1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).

94 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THAN: NHÌN TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU

THAN TẠI TỔNG CÔNG TY PHÁT ĐIỆN 1 (EVNGENCO1)

Ngành: Luật Kinh tế

NGÔ THỊ THU HỒNG

Hà Nội – 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU

THAN: NHÌN TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU

THAN TẠI TỔNG CÔNG TY PHÁT ĐIỆN 1 (EVNGENCO1)

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380107

Hà Nội – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

1 Tôi biết rằng đạo văn là điều sai trái Đạo văn là việc sử dụng công trình của người khác và thể hiện rằng đó là công trình của mình

2 Tất cả những gì tôi tham khảo từ các công trình của người khác đều đã được tôi trích dẫn đầy đủ

3 Tôi đã và sẽ không cho phép bất kỳ ai sao chép công trình của tôi với ý định xem Luận văn của tôi như công trình của họ

4 Tôi xin cam đoan đây là công trình độc lập của chính tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

HỌC VIÊN

Ngô Thị Thu Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

2.3 Đánh giá về tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Đối tượng nghiên cứu 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu 7 4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Bố cục của Luận văn 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ 10

1.1 Tổng quan về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá 10

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa 10

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa 12

1.1.3 Nội dung cơ bản của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa 14

1.1.4 Vai trò của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa 14

1.2 Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá 15

1.2.1 Đối tượng của hợp đồng nhập khẩu hàng hoá 15

1.2.2 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa 15

1.2.3 Thẩm quyền ký kết hợp đồng 18

1.2.4 Điều kiện giao hàng19 1.2.5 Điều khoản chất lượng 21

1.2.6 Điều khoản thanh toán 22

Trang 5

1.2.7 Nghĩa vụ nhận hàng 24

1.2.8 Kiểm tra hàng hóa 24 1.2.9 Chuyển giao rủi ro 25 1.2.10 Luật áp dụng 26 1.2.11 Giải quyết tranh chấp 28

1.2.12 Vi phạm hợp đồng 29 1.2.13 Các chế tài áp dụng khi vi phạm hợp đồng 30

1.2.14 Căn cứ miễn trách khi vi phạm hợp đồng 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THAN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY PHÁT ĐIỆN 1 36

2.1 Tổng quan về Tổng công ty Phát điện 1 36

2.2.1 Giới thiệu chung 36 2.2.2 Quy mô hoạt động 36 2.2.3 Ngành nghề kinh doanh chính 37

2.2.4 Nhiệm vụ cơ bản 37 2.2.5 Cơ cấu tổ chức 38 2.2.6 Hoạt động sản xuất kinh doanh 39

2.2 Thực trạng hoạt động nhập khẩu than tại EVNGENCO1 41

2.3.1 Chiến lược mua than nhập khẩu của EVNGENCO1 41

2.3.2 Quy trình mua than nhập khẩu tại EVNGENCO1 42

2.3.3 Tình hình nhập khẩu than của EVNGENCO1 đến nay 43

2.3 Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu than của EVNGENCO1 44

2.3.1 Đối tượng của hợp đồng 44

2.3.2 Vấn đề về thẩm quyền ký kết hợp đồng 45

2.3.3 Vấn đề về Luật áp dụng 46

2.3.4 Vấn đề về lịch giao hàng 47

2.3.5 Vấn đề bố trí phương tiện vận tải của Bên Bán 50

2.3.6 Chất lượng than cấp không đồng đều 54

Trang 6

2.3.7 Vấn đề về điều khoản thanh toán 57

2.3.8 Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại 58

2.3.9 Các trường hợp miễn trách 61

2.3.10 Chưa chú trọng đến nghĩa vụ “thiện chí” khi thực hiện hợp đồng 64 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 68

3.1 Xác định thẩm quyền ký kết hợp đồng 68

3.2 Hiệu chỉnh điều khoản về Luật áp dụng 68

3.3 Bổ sung phương án giải quyết khi hai bên không thống nhất được lịch giao hàng sửa đổi 69

3.4 Bổ sung quy định về phương tiện chuyển tải để đảm bảo năng suất bốc dỡ 70

3.5 Bổ sung quy định về giảm trừ đơn giá thanh toán trong trường hợp chất lượng than cấp không đồng đều 71

3.6 Hiệu chỉnh điều khoản thanh toán 73

3.7 Sửa quy định về bồi thường thiệt hại ước tính 73

3.8 Bổ sung định nghĩa về “tháng giao hàng” 75

3.9 Chú trọng nguyên tắc “thiện chí” khi thực hiện hợp đồng 75

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i

PHỤ LỤC 01: Quy trình chi tiết xây dựng KHLCNT mua than của EVNGENCO1 iv

PHỤ LỤC 02: Quy trình sơ tuyển lựa chọn danh sách ngắn các nhà thầu tại EVNGENCO1 v

PHỤ LỤC 03: Quy trình chào giá và ký kết hợp đồng than nhập khẩu tại EVNGENCO1 vi

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

mặt tại cảng dỡ để sẵn sàng dỡ hàng

Commerce

Phòng thương mại quốc tế

Terms

Các điều khoản thương mạiquốc tế

the Unification of PrivateLaw

Viện quốc tế về nhất thể hoápháp luật tư

Arbitration Centre at theVietnam Chamber ofCommerce and Industry

Trung tâm Trọng tài Quốc tếViệt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệpViệt Nam

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

I Danh mục Hình vẽ:

Hình 1: Cơ cấu nguồn điện toàn hệ thống theo chủ sở hữu 37

Hình 2: Cơ cấu tổ chức EVNGENCO1 38

Hình 3: Tổng công suất lắp đặt các nhà máy điện của EVNGENCO1 39

(tính đến 31/12/2020) 39

Hình 4: Cơ cấu nguồn điện của EVNGENCO1 39

Hình 5: Sản lượng điện sản xuất của EVNGENCO1 năm 2018-2020 40

II Danh mục Bảng biểu Bảng 1: Ví dụ về lịch giao hàng trong hợp đồng than nhập khẩu 48

Bảng 2: Thống kê số lượng tàu chuyển tải trên 15.000 tấn tại Cảng Duyên Hải trong giai đoạn 2019-2020 53

Bảng 3: Bảng thông số kỹ thuật than nhập khẩu của EVNGENCO1 54

Bảng 4: Bảng thống kê nhiệt trị của các lớp than của một số tàu than năm 2020 tại CTNĐ Duyên Hải 56

Trang 9

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Tên đề tài Luận văn: Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng

hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1

(EVNGENCO1).

Luận văn đã đạt được các kết quả chính như sau:

Đầu tiên, trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và phápluật quốc tế điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, luận văn đã góp phầnlàm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và những nội dung cơ bản, điều kiện hiệu lực,…cũng như các vấn đề pháp lý của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa theo quy định củapháp luật Việt Nam và của Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế (CISG), từ đó có cái nhìn tổng thể về lý luận và thực tiễn pháp luật vềhợp đồng nhập khẩu hàng hóa nói chung

Tiếp theo, Luận văn đã làm rõ được thực trạng công tác nhập khẩu than và cácvấn đề pháp lý tiêu biểu trong hợp đồng nhập khẩu than của Tổng công ty Phát điện

1 Từ đó nêu lên những điểm còn vướng mắc, hạn chế cần phải khắc phục, sửa đổitrong hợp đồng nhập khẩu than và quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu than tạiTổng công ty Phát điện 1

Cuối cùng, trên cơ sở thực trạng các vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩuthan tại Tổng công ty Phát điện 1, luận văn đã đưa ra được một số giải pháp cụ thểnhằm hoàn thiện hợp đồng nhập khẩu than của Tổng công ty Phát điện 1, góp phầngiảm thiểu các rủi ro cho Tổng công ty Phát điện 1 trong quá trình thực hiện hợpđồng, giảm thiểu các tranh chấp phát sinh cũng như đẩy nhanh quá trình quyết toáncác hợp đồng than

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thương mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng đóng vaitrò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Kể từ khi gia nhậpASEAN năm 1995, Việt Nam mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, các hoạtđộng kinh doanh thương mại, hợp tác quốc tế với các đối tác nước ngoài diễn rangày càng phổ biến Đây là xu hướng tất yếu để một quốc gia phát triển bền vữngtrong thời đại hội nhập Cùng với đó, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ngàycàng thể hiện vai trò trụ cột của mình khi các nước có xu hướng ký kết nhiều hiệpđịnh thương mại tự do song phương, đa phương Việt Nam cũng tham gia sâu vàochuỗi toàn cầu hóa kinh tế, đáng kể đến là việc trở thành thành viên của Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) năm 2006, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộxuyên Thái Bình Dương (CPTPP)1, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liênminh châu Âu (EVFTA)2, Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP)3, và thamgia vào một loạt các hiệp định song phương với các quốc gia khác Điều này mở ranhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển kinh tế nhưng đồng thờicũng tạo ra những thách thức, khó khăn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải trang bị đầy

đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết để có thể cạnh trên trên “thương trường” quốc tế.Trong một nền kinh tế “mở” như vậy thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếchính là công cụ để các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại,xuất nhập khẩu qua biên giới quốc gia Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì ngàycàng có nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết Cũng như các hợpđồng mua bán hàng hóa thông thường khác, việc xảy ra tranh chấp trong quá trìnhthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là không thể tránh khỏi, thậm chí còn

ở mức độ phức tạp hơn do có tính chất “quốc tế” Việc giải quyết tranh chấp do đócũng khó khăn hơn do gặp phải những rào cản liên quan đến các yếu tố về khoảngcách, ngôn ngữ, chính trị,… Hậu quả là gây tốn kém về thời gian, tiền bạc và nguồn

1 Chính thức có hiệu lực từ 1/4/2019

2 Chính thức có hiệu lực từ 1/8/2021

3 Chính thức có hiệu lực từ 1/1/2022

Trang 11

lực của các bên Giải pháp quan trọng để tránh phát sinh tranh chấp là các bên phảichuẩn bị tốt các điều khoản hợp đồng, phải nắm rõ các vấn đề pháp lý trong hợpđồng để loại bỏ tối đa các rủi ro có thể xảy ra để đi đến ký kết một bản hợp đồng

“hoàn hảo” nhất có thể

Trong thương mại quốc tế, hoạt động nhập khẩu đóng vai trò hết sức quantrọng khi thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại cho sản xuất, giảiquyết được nhu cầu tiêu dùng đối với những hàng hóa mà trong nước chưa sản xuấtđược hoặc nguồn cung thiếu hụt, tạo động lực cho các doanh nghiệp trong nướckhông ngừng sáng tạo, đổi mới để phát triển, để cạnh tranh với các doanh nghiệpnước ngoài Tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu diễn ra hết sức đa dạng, phổ biếntrên mọi lĩnh vực Trong đó, nhập khẩu than là hoạt động đặc thù, đóng vai trò trọngyếu trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Hàng năm, Việt Nam nhậpkhẩu một khối lượng lớn than để đốt cho các nhà máy nhiệt điện và sản lượng thannhập khẩu tăng dần qua các năm khi nguồn cung nội địa không đủ để vận hành cácnhà máy nhiệt điện mới đi vào hoạt động Năm 2020, lượng than nhập khẩu tại ViệtNam đã tăng lên mức cao kỷ lục, đạt 54,81 triệu tấn, tăng 25% so với năm 20194.Cũng như các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế khác, hoạt động nhập khẩu thanđược thực hiện thông qua công cụ pháp lý là hợp đồng nhập khẩu than Hợp đồngnhập khẩu than mang đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếnhưng đồng thời cũng mang những nét đặc trưng riêng của mặt hàng than Do đó,bên cạnh những tranh chấp phát sinh xoay quanh các vấn đề pháp lý giống hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng nhập khẩu than còn xuất hiện các tranh chấpmang tính đặc thù của ngành hàng than nhập khẩu

Tập đoàn Điện lực Việt Nam là một trong những đơn vị nhập khẩu than vớikhối lượng lớn nhất cả nước, bên cạnh những tập đoàn kinh doanh và khai thác thanlớn như Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng công ty

Đông Bắc Trong đó, Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) – đơn vị trực thuộc

Tập đoàn Điện lực Việt Nam là đơn vị tiên phong trong hoạt động nhập khẩu than

4 Theo Tạp chí PetroTimes: cao-ky-luc-597383.html [truy cập ngày 5/2/2022]

Trang 12

https://nangluongquocte.petrotimes.vn/2020-viet-nam-nhap-khau-than-len-muc-để phục vụ cho việc vận hành các nhà máy nhiệt điện đốt than Thực tế hoạt động

nhập khẩu than tại EVNGENCO1 cho thấy có nhiều tranh chấp phát sinh xảy ra

trong quá trình thực hiện hợp đồng mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là docác quy định trong hợp đồng còn nhiều khiếm khuyết, dẫn đến xảy ra những tranhchấp mà các bên không thể thương lượng được và đã phải đưa ra Trung tâm trọngtài VIAC để giải quyết, gây lãng phí thời gian, nguồn lực và tốn kém chi phí cho cácbên Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích những vấn đề pháp lý trong hợp đồng nhậpkhẩu than và chỉ ra những điểm hạn chế, tồn tại để tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện

hợp đồng là hết sức cần thiết Do đó, học viên lựa chọn đề tài “Những vấn đề pháp

lý về hợp đồng nhập khẩu than: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1)” làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật kinh tế.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề pháp

lý trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Có thể kể đến một số công trình tiêubiểu sau:

Tác giả Petar Sarcevie và Paul Volken, The International Sale of Goods Revisited, Kluwer Law International, The Hague – London – New York, đã phân

tích các vấn đề khác nhau liên quan đến Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế (CISG) Ngoài ra, các tác giả cũng đề cập đến sự phát triểncủa các nguyên tắc quốc tế về luật hợp đồng, chẳng hạn như Bộ nguyên tắc châu Âu

về hợp đồng, Bộ nguyên tắc UNIDROIT

Tác giả Djakhongir Saidov, Giáo sư Luật Thương mại, Trường Luật Dickson

Poon, Kings College London, Vương quốc Anh với cuốn sách Research Handbook

on International and Comparative Sale of Goods Law xuất bản năm 2019 của Nhà

xuất bản Edward Elgar Publishing Ltd, đã nghiên cứu về sự phức tạp của việc quản

lý các hợp đồng mua bán trong thế giới hiện đại Cuốn sách xem xét nhiều khía cạnhcủa luật và thông lệ bán hàng, nhấn mạnh vào sự đa dạng của bối cảnh giao dịchthương mại trong đó các hợp đồng mua bán được ký kết và thực hiện, bao gồm công

Trang 13

nghệ kỹ thuật số, hợp đồng dài hạn, chuỗi cung ứng toàn cầu và các nguồn điềuchỉnh các hợp đồng đó, đặc biệt nhấn mạnh vào các hợp đồng mẫu tiêu chuẩn, cáctập quán thương mại và các điều khoản thương mại.

Tác giả Michael Bridge với cuốn sách The International Sale of Goods của

Nhà xuất bản Oxford University Press tái bản lần thứ tư năm 2017, đã bàn về Côngước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), tập trungvào các vấn đề tài sản và giải quyết những vấn đề nảy sinh từ việc sử dụng cácchứng từ quyền sở hữu, chẳng hạn như vận đơn đường biển, và đưa ra nhiều cách xử

lý các vấn đề như biện pháp khắc phục hậu quả, chuyển giao tài sản, hợp đồng mẫutiêu chuẩn và giao dịch hàng hóa quốc tế

Hai tác giả Schlechtriem & Schwenzer trong cuốn sách Commentary on the

UN Convention on the International Sale of Goods (CISG) tái bản lần thứ tư của

Oxford University Press cũng đưa ra những bình luận và phân tích về CISG Đặcbiệt, những phân tích và so sánh một cách chi tiết và toàn diện về các phán quyếtcủa các tòa án và hội đồng trọng tài trên thế giới đã được tổng hợp thành một nguồntham khảo trong cuốn sách này

Stefan Kröll, Loukas Mistelis, Pilar Perales Viscasillas với cuốn sách UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG): a commentary

tái bản lần thứ hai năm 2018 của Nhà xuất bản C.H Beck Các tác giả đến từ các hệthống pháp luật khác nhau đã giải quyết các vấn đề cụ thể của việc áp dụng CISGtrong từng khu vực Cuốn sách bình luận về các quy định của CISG theo từng điềukhoản, cấu trúc của CISG Các chủ đề đặc biệt, chẳng hạn như thương mại điện tử,

đã được đưa ra phân tích và bình luận đối với các điều khoản có liên quan

Năm 2010, Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) đã xuất bản ấn phẩm “Model Contracts for Small Firms – Legal guidance for doing international business”, trong

đó đưa ra các hợp đồng mẫu để các doanh nghiệp tham khảo Các hợp đồng mẫunày được thiết kế dựa trên những tiêu chuẩn được quốc tế công nhận và các thông lệthường được sử dụng trong giao dịch thương mại quốc tế Cuốn sách cũng đưa ranhững lời khuyên pháp lý cho các doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinhdoanh quốc tế

Trang 14

Cũng trong năm 2010, Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã cho ra đời ấn

phẩm “Incoterm 2010: ICC rules for the Use of Domestic and International Trade Terms” mà ngày nay đã trở thành nguồn tham khảo thiết yếu được nhiều quốc gia áp

dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế Các điều kiện Incorterms là nhữngthông lệ quốc tế về việc phân chia nghĩa vụ, rủi ro và chi phí giữa người mua vàngười bán trong giao dịch thương mại quốc tế Tuy nhiên, Incorterms không đề cậpđến giá cả, phương thức thanh toán, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cũng nhưhậu quả của việc vi phạm hợp đồng Incorterm 2010 bao gồm 11 điều kiện giaohàng áp dụng cho hai nhóm, bao gồm: các điều kiện áp dụng cho mọi phương thứcvận tải và các điều kiện áp dụng cho phương thức vận tải đường biển và đường thuỷnội địa

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Ở trong nước dường như chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung vào cácvấn đề pháp lý của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa nói riêng Tuy nhiên, đã có một sốcông trình nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói chung, có thể kểđến một số công trình tiêu biểu sau:

Năm 2016, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã phối hợp vớiTrường Đại học Ngoại thương (FTU) và Nhóm CISG Việt Nam biên soạn cuốn sách

“101 câu hỏi – đáp về Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)” nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về CISG cho các doanh

nghiệp, hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế Cuốn sách bình luận về các quy định của CISG và nội dung phântích được trình bày dưới dạng câu hỏi – câu trả lời Mỗi câu hỏi không chỉ đơn thuầntrích dẫn các điều khoản trong CISG mà còn làm rõ các điều khoản thông qua cácbình luận, các bài viết liên quan, các án lệ và so sánh với pháp luật Việt Nam Cóthể nói tính đến thời điểm hiện tại, đây là cuốn sách bao quát thông tin, đầy đủ vàphân tích chi tiết nhất về CISG tại Việt Nam

Các tác giả Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ và Dương Anh Sơn trong

cuốn giáo trình “Luật hợp đồng thương mại quốc tế” được xuất bản năm 2005 bởi

Trang 15

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã trình bày những vấn đề chungcủa hợp đồng thương mại quốc tế và các hợp đồng thương mại quốc tế thông dụngtrên cơ sở phân tích, so sánh các quy định pháp luật của các nước khác nhau tronglĩnh vực hợp đồng.

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Trinh với bài viết “Phạm vi áp dụng của Công ước CISG cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” trên tạp chí Toà án nhân dân điện

tử ngày 26/9/2018, đã phân tích tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế theo quy định của Công ước và phạm vi áp dụng của Công ước Bài viết cũng

so sánh việc áp dụng Công ước trong tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài và bình luậnnhững trường hợp Công ước không áp dụng Ngoài ra, bài viết còn bình luận về cáchthức các bên thực hiện để loại trừ việc áp dụng Công ước và phân tích mối quan hệ củacông ước với luật quốc gia cũng như khả năng kết hợp áp dụng của Công ước vớiIncoterms và Bộ nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế

Tác giả Nguyễn Thu Hương với bài viết “Một số vấn đề cần lưu ý khi thực thi Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) tại Việt Nam” trong

Tạp chí Nghề luật số 1/2019 đã phân tích sự tác động của CISG đối với Việt Nam

và trình bày một số nội dung khác biệt giữa CISG và pháp luật của Việt Nam cũngnhư đưa ra một số lưu ý về luật áp dụng

Tác giả Trịnh Đức Thuận trong luận văn thạc sỹ luật học về “Phạm vi áp dụng Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Ngoại thương, đã làm rõ phạm vi áp dụng

của CISG thông qua việc phân tích các quy định của CISG, thực tiễn áp dụng cácquy định này bởi tòa án quốc gia và trọng tài thương mại

Các tác giả Ngô Quốc Chiến và Đinh Cao Thanh, với hai bài viết “Giải thích hợp đồng theo CISG và khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 85 tháng 10/2016 và “Thực tiễn diễn giải hợp đồng theo Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Tạp

chí Tòa án nhân dân, số 21, 22 và 23 tháng 11 và 12/2016, đã phân tích các quy địnhcủa CISG về giải thích hợp đồng và thực tiễn áp dụng các quy định này bởi tòa án

và trọng tài, từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 16

2.3 Đánh giá về tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Như đã phân tích ở trên, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là công cụ quantrọng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động mua bánhàng hóa quốc tế nói riêng Do đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thếgiới cũng như ở Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt là cácvấn đề liên quan đến CISG Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu chuyênsâu nào về hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, mặc dù bản chất hợp đồng xuất nhậpkhẩu hàng hóa cũng chính là một dạng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về hợp đồng nhập khẩu than tạiViệt Nam Do đó, luận văn tốt nghiệp này sẽ góp phần bù đắp khoảng trống nghiêncứu nói trên bằng cách gắn việc nghiên cứu về các vấn đề pháp lý của hợp đồngnhập khẩu than với một doanh nghiệp tại Việt Nam, cụ thể là Tổng công ty Phátđiện 1 (EVNGENCO1), để phản ánh đúng thực trạng cũng như hướng đến nhữnggiải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp lý trong hợp đồng nhập khẩu than của doanhnghiệp này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề pháp lý trong hợp đồng nhậpkhẩu than, gắn với thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1

(EVNGENCO1).

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Tác giả thu thập và phân tích các hợp đồng nhập khẩu than của EVNGENCO1 từ năm 2016-2021 (năm 2016 là năm EVNGENCO1 bắt đầu nhập

khẩu than), đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện hợp đồng nhập khẩu than cho

EVNGENCO1 trong giai đoạn 2022-2025.

Về không gian: Luận văn nghiên cứu về các vấn đề pháp lý trong hợp đồng

nhập khẩu than trên cơ sở lý luận pháp lý của hệ thống pháp luật Việt Nam về hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và hợp đồng nhập khẩu than nói riêng.Đối với hệ thống pháp luật trên thế giới, tác giả chủ yếu lựa chọn CISG để so sánh

Trang 17

vì đây là điều ước quốc tế tiêu biểu trong lĩnh vực thương mại quốc tế mà Việt Namtham gia Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các điều khoản thương mại quốc tếIncoterms 2010 để phân tích, so sánh vì hợp đồng nhập khẩu than của

EVNGENCO1 có áp dụng Incoterms 2010.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ các vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩuhàng hóa nói chung và hợp đồng than nhập khẩu nói riêng và đưa ra các giải pháp

nhằm hoàn thiện hợp đồng nhập khẩu than của EVNGENCO1.

Để đạt được mục tiêu nói trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Hệ thống hoá, luận giải những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hànghoá

- Phân tích thực trạng những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu than của

EVNGENCO1 thông qua các hợp đồng thực tế đã ký kết và các tranh chấp phát sinh

trong quá trình thực hiện hợp đồng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hợp đồng nhập khẩu than của

EVNGENCO1.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, tác giả sử dụng cácphương pháp nghiên cứu phổ biến như phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá,

hệ thống hóa, đối chiếu, so sánh, mô tả, thống kê, khảo sát thực tế Cụ thể:

- Phương pháp hệ thống hóa và phương pháp phân tích được sử dụng đồngthời và xuyên suốt trong toàn bộ Luận văn nhằm làm rõ những vấn đề thuộc đốitượng nghiên cứu của đề tài Đặc biệt hai phương pháp này được áp dụng nhiềunhất tại Chương 1 để giúp làm rõ các quy định pháp luật về hợp đồng nhập khẩuhàng hóa để có cái nhìn một cách toàn diện, đầy đủ về pháp luật điều chỉnh loạihợp đồng này

- Phương pháp mô tả, đánh giá, so sánh, thống kê và khảo sát thực tế được sửdụng đặc biệt tại Chương 2 để phân tích và làm rõ những vấn đề pháp lý trong hợp

đồng nhập khẩu than của EVNGENCO1 trên cơ sở so sánh với các quy định của

pháp luật cũng như các thông lệ, tập quán quốc tế điều chỉnh hợp đồng này, đánh giá

Trang 18

những ưu điểm, những điểm hạn chế trong hợp đồng và thống kê những tranh chấp thực tế phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại Chương 3 nhằm đề xuất

giải pháp hoàn thiện hợp đồng nhập khẩu than của EVNGENCO1.

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 03 chương, bao gồm:

Chương 1 Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Chương 2 Thực trạng những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu than và thực tiễn thực hiện tại Tổng công ty Phát điện 1

Chương 3 Phương hướng và giải pháp

Trang 19

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG NHẬP

KHẨU HÀNG HOÁ

1.1 Tổng quan về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Hiện nay, không có một định nghĩa cụ thể nào về hợp đồng nhập khẩu hànghóa mà chỉ có thể hiểu khái niệm này thông qua cách diễn giải theo luật Để tìm hiểu

về khái niệm hợp đồng nhập khẩu hàng hóa, trước tiên phải hiểu nhập khẩu hàng hóa

là gì Theo Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại 2005: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” Mặt khác, Khoản 1 Điều 27 Luật Thương mại 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu” Như vậy, nhập khẩu là một trong

những hình thức của mua bán hàng hóa quốc tế Do đó, hợp đồng nhập khẩu hànghóa về bản chất chính là một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Việc tìm hiểu vềhợp đồng nhập khẩu hàng hóa thực chất cũng là tìm hiểu về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại hợp đồng mua bán hàng hóathông thường nhưng đặc biệt do chứa đựng yếu tố quốc tế Hiện nay chưa có mộtkhái niệm thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Pháp luật của mỗinước có những quy định không giống nhau về yếu tố quốc tế trong hợp đồng Vìvậy, cần thiết phải làm rõ yếu tố quốc tế được quy định như thế nào trong hệ thốngpháp luật của Việt Nam trên cơ sở so sánh với hệ thống pháp luật trên thế giới mà cụthể trong khuôn khổ của Luận văn này là CISG

Trước hết, cần làm rõ khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng làthoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự (theo Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015) Khái niệm này được hiểu khá thốngnhất bởi các hệ thống pháp luật khác nhau Pháp luật Việt Nam không đưa ra kháiniệm cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ có giải thích về hoạt động mua

Trang 20

bán hàng hóa Cụ thể theo khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005: “mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền

sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” Như vậy, kết

hợp hai khái niệm trên có thể định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa là thoả thuậngiữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóacho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhậnhàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận Cách hiểu này cũng khá tươngđồng với cách hiểu của các quốc gia khác trên thế giới

Tuy nhiên, yếu tố quốc tế của hợp đồng lại được quy định không thống nhấtgiữa hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới Theo Bộ luật dân sự 2015 củaViệt Nam (khoản 2 Điều 663), hợp đồng (quan hệ dân sự) được coi là có yếu tốnước ngoài khi thuộc một trong các trường hợp sau: các bên có quốc tịch khác nhau;hợp đồng được ký kết, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt ở nước ngoài; đối tượngcủa hợp đồng ở nước ngoài Tuy nhiên, mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định tạiĐiều 27 Luật thương mại 2005 lại được liệt kê dưới các hình thức xuất khẩu, nhậpkhẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu Như vậy, có thể hiểurằng tính “quốc tế” theo Luật thương mại được quy định hẹp hơn so với Bộ luật dân

sự 2015, thể hiện ở việc có sự dịch chuyển của hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam(biên giới hải quan) Quan điểm này khác so với quy định của CISG Cụ thể, CISGlại đưa ra tiêu chí để xác định tính quốc tế của hợp đồng là địa điểm kinh doanh củacác chủ thể, theo đó, các bên trong hợp đồng có địa điểm kinh doanh tại các quốcgia khác nhau thì hợp đồng đó được xem là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế(Điều 1.1.a)

Có thể thấy, cách quy định không thống nhất về tính quốc tế đối với hợp đồngmua bán hàng hóa có thể dẫn đến khó khăn trong việc xác định nguồn luật điềuchỉnh hợp đồng Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016 của Việt

Nam đã quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế

mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau

về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”.

Trang 21

Do Việt Nam đã trở thành thành viên của CISG từ năm 2015 nên các quy định của Công ước này phải được tuân thủ.

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Hợp đồng nhập khẩu hàng hóa mang đầy đủ đặc điểm của một hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế, nó mang đầy đủ bản chất và đặc trưng của một hợp đồngthông thường, tuy nhiên, có những điểm khác biệt so với hợp đồng mua bán hànghóa trong nước ở tính chất quốc tế Cụ thể như sau:

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng

Chủ thể của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa là người mua và người bán (thường

là bên xuất khẩu và bên nhập khẩu) có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khácnhau Nếu một bên có nhiều hơn một trụ sở thương mại thì trụ sở nào có mối quan

hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và đối với việc thực hiện hợp đồng sẽ được xem

là trụ sở của bên đó Nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trúthường xuyên của họ để xác định tính quốc tế của hợp đồng (theo Điều 10 CISG).Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP thì chủ thể được phépkinh doanh xuất nhập khẩu là các thương nhân Thương nhân theo Mục 1 Điều 6

Luật Thương mại 2005 “bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.

Như vậy, phạm vi chủ thể được phép kinh doanh nhập khẩu rất rộng, bao gồm hầuhết các thành phần kinh tế trong nước Có thể nói, tất cả các tổ chức, cá nhân cóđăng ký kinh doanh đều được thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa là hàng hóa Hàng hóa, theo quyđịnh tại Khoản 2 Điều 3 của Luật Thương mại 2005, bao gồm tất cả các loại độngsản (kể cả động sản hình thành trong tương lai) và những vật gắn liền với đất đai.Còn theo quy định tại Điều 2 của CISG thì hàng hóa không bao gồm tàu thuỷ, máybay, điện năng, các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán, các chứng từ lưu thông hoặctiền tệ…

Trang 22

Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể mặt hàng được phép kinh doanhxuất nhập khẩu, các thương nhân có thể nhập khẩu bất cứ loại hàng hóa nào, thậmchí cả những mặt hàng không thuộc ngành, nghề đăng ký kinh doanh, tuy nhiên,

“trừ hàng hóa thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu” theo quy định tại

Nghị định số 69/2018/NĐ-CP Nghĩa là phạm vi các mặt hàng được phép nhập khẩucũng rất rộng, chỉ loại trừ những mặt hàng bị cấm theo quy định của pháp luật Danhmục hàng hóa cấm nhập khẩu được quy định cụ thể tại mục II, Phụ lục 1, Nghị định

số 69/2018/NĐ-CP Theo đó, một số hàng hóa cấm nhập khẩu bao gồm vũ khí, đạndược, vật liệu nổ, pháo các loại, hàng tiêu dùng, thiết bị y tế, phương tiện đã qua sửdụng, một số loại hoá chất …

Đối với hợp đồng xuất nhập khẩu thì hàng hóa hầu hết sẽ có sự dịch chuyển từnước người bán sang nước người mua (qua biên giới quốc gia) hoặc được đưa vàokhu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng(theo Điều 28 Luật thương mại 2005), chẳng hạn như khu chế xuất

Thứ ba, về hình thức của hợp đồng

Tại Việt Nam, mặc dù một giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói,văn bản hoặc hành vi cụ thể (theo Khoản 1 Điều 119, Bộ luật Dân sự), nhưng riêngđối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì phải được thể hiện dưới hình thứcvăn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (theo Khoản 2 Điều 27Luật Thương mại)

Theo Điều 11 CISG, hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải đượcthể hiện bằng văn bản mà có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả lời khai củanhân chứng Tuy nhiên, Điều 12 của CISG lại cho phép các quốc gia thành viên cóthể bảo lưu quy định về hình thức hợp đồng và Việt Nam đã thực hiện quyền bảolưu này, do đó, khi nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế làpháp luật Việt Nam, thì hợp đồng vẫn phải được thể hiện dưới hình thức văn bảnhoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương theo Khoản 2 Điều 27 LuậtThương mại nói trên

Thứ tư, về đồng tiền thanh toán

Trang 23

Khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước có đồng tiền thanh toán chỉ

là đồng nội tệ, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng nhập khẩu hàng hoá thường làngoại tệ đối với ít nhất một bên

1.1.3 Nội dung cơ bản của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Cả CISG và Luật Thương mại 2005 đều không có quy định cụ thể về nội dungcủa hợp đồng hay các điều khoản bắt buộc phải có trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 có quy định về nội dung của hợp đồng tại Điều

398, theo đó, nội dung hợp đồng có thể bao gồm đối tượng hợp đồng, quyền vànghĩa vụ của các bên, số lượng, chất lượng hàng hóa, giá cả, phương thức thanhtoán, thời hạn giao hàng, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng, trách nhiệm do

vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, các nội dung này

là không bắt buộc và các bên có quyền thỏa thuận về các nội dung trong hợp đồng(Khoản 1 Điều 398 BLDS 2015) Điều này dựa trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự

do ý chí, tự do thoả thuận của các bên tham gia hợp đồng Tuy nhiên, việc tự dothoả thuận cũng chính là con dao hai lưỡi nếu như các bên không xem xét kỹ tất cảcác nội dung trong hợp đồng dẫn đến thiếu sót những điều khoản quan trọng hoặcsai sót trong một số nội dung

1.1.4 Vai trò của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

Như đã đề cập ở trên, hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồngnhập khẩu hàng hóa nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều chỉnhhoạt động kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu giữa các bên Cũng như các hợpđồng thông thường khác, nó ghi nhận những thoả thuận, cam kết của các bên trongquan hệ mua bán và xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên phải thực hiện để đạtđược mục đích của việc mua bán đó, trên cơ sở đó hình thành khung pháp lý cơ bản

để các bên tuân thủ, thực hiện, đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyếttranh chấp khi các bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo thoả thuận.Hợp đồng nhập khẩu giúp thúc đẩy hoạt động giao thương trên toàn cầu, làcông cụ pháp lý điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế, đóng góp vào sự pháttriển kinh tế toàn cầu trong thời đại hội nhập Trong hoạt động nhập khẩu nói riêng,

Trang 24

hợp đồng nhập khẩu hàng hóa giúp bảo vệ các quyền và lợi ích của doanh nghiệptrong nước khi tham gia vào các giao dịch xuất nhập khẩu với doanh nghiệp nướcngoài Nó tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại chosản xuất giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển hơn, bổ sung nguồncung cho những mặt hàng khan hiếm trong nước,…

1.2 Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hoá

Việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và hợp đồng nhậpkhẩu hàng hoá nói riêng đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu rộng vềchuyên môn cũng như luật pháp Thực tế cho thấy rằng các doanh nghiệp thườnggặp khó khăn và không ít doanh nghiệp tỏ ra lúng túng khi tham gia vào một quan

hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, một phần cũng vì hệ thống pháp luật củacác nước khác nhau nên việc tìm hiểu các quy định cụ thể trong các hệ thống phápluật này là không hề dễ dàng và tương đối mất thời gian, chưa kể việc phải tìm hiểu

cả những Điều ước quốc tế liên quan có thể điều chỉnh hợp đồng Sau đây là một sốvấn đề pháp lý thường gặp liên quan đến hợp đồng nhập khẩu hàng hoá:

1.2.1 Đối tượng của hợp đồng nhập khẩu hàng hoá

Pháp luật của từng nước có những quy định khác nhau về hàng hóa được phépgiao dịch, mua bán Có những hàng hóa mà pháp luật của bên này cho phép muabán nhưng pháp luật của bên kia lại không cho phép Do vậy, khi tham gia vào mộthợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần đảm bảo rằng hàng hóa đó được pháp luậtcủa cả hai bên cho phép trao đổi, mua bán Đối với hợp đồng xuất nhập khẩu, phápluật Việt Nam đã quy định danh mục hàng hóa bị cấm xuất nhập khẩu tại Nghị định

số 69/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Chính phủ về việc quy định chitiết một số điều của Luật quản lý ngoại thương Theo đó, một số hàng hóa bị cấmxuất nhập khẩu bao gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, một số loại hoá chất,…

1.2.2 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa

CISG không có quy định về điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế (hay hợp đồng nhập khẩu hàng hóa) nói chung Theo pháp luật ViệtNam, điều kiện hiệu lực của hợp đồng được xác định theo Bộ luật Dân sự 2015

Trang 25

(Điều 117), theo đó để một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (hay hợp đồng nhập khẩu hàng hóa) có hiệu lực thì nó phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

Điều kiện về chủ thể

Các chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lựchành vi dân sự phù hợp với giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế (Điểm a Điều 117BLDS 2015)

Theo Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân làkhả năng cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của cánhân có từ khi cá nhân được sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó mất Để bảo đảmmọi cá nhân có quyền tự do giao kết hợp đồng, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định:

“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch; Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân

sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác”

(Điều 673 BLDS 2015) Đối với pháp nhân, theo Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015,năng lực pháp luật dân sự là khả năng pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự.Năng lực pháp luật dân sự được hình thành kể từ khi pháp nhân đó được thành lập(thường là thời điểm đăng ký kinh doanh) và chấm dứt khi pháp nhân đó chấm dứthoạt động

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi củamình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (theo Điều 19, BLDS 2015) Thôngthường, một cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đủ mười tám tuổi trởlên, trừ trường hợp có vấn đề về nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 20, Bộ luật Dân

sự 2015) Bộ luật Dân sự 2015 không quy định về năng lực hành vi dân sự của phápnhân, tuy nhiên, có thể hiểu rằng năng lực hành vi dân sự của pháp nhân được thểhiện thông qua hành vi của người đại diện và nó sẽ phát sinh, chấm dứt cùng vớithời điểm phát sinh, chấm dứt năng lực pháp luật của pháp nhân Vì vậy, khi giaokết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần đặc biệt lưu ý xem người ký kết hợpđồng có phải là người đại diện hợp pháp của pháp nhân hay không Theo Điều 85

Bộ luật Dân sự thì đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại

Trang 26

diện theo ủy quyền Đại diện theo pháp luật là người chịu trách nhiệm về mọi hoạtđộng của doanh nghiệp trước pháp luật, là người đại diện cho pháp nhân để ký kếthợp đồng Đại diện theo uỷ quyền là người được người có thẩm quyền uỷ quyền đểthực hiện giao dịch ký kết hợp đồng Tuy nhiên, người được uỷ quyền chỉ được thựchiện các công việc trong phạm vi được uỷ quyền và người uỷ quyền vẫn phải chịutrách nhiệm cho công việc mà người được uỷ quyền thực hiện.

Pháp luật của mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về tư cách chủ thể.Điều này dựa trên nguyên tắc chủ quyền quốc gia, chủ thể tham gia hợp đồng trướchết phải tuân thủ pháp luật của nước mình về tư cách chủ thể Vì vậy, muốn xácđịnh một chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đểtham gia vào giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế hay không thì cần phải tìm hiểuxem pháp luật của quốc gia mà chủ thể đó mang quốc tịch quy định như thế nào vềvấn đề này nhằm đảm bảo hợp đồng không bị vô hiệu Đối với hợp đồng nhập khẩuhàng hoá, nhiều người cho rằng tư cách chủ thể của Bên Bán được xác định theopháp luật của nước xuất khẩu hàng hoá Tuy nhiên, đây là cách xác định khôngchính xác, chẳng hạn nước xuất khẩu hàng hoá là Indonesia nhưng Bên Bán lại cótrụ sở tại Singapore thì khi đó pháp luật của Singapore mới là căn cứ để xác định tưcách chủ thể của Bên Bán, không phải pháp luật của Indonesia

Tuy nhiên, việc tìm hiểu hệ thống pháp luật của nước ngoài là không hề dễdàng nên có không ít các doanh nghiệp Việt Nam đã bỏ qua vấn đề này, dẫn đến rủi

ro hợp đồng bị vô hiệu

Điều kiện về sự tự nguyện khi giao kết hợp đồng

Điều kiện tiếp theo để hợp đồng nhập khẩu hàng hóa có hiệu lực là các bênphải tham gia hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện (Điểm b Điều 117 BLDS2015) Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam(theo Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015) Hợp đồng sẽ vô hiệu nếu được ký kết trên cơ sở

bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép hoặc bị nhầm lẫn (theo quy định tại các Điều 126, 127BLDS 2015) vì trong những trường hợp này các bên không đạt được mục đích vàmong muốn giao kết hợp đồng ban đầu

Trang 27

Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng

Điểm c Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

Do đó, các nội dung trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào thoả thuận củahai bên, miễn là nó không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.Nếu vi phạm thì hợp đồng đó sẽ bị vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015.Trường hợp một phần nội dung của hợp đồng bị vô hiệu thì hợp đồng đó sẽ bị vôhiệu từng phần (Điều 130 BLDS 2015)

1.2.3 Thẩm quyền ký kết hợp đồng

Không giống như cá nhân có thể tự mình tham gia giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế, pháp nhân lại không thể tự mình thực hiện việc này mà phải thôngqua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó Do vậy, một vấn đề quan trọngcần phải xác định là liệu người ký hợp đồng có thẩm quyền để ký kết hợp đồng đóhay không Theo pháp luật Việt Nam, người có thẩm quyền ký kết hợp đồng làngười đại diện theo pháp luật (người có tên trên giấy đăng ký kinh doanh ở ViệtNam) hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền để ký kết hợp đồngthông qua giấy ủy quyền, hoặc cũng có thể người có thẩm quyền được quy địnhtrong Điều lệ của pháp nhân Tuy nhiên, pháp luật của mỗi quốc gia có thể quy địnhkhác nhau về uỷ quyền Do vậy, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếnói chung và hợp đồng nhập khẩu hàng hoá nói riêng, các doanh nghiệp Việt Namcần phải tìm hiểu kỹ luật pháp của nước đối tác quy định như thế nào về thẩm quyền

và ủy quyền, hoặc yêu cầu đối tác cung cấp tài liệu để chứng minh mình có thẩm

Trang 28

quyền ký kết hợp đồng Một số doanh nghiệp nước ngoài còn quy định chữ ký củamột người phải đi kèm với chữ ký của một hoặc một số người khác nữa thì mới đủhiệu lực, vì vậy cần đặc biệt lưu ý trường hợp này để yêu cầu đối tác cung cấp đầy

đủ các tài liệu pháp lý liên quan như điều lệ, giấy uỷ quyền, quy định phân cấp,…của công ty để xác định đúng thẩm quyền của người ký kết hợp đồng

1.2.4 Điều kiện giao hàng

Giao hàng là nghĩa vụ cơ bản của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóanói chung và hợp đồng nhập khẩu hàng hoá nói riêng Theo quy định của LuậtThương mại Việt Nam 2005 tại Điều 34, 35, bên bán có nghĩa vụ phải giao hàng,giao chứng từ theo thỏa thuận hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đónggói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Bên bán phải đảm bảo: i) Giaohàng đúng địa điểm đã thoả thuận, ii) Giao hàng đúng thời hạn, iii) Hàng hóa đượcgiao phù hợp với hợp đồng, iv) Giao đủ chứng từ liên quan đến hàng hóa Trườnghợp các bên không có thoả thuận cụ thể thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng

từ liên quan theo quy định của pháp luật

i) Giao hàng đúng địa điểm:

Khi giao hàng, bên bán phải đảm bảo giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuậntrong hợp đồng Một câu hỏi đặt ra là trong trường hợp hợp đồng nhập khẩu hànghoá không quy định địa điểm giao hàng thì việc giao hàng sẽ diễn ra ở đâu? Thôngthường, các hợp đồng nhập khẩu hàng hoá tại Việt Nam thường áp dụng các điềukiện giao hàng theo Incoterms, chủ yếu là điều kiện CIF và FOB Khi đó, nếu không

có địa điểm giao hàng cụ thể trong hợp đồng thì theo quy định của CISG (Điều 31)

và Luật Thương mại 2005 (Điều 35), người bán sẽ được xem là hoàn thành nghĩa vụgiao hàng nếu đã hoàn thành giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên

Vì vậy, khi soạn thảo hợp đồng nhập khẩu hàng hoá, cần đặc biệt lưu ý phảiquy định rõ địa điểm giao hàng đi kèm với các điều kiện giao hàng (ví dụ CIF [CảngHải Phòng]) để tránh những thiệt hại phát sinh không đáng có để lấy được hàng về.ii) Giao hàng đúng thời hạn:

Trang 29

Thời hạn giao hàng được quy định cụ thể tại Điều 37 Luật Thương mại 2005,tương tự với quy định tại Điều 33 CISG Theo đó, bên bán phải giao hàng vào đúngthời điểm đã được thoả thuận trong hợp đồng, nếu hợp đồng không quy định thờiđiểm giao hàng cụ thể mà chỉ quy định thời hạn giao hàng thì bên bán có thể giaohàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó Nếu không có quy định về thời hạngiao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi ký kết hợpđồng Tuy nhiên, thế nào được coi là một thời hạn hợp lý là một vấn đề đang cònnhiều tranh cãi “Hợp lý” ở đây có thể hiểu là khoảng thời gian cần thiết để bố tríviệc vận chuyển hoặc thời gian để người bán chuẩn bị nguyên vật liệu hoặc sản xuất

ra hàng hóa Do đó, sẽ hết sức rủi ro cho bên nhập khẩu hàng hóa nếu như hợpđồng không quy định cụ thể về thời gian giao hàng, vì khi đó việc giao hàng sẽ gầnnhư phụ thuộc hoàn toàn vào bên xuất khẩu

iii) Hàng hóa được giao phù hợp với hợp đồng:

Bên bán có nghĩa vụ phải giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng, nếu hàng hóađược giao không phù hợp với hợp đồng thì bên bán bị vi phạm nghĩa vụ Vậy thếnào là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và trách nhiệm của bên bán đối vớihàng hóa không phù hợp như thế nào?

Trước tiên cần làm rõ thế nào là hàng hóa phù hợp với hợp đồng Không cóquy định cụ thể về việc thế nào là hàng hóa phù hợp với hợp đồng, tuy nhiên, căn cứKhoản 1 Điều 35 CISG và Khoản 1 Điều 34 Luật Thương mại 2005 thì có thể hiểurằng hàng hóa phù hợp với hợp đồng là hàng hóa được giao đúng số lượng, chấtlượng, mô tả và đúng bao bì hay đóng gói như quy định trong hợp đồng Ngược lại,các trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng lại được quy định rõ trongCISG (Điều 35.2) và Luật Thương mại 2005 (khoản 1, Điều 39)

Khi bên bán giao hàng hoá không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có quyền

từ chối nhận hàng theo khoản 2 Điều 39 Luật Thương mại 2005 Tuy nhiên, trênthực tế việc từ chối nhận hàng không xảy ra thường xuyên mà thay vào đó bên mua

sẽ yêu cầu giảm giá hàng hóa vì bên mua thường ở trong tình thế cần than nên đôikhi họ vẫn chấp nhận than kém chất lượng nhưng được giảm giá

iv) Giao đủ chứng từ liên quan đến hàng hóa:

Trang 30

Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42Luật Thương mại 2005 và Điều 34 CISG, theo đó, bên bán có nghĩa vụ phải giaocác chứng từ liên quan đến hàng hóa theo đúng thời hạn, địa điểm và phương thức

đã thoả thuận trong hợp đồng Các loại chứng từ cụ thể phải giao liên quan đến hànghóa sẽ được các bên quy định cụ thể trong hợp đồng tại các điều khoản như thanhtoán, giao hàng,… Các hợp đồng nhập khẩu hàng hoá tại Việt Nam thường áp dụngcác điều kiện giao hàng theo Incoterms nên việc xác định các loại chứng từ cơ bản

mà người bán phải giao cho người mua là tương đối đơn giản Một số chứng từ phổbiến có thể kể đến như vận đơn, hoá đơn thương mại, chứng từ bảo hiểm, giấychứng nhận chất lượng, nguồn gốc xuất xứ,…

1.2.5 Điều khoản chất lượng

Điều khoản chất lượng cũng là một điều khoản phức tạp, dễ dẫn đến phát sinhtranh chấp trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và hợp đồng nhậpkhẩu hàng hoá nói riêng Nếu hợp đồng không quy định rõ ràng các tiêu chuẩn chấtlượng và phương pháp đánh giá chất lượng của hàng hóa thì việc xác định chấtlượng của hàng hóa có phù hợp với hợp đồng hay không là không hề đơn giản Vìvậy, trong hợp đồng nhập khẩu hàng hoá cần đặc biệt lưu ý quy định một cách cụthể, chi tiết nhất có thể về chất lượng hàng hoá nhập khẩu Có nhiều cách để xácđịnh phẩm chất của hàng hóa như đưa ra các tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật (ví dụmua sắm máy móc thiết bị), hoặc quy định hàm lượng chất chủ yếu trong hàng hóa(chẳng hạn như mua các sản phẩm nông sản, các loại quặng), hoặc cũng có thể dựavào hàng mẫu (ví dụ: mua sắm đồng phục cơ quan theo mẫu),…Trong nhiều trườnghợp, để đảm bảo chất lượng hàng hoá, các bên thường yêu cầu cấp giấy chứng nhậnchất lượng do các đơn vị giám định độc lập/ các tổ chức giám định chất lượng uy tínban hành

Một câu hỏi đặt ra là khi hàng hoá được giao không đáp ứng yêu cầu về chấtlượng như quy định trong hợp đồng thì sẽ xử lý như thế nào? Trường hợp bên bángiao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có quyền từ chối nhận hàng.Ngoài ra, bên mua vẫn có thể nhận hàng nhưng sẽ yêu cầu giảm giá hàng hóa theoquy định tại Điều 50 CISG Tuy nhiên, người mua phải tuân thủ quy định của Điều

Trang 31

39 hoặc Điều 43 CISG liên quan đến việc thông báo về sự không phù hợp của hànghóa Mặc dù biện pháp giảm giá không được quy định tại Luật Thương mại Việt Nam

2005 nhưng biện pháp này lại được Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2015 công nhận tạiĐiều 445 (Khoản 1) Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2015 không có quy định cụ thể vềquyền và các điều kiện đi kèm với quyền áp dụng biện pháp giảm giá của bên mua.1.2.6 Điều khoản thanh toán

i) Giá cả, đồng tiền thanh toán

Điều khoản về giá là điều khoản đặc biệt quan trọng trong hợp đồng Thôngthường, đối với hợp đồng nhập khẩu hàng hoá, giá hợp đồng được xác định dựa trênđiều kiện giao hàng Ví dụ, hợp đồng nhập khẩu theo điều kiện CIF thì giá hợp đồng

sẽ bao gồm toàn bộ chi phí tiền hàng, cước vận chuyển và phí bảo hiểm để đưa hàngđến cảng đến quy định trong hợp đồng Điều khoản về giá cần quy định chi tiết cấuthành giá như đơn giá hàng hóa, đơn giá vận chuyển, bảo hiểm,… và phải nêu rõ khốilượng để xác định tổng giá Trường hợp các bên không có thoả thuận về giá thì giá củahàng hóa sẽ được xác định theo Điều 52 Luật thương mại 2005 và Điều 55 CISG.Đặc biệt, trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần lưu ý đồng tiền thanhtoán và tỷ giá vì đây là những yếu tố có tác động rất lớn đến lợi nhuận kinh doanh.Điển hình cho các vấn đề rủi ro về tỷ giá là trường hợp của Tập đoàn Công nghiệp –Viễn thông quân đội Viettel Năm 2016, dự án đầu tư tại Mozambique và Haiti củaTập đoàn có lợi nhuận nhưng do biến động tỷ giá nên Tập đoàn này phải trích lập

dự phòng chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện, gây ra lỗ kế toán Như vậy, việc xácđịnh giá bằng đồng tiền “mạnh” hay đồng tiền “yếu” có ý nghĩa hết sức quan trọng.Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa thì việc quy định đồng tiền có xuhướng mất giá sẽ có lợi hơn

Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc quy định đồng tiền tính giá, đồng tiền thanh toáncần phải tuân thủ quy định của Pháp lệnh Ngoại hối 2013 và Thông tư 32/2013/TT-NHNH Các trường hợp được phép sử dụng ngoại hối theo quy định của Ngân hàngNhà nước được quy định cụ thể tại Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNH Do đó, cácdoanh nghiệp cần tham chiếu đến Thông tư này để xác định mình có thuộc trườnghợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam hay không

Trang 32

ii) Thời hạn thanh toán:

Thời hạn thanh toán được quy định tại Điều 55 Luật thương mại 2005 Theo

đó, người mua phải thanh toán cho người bán ngay khi người bán giao hàng hoặcgiao chứng từ, người mua được kiểm tra hàng hóa trước khi thanh toán theo quyđịnh tại Điều 44 Luật Thương mại 2005 Quy định này cũng tương tự như quy địnhcủa CISG (Điều 58)

Tuy nhiên, trong giao dịch thương mại quốc tế, các bên thường thoả thuận thờihạn thanh toán tiền hàng theo một trong các cách: trả trước, trả ngay, trả sau hoặckết hợp các cách trên Việc áp dụng thời hạn thanh toán theo cách nào phụ thuộcvào vị thế của các bên trong hợp đồng, chẳng hạn, khi hàng hóa có giá trị lớn hoặc

có tính chất đặc biệt quan trọng đối với người mua thì người bán thường yêu cầungười mua trả trước tiền hàng Để tránh bị chiếm dụng vốn trong thời gian mà bênbán chưa giao hàng thì bên mua nên đàm phán tỷ lệ trả trước càng thấp càng tốt.iii) Phương thức thanh toán:

Có một số phương thức thanh toán trong các hợp đồng ngoại thương như thanhtoán bằng điện chuyển tiền (T/T), thanh toán nhờ thu, thanh toán bằng thư tín dụng(L/C)… Trong đó, phương thức thanh toán phổ biến nhất trong các hợp đồng nhậpkhẩu hàng hoá là thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)

iv) Áp dụng chỉ số giá thanh toán:

Một số hợp đồng nhập khẩu hàng hoá có áp dụng chỉ số giá thanh toán quốc tế,đặc biệt là các hợp đồng nhập khẩu nhiên liệu Việc áp dụng chỉ số giá thanh toántại thời điểm nào có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả tàichính của giao dịch mua bán Thông thường, trong các hợp đồng nhập khẩu nhiênliệu, giá hợp đồng không phải giá cố định mà là giá biến đổi, cụ thể, các bên thường

áp dụng chỉ số giá nhiên liệu trong công thức tính toán giá thanh toán để phản ánhgiá thị trường Các chỉ số này liên tục biến động theo thị trường nên các doanhnghiệp nhập khẩu cần phải hết sức cẩn trọng và nhạy bén khi quyết định thời điểm

áp dụng chỉ số giá tại thời điểm để đảm bảo mua hàng với chi phí thấp nhất

Trang 33

1.2.7 Nghĩa vụ nhận hàng

Nghĩa vụ nhận hàng là nghĩa vụ của người mua, được quy định cụ thể tại Điều

56 Luật Thương mại 2005 và Điều 53, Điều 60 CISG Tuy nhiên, không phải trongmọi trường hợp người mua đều có nghĩa vụ phải nhận hàng Như đã phân tích ởtrên, một số trường hợp người mua không phải nhận hàng như người bán giao hàngtrước thời hạn quy định tại Điều 52.1 CISG và Điều 38 Luật Thương mại 2005.Ngoài ra, trường hợp người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng, người muacũng có quyền từ chối nhận hàng theo khoản 2 Điều 39 Luật Thương mại 2005.Người mua cũng có quyền từ chối nhận số hàng giao thừa khi người bán giao nhiềuhơn số lượng quy định trong hợp đồng theo Điều 52.2 CISG

Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là người mua không đơn giản chỉ có nghĩa vụ

nhận hàng mà còn phải “thực hiện những hành vi hợp lý” để người bán có thể giao

hàng theo quy định tại Điều 56 Luật Thương mại 2005 và Điều 60 CISG Điều nàydựa trên nguyên tắc thiện chí trong mọi giao dịch dân sự và thương mại nói chung.Nghĩa là người mua phải hỗ trợ hết sức trong phạm vi khả năng có thể để người bángiao hàng thuận lợi Nguyên tắc thiện chí tưởng chừng đơn giản nhưng trên thực tế

đã có nhiều doanh nghiệp gặp phải tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thiện chí và bịthua kiện do vi phạm nguyên tắc này, vì khái niệm thế nào được coi là thiện chí làkhá khó xác định và được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ thuộc vào từngtrường hợp cụ thể Do đó, với vai trò là nhà nhập khẩu, các doanh nghiệp nhập khẩucần đặc biệt lưu ý nguyên tắc này trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩuhàng hoá để tránh vi phạm

1.2.8 Kiểm tra hàng hóa

Việc kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng là yêu cầu cần thiết đối với giaodịch mua bán hàng hóa nhập khẩu, giúp ngăn ngừa những khiếm khuyết của hànghóa Theo Khoản 1 Điều 44 Luật Thương mại thì trường hợp các bên thoả thuận đểbên mua tiến hành kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng thì bên bán phải bảo đảmcho bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra Tuy nhiên, CISG lại quy địnhviệc kiểm tra hàng hóa là nghĩa vụ của bên mua (Điều 38.1) và việc kiểm tra nàyphải được thực hiện trong thời gian ngắn nhất có thể Nguyên tắc này cũng giống

Trang 34

với quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Thương mại 2005 Tuy nhiên, cả hai nguồnluật đều không đưa ra tiêu chí để xác định thế nào là thời hạn ngắn nhất, do đó, sẽdẫn đến nhiều tranh chấp khi các bên có quan điểm khác nhau Trong nhiều trườnghợp, các bên thường thuê các tổ chức giám định chuyên nghiệp, độc lập để tiến hànhkiểm tra hàng hoá nhằm đảm bảo có thể phát hiện những khiếm khuyết mà khôngthể nhận thấy bằng mắt thường Thời gian để các đơn vị giám định hoàn thành việckiểm tra và phát hành chứng thư giám định chất lượng và khối lượng thường là 2-3ngày Tuy nhiên, đôi khi thời gian phát hành chứng thư của các đơn vị giám định cóthể kéo dài cả tuần vì một số lý do, dẫn đến tranh chấp như đã nêu ở trên và làm ảnhhưởng đến hàng loạt các bước tiếp theo trong quá trình nhập khẩu hàng hoá.

Sau khi kiểm tra hàng hóa, nếu phát hiện thấy sự bất thường, bên mua phảithông báo ngay cho bên bán trong một thời hạn hợp lý theo Khoản 4 Điều 44 LuậtThương mại 2005 và Điều 39 CISG Việc không thông báo cho bên bán về sự khôngphù hợp của hàng hóa ngay sau khi kiểm tra sẽ dẫn đến khả năng bên mua bị mấtquyền khiếu nại về khiếm khuyết của hàng hóa đó Mặc dù cả hai nguồn luật đềukhông quy định về hình thức, nội dung của thông báo hàng hóa không phù hợpnhưng để đảm bảo bằng chứng và tính chắc chắn thì các bên nên lập thông báo bằngvăn bản (giống như hình thức hợp đồng) và nêu chi tiết nội dung khiếm khuyết củahàng hóa để tránh phát sinh tranh chấp

1.2.9 Chuyển giao rủi ro

Thông thường, trong hợp đồng nhập khẩu hàng hoá, các bên thường áp dụngcác điều kiện giao hàng theo Incoterms, theo đó, các quy định về chuyển giao rủi ro

đã được quy định rõ cho từng điều kiện giao hàng Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra làliệu các quy định về chuyển rủi ro trong Incoterms có xung đột với các quy định vềchuyển rủi ro của CISG hay không Khi đó, theo Điều 9.1 và 9.2 CISG thì các bên

sẽ bị điều chỉnh bởi các tập quán mà họ đã thỏa thuận và các tập quán thương mạiquốc tế phổ biến, nghĩa là các quy định về chuyển rủi ro trong Incoterms sẽ được ưutiên áp dụng

Một vấn đề nữa đặt ra là khi rủi ro đã được chuyển từ người bán sang chongười mua, nếu hàng hóa bị hư hỏng hoặc mất mát thì người mua có phải thực hiện

Trang 35

nghĩa vụ thanh toán tiền hàng không? Điều này đã được quy định rõ tại Điều 66CISG rằng việc hàng hóa đã bị mất mát hay tổn thất sau khi rủi ro được chuyển sangcho người mua không miễn trừ cho người mua nghĩa vụ phải trả tiền, tuy nhiên,trong trường hợp sự hư hỏng hay mất mát đó là do hành động hay thiếu sót củangười bán gây nên thì người mua sẽ được miễn trừ nghĩa vụ thanh toán tiền hàng.1.2.10 Luật áp dụng

Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế, các bên khi tham gia hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế có quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng củamình Trong trường hợp các bên không chọn luật áp dụng cho hợp đồng thì các quytắc của tư pháp quốc tế sẽ được áp dụng để xác định luật điều chỉnh hợp đồng

Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá có thể được điều chỉnh bằng rất nhiều nguồnluật, bao gồm điều ước quốc tế, luật quốc gia, tập quán thương mại quốc tế và án lệ.Việc áp dụng nguồn luật nào trước hết sẽ phụ thuộc vào thoả thuận của các bêntrong hợp đồng Tuy nhiên, việc lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng nhập khẩuhàng hoá cần phải lưu ý một số điểm quan trọng như phân tích dưới đây để tránh rủi

ro trong quá trình thực hiện hợp đồng:

Điều ước quốc tế

Hợp đồng nhập khẩu hàng hoá trước tiên sẽ bị điều chỉnh bởi các Điều ướcquốc tế mà các bên tham gia hợp đồng có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia là thànhviên của Điều ước quốc tế đó

Các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hoạt động nhập khẩu hàng hoáphần lớn sẽ bị điều chỉnh bởi CISG do Việt Nam đã trở thành thành viên của Côngước này kể từ năm 2015 và Công ước này chính thức ràng buộc Việt Nam từ1/1/2017 Các trường hợp áp dụng CISG trong hợp đồng nhập khẩu hàng hoá giữabên nhập khẩu có địa điểm kinh doanh tại Việt Nam và bên xuất khẩu có trụ sở tạinước ngoài có thể kể đến như sau:

Trường hợp 1, nếu bên xuất khẩu có địa điểm kinh doanh tại quốc gia cũng là

thành viên của CISG thì hợp đồng nhập khẩu hàng hoá giữa hai bên sẽ mặc nhiênđược điều chỉnh bởi CISG (trừ khi các bên tham gia hợp đồng thoả thuận loại trừ

Trang 36

việc áp dụng CISG) Đây là trường hợp phổ biến nhất vì hiện nay đã có hơn 95 quốcgia và vùng lãnh thổ tham gia vào Công ước này.

Trường hợp 2, CISG cũng có thể được áp dụng trong trường hợp bên xuất

khẩu có trụ sở tại một quốc gia chưa phải là thành viên (chẳng hạn như Indonesia)nhưng hai bên có thoả thuận áp dụng Luật Việt Nam làm luật điều chỉnh hợp đồngthì khi đó CISG cũng sẽ được áp dụng do Việt Nam là thành viên của CISG5

Trường hợp 3, các bên tham gia hợp đồng nhập khẩu hàng hoá không lựa chọn

luật điều chỉnh hợp đồng và khi xảy ra tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp đãquyết định áp dụng CISG như là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng; hoặc các bên đãlựa chọn áp dụng luật của một quốc gia nhưng luật này không quy định về một vấn

đề cụ thể nào đó trong hợp đồng nên cơ quan giải quyết tranh chấp đã lựa chọnCISG làm nguồn luật bổ sung cho luật quốc gia mà các bên đã lựa chọn

Một điểm cần đặc biệt lưu ý là nếu các bên muốn loại trừ việc áp dụng CISGtrong hợp đồng nhập khẩu hàng hoá thì các bên phải quy định rõ trong hợp đồngrằng CISG sẽ không được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng

Luật quốc gia

Luật quốc gia là nguồn luật phổ biến được áp dụng trong hợp đồng nhập khẩuhàng hoá tại Việt Nam Các bên khi tham gia vào hợp đồng nhập khẩu hàng hoá cóthể lựa chọn luật quốc gia của một trong hai bên để điều chỉnh hợp đồng, thậm chí

có thể chọn luật của một nước thứ ba để đảm bảo tính trung lập Đối với vai trò lànhà nhập khẩu thì các doanh nghiệp nhập khẩu nên lựa chọn luật của nước mình làmnguồn luật áp dụng trong hợp đồng vì đây là nguồn luật mà họ nắm rõ nhất nên sẽtăng khả năng bảo vệ quyền lợi cho họ Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các bêncần lưu ý nếu muốn hợp đồng chỉ được điều chỉnh bởi Luật quốc gia mà hai bên đãlựa chọn thì các bên phải quy định rõ trong hợp đồng rằng CISG sẽ không được ápdụng để điều chỉnh hợp đồng

5 Trường Đại học Ngoại Thương – Trung tâm Trọng tại quốc tế Việt Nam, 101 Câu hỏi đáp về Công ước của

Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trang 36, 37.

Trang 37

Tập quán thương mại quốc tế

Tập quán thương mại quốc tế cũng có thể trở thành nguồn luật điều chỉnh hợpđồng nhập khẩu hàng hoá khi được các bên lựa chọn áp dụng

Tập quán thương mại quốc tế phổ biến nhất trong các hợp đồng nhập khẩuhàng hoá hiện nay là Các điều khoản thương mại quốc tế - Incoterms do PhòngThương mại quốc tế - ICC ban hành, bao gồm những thông lệ quốc tế về việc phânchia nghĩa vụ, rủi ro và chi phí giữa người mua và người bán trong giao dịch thươngmại quốc tế Tuy nhiên, Incorterms không đề cập đến giá cả, phương thức thanhtoán, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cũng như hậu quả của việc vi phạm hợpđồng Khi muốn áp dụng Incorterms trong hợp đồng, các bên cần phải quy định rõIncoterms năm nào Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng ngay cả khi hợp đồng có sự dẫnchiếu đến Incoterms thì các bên vẫn có thể thoả thuận với nhau để thay đổi một sốnội dung cụ thể, không nhất thiết phải tuân thủ hoàn toàn các điều khoản trongIncoterms

Án lệ

Ngoài các nguồn luật nói trên, nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước theo hệthống luật Anh – Mỹ còn sử dụng Tiền lệ pháp (Án lệ) làm nguồn luật điều chỉnhhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Án lệ là các quy tắc pháp luật được hình thành

từ thực tiễn xét xử của Toà Án Để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bêntrong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trong một số trường hợp, các cơ quangiải quyết tranh chấp sẽ sử dụng một hoặc một số phán quyết của Toà án đã đượccông bố làm khuôn mẫu cho việc xét xử

1.2.11 Giải quyết tranh chấp

Thực tế khi soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và hợpđồng nhập khẩu hàng hoá nói riêng, các bên thường chú trọng đến các điều khoảnquan trọng liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên như điều kiện giaohàng, chất lượng hàng hóa, giá cả, thanh toán,… mà không quan tâm nhiều đến điềukhoản về giải quyết tranh chấp, một phần là do suy nghĩ chủ quan rằng tranh chấp sẽ

ít khi xảy ra Tuy nhiên, chính tâm lý này sẽ gây ra những rủi ro nghiêm trọng cho

Trang 38

các bên vì hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động tương đối phức tạp nênviệc xảy ra tranh chấp là không thể tránh khỏi.

Khi phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên có thể lựachọn giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, trọng tài hoặc toà án.Một phương thức phổ biến hiện nay mà các bên tham gia vào hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế thường lựa chọn đó là sự kết hợp một số phương thức giải quyếttheo trình tự sau: đầu tiên là các bên sẽ tự thương lượng trên tinh thần thiện chí, nếuthương lượng không thành thì các bên sẽ giải quyết tranh chấp bằng con đường hoàgiải, nếu tranh chấp vẫn không thể giải quyết bằng con đường hoà giải thì các bên sẽđưa tranh chấp ra cơ quan trọng tài hoặc toà án để xét xử

Một điểm cần đặc biệt lưu ý khi soạn thảo điều khoản giải quyết tranh chấp làphải ghi đúng tên cơ quan giải quyết tranh chấp và địa điểm giải quyết tranh chấp,chọn đúng quy tắc tố tụng hoặc luật tố tụng áp dụng để tránh rủi ro không xác địnhđược cơ quan giải quyết tranh chấp, đồng thời, phải quy định rõ ngôn ngữ sử dụngtrong giải quyết tranh chấp Thực tế cho thấy rằng các doanh nghiệp nên lựa chọn cơquan giải quyết tranh chấp tại quốc gia mà doanh nghiệp đó đăng ký kinh doanh để

có nhiều ưu thế hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp

1.2.12 Vi phạm hợp đồng

Vi phạm hợp đồng, theo định nghĩa tại Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại

2005 “là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”.

Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, cần xác định xem đó là vi phạm cơ bản hay

vi phạm không cơ bản vì đây là cơ sở để xác định trách nhiệm của bên vi phạm

Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 thì “vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” Trường hợp sự vi phạm hợp đồng là vi

phạm cơ bản thì bên bị vi phạm có quyền tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồnghoặc huỷ bỏ hợp đồng theo các Điều 308, 310 và 312 Luật Thương mại 2005

Trang 39

Vi phạm cơ bản hợp đồng theo định nghĩa tại Điều 25 CISG là “sự vi phạm làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ khi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự” Nếu một bên vi phạm cơ bản nghĩa

vụ hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền huỷ bỏ hợp đồng

vi phạm Một điểm đáng lưu ý là việc phạt vi phạm phải được quy định trong hợpđồng, trường hợp các bên không có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ cóquyền đòi bồi thường thiệt hại CISG không có quy định về phạt vi phạm nhưng côngnhận các thoả thuận về phạt vi phạm dựa trên nguyên tắc tự do thoả thuận giữa cácbên

(iii)Chế tài bồi thường thiệt hại: Khi một bên vi phạm hợp đồng gây tổn thấtcho bên bị vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Bồithường thiệt hại được quy định trong cả CISG (Điều 74-77) và pháp luật Việt Nam(Luật Dân sự (Điều 584, 585) và Luật Thương mại (Điều 302, 303, 304)) Để yêucầu bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hạixuất phát từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm Giá trị bồi thường thiệt hại

theo pháp luật Việt Nam bao gồm “giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm” (Khoản 2 Điều 302 Luật

Thương mại 2005) Tuy nhiên, CISG không quy định rõ về tính chất trực tiếp của

Trang 40

thiệt hại được bồi thường mà nhấn mạnh đến tính dự đoán trước được của thiệt hại

“các thiệt hại được bồi thường không thể cao hơn những tổn thất và khoản lợi bỏ lỡ

mà bên bị vi phạm có khả năng đã dự liệu được vào lúc giao kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết” (Điều 74 CISG) Điều này sẽ giúp tránh được việc các thiệt

hại yêu cầu bồi thường bị “thổi phồng” một cách vô lý

Ngoài ra, để tránh thiệt hại phát sinh không đáng có và tránh phụ thuộc vào ýchí chủ quan của bên bị vi phạm, cả CISG và pháp luật Việt Nam đều quy định bên

bị vi phạm phải “áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra” (Điều 305 Luật Thương mại 2005 và Điều 77 CISG); nếu không thì bên vi phạm

hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thấtđáng lẽ có thể hạn chế được

Một điểm cần lưu ý nữa đối với bồi thường thiệt hại theo Luật Thương mại

2005 là trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi đáp ứng đầy đủ các điềukiện sau: i) Có hành vi vi phạm hợp đồng; ii) Có thiệt hại thực tế; iii) Hành vi viphạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại (Điều 303 Luật Thươngmại 2005)

(iv) Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng: “là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc khi một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” (Điều 308 Luật Thương mại 2005) Đây là chế tài không được

quy định trong CISG Tạm ngừng thực hiện hợp đồng không làm mất đi hiệu lực củahợp đồng và bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định.(v) Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng cũng là chế tài mà CISG không quy

định Đình chỉ thực hiện hợp đồng theo Điều 310 Luật Thương mại 2005 “là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng hoặc khi một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thực hiện hợp đồng được quy định tại Điều 311 Luật Thương mại 2005, theo đó “khi đình chỉ thực hiện

Ngày đăng: 26/04/2022, 14:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cho dù áp dụng hình thức nào thì Bên Mua cũng vẫn phải chịu thiệt hại nếu không đảm bảo năng suất dỡ hàng theo cam kết hoặc theo tập quán cảng - Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).
ho dù áp dụng hình thức nào thì Bên Mua cũng vẫn phải chịu thiệt hại nếu không đảm bảo năng suất dỡ hàng theo cam kết hoặc theo tập quán cảng (Trang 62)
Bảng 3: Bảng thông số kỹ thuật than nhập khẩu của EVNGENCO1 - Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).
Bảng 3 Bảng thông số kỹ thuật than nhập khẩu của EVNGENCO1 (Trang 63)
Bảng 4: Bảng thống kê nhiệt trị của các lớp than của một số tàu than năm 2020 tại CTNĐ Duyên Hải - Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).
Bảng 4 Bảng thống kê nhiệt trị của các lớp than của một số tàu than năm 2020 tại CTNĐ Duyên Hải (Trang 65)
* Hồ sơ mời chào giá: là toàn bộ tài liệu sử dụng cho giai đoạn chào giá của hình thức đấu thầu cạnh tranh có lựa chọn danh sách ngắn, bao gồm các yêu cầu cho gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ chào giá  và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ - Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhập khẩu hàng hóa: nhìn từ thực tiễn hoạt động nhập khẩu than tại Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1).
s ơ mời chào giá: là toàn bộ tài liệu sử dụng cho giai đoạn chào giá của hình thức đấu thầu cạnh tranh có lựa chọn danh sách ngắn, bao gồm các yêu cầu cho gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ chào giá và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w