Vàthông qua tình hình huy động vốn thực tiễn, chiếu tới những quy định của pháp luậthiện hành, bài luận văn đã nêu lên được thực trạng tuân thủ pháp luật về huy độngvốn trong các Công ty
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 7
1.1 Tổng quan về hoạt động huy động vốn trong công ty chứng khoán 7
1.1.1 Khái niệm huy động vốn trong công ty chứng khoán 7
1.1.2 Các phương thức huy động vốn của công ty chứng khoán 9
1.1.3 Đặc điểm hoạt động huy động vốn trong công ty chứng khoán 10
1.1.4 Tầm quan trọng của nguồn vốn trong hoạt động của công ty chứng khoán 11
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán 12
1.2 Pháp luật về huy động vốn của công ty chứng khoán 13
1.2.1 Khái niệm pháp luật về huy động vốn của công ty chứng khoán 13
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật trong huy động vốn của các CTCK 13
1.2.3 Yêu cầu về pháp luật huy động vốn 14
1.2.4 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán tại Việt nam 15
1.2.5 Chủ thể huy động vốn của công ty chứng khoán 21
1.2.6 Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật trong huy động vốn của công ty chứng khoán 21
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 23
2.1 Pháp luật Việt Nam về huy động vốn tại công ty chứng khoán 23
2.1.1 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán 23
2.1.2 Xử lý vi phạm trong hoạt động huy động vốn tại Công ty chứng khoán 32
Trang 42.2 Thực trạng huy động vốn của các công ty chứng khoán tại Việt Nam 35
2.2.1 Nhu cầu huy động vốn của các công ty chứng khoán tại Việt Nam 35
2.2.2 Các phương thức huy động vốn của các công ty chứng khoán và đặc điểm của các kênh huy động vốn của các công ty chứng khoán hiện nay 39
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của các công ty chứng khoán 50
2.2.4 Rủi ro trong hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán 54
2.3 Kết quả và đánh giá việc tuân thủ hoạt động huy động vốn trong công ty chứng khoán 57
2.4 Các hình thức vi phạm pháp luật trong lĩnh vực huy động vốn của các công ty chứng khoán 59
2.5 Đánh giá về pháp luật Việt Nam về huy động vốn của công ty chứng khoán 61
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 63
3.1 Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật trong hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán tại Việt Nam 63
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cho từng hình thức huy động vốn của công ty chứng khoán tại Việt Nam 64
3.2.1 Trong hình thức đi vay 64
3.2.2 Trong hình thức chào bán cổ phần 66
3.2.3 Trong hình thức phát hành trái phiếu 67
3.2.4 Trong hình thức hợp tác đầu tư 68
3.3 Một số khuyến nghị cho các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong việc thực thi pháp luật về huy động vốn 70
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “Pháp luật về huy động vốn trong lĩnhvực chứng khoán Thực tiễn thực hiện và một số đề xuất cho các công ty chứngkhoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi trong thời gian qua Mọi
số liệu sử dụng phân tích trong luận văn và kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu,phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa đượccông bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sựkhông trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này.”
Họ và tên học viên
Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, cùng với những nỗ lực của bản thân, em
đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của thầy cô, gia đình và đồng nghiệp
Đầu tiên, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hà CôngAnh Bảo – Giảng viên Khoa Luật trường Đại học Ngoại Thương Thầy đã tận tìnhchỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bàiluận văn tốt nghiệp ngành Luật kinh tế Thầy đã dành cho em nhiều thời gian, tâmsức, cho em nhiều ý kiến, nhận xét quý báu, chỉnh sửa cho em những chi tiết nhỏtrong luận văn, giúp luận văn của em được hoàn thiện hơn về mặt nội dung và hìnhthức
Xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo của Khoa sau Đại học trường Đại họcNgoại Thương và toàn bộ các giảng viên của Khoa Luật đã giúp em có thêm kiếnthức, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn luận văn
Xin cảm ơn Cha Mẹ, chồng, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, khích lệ emtrong suốt quá trình làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Mức xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động pháthành trái phiếu riêng lẻ 33Bảng 2: Mức xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động chàobán thêm cổ phiếu để huy động vốn 34
Bảng 4: Số dư nợ phải trả của các công ty chứng khoán tại thời điểm 30.06.2021 50
30.06.2021……… 65
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 1: Dư nợ huy động ngắn hạn của các CTCK từ cuối năm 2020 đến Q2.2021
57
Biểu đồ 2: Lãi suất huy động BQ 2021 theo từng kênh huy động (dự kiến) 58
Biểu đồ 3: Cơ cấu kỳ hạn huy động 2021 (dự kiến) .58
Biểu đồ 4: Cơ cấu vốn bình quân tại một CTCK năm 2021 (dự kiến) 58
Biểu đồ 5: Lãi suất huy động bình quân trong năm 2021 (dự kiến) 58
Trang 10download by : skknchat@gmail.com
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3: Quy trình thực hiện vay vốn tiêu biểu tại một CTCK 47
Trang 12TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Luận văn đã nêu lên những thực trạng về hoạt động huy động vốn thông quacác hình thức huy động khác nhau của các Công ty chứng khoán tại Việt Nam Qua
đó, chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm của các hình thức huy động vốn Vàthông qua tình hình huy động vốn thực tiễn, chiếu tới những quy định của pháp luậthiện hành, bài luận văn đã nêu lên được thực trạng tuân thủ pháp luật về huy độngvốn trong các Công ty chứng khoán trên thị trường hiện nay Từ đó, phân tích,nghiên cứu để tìm ra được những nội dung của pháp luật huy động vốn trong Công
ty chứng khoán mà cần được hoàn thiện, thay đổi giúp cho thị trường chứng khoánđạt được các mục tiêu như sau:
dụng và phù hợp với tính hình thực tế ở cả hiện tại và tương lai
có một nguồn vốn khoẻ, ổn định và hợp lý để phục vụ nhu cầu của toàn thị trường chứng khoán
pháp luật khi thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hiện nay, thị trường chứng khoán tại Việt Nam là kênh huy động vốn quantrọng cho nền kinh tế với quy mô huy động vốn giai đoạn 2011-2020 đạt gần 2,9triệu tỷ đồng Theo số liệu từ Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD), sốlượng tài khoản nhà đầu tư cá nhân trong nước mở mới trong tháng 9 đạt 114.713đơn vị, giảm nhẹ 4,7% so với tháng 8 Đây là tháng thứ 7 liên tiếp có hơn 100.000tài khoản chứng khoán được mở mới
Tổng cộng 9 tháng năm 2021, cá nhân trong nước mở mới 956.081 tài khoảnchứng khoán, gấp hơn 2,4 lần so với cả năm 2020 với 392.527 tài khoản Điều nàyđưa lũy kế số tài khoản chứng khoán của nhà đầu tư trong nước tới cuối tháng 9 đạthơn 3,68 triệu đơn vị Nếu cộng thêm các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, số tàikhoản chứng khoán trên thị trường Việt Nam tính đến hết tháng 11 năm 2021 đạthơn 4,1 triệu tài khoản, tăng hơn 1 triệu tài khoản so với cuối năm 2020 Như vậy sốtài khoản đầu tư chứng khoán tính tới tháng 11 năm 2021 tương đương với 4.0%dân số Việt Nam tại cùng thời điểm Có thể thấy không chỉ những người làm trongngành tài chính mới biết tới đầu tư chứng khoán mà các cá nhân và doanh nghiệp ởnhiều lĩnh vực khác nhau cũng bắt đầu tham gia vào thị trường chứng khoán Đặcbiệt, trong giai đoạn dịch bệnh Covid diễn ra từ đầu năm 2020 đến thời điểm hiệntại là cuối năm 2021, việc kinh doanh các ngành nghề dịch vụ như du lịch, nhà hàngkhách sạn, … trở nên khó khăn lại cộng với việc lãi suất tiền gửi của các ngân hàngthương mại thấp do sự điều tiết của Ngân hàng Nhà Nước cũng như sự dư thừa vốntrên thị trường liên ngân hàng càng tạo điều kiện để dòng tiền đổ vào chứng khoánnhằm tìm kiếm lợi nhuận Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư rất lớn trên thị trườngchứng khoán như vậy, các công ty chứng khoán với vai trò là trung gian và điều tiếtthị trường phải có một nguồn vốn vững chắc nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu
tư Đầu tiên là đáp ứng được nhu cầu vay ký quỹ của nhà đầu tư, nhu cầu ứng trướctiền bán để nắm bắt cơ hội đang có Sau đó là đầu tư vào nền tảng giao dịch trựctuyến tiện lợi, website đầy đủ thông tin và cập nhật, phát triển hệ thống công nghệ
1
Trang 14thông tin và một phần không thể thiếu đó là phát triển mảng tự doanh của công tychứng khoán nhằm thu lợi nhuận Công ty chứng khoán có một nền tảng vốn ổnđịnh, dồi dào và linh hoạt sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư và chochính bản thân CTCK đó từ đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoánnói riêng và toàn nền kinh tế nói chung.
Chứng khoán là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực tàichính, công ty chứng khoán được coi là trung gian tạo lập thị trường nên mọi hoạtđộng của công ty chứng khoán đều gây ảnh hưởng nhất định tới các chủ thể baogồm cả doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào thị trường Chính vì vậy, mọi hoạtđộng của CTCK đều chịu sự kiểm soát đặc biệt của nhiều cơ quan quản lý khácnhau như Uỷ ban Chứng khoán, Ngân hàng Nhà Nước, … Cũng chính vì thế, cácCTCK luôn luôn thận trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của mình, trong đóphải kể đến hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán Để đảm bảo chothanh khoản của công ty cũng như đáp ứng nhu cầu kinh doanh, đầu tư khác, cácCTCK luôn thực hiện đồng thời nhiều phương thức khác nhau để thực hiện huyđộng vốn Tuy nhiên, để vừa có một nguồn vốn giá rẻ, linh hoạt, hợp lý, an toàn vừa
có thể tuân thủ theo quy định của cơ quan chức năng thì công tác huy động vốn làmột bài toán không dễ Hơn nữa, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện tại còntồn tại một số bất cập khiến các CTCK gặp khó khăn khi áp dụng Bên cạnh một sốđiểm trong quy định pháp luật là chưa thật sự cần thiết, có những quy định còn sơ
hở, chưa thật sự chặt chẽ, tạo điều kiện cho các CTCK lách luật để huy động vốn,làm tăng rủi ro cho thị trường chứng khoán cũng như cho nhà đầu tư
Qua thực tiễn công tác và nghiên cứu tại các công ty chứng khoán khác nhau
trên thị trường Việt Nam, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về huy động vốn
trong lĩnh vực chứng khoán: Thực tiễn thực hiện và một số đề xuất cho các công ty chứng khoán Việt Nam” Với góc nhìn từ tổng quan tới chi tiết của hành
lang pháp lý trong lĩnh vực huy động vốn trong công ty chứng khoán cũng như thực
tế thực hiện nghiệp vụ này trong các công ty chứng khoán tại Việt Nam hiện nay,tác giả sẽ đưa ra những khuyến nghị cho đơn vị làm luật, các nghiên cứu sinh vànhững giải pháp, đóng góp cho các nhà quản trị của các công ty chứng khoán,
Trang 15một thị trường vốn vững chắc làm trụ cột cho toàn bộ thị trường chứng khoán vàtoàn nền kinh tế.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Huy động vốn trên thị trường chứng khoán là một đề tài đã được nhiều học giảnghiên cứu và khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên đối với vấn đề huyđộng vốn của công ty chứng khoán lại chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu một cáchchi tiết, cụ thể và chuyên biệt Một số tài liệu tiêu biểu đã khai thác một số khíacạnh của đề tài này như:
Nguyễn Hồng Năng (2015), Thị trường vốn- Luật và Hợp đồng, Nhà xuất bản
Công Thương, nội dung cuốn sách tập trung vào hai loại giao dịch chủ yếu của thịtrường vốn nợ là khoản vay hợp vốn và phát hành trái phiếu Đây là những công cụhuy động vốn chủ yếu trên thị trường tài chính Cuốn sách cũng đề cập tới các vấn
đề cốt yếu về hợp đồng, giao dịch bảo đảm, ý kiến pháp lý - là những nội dung quantrọng trong các giao dịch tài chính nói chung và hầu hết các giao dịch vay hợp vốn
và phát hành trái phiếu Ngoài ra, một số nội dung căn bản khác về thị trường tàichính và các sản phẩm của thị trường này, các kiến thức về tín dụng và quản lý rủi
ro cũng được cung cấp nhằm mang lại một bức tranh toàn diện hơn cho người đọc
Hoàng Lê Nga (2020), Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Tài chính, trong
chương II “Thị trường sơ cấp” cuốn sách này đã đưa ra những kiến thức và phântích rõ về nghiệp vụ phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn của một công
ty cổ phần nói chung Từ đó có thể liên hệ tới việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu
của một công ty chứng khoán là công ty cổ phần Thu Phương (2020), Những quy định mới về vay và cho vay, Nhà xuất bản Tài chính, nội dung cuốn sách đề cập tới
các quy định về hoạt động vay và cho vay của ngân hàng đối với các cá nhân và tổchức trong đó có CTCK
3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những lý luận về nghiệp vụ huy động vốn và pháp luật vềhuy động vốn của công ty ty chứng khoán cũng như thực tiễn áp dụng các qui địnhnày tại các công ty chứng khoán, luận văn sẽ đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiệnpháp luật về hoạt động huy động vốn tại các công ty chứng khoán
3
Trang 16b Mục tiêu của nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên thì luận văn có các mục tiêu nghiên cứu
cụ thể sau đây:
- Cung cấp thông tin về tình hình huy động vốn thông qua các hình thức huyđộng vốn khác nhau mà các công ty chứng khoán hiện nay đang áp dụng từ đó đánhgiá việc tuân thủ quy định pháp luật của các công ty chứng khoán trên thị trường
vụ huy động vốn của công ty chứng khoán
động vốn trong công ty chứng khoán
- Đưa ra giải pháp cho các công ty chứng khoán trong quá trình huy động vốn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
a Đối tượng của nghiên cứu:
Luận văn có các đối tượng nghiên cứu như sau:
- Quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực huy động vốn của các công tychứng khoán Bên cạnh đó, việc nghiên cứu tình hình huy động vốn của các công ty chứngkhoán tại thị trường Việt nam cũng là đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Việc tuân thủ quy định pháp luật huy động vốn của các công ty chứng khoán
b Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các phạm vi về nội dung, không gian và thời gian, cụ thể:
trong hoạt động huy động vốn của các công ty chứng khoán trên thị trường gắn với việctìm hiểu quy trình, quy chế và thực tại hoạt động huy động vốn trong các công ty chứngkhoán
chứng khoán hiện hữu trên thị trường tài chính Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũngnghiên cứu về vấn đề này ở một số nước có thị trường chứng khoán tương đồngnhưng phát triển hơn như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản
Trang 175 Các phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó các phương pháp được sử dụng chủ yếu như sau:
chức năng lãnh đạo, xây dựng các phương pháp, định hướng phạm vi, kỹ năng ứng dụngcác phương pháp và xác định cho việc nghiên cứu
tin sẵn có như báo cáo tài chính của các công ty chứng khoán, báo cáo thống kê của
cơ quan chức năng, các bài báo uy tín
sở đó, đưa ra những quan điểm, nhận định và sau đó tổng kết lại vấn đề suy ra được
từ dữ liệu đó
- Phương pháp liệt kê, so sánh: Liệt kê những đặc điểm, yếu tố của một vấn đềđược đưa ra để có thể nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng Đối với các vấn đề cócùng phạm trù nghiên cứu, thì việc liệt kê sẽ giúp cho tác giả có thể dễ dàng so sánh
và đưa ra kết luận phù hợp
trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm sự hiểu biết về đối tượng một cách đầy đủ và bao quát hơn
6 Ý nghĩa khoa học và và thực tiễn của luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn góp phần củng cố và hoàn thiện cơ sở lý luận
về lĩnh vực huy động vốn trong các công ty chứng khoán hiện nay để các nhà lậppháp, các cơ quan quản lý, các nghiên cứu sinh, các nhà kinh doanh vận dụng vàtham khảo trong quá trình thực hiện và giải quyết các vấn đề liên quan
Về phương diện thực tiễn, những phân tích, quan điểm và giải pháp của bàinghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý về lĩnh vực huy động vốntrong công ty chứng khoán Luận án là tài liệu tham khảo cho các phòng ban phápchế, các nhà quản trị, điều hành công ty chứng khoán nhằm giúp họ đưa ra nhữnggiải pháp phù hợp để áp dụng cho doanh nghiệp của mình nhằm đạt hiệu quả kinhdoanh tốt nhất và tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật
5
Trang 187 Những điểm mới của luận văn
Luận văn đưa ra được những thực trạng về huy động vốn đang tồn tại trong cáccông ty chứng khoán tại Việt Nam Bên cạnh đó, bài luận văn cũng đưa những phântích, nhận xét để thấy ra các công ty chứng khoán hiện nay đang áp dụng quy địnhcủa Luật chứng khoán 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 kết hợp với các Luật và
bộ luật khác trong việc huy động vốn như thế nào Có khó khăn, vướng mắc hay saiphạm gì dễ mắc phải khi thực hiện huy động vốn theo các quy định của luật mới.Đặc biệt luận văn sẽ đề cập tới các hình thức và sản phẩm huy động mà trước đâychưa có hoặc chưa phổ biến mà chỉ mới xuất hiện những năm gần đây khi thị trườngchứng khoán trở thành một sân chơi đầu tư cho hầu hết các thành phần trong nềnkinh tế
8 Giới thiệu bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
Trang 19CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG
VỐN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về hoạt động huy động vốn trong công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm huy động vốn trong công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán,thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh
ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian có nhiệm vụ môi giới và sắp xếpcác giao dịch theo nhu cầu của khách hàng CTCK là nhân tố quan trọng thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng.Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán được lưu thông từ các công ty pháthành tới người đầu tư qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vàonhững nơi cần vốn
Công ty chứng khoán thực hiện một số chức năng cơ bản như sau:
chứng khoán (là khả năng chuyển đổi từ chứng khoán ra tiền mặt, và ngược lại từ tiềnmặt ra chứng khoán một cách nhanh chóng, linh hoạt và dễ dàng)
hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường)
rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
thống khớp giá hoặc khớp lệnh)
Theo đó, tạo tính thanh khoản cho thị trường là một trong những vai trò tiền đề
và quan trọng của công ty chứng khoán giúp cho nguồn vốn của toàn nền kinh tếđược tận dụng, xoay vòng phát triển một cách linh hoạt và tối ưu Để có thể thựchiện tốt chức năng tạo tính thanh khoản cho thị trường thì công ty chứng khoán phải
có một nguồn vốn dày, linh hoạt trong sự ổn định Vậy vốn là gì? Và huy động vốnđược thực hiện như thế nào?
1 Khoản 1, điều 2, Thông tư Thông tư 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012 hướng dẫn về thành lập công ty chứng khoán
7
Trang 20Hiểu một cách thông thường, vốn là toàn bộ giá trị vật chất được doanh nghiệpđầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn là tiền, tài sản, quyền tàisản trị giá được thành tiền có thể sử dụng trong kinh doanh Khả năng sử dụng đượctrong kinh doanh là tiêu chí cơ bản để đánh giá tiền, tài sản, quyển tài sản trị giáđược thành tiền có giá trị là vốn.
Trong nền kinh tế hiện đại, có nhiều quan điểm khác nhau về vốn khi đứngdưới các góc độ, quan điểm và ngành nghề khác nhau Nhưng, nhìn chung, có thểhiểu rằng vốn là một quỹ tiền tệ đặc biệt của công ty nhằm phục vụ các hoạt độngkinh doanh của công ty hay có thể hiểu đơn thuần rằng vốn là tiền đề để thực hiệncác hoạt động kinh doanh và đầu tư của công ty Vốn thể hiện tiềm lực tài chính,kinh tế của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định tới quy mô, vị thế, sức cạnhtranh của công ty trên thị trường Về mặt pháp luật thì vốn là một trong những điềukiện tiên quyết để một doanh nghiệp có thể thành lập và và sau đó là duy trì hoạtđộng với tư cách pháp nhân Như vậy, nguồn vốn là những quan hệ tài chính màthông qua đó đơn vị có thể khai thác hay huy động một số tiền nhất định để đầu tưtài sản cho đơn vị Nguồn vốn cho biết tài sản của đơn vị do đâu mà có và đơn vịphải có những trách nhiệm kinh tế, pháp lý đối với tài sản đó
Về cơ bản vốn bao gồm 2 cấu phần quan trọng là vốn chủ sở hữu và vốn nợ.Trong đó:
đông phải bỏ ra để hình thành và đăng kí thành lập công ty
sau một thời gian kinh doanh có được và không thực hiện phân chia cho các cổ
đông góp vốn mà được tích lũy lại để thực hiện tái đầu tư
nhà đầu tư bên ngoài với lượng vốn lớn và chỉ áp dụng đối với công ty cổ phần
Trang 21Vốn huy động (vốn nợ) là những giá trị tiền tệ do doanh nghiệp tìm kiếm được
từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện cácnghiệp vụ vay vốn, phát hành trái phiếu, chào bán vốn cổ phần, … Vốn huy độngchiếm vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn của một pháp nhân thương mại đặcbiệt đối với CTCK thì vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn và là nguồn vốn không thểthiếu giúp CTCK có thể thực hiện tốt vai trò của mình Do đó, huy động vốn đượchiểu là các hoạt động chuyên môn của một doanh nghiệp nhằm tạo vốn để phục vụhoạt động kinh doanh của mình dưới các hình thức như phát hành trái phiếu, chàobán cổ phần, liên kết kinh doanh, vay vốn, …
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đề xuất rằng rằng khái niệm huy động vốnkhông được sử dụng trong trường hợp nói về việc kêu gọi vốn để thành lập công ty,trong trường hợp này được gọi là góp vốn Khái niệm huy động vốn thường được sửdụng khi công ty đã bước qua giai đoạn thành lập, và chuyển sang giai đoạn mởrộng hoạt động kinh doanh nên có nhu cầu về vốn nhằm đáp ứng được mục tiêutăng trưởng đạt được kế hoạch đề ra Để có được nguồn vốn thì các CTCK phảithực hiện nghiệp vụ huy động vốn Ban đầu là huy động vốn góp để thành lập công
ty Sau đó là huy động vốn để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh Huy độngvốn là các hoạt động của pháp nhân thương mại để tạo vốn cho hoạt động kinhdoanh của mình dưới các hình thức như: Vay vốn, phát hành, chào bán chứngkhoán, liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; hình thành quỹ tín thác bất độngsản Hay nói cách khác huy động vốn là hình thức tiếp nhận tài sản có giá trị của cácchủ thể khác trong toàn bộ nền kinh tế để có nguồn vốn đáp ứng nhu cầu hoạt độngkinh doanh của mình
1.1.2 Các phương thức huy động vốn của công ty chứng khoán
Nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn ngày càng tăng, các CTCK ngày càng cónhiều phương thức huy động vốn mới hiệu quả và linh hoạt hơn so với trước đây.Trong đó phổ biến là các phương thức sau:
mượn tiền từ các ngân hàng trong và ngoài nước Để có thể thực hiện vay vốn, các
CTCK thường phải đáp ứng được các điều kiện tín dụng mà bên cho vay yêu cầu như các yêu cầu về tài sản đảm bảo, lãi suất, thời gian và mục đích vay vốn
9
Trang 22- Phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn: Là việc phát hành các công cụ
nợ như trái phiếu để huy động vốn
tổ chức kinh tế phi tài chính khác: Là việc kí kết các hợp đồng cùng nhau kinh
doanh, đầu tư trong đó các đối tác tin tưởng và ủy thác cho CTCK vốn mà họ có đểCTCK đi đầu tư, các nhà đầu tư sẽ nhận được một khoản lãi cố định hoặc theo thỏathuận của hai bên
của công ty
1.1.3 Đặc điểm hoạt động huy động vốn trong công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán tại Việt Nam hiện nay thì vốn bao gồm 2 cấu phần làvốn chủ sở hữu và nợ Vốn chủ sở hữu thường là số cố định duy trì trong một chu kìkinh doanh của công ty, không bị giới hạn hoặc chịu nhiều sự kiểm soát của cơ quanquản lý Trong công ty chứng khoán thì vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 30% tổng tàisản của cả công ty tại một thời điểm do nguồn vốn góp của các chủ sở hữu công ty
là có hạn và đây được xem là nguồn vốn có chi phí cao trong tất cả các cấu phầnhình thành nên nguồn vốn trong CTCK Trong khi đó vốn vay nợ từ các tổ chức tíndụng hay các cá nhân, tổ chức kinh tế khác lại chiếm tỷ trọng lớn còn lại, và thayđổi liên tục dựa theo tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của công ty Công tychứng khoán là một định chế tài chính bán trung gian hoạt động và cung cấp chủyếu các dịch vụ tài chính, đầu tư Tuy nhiên, nghiệp vụ huy động vốn của CTCKkhông giống như hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại hiện nay màđược thực hiện tương tự như hoạt động huy động vốn của các đơn vị kinh tế phi tàichính khác Với quy mô vốn lớn tương đương với các ngân hàng hiện nay, nhu cầucao và linh hoạt, việc huy động vốn trong CTCK có một số đặc điểm như sau:
vốn dài hạn do chi phí rẻ, linh hoạt phù hợp với đặc điểm kinh doanh của ngành và mụctiêu kinh doanh của công ty
nhà đầu tư mở tài khoản tại mỗi CTCK
Trang 23- Việc huy động và sử dụng nguồn vốn này luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ:
đầu tiên là từ chính cơ chế quản trị rủi ro bản thân các công ty chứng khoán, sau đó là
sự tác động từ các luật chung như Luật doanh nghiệp, Bộ luật dân sự, Luật các tổ chứctín dụng, … và sự điều chỉnh trực tiếp từ luật chuyên ngành là Luật chứng khoán
quan của công ty chứng khoán mà còn bị chi phối bởi các bối cảnh khác của toàn nền kinh tế đặc biệt là thị trường tài chính
ty chứng khoán sẽ lựa chọn nguồn vốn khác nhau từ đó sẽ có cách thức huy
động vốn sao cho hợp lý và tối ưu
1.1.4 Tầm quan trọng của nguồn vốn trong hoạt động của công ty chứng khoán
Tương tự như các ngành nghề kinh doanh khác, đối với công ty chứng khoán,vốn là một trong những yếu tố tiên quyết để được cấp giấy phép thành lập và thựchiện đăng kí kinh doanh Bên cạnh đó, đối với hoạt động của các định chế tài chínhtrong đó có công ty chứng khoán thì vốn là một phần quan trọng và không thể thiếu
để giúp cho hoạt động của công ty có thể duy trì Chỉ khi nào CTCK ngừng hoạtđộng hoặc phá sản thì công ty mới ngừng cần vốn, lúc này CTCK phải dùng tài sảncủa đơn vị (vốn điều lệ), trước hết ưu tiên thanh toán cho các chủ nợ, sau đó tài sảncòn lại mới chia cho các chủ sở hữu theo tỷ lệ vốn góp của họ
Như đã đề cập ở trên vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triểncủa CTCK Ngay từ khi mới thành lập, công ty nào có nhiều vốn sẽ được thực hiệnnhiều chức năng và được đăng kí nhiều ngành nghề hơn Theo quy định của phápluật vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp (đảm bảo sự tồn tại tư cáchpháp nhân của CTCK), vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đã đăng kí của côngty
Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của công ty Vốngiúp cho CTCK có thể thực hiện được tốt được vai trò của mình Ngoài ra, để có thểtiến hành mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ khác, giữchân khách hàng và đảm bảo doanh nghiệp hoạt động có sẵn thì hệ thống nguồn vốncủa doanh nghiệp phải thật sự vững chắc Mọi hoạt động trong một công ty chứng
11
Trang 24khoán đều có sự tham gia của vốn hay nói cách khác là tiền Nhân sự trả lươngthưởng cần tiền, thuê kiểm toán cần tiền, xây dựng cơ sở vật chất cần tiền, trả tiềnthuê nhà, bộ phận kinh doanh muốn thu hút được khách hàng sử dụng dịch vụ tàichính cần tiền, bộ phận đầu tư muốn đầu tư cổ phiếu, trái phiếu cần tiền, … Ngoàinhững khoản tiền chi trả để vận hành thì CTCK cũng cần các khoản tiền để hiệnthực hoá các cơ hội đầu tư, từ đó có thể tạo ra lợi nhuận theo kế hoạch.
Tóm lại, cũng giống như tất cả các công ty khác trong nền kinh tế, vốn là mộtyếu tố không thể thiếu từ khi thành lập cho tới việc đáp ứng các nhu cầu kinh doanh
và vận hành của một công ty chứng khoán
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán làcác yếu tố tác động đến cách thức, khả năng, chi phí, quy mô huy động vốn củacông ty chứng khoán Các yếu tố này bao gồm cả các yếu tố khách quan từ bênngoài và các yếu tố chủ quan đến từ nội tại của công ty Các yếu tố đó bao gồm:
1.1.5.1 Các yếu tố khách quan
các cơ quan quản lý đề ra và áp dụng cho các công ty chứng khoán khi thực hiện cácnghiệp vụ huy động vốn
trưởng của toàn nền kinh tế, thể chế, chính sách áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế, xã hội
của con người ở một khu vực dân cư hoặc của các đối tượng khách hàng mục tiêu màmột công ty chứng khoán đang hướng tới
1.1.5.2 Các yếu tố chủ quan
phần của công ty trên thị trường Là mức độ bao phủ của các chi nhánh, phòng giao dịchcủa công ty trên các khu vực địa lý khác nhau Là thứ bậc của công ty so với các công tykhách trong cùng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh
Trang 25- Mục tiêu kinh doanh và mục tiêu lợi nhuận của công ty: Là những tiêu chí về
kết quả kinh doanh như doanh thu, lợi nhuận, chi phí, phần trăm thị phần mà công
ty đề ra trong một khoảng thời gian nhất định (thường sẽ là năm tài chính)
Ngoài các yếu tố trên thì hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoáncòn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như công nghệ, năng lực và trình độ nhân sự, …Một công ty chứng khoán huy động được vốn hiệu qủa khi hiểu rõ tất cả các yếu tốđến mức có thể thích nghi, điều chỉnh và nắm bắt cơ hội tuỳ vào từng hoàn cảnhkhác nhau
1.2 Pháp luật về huy động vốn của công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm pháp luật về huy động vốn của công ty chứng khoán
Vì các công ty chứng khoán thường có quy mô lớn và nhu cầu vốn cao nên đa
số sẽ đến từ việc huy động bên ngoài, với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân kháckhông liên quan tới công ty Chính việc này sẽ làm phát sinh hàng loạt vấn đề pháp
lý có thể gặp phải như: quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc huy động vốn, quyền lợicủa bên cho vay hoặc của nhà đầu tư, những rủi ro gặp phải khi thực hiện huy độngvốn, …Với quy mô huy động lớn với nhiều hình thức khác nhau trong đó có cả hìnhthức chính thức được pháp luật khuyến khích và cho phép, có cả những hình thức
mà cơ quan chủ quản không khuyến khích vì rủi ro cao thì pháp luật sẽ có nhữngquy định về cách thức, hình thức thực hiện phù hợp nhằm đảm bảo an toàn pháp lýtài chính cho các CTCK cũng như các đối tác của CTCK và cho toàn bộ thị trườngtài chính Việt Nam
Như vậy, pháp luật về huy động vốn của các công ty chứng khoán là nhữngquy định, quy tắc, chế tài mà Nhà nước xây dựng nên nhằm đảm bảo cho việc huyđộng vốn được thực hiện một cách đồng bộ, đúng đắn, an toàn góp phần đáp ứngnhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh của các CTCK và giúp cho nền kinh tế pháttriển theo hướng bên vững và lâu dài
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật trong huy động vốn của các CTCK
Pháp luật trong hoạt động huy động vốn của CTCK mang các đặc điểm chungcủa hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm:
13
Trang 26- Là hệ thống các quy tắc, quy định về nghiệp vụ huy động vốn mang tính bắt buộc chung, áp dụng cho tất cả các CTCK trên thị trường
sát nhằm đưa hoạt động huy động nguồn đi vào khuôn khổ từ đó đảm bảo việc cho sựtăng trưởng bền vững của cả thị trường tài chính
quyền ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện
1.2.3 Yêu cầu về pháp luật huy động vốn
Việc đảm bảo các yêu cầu cơ bản như tính hợp pháp, hợp pháp, sự rõ ràng,minh bạch khi xây dựng, hoàn thiện và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làmột trong những ưu tiên hàng đầu của Nhà Nước Vì chỉ khi đáp ứng đủ các yêu cầu
cơ bản như vậy thì những quy định được đưa ra mới có khả năng được thực thi và
áp dụng sau này Pháp luật về huy động vốn nằm trong hệ thống pháp luật của ViệtNam vì vậy sẽ có những yêu cầu tương tự, cụ thể là:
đưa ra không trái với đạo luật cơ bản của nhà nước là hiến pháp, với các luật và vănbản do cơ quan quản lý cấp trên ban hành Các cơ quan ban hành các quy định nàychỉ được ban hành thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Như vậy là mỗi cơ quanquản lý chỉ có quyền và nghĩa vụ xây dựng, ban hành những quy định được giaocho, tránh tình trạng lạm dụng quyền hạn hoặc lẩn tránh trách nhiệm Bên cạnh đó,các quy định chỉ được ban hành khi có lý do chính đáng, có xác thực nghĩa là xuấtphát từ chính nhu cầu của người dân, doanh nghiệp
hài hoà, thống nhất, toàn diện còn phải được trình bày, thể hiện một cách rành
Trang 27mạch, rõ ràng, dễ hiểu với đại đa số người dân Không có nội dung gây chồng chéo,khó hiểu Hợp lý về nội dung thể hiện ở việc đảm bảo sự công bằng giữa lợi ích,nghĩa vụ của cơ quan nhà nước với người dân và các tổ chức kinh tế khác.
pháp luật thể hiện ý chí của các cơ quan nhà nước Vì vậy, sự minh bạch là một điều rấtquan trọng để giúp cho các quy định đó được dân tin tưởng và tuân theo Không chỉ phảiđược thể hiện một cách rõ ràng dễ hiểu mà các văn bản quy định phải được công khaitrên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng để mọi đối tượng đều có thể tiếp cận vàthực hiện
văn bản quy phạm pháp luật là không hề nhỏ Vì vậy, một yêu cầu nữa mà các quyđịnh pháp luật cần đáp ứng được đó là tính hợp thời và ổn định lâu dài Nghĩa là cácquy định có thể áp dụng trong hiện tại và nhiều năm sau đó Để có thể đáp ứng yêucầu này thì những nhà xây dựng luật phải có tầm nhìn xa trông rộng, nghiên cứu vàđánh giá từ chi tiết tới bao quát mọi trường hợp liên quan có thể xảy ra
Ngoài những yêu cầu chung như vậy thì pháp luật huy động vốn trong công tychứng khoán cũng sẽ có những yêu cầu riêng phụ thuộc vào đặc thù của ngành nhưtính linh hoạt có nghĩa là có thể áp dụng trong nhiều tình huống và trường hợp khácnhau do sự năng động của thị trường nguồn vốn
Nhìn chung để có thể đáp ứng được toàn bộ các yêu cầu trên thì rất khó nhất làđối với một nghiệp vụ khá phức tạp như huy động vốn của công ty chứng khoán.Tuy nhiên, việc đáp ứng tốt đến đâu các yêu cầu trên sẽ thể hiện được chất lượngcủa văn bản quy phạm pháp luật được ban hành
1.2.4 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán tại Việt nam
Nguyên tắc pháp luật gồm hai loại, những nguyên tắc chung mang tính chấtchính trị - xã hội của pháp luật và những nguyên tắc pháp lý đặc thù Các nguyêntắc chung của pháp luật luôn phản ánh một cách trực tiếp chế độ xã hội hiện hữu vàđược đặt ra nhằm xác định rõ những nguyên lí, tư tưởng chỉ đảo để giải đáp một vấn
đề lớn là hệ thống pháp luật hiện hữu củng cố và bảo vệ chế độ nào Các nguyên tắc
15
Trang 28pháp lý đặc thù thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng của pháp luật nhằm giải đápmột vấn đề có tính chất đặc trưng Các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực huy độngvốn chủ yếu mang tính chất dân sự Vì vậy, trước hết những quy định của pháp luật
về huy động vốn sẽ tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự nóichung như:
thể của pháp luật vừa có quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng
quy định và áp dụng các biện pháp xử lí phải phù hợp với tính chất, mức độ củahành vi vi phạm pháp luật, quy định mức độ hưởng thụ tương xứng với sự đónggóp, cống hiến, …
Ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Namthì pháp luật về huy động vốn trong CTCK sẽ mang những nguyên tắc riêng đặctrưng của ngành như sau:
động vốn tại công ty chứng khoán: Nhà Nước là cơ quan quyền lực tối cao Do đó,tất cả những quy tắc, quy định đều thể hiện ý chí của Nhà nước nhằm đảm bảo vaitrò, chức năng của Nhà nước trong việc quản lý và điều hành cho tất cả các hoạtđộng được diễn ra một cách hợp lý, an toàn và có tổ chức Hoạt động của công tychứng khoán đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối dòng tiền của toàn bộ nềnkinh tế Và để CTCK có thể hoạt động hiệu quả thì huy động vốn là điều tất yếu tuynhiên hoạt động này cũng có những mặt trái của nó Đó là các hành vi huy độngkhông lành mạnh, thực hiện các giao dịch huy động có tính rủi ro cao Hoạt độnghuy động vốn phải dựa trên những cơ sở pháp lý rõ ràng và trong một môi trườnglành lạnh, công bằng và đồng thời phải đảm bảo được tính thông suốt Việc huyđộng vốn được thực hiện một cách an toàn, thông suốt và hiệu quả là điều kiện tiênquyết để CTCK cũng như TTCK tồn tại và phát triển, trở thành một kênh đầu tưquan trọng cho nền kinh tế, tạo động lực cho sự phát triển của tất cả các ngành nghề
Để thực hiện và duy trì được được điều đó thì vai trò quản lý, điều tiết của cơ quanquản lý là quyết định
Trang 29Để có được một TTCK hoạt động hiệu quả và an toàn thì một trong những điềucần làm là quản lý hoạt động huy động vốn của các CTCK Việc quản lý TTCKthông qua việc giám sát hoạt động huy động vốn của các CTCK là một yêu cầu tấtyếu Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “Những nguyên tắc pháp lý nềntảng, các đạo luật đơn hành, các quy định, cùng với năng lực và thái độ nghiêm túccủa các cơ quan chính phủ và tổ chức tự quản trong việc thực thi các quy định phápluật sẽ tác động tới sự hình thành và phát triển thị trường”2 Chính phủ đã phải hoànthiện rất nhiều khâu trong đó có việc hình thành khung pháp lý để thị trường hoạtđộng, thành lập cơ quan quản lý nhà nước, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, nghiệp
vụ cho đội ngũ quản lý, điều hành thị trường, nhà đầu tư,… Rõ ràng, chỉ có Nhànước với những nguồn lực tài chính dồi dào, quyền lực duy nhất cùng với hệ thốngpháp luật mới có thể cho ra đời một định chế bậc cao của nền toàn bộ thị trường tàichính
Thực tế hoạt động hơn hai mươi năm qua của TTCK Việt Nam cho thấy, vaitrò của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường là rất quan trọng Do đó, sự canthiệp của Nhà nước mà đại diện là UBCK và các cơ quan chuyên trách khách khôngchỉ đơn thuần xem xét dưới góc độ vai trò của cơ quan quản lý mà đây chính lànguyên tắc đặc thù của khung pháp lý cho hoạt động TTCK nói chung và hoạt độngCTCK nói riêng
nhân: Các quy định của pháp luật phải đảm bảo cho tất cả các chủ thể khi tham gia vàoquan hệ, giao dịch đều được hưởng quyền và lợi ích hợp lý, phù hợp với nhu cầu của cácbên Các quy định của pháp luật sẽ giúp định hướng rõ về quyền và lợi
ích đó cho các bên Trong các giao dịch mà một bên là cá nhân, bên còn lại là tổchức thì cơ quan quản lý luôn có những biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền lợi củabên yếu thế
Có thể nói, các CTCK tồn tại được là nhờ hoạt động huy động vốn từ các tổchức và cá nhân Các quan hệ phát sinh trong hoạt động huy động vốn là một dạngquan hệ pháp luật đặc biệt vì được pháp luật về chứng khoán và cả thị trường tài
2 Công ty tài chính quốc tế IFC (1996), Báo cáo thị trường và quản lý thị trường 17
download by : skknchat@gmail.com
Trang 30chính điều chỉnh Do vậy, các bên nhận nợ và bên chủ nợ tham gia quan hệ này với
tư cách là chủ thể độc lập được pháp luật quy định có những quyền, lợi ích và nghĩa
vụ nhất định Các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ (là cá nhân, tổ chức) phụthuộc vào hình thức cho vay mà họ thực hiện Ví dụ nếu có cung cấp nguồn choCTCK thông qua việc mua trái phiếu do CTCK đó phát hành thì họ có tư cách làchủ nợ đối với tổ chức phát hành, họ có quyền được cung cấp thông tin về tình hìnhkinh doanh của công ty, về mục đích sử dụng vốn,… Ngoài ra họ còn được hưởnglãi suất theo thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật Như vậy, khi một chủthể thực hiện cho vay hoặc đầu tư vào một CTCK thì mục đích cơ bản nhất là đểđược hưởng các quyền và lợi ích kinh tế nêu trên Như vậy, nếu các quyền và lợi ích
đó không có pháp luật bảo vệ hoặc có cơ chế để họ tự bảo vệ thì động cơ để thựchiện giao dịch cho vay của họ không còn nữa Từ đó, những chủ thể có vốn sẽ mấtniềm tin và sẽ chọn các kênh rót vốn khác Như vậy, các CTCK khó lòng huy độngđược nguồn để phục vụ việc phát triển thị trường chứng khoán nói chung và tạo lợinhuận cho công ty nói riêng Đặc biệt đối với các cá nhân tham gia vào giao dịchnày, họ thường là những chủ thể không chuyên nghiệp trong lĩnh vực này mặc dù họ
có thể rất thành công ở lĩnh vực khác Họ chính là các đối tượng cần được pháp luậtbảo vệ do dễ bị tổn thương bởi các hành vi vi phạm của các CTCK chủ thể mà luôn
có cả một đội ngũ pháp chế, quản trị rủi ro, huy động nguồn với sự hiểu biết sâurộng về chuyên vôn và pháp luật Còn đối với bên cho vay là các TCTD hoặc doanhnghiệp thì mặc dù họ có trình độ chuyên môn nhưng dù thế nào đi nữa thì khi chovay là họ đặt niềm tin hoàn toàn lên bên đi vay Với mỗi giao dịch lên tới cả trăm tỷthì việc hiểu biết pháp luật cũng như trình độ chuyên môn chỉ góp phần hạn chế rủi
ro, họ vẫn cần được bảo vệ vì họ đang bị nẵm giữ số vốn lớn khi cho vay
Các phân tích trên đây cho thấy, việc pháp luật ghi nhận và có các quy địnhnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể là một trong những điềukiện tiên quyết để việc huy động nguồn có thể được thực hiện một cách an toàn vàhiệu quả Chỉ khi các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được pháp luật bảo vệthì CTCK mới thu hút những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội phát triển đất nước
Trang 31- Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh: Trong nền kinh tế thị trường,quyền tự chủ và tự do trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Quyền tự do kinh doanh lần đầu tiên
được ghi nhận chính thức tại điều 57, Hiến pháp 1992 Kế thừa tinh thần đó, điều 33Hiến pháp 2013 khẳng định người dân có quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm Cụ thể hoá, luật doanh nghiệp 2020 khẳngđịnh tại điều 7
“Điều 7 Quyền của doanh nghiệp
1 Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm.
2 Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.
3 Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn.
…”
Việc thực hiện đồng bộ và đầy đủ các quyền tự do kinh doanh sẽ là cơ sở đểCTCK vận hành và phát triển, qua đó sẽ giúp cho hoạt động trên TTCK sẽ trở nênsôi động và hiệu quả hơn Về phía các CTCK, quyền tự do kinh doanh là căn cứ cơbản để các doanh nghiệp quyết định lựa chọn hình thức huy động và mục đích sửdụng vốn, trong đó có việc thực hiện huy động bằng vay nợ, bằng phát hành tráiphiếu,….nhằm phục vụ mục đích tự doanh hoặc cho vay ký quỹ,… Việc phát chovay kí quỹ nhằm tạo điều kiện cho các NĐT trên thị trường chứng khoán có thêmnguồn tiền để gia tăng lợi nhuận Khi đó, việc đầu tư chứng khoán đã trở thành mộttrong những sự lựa chọn trong quá trình kinh doanh của họ bên cạnh những cơ hộikhác Mặc khác, nhờ có sự thừa nhận và bảo hộ quyền tự do kinh doanh đối vớidoanh nghiệp mà các định chế trung gian như công ty chứng khoán (CTCK) đượcthành lập để cung cấp các dịch vụ như môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tưvấn đầu tư, quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư… qua đó, có cơ hội để họ mởrộng kinh doanh và thu được những khoản lợi nhuận đáng kể
Như vậy, suy cho cùng, quyền tự do kinh doanh chính là sự đảm bảo vệ cơ hộikinh doanh, cơ hội đầu tư của tất cả các chủ thể trên thị trường từ phía Nhà nước
19
Trang 32Quyền tự do kinh doanh được pháp luật tôn trọng và bảo vệ vì nếu không có sự đảmbảo này thì bản thân các giao dịch huy động vốn, đặc biệt là các giao dịch trên thịtrường một.
vận động của nền kinh tế thị trường Để xã hội, thị trường có thể vận động phát triển theomột khuôn khổ nhất định thì cần có luật pháp Tuy nhiên, các quy định đề
ra phải hợp lí, phải cân bằng giữa lợi ích và thiệt hại Hạn chế việc gò bó, thiên vịhoặc quy định lệch lạc làm tiêu biến đi sự tự do cạnh tranh của các chủ thể khi thamgia vào nền kinh tế Nguyên tắc tự do cạnh tranh phải được bảo đảm thực hiện trongcác giao dịch huy động vốn Vì tự do cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn giúpcho nguồn vốn đưa vào nền kinh tế được sử dụng với hiệu suất cao, an toàn và hiệuquả nhất Thực tế cho thấy, phần lớn nguồn vốn mà CTCK có để hoạt động đều đến
từ nguồn vốn vay Để có vốn kịp thời nhằm triển khai việc mở rộng hoạt động kinhdoanh cũng như tạo ra lợi nhuận mục tiêu thì những điều kiện để huy động vốn nhưlãi suất cạnh tranh, kì hạn linh hoạt, tài sản đảm bảo an toàn và cuối cùng là mụcđích sử dụng vốn đúng đắn, hiệu quả phù hợp với quy định của pháp luật sẽ tạo rasức hấp dẫn và sự cạnh tranh đối với các chủ thể có nguồn cho vay Nhờ có sự cạnhtranh này mà các chủ thể có dòng tiền nhàn rỗi có thêm những lựa chọn khi quyếtđịnh cho vay hoặc đầu tư vào một CTCK
Bên cạnh đó nguyên tắc cạnh tranh được thể hiện rõ nét nhất là trong hoạtđộng của các CTCK nhằm thu hút khách hàng, nâng cao thị phần và hiệu quả sửdụng vốn sau khi huy động về Sự cạnh tranh này thường diễn ra khá gay gắt, đặcbiệt thông qua việc giảm lãi suất cho vay kí quỹ, giảm phí giao dịch, đa dạng hoá vànâng cao chất lượng các dịch vụ, tiện ích cho các giao dịch chứng khoán Trênphương diện quản lý, vấn đề cạnh tranh được đưa ra như một nguyên tắc hoạt độngthị trường tài chính, đảm bảo sự công bằng cho tất cả các chủ thể có nhu cầu thamgia vào hoạt động đầu tư được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện Nhờ cócạnh tranh mà chất giao dịch nguồn vốn và các dịch vụ trên thị trường chứng khoán
sẽ tốt hơn, các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn Đó là những yếu tố cần thiết đểTTCK hoạt động hiệu quả, thực hiện tốt chức năng thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 33của mình Vấn đề cạnh tranh được xem xét với tư cách là một nguyên tắc pháp lýcho hoạt động huy động vốn của CTCK không chỉ ở khung pháp lý của một quốcgia đơn lẻ nào, mà nó là một yêu cầu chung mang tính chất bắt buộc, được thể chếhóa trong rất nhiều các quy định cụ thể.
1.2.5 Chủ thể huy động vốn của công ty chứng khoán
Các chủ thể cơ bản mà pháp luật huy động trong CTCK hướng tới bao gồm:
lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn của công tychứng khoán trong đó có: Ủy ban chứng khoán Nhà nước thuộc Bộ tài
chính, Ngân hàng nhà nước,…
khoán thực hiện hành vi huy động vốn dưới mọi hình thức nhằm đảm bảo hoạt động kinhdoanh của công ty
nguồn vốn cho CTCK nhiều nhất thông qua nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh
1.2.6 Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật trong huy động vốn của công ty chứng khoán
1.2.6.1 Vi phạm pháp luật trong hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán.
Vi phạm pháp luật là những hành vi trái, ngược pháp luật, có lỗi của chủ thể cóđầy đủ năng lực pháp lý thực hiện nhằm xâm phạm đến những quan hệ xã hội đượcpháp luật bảo vệ Như vậy, vi phạm pháp luật trong hoạt động chứng khoán lànhững vi phạm quy định về kinh doanh và hành nghề chứng khoán, bên cạnh đócũng là những vi phạm liên quan tới việc chào bán chứng khoán ra công chúng vàcông bố thông tin Vi phạm pháp luật huy động vốn của công ty chứng khoán là cáchành vi của các công ty chứng khoán hoặc các cá nhân trái hoặc không tuân theohoặc tuân theo không đầy đủ các quy định của pháp luật về hoạt động huy độngvốn
21
Trang 34Vi phạm pháp luật trong công ty chứng khoán có hai hình thức phổ biến như sau:
quy định
pháp luật yêu cầu
Các hành vi vi phạm tiêu biểu trong hoạt động huy động vốn của chứng khoán bao gồm:
chúng, chào bán chứng khoán riêng lẻ;
huy động vốn mà pháp luật cấm hoặc không cho phép
hoặc trái với mục đích mà pháp luật cho phép
Thực hiện các nghiệp vụ không đúng theo đăng kí kinh doanh (ví dụ: Nhận tiền gửi)
thông tin theo quy định của pháp luật đối với một số hoạt động huy động vốn (ví dụ: pháthành trái phiếu)
1.2.6.2 Xử lý vi phạm trong hoạt động huy động vốn của công ty chứng
khoán Xử lý vi phạm pháp luật là việc xem xét và đưa ra quyết định về việc áp
dụng
các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với các cá nhân và tổ chức có hành vi viphạm pháp luật Tuỳ vào mức độ và hành vi vi phạm khác nhau mà cơ quan có thẩmquyền sẽ đưa ra các hình phạt hành chính, hình sự khác nhau dựa trên các quy định
mà pháp luật đã đề ra
Đối với hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán thì việc xử lý vi phạm sẽ bao gồm một số hình thức tiêu biểu như sau:
Trang 35download by : skknchat@gmail.com
Trang 36CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
2.1 Pháp luật Việt Nam về huy động vốn tại công ty chứng khoán
2.1.1 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của công ty chứng khoán
Đối với quy định về vốn góp ban đầu khi thành lập công ty chứng khoán thìcăn cứ theo quy định tại Luật chứng khoán năm 2019 thì vốn điều lệ của Công tychứng khoán phải được góp bằng Đồng Việt Nam Số vốn điều lệ tối thiểu được quyđịnh như sau:
- Đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán: tối thiểu là 165 tỷ đồng;
Theo đó, nếu doanh nghiệp muốn thực hiện đồng thời nhiều nghiệp vụ kinhdoanh khác nhau thì số vốn điều lệ tối thiểu phải góp bằng tổng tất cả số vốn tươngứng với từng nghiệp vụ theo đề nghị cấp phép
Đối với hoạt động huy động vốn trong công ty chứng khoán, pháp luật có cácyêu cầu theo Điều 6 Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 quy định vềhoạt động của công ty chứng khoán Trong đó có nội dung điều chỉnh chung chotoàn bộ hoạt động và hoạt huy động vốn của CTCK và có những yêu cầu riêng liênquan tới từng nghiệp vụ huy động vốn của CTCK Trong đó các quy định chung chủyếu là về các tỷ lệ an toàn tài chính:
chính) của CTCK đó được quy định tại điều 26 thông 121/2020/TT-BTC quy định vềhoạt động của công ty chứng khoán
“Điều 26 Hạn chế vay nợ
1 Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán không được vượt quá 05 lần Giá trị tổng nợ theo quy định này không bao gồm các khoản sau
Trang 37a) Tiền gửi giao dịch chứng khoán của khách hàng;
b) Quỹ khen thưởng phúc lợi;
c) Dự phòng trợ cấp mất việc làm;
d) Dự phòng bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư.
2 Nợ ngắn hạn của công ty chứng khoán tối đa bằng tài sản ngắn hạn.”
Tỷ lệ đòn bẩy tài chính giúp cho các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư nhìn rõnhất về khả năng tài chính và cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp Tỷ lệ đònbẩy tài chính quá cao chỉ ra chỉ ra rằng tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủyếu bằng các khoản nợ, doanh nghiệp khả năng có rủi ro trong khả năng trả nợ Tỷ
lệ đòn bẩy tài chính thấp thể hiện rằng công ty có một nguồn vốn mạnh, vững chắc,khả năng trả nợ tốt Tuy nhiên, nếu tỷ lệ đòn bẩy tài chính quá thấp cũng không hẳn
là tốt, điều đó thể hiện rằng có thể doanh nghiệp quản trị nguồn không tốn, chưa biếttận dụng nguồn vốn vay thường có chi phí rẻ hơn vốn chủ sở hữu
So với quy định cũ tại khoản 1 điều 42 Thông tư 210/2012/TT-BTC ban hànhngày 30/11/2012 thì tổng nợ trên vốn chủ sở hữu không được vượt quá 03 lần thì thông
tư mới đã có phần nới hạn mức vay của các CTCK lên gần 2 lần so với trước đây Tỷ lệnày ở mức trung bình so với các ngành khác trên nền kinh tế hiện nay và là một tỷ lệhài hoà để doanh nghiệp chứng khoán vừa đảm bảo khả năng trả nợ lại có thêm nhiềuđiều kiện hơn cho các CTCK trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh
- Quy định về tỷ lệ an toàn vốn khả dụng
Căn cứ theo Thông tư số 91/2020/TT-BTC ban hành ngày 13/11/2021 có hiệulực từ ngày 01/01/2021 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đốivới tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính thìcác CTCK phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn khả dụng tối thiểu là 180% với: '
24
Trang 38Trong đó:
- Vốn khả dụng được quy định tại khoản 1 điều 4 Thông tư số
91/2020/TT-BTC
Tỷ lệ an toàn vốn khả dụng thể hiện khả năng tài chính của CTCK để đảm bảocho các rủi ro Tỷ lệ an toàn vốn khả dụng càng cao thì càng tốt, chứng tỏ rằngCTCK đó có một tình hình tài chính khoẻ mạnh Các CTCK phải thực hiện báo cáođịnh kỳ tỷ lệ an toàn vốn khả dụng theo khoản 1 điều 12 thông tư nói trên Khi tỷ lệ
an toàn vốn khả dụng xuống dưới 180% thì CTCK phải thực hiện báo cáo bấtthường theo quy định tại khoản 2, điều 12 thông tư 91/2020/TT-BTC như sau:
“2 Chế độ báo cáo bất thường
a) Kể từ khi tỷ lệ vốn khả dụng xuống dưới 180%, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tỷ lệ vốn khả dụng theo mẫu báo cáo quy định tại Phụ lục V hoặc Phụ lục VI ban hành kèm theo Thông tư này một (01) tháng hai (02) lần (dữ liệu tại ngày 15 và 30 hàng tháng) Báo cáo phải được gửi bằng tệp thông tin điện tử thực hiện qua hệ thống cơ sở dữ liệu trong vòng ba (03) ngày làm việc sau ngày 15 và 30 hàng tháng.
b) Kể từ khi tỷ lệ vốn khả dụng xuống dưới 150%, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tỷ lệ vốn khả dụng một (01) tuần một (01) lần theo mẫu báo cáo quy định tại Phụ lục V hoặc Phụ lục VI ban hành kèm theo Thông tư này Báo cáo phải được gửi bằng tệp thông tin điện tử thực hiện qua hệ thống cơ sở dữ liệu trước 16 giờ ngày thứ sáu hàng tuần.
c) Kể từ khi tỷ lệ vốn khả dụng giảm xuống dưới 120%, tổ chức kinh doanh chứng khoán hàng ngày phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tỷ lệ vốn khả dụng theo mẫu báo cáo quy định tại Phụ lục V hoặc Phụ lục VI ban hành kèm theo
Thông tư này Báo cáo phải được gửi bằng tệp thông tin điện tử thực hiện qua hệ
Trang 39download by : skknchat@gmail.com
Trang 40Nhìn chung các CTCK trong hoạt động huy động và sử dụng vốn phải đảm
Bên cạnh các quy định chung, còn có các quy định riêng đối với từng hìnhthức huy động như sau:
2.1.1.1 Trong hình thức đi vay
Về bản chất, công ty chứng khoán là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnhvực tài chính Vì vậy, khi thực hiện vay vốn từ các doanh nghiệp chuyên trách như
tổ chức tín dụng hay những doanh nghiệp không chuyên trách như các công ty dịch
vụ, sản xuất khác có vốn dư thừa hoặc từ các cá nhân trong nền kinh tế thì sẽ chịuđiều chỉnh của Bộ luật dân sự hay Luật các tổ chức tín dụng tương ứng Đối vớihình thức đi vay pháp luật sẽ điều chỉnh về các vấn đề sau:
hoặc tổ chức kinh tế phi ngân hàng thì tuân theo các quy định tại điều 469 và điều 470 Bộluật dân sự 2015
định cụ thể về việc CTCK được phép hay không được phép huy động từ các đốitượng nào Và cũng chưa có quy định nào cấm CTCK thực hiện nghiệp vụ nhận tiềngửi Tuy nhiên, Luật các TCTD có quy định chỉ có các ngân hàng, tổ chức tín dụng,công ty tài chính mới được phép huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi Điều đó cónghĩa là các CTCK có thể thực hiện vay vốn tất cả các chủ thể trên thị trường miễn
là “thuận mua vừa bán” Mặc dù trong nền kinh tế hiện tại có rất nhiều chủ thể cónguồn vốn dư thừa và sẵn sàng cho các CTCK vay vốn với một mức lãi suất hợp lý.Các CTCK cũng phải lưu ý về đối tượng mà CTCK có thể huy động để hạn chế cácrủi ro phát sinh
dân sự
“Điều 468 Lãi suất
1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.