ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 2 BÀI TIỂU LUẬN HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI VÀ CÔNG NHẬN CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRANH CHẤP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM Hà Nội, năm 2022 I, HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 1, Các vấn đề chung a, Định nghĩa hủy phán quyết trọng tài thương mại Hủy Phán Quyết Trọng Tài là một chế định của pháp luật Trọng Tài Thương Mại, theo đó, một trong các bên tranh chấp được quyền yêu cầu tòa án bác PQTT nếu có đủ căn cứ chứng minh rằng trọn.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BỘ MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2 BÀI TIỂU LUẬN HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI VÀ CÔNG NHẬN CHO THIHÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRANH CHẤP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Hà Nội, năm 2022
Trang 2I, HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
1, Các vấn đề chung
a, Định nghĩa hủy phán quyết trọng tài thương mại
theo đó, một trong các bên tranh chấp được quyền yêu cầu tòa án bác PQTT nếu
có đủ căn cứ chứng minh rằng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong nhữngtrường hợp bị hủy theo quy định của pháp luật
Luật Trọng tài thương mại năm 2010,
“1 Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có
đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp.
2 Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.”
Trang 3b, Bản chất của hủy phán quyết trọng tài thương mại
hành đối với các bên tranh chấp
phải cẩn trọng xem xét lại PQTT, xem xét kỹ đơn đề nghị hủy, xem xét từng căn
cứ hủy và nếu PQTT đã vi phạm pháp luật, tức là có đủ căn cứ để tuyên hủy thìtòa án phải tuyên hủy PQTT Tuy nhiên, việc hủy PQTT cũng có ý nghĩa tiêu cực:
Với những PQTT bị hủy bỏ toàn bộ, việc hủy bỏ PQTT sẽ có tác động tiêu cực:
chohọ, bởi vì điều mà họ chờ đợi khi PQTT được thi hành sẽ không còn
đầu một thủ tục mới kéo dài, tốn kém về cả thời gian và công sức là khởi kiện ratòa án và điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp: phá vỡ chiến lược và kế hoạch kinh doanh, xáo trộn về công việc, ách tắc
về tài chính… uy tín và thương hiệu bị ảnh hưởng
2, Pháp luật việt nam về hủy phán quyết trọng tài và thực tiễn áp dụng
a, Pháp luật Việt Nam
* Các trường hợp hủy (căn cứ tuyên hủy phán quyết trọng tài)
tài khi có đơn yêu cầu của một bên Việc hủy phán quyết trọng tài được thực hiệntrong các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật hiện nay
phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (Điểm a, khoản
2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP)
Trang 4 Điều này được hiểu là Hội đồng trọng tài trên thực tế đã tiến hành giải quyết tranhchấp và ban hành phán quyết mặc dù giữa các bên không có thỏa thuận trọng tàihoặc thỏa thuận trọng tài giữa các bên vô hiệu
Ví dụ: Ngày 05-12-2012 Ông A( chức vụ PGĐ, đại diện cho công ty thuê tài thính Nara
ký hợp đồng mua bán thép với công ty ACB Điều 9 của Hợp đồng quy định nếu có tranh chấp xảy ra sẽ được giải quyết tại VIAC (Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nm bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam) Tranh chấp xảy ra và nguyên đơn đã khởi kiện lên VIAC Hội đồng trọng tài đã ban hành phán quyết Tuy nhiên, bị đơn nộp đơn lên Tòa án nhân dân Tp HCM yêu cầu hủy phán quyết trọng tài vì thỏa thuận trọng tài
vô hiệu và các bên có phản đối nhưng không được chấp nhận
KL của Toàn án: Ông A đại diện cho công ty tài chính Nara ký thỏa thuận trọng tài, tuy nhiên tại thời điểm này, ông không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty Nara và cũng không được ủy quyền hợp pháp Vì lý do này mà tòa án đã kết luận rằng thỏa thuận trọng tài được ký kết giữa Công ty Nara và công ty ACB vô hiệu Trên cơ sở
đó Tòa đã ra quyết định hủy phán quyết trọng tài được ban hành bơi VIAC, căn cứ vào điểm b Điều 68 LTTTM
b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này ( Điểm a, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQQ-HĐTP)
quy định Luật TTTM về thành phần hội đồng trọng tài, quy tắc trọng tài
như Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêucầu của Tòa án (K7 Điều 71 Luật TTTM)
Trang 5 Ở đây có 1 vấn đề cần được làm rõ đó là khi nào thì được xem là Hội đồng trọngtài thực hiện không đúng thỏa thuận của các bên hoặc quy định luật TTTM vềthành phần hội đồng trọng tài, quy tắc trọng tài
VD: Để làm rõ: các bên thỏa thuận tranh chấp được giải quyết bởi Hội đồng trọng tài gồm 3 trọng tài viên Thực tế việc giải quyết tranh chấp được tiến hành vởi Hội đồng Trọng tài gồm 1 trọng tài viên duy nhất, mặc dù một bên có phản đối nhưng không được Hội đồng trọng tài chấp nhận
KL của tòa án: HĐTT thực hiện không đúng thỏa thuận các bên về thành phần HĐTT và dựa vào vấn đề này TA có thể tiến hành hủy phán quyết trọng tài căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 68 LTTTM 2010)
phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phụctheo yêu cầu của Tòa án (K7 Điều 71 Luật TTTM)
Như vậy, phán quyết sẽ bị hủy nếu như đạt được hai yêu cầu trên
c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ (Điểm c, khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQQ-HĐTP)
của Hội đồng trọng tài Căn cứ theo Điểm c, khoản 2 Điều 14 sẽ bị hủy khi:
của Trọng tài quy định tại Điểm 2 luật TTTM
cầu Trọng tài giải quyết
TRọng tài giải quyết
Trang 6d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;
đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
trừu tượng và có thể dẫn đến sự trừu tượng và khiến cho TA dễ dàng hủy các phánquyết trọng tài
“Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.
Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định được phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật và nguyên tắc đó
có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài.
Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba.
Từ hướng dẫn thi hành trên, có thể thấy rằng cần hội tụ đủ 3 điều kiện thì Tòa án mới cóthể có đủ căn cứ hủy phán quyết trọng tài vì trái với nguyên tắc cơ bản, bao gồm
Việt Nam liên quan đến tranh chấp được yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Trang 7 Sau khi xác định một quy định là nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Namđang được xem xét thì TA phải chỉ ra rằng phán quyết trọng tài đã không thựchiện hoặc vi phạm nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài
hủy phán quyết trọng tài vì phải đáp ứng thêm điều kiện xác định được hậu quảnghiêm trọng từ việc vi phạm
* Thẩm quyền tuyên hủy
Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37, điểm o khoản 2 Điều 39, khoản 3 Điều
414 BLTTDS 2015 và điểm g khoản 2 Điều 7 Luật TTTM 2010 thì TAND cấp tỉnh nơiHội đồng trọng tài đã ra phán quyết là có cơ quan có thẩm quyền tuyên hủy phán quyết
đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận lựa chọn tòa án khác
* Thủ tục
Điều 415 BLTTDS và Điều 72 Luật TTTM 2010 quy định như sau:
1 Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, bên có yêu cầu phải làm đơn yêu cầu gửi đến Tòa án có thẩm quyền.
2 Sau khi thụ lý đơn, Toà án thông báo ngay cho Trung tâm trọng tài, các bên tranh chấp và VKSND cùng cấp.
3 Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, Chánh án chỉ định một Hội đồng xét đơn gồm ba Thẩm phán.
4.Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng xét đơn phải mở phiên họp
để xét yêu cầu huỷ phán quyết.
5.Tòa án tuyên huỷ hoặc không huỷ phán quyết, việc thảo luận và ra phán quyết thực hiện theo đa số Phán quyết của Tòa án có giá trị chung thẩm.
Trang 86.Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định cho các bên, Trung tâm trọng tài và VKSND cùng cấp.
7 Nếu Tòa án ra quyết định hủy, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
* Hệ quả pháp lý của việc hủy phán quyết trọng tài
hành, không thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩmhay tái thẩm
hoặc một bên có quyền khởi kiện tại TA (K8 Điều 71 Luật TTTM)
b, Thực trạng pháp luật Việt Nam
Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về hủy phán quyết trọng
tài:
quy định về trọng tài nói chung và hủy phán quyết trọng tài nói riêng theo LuậtTTTM tương đối tiến bộ và phù hợp hơn với Luật TTTM của nhiều nước trên thếgiới Tuy nhiên, từ sau khi Luật TTTM có hiệu lực, số phán quyết trọng tài bị Tòa
án quyết định hủy đột nhiên tăng vọt Các tranh chấp chủ yếu là mua bán hànghóa, cung ứng dịch vụ Đặc biệt có những vụ việc mới về năng lượng, tài chính,phân phối, tranh chấp của các tập đoàn lớn và cả cơ quan quản lý nhà nước cũngđưa ra trọng tài giải quyết
Từ năm 2011 - 2013 số phán quyết trọng tài không bị hủy chỉ chiếm 64% và số phán quyết trọng tài bị hủy chiếm 36%, tăng 11% so với giai đoạn trước Trong
đó, chỉ riêng tháng 11 năm 2012 Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) có tới 3 phán quyết trọng tài bị huỷ, tương đương với số phán quyết bị hủy của cả 8
Trang 9năm trước đó cộng lại Năm 2013, Trọng tài ở VIAC giải quyết 99 vụ, năm 2014 tăng lên 124 vụ, trong đó 41% là vụ việc có yếu tố nước ngoài.
có một số phán quyết trọng tài bị hủy mà VIAC không biết do không được thôngbáo Việc số lượng phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên hủy tăng khá nhiều khiếncho không chỉ cộng đồng doanh nghiệp hoang mang mà ngay chính các Trọng tàiviên cũng “đứng ngồi không yên” Bởi tình trạng phán quyết trọng tài bị hủy diễn
ra quá nhiều, nhiều Trọng tài viên lo lắng việc “xử mà không biết phán quyết có bịhủy hay không” Đây là một hiện tượng khá bất thường, vì Luật TTTM ra đời là
để tạo hành lang pháp lý để phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài pháttriển nhưng thực tế lại cho thấy một xu hướng ngược lại do số phán quyết trọng tàilại bị tuyên hủy nhiều hơn so với giai đoạn trước
Thứ hai, một trong những căn cứ khác cũng thường được viện dẫn để hủy phán quyết trọng tài đó là " thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này"
tiến hành rất nhiều thủ tục tố tụng nên việc mắc những sai sót là rất khó tránh khỏi
Và thực tế việc phán quyết trọng tài bị Tòa án hủy gần đây, không phải vì nộidung phán quyết trọng tài có “vấn đề” mà vì những lý do liên quan đến thủ tục tốtụng
Thứ ba, căn cứ “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của Pháp luật Việt Nam” được quy định quá chung chung, không rõ ràng nên việc áp dụng một cách tùy tiện
là không thể tránh khỏi
“nguyên tắc”, vì thế bên yêu cầu có thể dễ dàng viện dẫn phán quyết trọng tài “tráivới nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” và đưa ra giải thích hợp lý, Tòa án
sẽ căn cứ vào đó để ra quyết định hủy phán quyết trọng tài
Trang 10Thứ tư, về thủ tục hủy quyết định trọng tài Ngoài những bất cập trong các quy định về
căn cứ hủy phán quyết trọng tài thì có một sự bất cập trong thủ tục hủy quyết định trọngtài,
cùng có hiệu lực thi hành Nghĩa là, đối với quyết định của Tòa án về hủy phánquyết trọng tài, các bên hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, các đương sựkhông có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị Quyđịnh này đã thực sự hợp lý? Bởi nếu quy định như vậy, trong trường hợp quyếtđịnh của Tòa án có vi phạm hoặc chưa thỏa đáng thì sẽ không có phương án xử lý,gây ảnh hưởng lớn tới quyền lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp
3, Giải pháp hoàn thiện
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại
Cần có quy định rõ về phạm vi điều chỉnh, điều này sẽ tạo điều kiện tốt cho các chủ thểliên quan và các bên tham gia tranh chấp xác định đúng về thẩm quyền của trọng tàithương mại
Trong thủ tục tố tụng, cần xác định chỉ khi các bên hòa giải không thành công, Hội đồngtrọng tài mới đưa vụ tranh chấp ra giải quyết Bổ sung quy định về nội dung thỏa thuậntrọng tài, như các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, về chi phí, lệ phí trọng tài, ngôn ngữ,quy phạm văn bản, quy tắc tố tụng, cam kết thực hiện phán quyết trọng tài…
Về thời gian tiến hành tố tụng trọng tài, cẩn bổ sung thêm quy định thời gian giải quyếttranh chấp từ khi Hội đồng trọng tài được thành lập cho đến khi ra phán quyết trọng tài
→ Nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Hội đồng trọng tài thực hiện biện phápkhẩn cấp thạm thời mà không gây ảnh hưởng xấu đến quyền lợi các bên, cần có quy định
cụ thể về những hành vì nào thì được coi là bất lợi đối với quá trình tố tụng trọng tài
Trang 11Thứ hai, việc áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài phải gắn với việc áp dụng quy định tại Điều 13, khoản 4 Điều 63, khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại
Khi áp dụng các căn cứ hủy phán quyết trọng tài được quy định tại khoản 2 Điều 68 LuậtTrọng tài thương mại, thì phải hiểu sâu sắc rằng, tố tụng trọng tài có rất nhiều điểm khácbiệt với tố tụng dân sự tại Tòa án Nếu không nắm vững tính đặc thù đó, rất dễ xét xử lại
vụ tranh chấp hoặc có những trường hợp vi phạm Luật Trọng tài thương mại, vi phạmthỏa thuận trọng tài…, nhưng vi phạm đó không còn là căn cứ để hủy phán quyết
Ví dụ như, việc đã mất quyền phản đối được quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại.
Trong nhiều trường hợp, tố tụng trọng tài là do đương sự lựa chọn hoặc do các bên thỏathuận Mối quan hệ giữa Hội đồng trọng tài và các bên trong tranh chấp có thể là mối
quan hệ hợp đồng → Do đó, các bên có thể tự do thỏa thuận bằng văn bản (thỏa thuận trọng tài, quy tắc trọng tài hay thỏa thuận riêng của các bên ) hoặc bằng hành vi cụ thể (biết nhưng im lặng và không phản đối) đối với tất cả các quyền và nghĩa vụ đó trong
giới hạn pháp luật áp dụng cho phép Vì vậy, biết vi phạm mà không phản đối trong thờihạn thì được coi là các bên đã lựa chọn, đã đồng ý về thành phần, về tố tụng, về thẩmquyền… của trọng tài
Trong tố tụng trọng tài, phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày banhành, không có trình tự xét xử phúc thẩm và không có trình tự giám đốc thẩm Tuy nhiên,khoản 4 Điều 63 Luật Trọng tài thương mại quy định:
“Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng, thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu”
Trang 12Thậm chí, khi Tòa đã thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của đương sự, nhưngtheo quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại thì:
“Theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài Hội đồng trọng tài phải thông báo cho Tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng Trường hợp Hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”
Thứ ba, loại bỏ trường hợp các bên tranh chấp lợi dụng tính không minh bạch của các căn cứ hủy phán quyết trọng tài để đưa ra yêu cầu hủy phán quyết
Trường hợp “phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, Nghịquyết 01/2014/NQ- HĐTP Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra phạm vi căn cứ là nhữngnguyên tắc liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của trọng tài, như các bên đã thỏathuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; thỏa thuận đó không trái pháp luật, không viphạm đạo đức, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, nhưng Hội đồng trọng tài không chấpnhận; Hội đồng trọng tài đã vi phạm một nguyên tắc quan trọng của tố tụng trọng tài Chỉtrong những trường hợp này mới coi là phán quyết trọng tài vi phạm nguyên tắc tự do, tựnguyện thỏa thuận, định đoạt Đây là nguyên tắc tồn tại trong rất nhiều luật nội dung vàluật hình thức, một nguyên tắc mang tính phổ quát
II, CÔNG NHẬN CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRANH CHẤP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1, Các vấn đề chung
a, Khái niệm phán quyết của Trọng tài nước ngoài