Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất HTX chăn nuôi động vật bản địa vẫn còn một số bất cập trong cách thức sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh như: Sử dụng nguồn vốn c
Trang 1MẠC VĂN THẠCH
Tên đề tài:
HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO CHĂN NUÔI TẠI HỢP TÁC XÃ
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT BẢN ĐỊA HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên - năm 2018
Trang 2MẠC VĂN THẠCH
Tên đề tài:
HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO CHĂN NUÔI TẠI HỢP TÁC XÃ
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT BẢN ĐỊA HUYỆN PHÚ LƯƠNG
Thái Nguyên - năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và PTNT, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại HTX chăn nuôi động vật bản địa, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các đơn vị, nhà trường, cùng các thầy, cô giáo để tôi có thể hoàn thành quá trình thực tập của mình
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và PTNT, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và đặc biệt là cô giáo TS Nguyễn Thị Yến người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cán bộ đang công tác tại UBND xã Tức Tranh và hơn hết là Ban giám đốc HTX chăn nuôi động vật bản địa đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp thông tin và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện đề tài của mình trong suốt thời gian qua
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã cố gắng hết sức để hoàn thành bài khóa luận tốt nhất tuy nhiên do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 06 năm 2018
Sinh viên
Mạc Văn Thạch
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Danh sách thành viên HTX năm 2017 36
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất của HTX năm 2017 40
Bảng 4.3: Lao động của HTX năm 2017 42
Bảng 4.4: Chi phí chuồng trại và trang thiết bị của HTX 43
Bảng 4.5: Chi phí về giống và thú y 44
Bảng 4.6: Các loại chi phí khác của HTX 45
Bảng 4.7: Doanh thu ngựa bạch 46
Bảng 4.8: Doanh thu hươu sao 47
Bảng 4.9: Doanh thu khác 48
Bảng 4.10: Kết quả và hiệu quả kinh tế của HTX năm 2017 48
Bảng 4.11: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các nguồn vốn trong sản xuất năm 2017 50
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của HTX chăn nuôi động vật bản địa 41
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
BKHDT
DT ĐVT
đ
GO HTX
IC KHCN
KT
lđ NĐ- CP
NQ PTNT QĐ-TTg SXKD TT-BKHDT UBND
: Lao động : Nghị định- Chính phủ : Nghị định
: Phát triển nông thôn : Quyết định – Thủ tướng : Sản xuất kinh doanh : Thông tư - Bộ kế hoạch đầu tư : Ủy ban nhân dân
: Giá trị gia tăng
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Vốn 3
2.1.2 Hợp tác xã 13
2.1.3 Các văn bản pháp lý liên quan đến phát triển kinh tế HTX 17
2.2 Cơ sở thực tiễn 20
2.2.1 Tình hình phát triển HTX tại Việt Nam 20
2.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển HTX của một số địa phương 23
2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ các địa phương 25
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 26
3.3.2 Phân tích và xử lý số liệu 28
Trang 83.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 28
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Khái quát về cơ sở thực tập 32
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội của cơ sở thực tập 32
4.1.2 Thời gian thành lập HTX 34
4.1.3 Thuận lợi, khó khăn trong sử dụng các nguồn lực vào SXKD của HTX 36
4.1.4 Thành tựu của HTX chăn nuôi động vật bản địa 37
4.2 Kết quả thực tập 37
4.2.1 Mô tả một số nội dung và công việc cụ thể đã làm tại HTX 37
4.2.2 Thực trạng huy động và sử dụng vốn cho chăn nuôi của HTX 40
4.2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX 46
4.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu hoạt động huy động và sử dụng vốn tại HTX 51
4.2.5 Đề xuất giải pháp 52
PHẦN 5KẾT LUẬN 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập
và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, ngày 20-11-2012, tại kì họp thứ
4 Quốc hội khoá XIII đã thông qua luật HTX số 23/2012/QH13 (Luật HTX 2012), có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2013
Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa xã Tức Tranh chăn nuôi chủ yếu ngựa và hươu sao.Từ khi được thành lập, HTX chăn nuôi động vật bản địa tại
xã Tức Tranh, huyện Phú Lương đã thu được nhiều thành tựu tốt như: Thu nhập của các thành viên trong HTX tăng lên, đời sống được cải thiện Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất HTX chăn nuôi động vật bản địa vẫn còn một
số bất cập trong cách thức sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh như: Sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả, chưa có sự đầu tư trọng tâm; ít
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất còn yếu, Từ thực
tế trên, luận văn “Huy động và sử dụng vốn cho chăn nuôi tại hợp tác xã
chăn nuôi động vật bản địa huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên” là thật
Trang 10sự cần thiết cho việc tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vào
trong sản xuất kinh doanh, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế của HTX
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Biết cách làm một số công việc liên quan đến sản xuất tại HTX
- Tìm hiểu cách thức huy động và sử dụng vốn của HTX
- Đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX
- Đề xuất một số giải pháp nhằm huy động và sử dụng vốn có hiệu quả của HTX chăn nuôi động vật bản địa trên địa bàn xã Tức Tranh
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản
và những kiến thức đào tạo tại nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Sinh viên biết vận dụng sáng tạo những kiến thức
đã học vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đề tài có thể là cơ sở để có những định hướng nhằm nâng cao năng xuất con giống và vật nuôi tại HTX chăn nuôi động vật bản địa, đồng thời làm
cơ sở cho việc quy hoạch và sắp xếp cách thức tổ chức điều hành hợp tác xã Kết quả nghiên cứu còn làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về phát triển thị trường chăn nuôi của HTX nói riêng và địa bàn tỉnh nói chung
Trang 11* Đặc điểm:
- Trong cấu thành vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật còn bao gồm cả tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học, như cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản Trên cơ sở những tính quy luật sinh học, các tư liệu lao động này thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với
tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật
- Sự tác động của vốn sản xuất vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanh của nó không phải bằng cách trực tiếp mà thông qua đất, cây trồng, vật nuôi Cơ cấu và chất lượng của vốn sản xuất phải phù hợp với yêu cầu của từng loại đất đai, từng đối tượng sản xuất là sinh vật
- Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp một mặt làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố định, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài của vốn lưu động và làm cho vốn ứ đọng Mặt khác sự cần thiết và có khả năng tập trung hoá cao về phương tiện kỹ thuật trên một lao động nông nghiệp so với công nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên, nên việc sử dụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn
Trang 12- Một bộ phận sản xuất nông nghiệp không qua lĩnh vực lưu thông mà được chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp,
do vậy vòng tuần hoàn vốn sản xuất được chia thành vòng tuần hoàn đầy đủ
và không đầy đủ Vòng tuần hoàn không đầy đủ là vòng tuần hoàn của một bộ phận vốn không được thực hiện ở ngoài thị trường và được tiêu dùng trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật của chúng Vòng tuần hoàn đầy đủ yêu cầu vốn lưu động phải trải qua tất cả các giai đoạn, trong đó có giai đoạn tiêu thụ sản phẩm
* Phân loại vốn trong sản xuất nông nghiệp
- Vốn cố định trong nông nghiệp
Tư liệu lao động là điều kiện vật chất không thể thiéu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh Có nhiều loại tư liệu lao động và công dụng của mỗi loại không giống nhau, nhưng chúng đều có tính chất chung là giữ vai trò môi giới trong quá trình lao động, tạo nên sự kết hợp giữa người lao động và đối tượng lao động Để tiến hành kinh doanh sản xuất cần thiết phải ứng trước một số tiền vốn nhất định để mua sắm tư liệu lao động Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động không thay đổi hình thái vật chất ban đầu và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm mới theo mức độ hao mòn Vốn đầu tư ban đầu thu hồi từng phần sau mỗi chu kỳ sản xuất thông qua quỹ khấu hao Tài sản cố định hết thời hạn sử dụng sẽ được thanh lý đào thải Do đặc điểm trong quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động được gọi
là tài sản cố định và phần vốn ứng trước được gọi là vốn cố định Là tài sản
cố định phải có đủ hai điều kiện: đạt giá trị tối thiểu theo quy định và thời hạn
sử dụng phải trên một năm Giá trị tối thiểu tuỳ thuộc từng thời kỳ Bộ tài chính có quy định cụ thể
Như vậy vốn cố định là số vốn ứng trước để mua sắm tư liệu lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Phương thức luân chuyển và
Trang 13bù đắp giá trị của nó là chuyển dần từng phần giá trị vào sản phẩm mới đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định kết thúc quá trình luân chuyển
- Vốn lưu động trong nông nghiệp
Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài vốn cố định, các xí nghiệp nông nghiệp còn cần có vốn lưu động Trong quá trình sản xuất, một bộ phận của đối tượng lao động chuyển vào sản phẩm mới (nguyên liệu) hoặc bị tiêu phí hoàn toàn và biến mất hình thái vật chất của mình (nhiên liệu) Giá trị của đối tượng lao động kết hợp với giá trị lao động sống và chuyển vào sản phẩm mới được sản xuất, sau đó chuyển sang hình thái tiền tệ Như vậy, vốn lưu động đã chuyển từ phạm vi sản xuất (dự trữ sản xuất) sang phạm vi lưu thông (thành phẩm, tiền thu được do tiêu thu sản phẩm) sau đó lại quay về phạm vi sản xuất (dự trữ mới cho sản xuất) Theo phương thức đó, toàn bộ vốn lưu động được sử dụng trong mỗi chu kỳ sản xuất cụ thể và thay đổi hình thức vật chất của mình
Vậy, vốn lưu động là vốn bằng tiền ứng trước để dự trữ cho sản xuất,
để mua sắm vật rẻ tiền mau hỏng và hình thành vốn lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thu hàng hoá diễn ra một cách bình thường
Theo tính chất tham gia của các yếu tố vào quá trình sản xuất, vốn lưu động được chia thành ba bộ phận, bao gồm: Vốn lưu động dữ trữ cho quá trình sản xuất, vốn lưu động dùng trong quá trình sản xuất và vốn lưu động dùng trong quá trình lưu thông
- Vốn lưu động dữ trữ cho quá trình sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn
bộ nguyên nhiên vật liệu, phân bón, thuốc trừ sâu, vật tư cho sản xuất phụ, phụ tùng dự trữ v.v Chuẩn bị cho vụ sản xuất sau và những vật tư bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất có thể tiến hành một cách liên tục Vốn lưu động nằm trong quá trình dữ trữ và bảo hiểm sản xuất được phân thành ba
Trang 14loại: Loại dự trữ cho bản thân xí nghiệp nông nghiệp tạo ra, bao gồm: giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn gia súc, phân bón hữu cơ Loại thứ hai là những
dự trữ mua từ ngoài vào, bao gồm: phân bón, thuốc trừ sâu, phụ tùng thay thế nhiên liệu, dầu mỡ v.v Và loại cuối cùng là những dự trữ sản xuất do các xí nghiệp nông nghiệp vay tiền ngân hàng mua vật tư kỹ thuật Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, vốn lưu động dữ trữ và bảo hiểm sản xuất cần đảm bảo mức dự trữ cần thiết để hoạt động được bình thường Bản chất của dự trữ cũng có hai mặt: Một mặt nó đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành thuận lợi và liên tục Mặt khác, dự trữ làm giảm bớt tính linh hoạt và tính tích cực của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp Như vậy cần xác định mức dự trữ tối thiểu nhưng vẫn đảm bảo cho xí nghiệp hoạt động bình thường
- Vốn lưu động trong quá trình sản xuất là biểu hiện bằng tiền của những sản phẩm sản xuất dở dang, bán thành phẩm và những chi phí chờ phân bổ của ngành trồng trọt, chăn nuôi và ngành nghề Chi phí sản xuất dở dang là chi phí sản xuất đã bỏ ra cho các sản phẩm đang sản xuất mà chưa có thu hoạch Chi phí chờ phân bổ là khoản chi phí đã bỏ ra cho các ngành sản xuất các sản phẩm thu hoạch trong năm đó, như chi phí cải tạo và kiến thiết đồng ruộng, chi phí vật rẻ tiền mau hỏng Việc tăng vốn lưu động dùng trong quá trình sản xuất được coi là hợp lý nếu nó thúc đẩy làm tăng khối lượng công việc hoàn thành, chứ không phải do tăng từng đơn vị khối lượng công việc
- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông gồm có những khoản nông sản hàng hoá, vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán [11]
Trang 152.1.1.2 Các nguồn vốn chính trong sản xuất trong nông nghiệp
a Đất đai
- Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất Đất đai tham gia vào hầu hết các quá trình sản xuất của xã hội, nhưng tuỳ thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao thông đất đai là cơ sở, nền móng để trên
đó xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới đường giao thông, thì ngược lại trong nông nghiệp ruộng đất tham gia với tư cách yếu tố tích cực của sản xuất
là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được
Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, nó xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn con người, vì thế ruộng đất là tài sản quốc gia Nhưng từ khi con người khai phá ruộng đất, đưa ruộng đất vào sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của con người, trong quá trình lịch sử lâu dài lao động của nhiều thế hệ được kết tinh ở trong đó, thì ngày nay ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động
Trong nông nghiệp, ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Ruộng đất là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đất làm cho đất thay hình đổi dạng, như cày, bừa, đập đất, lên luống v.v Quá trình đó làm tăng chất lượng của ruộng đất, tạo điều kiện thuận lợi để tăng năng suất cây trồng Ruộng đất là tư liệu lao động, khi con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đất, thông qua các thuộc tính lý học, hoá học, sinh vật học và các thuộc tính khác của đất để tác động lên cây trồng Sự kết hợp của đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành tư liệu sản xuất trong nông nghiệp Không những thế, ruộng đất còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, tư liệu sản xuất đặc biệt, tư liệu sản xuất không thể thay thế được
Trang 16Đặc điểm:
- Ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động Đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên, chỉ từ khi con người tiến hành khai phá đưa đất hoang hoá vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho con người, thì ruộng đất đã kết tinh lao động con người và đồng thời trở thành sản phẩm của lao động Đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng, con người phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng ruộng đất, làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn Đồng thời, khi xác định các chính sách kinh tế có liên quan đến đất nông nghiệp, cũng cần lưu ý đến đặc điểm này
- Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất là không có giới hạn
Số lượng diện tích đất đai đưa vào canh tác bị giới hạn bởi không gian nhất định, bao gồm: giới hạn tuyệt đối và giới hạn tương đối Diện tích đất đai của toàn bộ hành tinh, của từng quốc gia, của từng địa phương là con số hữu hạn, đó là giới hạn tuyệt đối của đất đai Không phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều đưa vào canh tác được, tuỳ thuộc điều kiện đất đai, địa hình và trình
độ phát triển kinh tế của từng nước mà diện tích đất nông nghiệp đưa vào canh tác chỉ chiếm tỷ lệ phần trăm thích hợp Đó là giới hạn tương đối, giới hạn này nhỏ hơn nhiều so với tổng quỹ đất tự nhiên.Vì thế cần phải biết quý trọng và sử dụng hợp lý ruộng đất, sử dụng một cách tiết kiệm, hạn chế việc chuyển dịch ruộng đất sang sử dụng mục đích khác
Mặc dù bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của ruộng đất là không giới hạn Nghĩa là mỗi đơn vị diện tích đất đai, nhờ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động, đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất mà sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn Đây là con đường kinh doanh chủ yếu của nông nghiệp, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng lên
về nông sản phẩm cung cấp cho xã hội loài người
Trang 17- Ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều
Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần thiết, ngược lại ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu này có vị trí cố định gắn liền với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và điều kiện xã hội của mỗi vùng Để kết hợp với ruộng đất, người lao động và các tư liệu sản xuất khác phải tìm đến với ruộng đất như thế nào là hợp lý và có hiệu quả Muốn thế, một mặt phải quy hoạch các khu vực canh tác, bố trí các trung tâm dịch vụ và phân bố các điểm dân cư hợp lý Mặt khác phải cải thiện điều kiện tự nhiên, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và hệ thống cấu hạ tầng nhằm tạo điều kiện
để sử dụng đất có hiệu quả, nâng cao đời sống của nông dân và từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn
Ruộng đất có chất lượng không đồng đều giữa các khu vực và ngay trên từng cánh đồng Đó là kết quả, một mặt do quá trình hình thành đất, mặt khác quan trọng hơn là do quá trình canh tác của con người Vì thế trong quá trình
sử dụng cần thiết phải cải tạo và bồi dưỡng đất, không ngừng nâng dần độ đồng đều của ruộng đất ở từng cánh đồng, từng khu vực để đạt năng suất cây trồng cao
- Ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn
Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình hoặc hao mòn vô hình Cuối cùng sẽ bị đào thải khỏi quá trình sản xuất và thay thế bằng tư liệu sản xuất mới, chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn, còn ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn, nếu sử dụng hợp
lý, chất lượng ruộng đất ngày càng tốt hơn, sức sản xuất của ruộng đất lớn hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích canh tác Dĩ nhiên việc
sử dụng ruộng đất có đúng đắn hay không là tuỳ thuộc vào chính sách ruộng
Trang 18đất của Nhà nước và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học - công nghệ của từng giai đoạn phát triển nhất định [11]
b, Vốn nhân lực
* Khái niệm vốn nhân lực
- Vốn nhân lực là tổng thể kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn
mà người lao động tích lũy được Nó thể hiện khả năng làm việc với một trình
độ nhất định của người lao động Với người sử dụng lao động, nó được đánh giá cao khi mức độ đầu tư và phát triển vốn nhân lực gắn liền với khả năng tăng năng suất lao động Với người lao động, nó rất được coi trọng vì đầu tư cho vốn nhân lực được coi là một phương cách hiệu quả để gia tăng thu nhập trong tương lai
Cũng như vốn vật chất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng , vốn nhân lực
là kết quả của hoạt động đầu tư diễn ra trong quá khứ nhằm mục đích gia tăng thu nhập trong tương lai Đầu tư cho vốn nhân lực là đầu tư cho tương lai Để
có được một trình độ học vấn, kiến thức nhất định, để có được một số kỹ năng làm việc nào đó mà xã hội hiện đại đòi hỏi, người ta cần phải đầu tư Việc đi học ở các bậc học khác nhau, có thể nhận được các bằng cấp khác nhau, tham gia vào các khóa đào tạo, huấn luyện nghề khác nhau chính là thể hiện những mức độ đầu tư khác nhau ở những người lao động Để học hành và tham gia các khóa đào tạo và huấn luyện khác nhau đó, người ta phải bỏ ra nhiều khoản chi phí: một phần đó là những chi phí trực tiếp hay chi phí kế toán như tiền học phí , tiền mua sách vở, máy tính ; một phần khác, đó chính
là khoản thu nhập mà người lao động phải hy sinh do không đi thể làm sớm hơn vì lựa chọn con đường học hành thêm Những chi phí bỏ ra ấy chỉ có ý nghĩa nếu chúng đem lại cho người lao động một khoản thu nhập cao hơn hay
Trang 19một công việc làm dễ chịu hơn, có giá trị hơn trong tương lai, bù đắp được các chi phí đầu tư
c, Nguồn vốn
* Nguồn vốn ngân sách nhà nước :
- Là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Nguồn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế –
xã hội, quốc phòng an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự
án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Nếu như trước năm
1990, vốn tín dụng Đầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991- 2000 nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ
Nguồn vốn tín dụng của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đơn
vị sử dụng vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Nguồn vốn đầu tư từ Doanh nghiệp nhà nước(DNNN): Được xác định
là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các DNNN vẫn nắm giữ một khối lượng nhà nước khá lớn Theo báo cáo tổng kết tổng kiểm kê tài sản
Trang 20và xác định lại giá trị tài sản DNNN tại thời điểm 0h ngày 1 tháng 1 năm
2000 tổng nguồn vốn chủ sở hữu tại các DNNN là: 173857 tỷ đồng Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh
tế nhà nước với sự tham gia của các DNNN vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần
*Nguồn vốn thuộc sở hữu của tư nhân:
- Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các DN dân doanh, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để Nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Thực tế phát hành trái phiếu của chính phủ và trái phiếu của một số ngân hàng thương mại quốc doanh cho thấy, chỉ trong thời gian ngắn đã huy động được hàng ngàn tỷ đồng và hàng chục triệu USD từ khu vực dân cư
*Nguồn vốn đầu tư trực trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển Theo
số liệu của ngân hàng thế giới (WB) trong năm 1999 toàn bộ các nước đang phát triển chỉ thu hút được 165 tỷ USD vốn FDI, thì chỉ riêng Mỹ đã thu được mức132,8 tỷ USD
d, Khoa học công nghệ
- Khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng then chốt trong nền kinh
tế nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Công nghệ trong nông nghiệp
là tập hợp các tri thức khoa học nông nghiệp được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp Công nghệ liên quan đến các quá trình sản xuất, chế biến, marketing và phát triển bền vững trong nông nghiệp
Trang 21Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của sản xuất nông nghiệp so với các ngành sản xuất vật chất khác, những đặc điểm cần lưu ý của tiến bộ KHCN trong nông nghiệp là:
Thứ nhất: Những tiến bộ KHCN trong nông nghiệp hướng vào việc giải
thích tính quy luật của sự phát triển và làm biến đổi những cơ thể sống - cây trồng, vật nuôi Sinh vật và điều kiện sống của chúng rất đa dạng, phong phó
Để cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng sản phẩm cao, ngoài yếu tố có tính chất tiền đề là giống cây, con cần phải tạo ra hàng loạt các yếu tố đồng bộ tác động đến điều kiện và môi trường sống của chúng
Vì vậy, tiến bộ KHCN trong nông nghiệp phải được phát triển cả bề rộng và
bề sâu
Thứ hai: Sù đa dạng về điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, sinh vật
cũng như các điều kiện về dân cư, lao động trong nông nghiệp đặt ra những tình huống phức tạp trong việc lựa chọn tiến bộ KHCN và phương pháp tổ chức ứng dụng chóng vào sản xuất
Thứ ba: Trong sản xuất nông nghiệp, người ứng dụng những tiến bộ
KHCN vào sản xuất chủ yếu là người nông dân với sù non yếu về nhiều mặt như trình độ kỹ thuật, phương tiện sản xuất, tâm lý sản xuất nhỏ đồng thời giữa họ có sự phân hóa tương đối rõ nét về các mặt trên Vì vậy để đưa tiến
bộ KHCN vào sản xuất một cách có hiệu quả cần phải tính đến những điều kiện ứng dụng cụ thể, phải lựa chọn đối tượng ứng dụng phù hợp cho từng loại tiến bộ KHCN, đồng thời chú ý phát huy những kinh nghiệm truyền thống của từng vùng, từng địa phương [11]
2.1.2 Hợp tác xã
2.1.2.1 Khái niệm kinh tế HTX
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người trải các hình thái kinh tế xã hội khác nhau và ở mỗi hình thái kinh tế xã hội đó sự phát triển
Trang 22của lực lượng sản xuất luôn đi cùng là một quan hệ sản xuất phù hợp Chính
vì vậy sự hợp tác giữa con người với con người trong quá trình sản xuất là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, từ nhu cầu của cuộc sống để nương tựa lẫn nhau, hỗ trợ nhau và bảo vệ nhau trong cuộc sống cũng như trong sản xuất
Bởi lẽ, thông qua hợp tác sức lực của các cá nhân sẽ kết hợp lại lớn mạnh hơn để nhằm thực hiện các công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng rẽ rất khó khăn mà thậm trí là không thể làm được Chính vì vậy, cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong sản xuất cả về chiều sâu lẫn bề rộng đã thúc đẩy quá trình hợp tác ngày càng tăng Sự hợp tác không chỉ được giới hạn ở phạm vi vùng, quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi toàn cầu Minh chứng cụ thể cho quá trình hợp tác tất yếu phải diễn ra trên phạm vi thế giới đó là quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội… đã làm cho sức cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ diễn ra ở phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trên phạm vi toàn cầu khiến cho các HTX đều phải thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp với xu thế mới
Có thể nói kinh tế hợp tác là phương thức hoạt động kinh tế, tồn tại
khách quan và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, kinh tế
hợp tác là một quan hệ kinh tế tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế sức mạnh tập thể giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất, kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành
viên [8]
Trang 232.1.2.2 Khái niệm HTX
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội liên minh HTX quốc tế (ICA) lần thứ 31 tổ chức tại Manchester - Vương quốc Anh đã định nghĩa về HTX như sau: "HTX là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế,
xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ" [4]
Ở Việt Nam, Luật HTX năm 1996 định nghĩa về HTX như sau: "HTX
là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung,
tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên nhằm giúp nhau thực hiện
có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [5]
Luật HTX năm 2003 đã kế thừa quy định của Luật HTX năm 1996, tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế HTX, là một tổ chức kinh tế mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc Việc thành lập nên HTX dựa trên nhu cầu, lợi ích chung của các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất cho thành viên và góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước Tuy nhiên, so với Luật HTX năm 1996, thì ở Luật HTX năm 2003 đã mở rộng hơn về đối tượng tham gia HTX đó là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân và được coi như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật Điều này cũng tạo điều kiện cho kinh tế HTX phát triển về số lượng và mở rộng thêm nguồn vốn đầu tư, tham gia vào HTX
Luật HTX 2012 đã khẳng định rõ HTX không phải là doanh nghiệp, điều
Trang 24này cũng đã có những tranh luận gay gắt giữa các nhà làm Luật Việt Nam với các chuyên gia trong và ngoài nước trước khi Luật được thông qua
Như vậy ta có thể hiểu: “HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng
sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX” [6]
2.1.2.3 Vai trò HTX trong phát triển nông thôn
Ở những nước nông nghiệp như nước ta thì HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế hợp tác của các hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh, các dịch vụ cung ứng đầu vào, đầu ra phục vụ sản xuất trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp vì vậy hoạt động của HTX nông nghiệp có tác động to lớn, tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nông nghiệp, nông dân Nhờ có hoạt động của HTX các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời đầy đủ đảm bảo chất lượng, các khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông dân được nâng lên Thông qua hoạt động dịch vụ vai trò điều tiết của HTX nông nghiệp được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá Ví dụ dịch vụ làm đất, dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ bảo vệ thực vật… đòi hỏi sản xuất của hộ nông dân phải được thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng và chủng loại giống,
về thời vụ gieo trồng và chăm sóc
HTX là nơi tiếp nhận những trợ giúp của Nhà nước tới hộ nông dân, vì vậy hoạt động của HTX có vai trò làm cầu nối giữa Nhà nước với hộ nông dân một cách có hiệu quả trong một số trường hợp, khi có nhiều tổ chức tham
Trang 25gia hoạt động dịch vụ cho hộ nông dân hoạt động của HTX là đối trọng buộc
các đối tượng phải phục vụ tốt cho nông dân [1]
2.1.3 Các văn bản pháp lý liên quan đến phát triển kinh tế HTX
2.1.3.1 Các văn bản liên quan đến HTX
* Luật số 23/2012/QH13, ngày 20/11/2012 của Quốc Hội căn cứ hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo nghị quyết số 51/2001/GH10
- Quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX cụ thể như sau:
Một là: Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập,
ra khỏi HTX HTX tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp HTX
Hai là: HTX, liên hiệp HTX kết nạp rộng rãi thành viên, HTX thành viên
Ba là: Thành viên, HTX thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết
ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý
và hoạt động của HTX, liên hiệp HTX; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ
Bốn là: HTX, liên hiệp HTX tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
của mình trước pháp luật
Năm là: Thành viên, HTX thành viên và HTX, liên hiệp HTX có trách
nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ Thu nhập của HTX, liên hiệp HTX được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, HTX thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với HTX tạo việc làm
Sáu là: HTX, liên hiệp HTX quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho
thành viên, HTX thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong HTX, liên hiệp HTX và thông tin về bản chất, lợi ích của HTX, liên hiệp HTX
Bảy là: HTX, liên hiệp HTX chăm lo phát triển bền vững cộng đồng
Trang 26thành viên, HTX thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào HTX trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế [6]
* Nghị định 193/2013/NĐ-CP của chính phủ ngày 21/11/2013 hướng dẫn Luật HTX 2012, là nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật HTX 2012
Tại điều 32 chương 6 nghị định 193/2013/NĐ-CP có quy định về tổ chức lại hoạt động HTX, liên hiệp HTX như sau:
Một là: Rà soát lại điều lệ, tổ chức quản lý hoạt động của HTX, liên
hiệp HTX bảo đảm phù hợp với quy định của Luật HTX số 23/2012/QH13 ngày 20 tháng 1một năm 2012
Hai là: Trường hợp cần đăng ký thay đổi, giải thể hoặc chuyển đổi hình
thức hoạt động thì tiến hành đại hội thành viên để quyết định việc đăng ký thay đổi HTX, liên hiệp HTX, giải thể tự nguyện hoặc chuyển đổi sang loại hình tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Ba là: Trường hợp HTX, liên hiệp HTX bảo đảm thực hiện đầy đủ các
quy định của Luật HTX thì không phải đăng ký thay đổi [3]
* Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT hướng dẫn về đăng ký HTX và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của HTX do Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư ban hành
Tại điều 25 chương 3 có quy định về chế độ báo cáo về tình hình hoạt động của HTX
Một là: Chậm nhất vào ngày 15 tháng 01 hàng năm, HTX báo cáo
trung thực, đầy đủ, chính xác bằng văn bản tình hình hoạt động của HTX của năm trước đó với cơ quan đăng ký HTX theo mẫu quy định tại Phụ lục I-18
Hai là: Chậm nhất vào ngày 28 tháng 02 hàng năm, cơ quan đăng ký
HTX cấp huyện tổng hợp, báo cáo tình hình hoạt động của HTX của năm trước đó trên địa bàn huyện theo mẫu quy định tại Phụ lục II-13 gửi cơ quan đăng ký HTX cấp tỉnh
Trang 27Ba là: Chậm nhất vào ngày 31 tháng 03 hàng năm, cơ quan đăng ký
HTX cấp tỉnh tổng hợp, báo cáo tình hình hoạt động của HTX, liên hiệp HTX của năm trước đó trên địa bàn tỉnh theo mẫu quy định tại Phụ lục II-14 gửi Bộ
Kế hoạch và Đầu tư
Bốn là: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan đăng ký HTX cấp tỉnh, cấp
huyện tổng hợp, gửi các cơ quan có liên quan cùng cấp [7]
2.1.3.2 Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước
Tại luật số 23/2012/QH 13 điều 6 thì nhà nước có một số ưu đãi và hỗ trợ đối với HTX như sau:
- Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
- Xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường
- Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới
- Tiếp cận vốn và quỹ hộ trợ phát triển HTX
- Tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế- xã hội
- Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế
- Ưu đãi về lệ phí đăng kí HTX , liên hiệp HTX theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí
- Đối với HTX, liên hiệp HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, ngoài việc được hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này còn được hưởng chính sách hỗ trợ, ưu đãi sau đây: Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của HTX, liên hiệp HTX theo quy định của pháp luật về đất đai, Ưu đãi về tín dụng, vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, chế biến sản phẩm [6]
Nghị định 193/2013/NĐ-CP có quy định về Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với HTX, liên hiệp HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm
Trang 28nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp
Tại điều 25 quy định như sau:
Một là: Hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Hai là: Chính sách giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động của
HTX, liên hiệp HTX, việc hỗ trợ đất đai đối với HTX, liên hiệp HTX được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai
Ba là: Chính sách ưu đãi về tín dụng HTX, liên hiệp HTX thành lập mới
hoặc có dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh được
ưu tiên vay vốn từ các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành
Bốn là: Chính sách hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh Năm là: Chính sách hỗ trợ chế biến sản phẩm HTX, liên hiệp HTX có
nhu cầu chế biến sản phẩm được hỗ trợ nghiên cứu xây dựng dự án đầu tư chế biến sản phẩm quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 24 Nghị định này [3]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển HTX tại Việt Nam
- Phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã là một tất yếu khách quan Điều đó đã được khẳng định trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta Các hình thức hợp tác xã cũng đã ra đời từ rất sớm ở nước
ta Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, điển hình có hợp tác xã Dân Chủ ở Thái Nguyên, cách nay đã gần 60 năm Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã trải qua các giai đoạn cách mạng đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
- Bước vào thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến cuối những năm 90 của thế
kỷ XX, do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là chuyển đổi cơ chế quản lý, thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý của hệ thống hợp tác xã, những yếu kém, khuyết tật
và bất cập của mô hình cũ trong điều kiện mới nên khu vực hợp tác xã đã lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, nhiều hợp tác xã tan rã Đến tháng 12/1996,
Trang 29trước khi thực hiện Luật hợp tác xã, cả nước chỉ còn lại 17.462 hợp tác xã (so với trên 79.000 hợp tác xã thời điểm trước năm 1986) Trong đó, giảm nhiều nhất là các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã tín dụng, số hợp tác xã mua bán còn lại không đáng kể
- Luật hợp tác xã được ban hành và có hiệu lực từ năm 1997, sau đó đã qua 2 lần sửa đổi bổ sung năm 2003 và mới nhất là năm 2012 Việc chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang hoạt động theo Luật HTX năm 2012 hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích đối với hoạt động của các HTX, đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, quản lý dân chủ, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu của HTX
- Theo ông Ma Quang Trung, Cục trưởng Cục HTX và PTNT, đến hết năm 2016, cả nước có 19 liên hiệp HTX nông nghiệp, 10.756 HTX nông nghiệp, 62.697 THT, 31.717 trang trại
Trong năm 2016, số HTX thành lập mới là 1.100 HTX, nhưng số HTX giải thể, sáp nhập là 1.285 HTX Do đó, đến hết năm 2016, đã giảm 185 HTX so với năm 2015 Tuy nhiên, đây là dấu hiệu tích cực, bởi 1.285 HTX đã giải thể hoặc sáp nhập trong năm 2016 đều là những HTX yếu kém Nhờ vậy, mặc dù tổng số HTX có giảm nhưng chất lượng nói chung lại tăng lên
Chất lượng của các HTX bắt đầu được chuyển biến mạnh từ 2015 và đặc biệt năm 2016 Cộng với nhiều HTX yếu kém đã bị giải thể, sáp nhập, nên đã nâng tỷ lệ HTX hoạt động có hiệu quả từ 10% năm 2014 lên trên 30% năm
2016 Doanh thu bình quân 1,1 tỷ đồng/HTX, lợi nhuận bình quân 200 triệu đồng/HTX, thu nhập bình quân của thành viên và người lao động 1,5 triệu đồng/người/tháng
Dầu vậy, tình hình phát triển HTX nông nghiệp trên cả nước vẫn chưa được như mong đợi Số HTX tham gia liên kết chưa nhiều Hiệu quả hoạt động của nhiều HTX còn thấp, doanh số và thu nhập của HTX và người lao động
Trang 30chưa cao Hiện mới có khoảng trên 20% HTX tham gia tiêu thụ nông sản cho xã viên và nông dân, và mới chỉ có khoảng trên 10% sản lượng nông sản được tiêu thụ thông qua các HTX
- Đến nay theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 5/12/2017, cả nước
đã có 20.768 HTX thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, trong đó có hơn 6.378 HTX được thành lập mới kể từ khi có Luật HTX năm 2012 ra đời Riêng năm 2017 đã có gần 2.500 HTX mới được ra đời, chiếm hơn 1/3 tổng số HTX thành lập mới kể từ khi Luật HTX được triển khai, trong đó phần lớn là các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Điều này cho thấy bên cạnh chất lượng các HTX ngày càng tốt hơn, tốc độ phát triển HTX đang ngày càng nhanh hơn
và đang bước vào giai đoạn chín muồi Về chất lượng hoạt động, tỉ lệ HTX hoạt động có hiệu quả mặc dù còn khiếm tốn, tuy nhiên tốc độ phát triển cũng khá nhanh Cụ thể, tỉ lệ HTX hoạt động có hiệu quả đã tăng từ 10% năm 2012 lên gấp 3 lần (khoảng 30%) vào cuối năm 2016 Sau hơn 4 năm triển khai Luật HTX, doanh thu của HTX đã tăng trung bình 19,8%, lợi nhuận tăng hơn 26%, thu nhập bình quân lao động của HTX tăng khoảng trên 37%, đóng góp vào GDP cả nước bình quân xấp xỉ 4 %/năm
Tuy có những chuyển biến tích cực, nhưng cũng phải thừa nhận rằng hợp tác xã vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém, còn nhiều khó khăn và bất cập lớn Cụ thể là:
- Phần lớn các HTX đều thiếu vốn, thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ Việc
liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu Số HTX liên kết còn ít Việc chủ động tìm thị trường, doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm còn yếu, nhiều doanh nghiệp vẫn phải liên hệ trực tiếp với các chủ trang trại, hộ nông dân
để tìm nguồn cung hàng hóa
- Bên cạnh đó, nhiều HTX có số thành viên quá lớn, sự liên kết giữa thành
viên với HTX và các thành viên với nhau còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ nên hiệu
Trang 31quả hoạt động thấp Các HTX hoạt động còn manh mún, nhỏ lẻ Một số HTX đã đăng ký lại theo luật HTX năm 2012 nhưng chưa thực sự tổ chức và hoạt động đúng các quy định của Luật HTX Các HTX ngừng hoạt động không thực hiện
giải thể, do vướng mắc về nợ công, tài sản hoặc thất lạc hồ sơ, con dấu.[14]
2.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển HTX của một số địa phương
2.2.2.1 HTX trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tính đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh có 563 HTX, trong đó 107 HTX chuyển đổi, 456 HTX thành lập mới với tổng số vốn đăng ký kinh doanh đạt gần 380 tỷ đồng, thu hút gần 8 nghìn thành viên tham gia và trên 86 nghìn hộ gia đình tham gia HTX Quá trình đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể nói chung và kinh tế HTX nói riêng đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, củng cố quan hệ kinh tế nông thôn
Trong số các loại hình HTX này thì khối HTX dịch vụ nông nghiệp chiếm gần 50% tổng số các HTX trong tỉnh Qua khảo sát cho thấy về cơ bản các HTX nông nghiệp thời gian qua đã tích cực vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, phát triển kinh tế trang trại, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào trồng trọt, chăn nuôi Số các HTX phi nông nghiệp thì nguồn vốn của loại hình này đã được hình thành từ tài sản của cá nhân hợp tác với nhau tạo thành thế mạnh để hoạt động vì vậy bộ máy quản lý gọn nhẹ, chủ nhiệm HTX chủ động giải quyết, xử lý thông tin trong quá trình sản xuất kinh doanh nên hoạt động kinh doanh hiệu quả [12]
2.2.2.2 Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Thời điểm 31/12/2015 trên địa bàn tỉnh có 212 HTX, giảm 9 HTX so với năm 2014, hiện tại số HTX tạm ngừng hoạt động là 40 HTX Đến nay, trên địa bàn có 26 HTX hoạt động theo đúng Luật HTX năm 2012 (đăng ký lại 7, thành lập mới là 19), chiếm 12,3% tổng số HTX hiện có Trong đó:
Trang 32+ Lĩnh vực Nông, lâm nghiệp có 113 HTX (trong đó: Chăn nuôi có 12 HTX; chế biến nông, lâm sản có 33 HTX; nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp
có 68 HTX)
+ Lĩnh vực Phi nông nghiệp có 99 HTX (trong đó: HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 43 HTX; xây dựng 25 HTX; giao thông vận tải 4 HTX; thương mại, dịch vụ 11 HTX và hoạt động trong lĩnh vực khác 16 HTX)
- HTX hoạt động hiệu quả: 41 HTX; chiếm 19,3%; (trong đó HTX NN: 27)
- HTX trung bình có: 131 HTX; chiếm 61,8%; (trong đó HTX NN: 70)
- HTX hoạt động không hiệu quả: 40 HTX, chiếm 18,9%; (trong đó HTX NN là: 16) [10]
2.2.2.3 Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Theo số liệu thống kê của Liên minh HTX tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có trên 400 HTX, với gần 10.000 thành viên, trong đó có 180 HTX nông nghiệp kiểu mới Riêng 8 tháng năm 2016, có 15 HTX mới thành lập, trong đó chiếm một nửa là HTX nông nghiệp, hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực chăn nuôi lợn, gà; trồng rau, cây ăn quả;…
Khi tham gia vào HTX kiểu mới, trên tinh thần tự nguyện, các hộ nông dân cùng xây dựng kế hoạch, quy hoạch sản xuất ,xuất phát từ nhu cầu của thị trường Các hộ nông dân chịu trách nhiệm chăn nuôi, sản xuất tại gia đình HTX chịu trách nhiệm về cung ứng giống, phân bón, các dịch vụ nông nghiệp khác và chịu trách nhiệm bao tiêu sản phẩm cho các hộ nông dân, thành viên,
xã viên của mình Hiệu quả hoạt động của mô hình HTX nông nghiệp kiểu mới đang từng bước được khẳng định Hầu hết các HTX đã tạo được sự đoàn kết giữa các hội viên, cung ứng giống, phân bón trong quá trình chăn nuôi, sản xuất; đặc biệt đã kết nối giữa nông dân với các doanh nghiệp trong giải quyết dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản phẩm của các thành viên HTX Qua
đó đã góp phần giúp người nông dân và HTX đều có lãi cao hơn, trong đó lợi