chủ hay sở hữu hợp pháp công

nghệ” theo các yếu tố nhắc trên Nếu hội tụ đủ các điều kiện trên, doanh nghiệp có

thể chuẩn bị hồ sơ để xin cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Tuy nhiên, việc xem xét điều kiện để trở thành doanh nghiệp KH&CN chỉ dựa

trên các lĩnh vực, ngành nghề liệt kê trên thì sẽ không đủ cơ sở để xác định xem doanh

nghiệp đó có được coi là doanh nghiệp KH&CN hay không Do đặc thù của ngành này

luôn tạo ra các sản phẩm có tính mới và gần như chưa được thị trường kiểm chứng hay

được xác nhận và đánh giá bởi các tổ chức hay cơ quan thẩm định nào, có

Trang 40

thể nhiều sản phẩm từ kết quả nghiên cứu khoa học mới lại chưa được xác định là một

trong những lĩnh vực nào được liệt kê trong luật vì tính mới mẻ của nó Điều này sẽ

mang đến một hạn chế không nhỏ dành cho các doanh nghiệp KH&CN nói chung và

các doanh nghiệp KH&CN thuộc CSGDĐH công lập nói riêng Việc không được công

nhận là doanh nghiệp KH&CN có thể ảnh hưởng đến việc xin cấp phép Giấy chứng

nhận KH&CN, theo đó quyền lợi của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng vì không được

hưởng các chính sách ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp KH&CN

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

Nghị định 13/2019/NĐ-CP quy định các điều kiện để được cấp giấy chứng

nhận tại Điều 6 như sau: “(a) Được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;

(b) Có khả năng tạo ra hoặc ứng dụng kết quả KH&CN được cơ quan có thẩm

quyền đánh giá, thẩm định, công nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị

định này; (c) Có doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm hình thành từ kết

quả KH&CN đạt tỷ lệ tối thiểu 30% trên tổng doanh thu” Đối với các doanh nghiệp

mới thành lập dưới 5 năm, chỉ cần đạt điều kiện quy định tại khoản (a) và (b) nêu

trên thì được chứng nhận là doanh nghiệp KH&CN Để phục vụ cho công tác xác

định tỉ lệ doanh thu cho việc cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, doanh

nghiệp KH&CN phải tự kê khai doanh thu của mình (có thể kê khai theo kết quả

kinh doanh của quý hoặc năm) trong hồ sơ đăng ký và tự chịu trách nhiệm về mức

độ hợp pháp và chính xác của thông tin cung cấp

Việc chứng minh khả năng tạo ra hoặc ứng dụng kết quả KH&CN phải được

chứng minh thông qua quá trình thẩm định đánh giá bởi cơ quan có thẩm quyền Khoản

2 Điều 3 Nghị định 13/2019/NĐ-CP liệt kê các hình thức thể hiện kết quả KH&CN

như sau: “(a) Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch

tích hợp bán dẫn, giống cây trồng đã được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp

luật về sở hữu trí tuệ hoặc được công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước

quốc tế mà Việt Nam là thành viên; chương trình máy tính đã được cấp Giấy chứng

nhận đăng ký quyền tác giả; (b) Giống vật nuôi mới, giống cây trồng mới, giống thủy

sản mới, giống cây lâm nghiệp mới, tiến bộ kỹ thuật đã được Bộ Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn công nhận; (c) Kết quả thực hiện nhiệm vụ đã

Ngày đăng: 26/04/2022, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Bích Liên. 2015. Hà Nội: Nhiều vướng mắc trong hoạt động chứng nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội: Nhiều vướng mắc trong hoạt động chứng nhậndoanh nghiệp khoa học công nghệ
2. Luật Cán bộ công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 Khác
3. Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020 Khác
6. Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 ngày 18/6/2012 Khác
7. Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18/6/2013 Khác
8. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 ngày 21/6/2017 9. Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 Khác
11. Luật số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 Khác
12. Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12 Khác
13. Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019 về doanh nghiệp khoa học và công nghệ Khác
14. Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp khoa học và công nghệ Khác
15. Nghị định 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công Khác
16. Nghị định số 70/2018/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn Nhà nước Khác
17. Nghị định số 46/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước Khác
18. Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học Khác
19. Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập Khác
20. Nghị định số 106/2015/NĐ-CP ngày 23/10/2015 về quản lý người đại diện phần vốn Nhà nước giữ các chức danh quản lý tại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% Khác
21. Nghị định số 159/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Khác
22. Quyết định số 68/1998/QĐ-TTg về việc cho phép thí điểm thành lập doanh nghiệp Nhà nước trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu Khác
23. Thông tư số 301/2016/TT-BTC hướng dẫn về lệ phí trước bạ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Quá trình “spin-off” từ kết quả nghiên cứu đến thương mại hóa thông qua doanh nghiệp spin-off - (Luận văn thạc sĩ) PHÁP LUẬT về THÀNH lập và QUẢN lý điều HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA học và CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC cơ sở GIÁO dục đại học CÔNG lập tại VIỆT NAM
Hình 1. Quá trình “spin-off” từ kết quả nghiên cứu đến thương mại hóa thông qua doanh nghiệp spin-off (Trang 21)
Hình 2. Mô hình thành lập Công ty TNHH MTV BKHoldings (Nguồn: http://www.bkholdings.com.vn/vn/Gioi-thieu.html) - (Luận văn thạc sĩ) PHÁP LUẬT về THÀNH lập và QUẢN lý điều HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA học và CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC cơ sở GIÁO dục đại học CÔNG lập tại VIỆT NAM
Hình 2. Mô hình thành lập Công ty TNHH MTV BKHoldings (Nguồn: http://www.bkholdings.com.vn/vn/Gioi-thieu.html) (Trang 59)
Etzkowitz và Zhou (2017) đã nghiên cứu về mô hình xoắn thể hiện vai trò và mối quan hệ chiến lược giữa ba bên Chính phủ - Đại học – Doanh nghiệp trong việc khuyến khích và đổi mới phát triển nền kinh tế tri thức, được gọi tên là mô hình Triple Helix - (Luận văn thạc sĩ) PHÁP LUẬT về THÀNH lập và QUẢN lý điều HÀNH DOANH NGHIỆP KHOA học và CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC cơ sở GIÁO dục đại học CÔNG lập tại VIỆT NAM
tzkowitz và Zhou (2017) đã nghiên cứu về mô hình xoắn thể hiện vai trò và mối quan hệ chiến lược giữa ba bên Chính phủ - Đại học – Doanh nghiệp trong việc khuyến khích và đổi mới phát triển nền kinh tế tri thức, được gọi tên là mô hình Triple Helix (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w