1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.

113 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Án Lệ Và Mối Liên Hệ Với Pháp Luật Kinh Tế Ở Việt Nam
Tác giả Hoàng Nguyên Phương
Người hướng dẫn PGS, TS Ngô Quốc Chiến
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (9)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu (10)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (13)
  • 7. Cấu trúc của Luận văn (13)
  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ÁN LỆ Ở VIỆT NAM VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI PHÁP LUẬT KINH TẾ (14)
    • 1.1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển án lệ ở Việt Nam và án lệ trong hệ thống pháp luật một số nước (14)
      • 1.1.1. Lịch sử hình thành án lệ ở Việt Nam thời phong kiến (14)
      • 1.1.2. Án lệ Việt Nam thời cận hiện đại (19)
      • 1.1.3. Án lệ trong hệ thống pháp luật một số nước (21)
      • 1.1.4. Án lệ Việt Nam thời hiện đại (27)
    • 1.2. Tổng quan về án lệ Việt Nam (30)
      • 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của án lệ Việt Nam (30)
      • 1.2.2. Quy trình lựa chọn án lệ ở Việt Nam (32)
    • 1.3. Mối quan hệ giữa án lệ và pháp luật kinh tế (38)
      • 1.3.1. Lĩnh vực pháp luật kinh tế (38)
      • 1.3.2. Vị trí và vai trò của án lệ trong pháp luật kinh tế (40)
  • CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA ÁN LỆ HIỆN TẠI ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM (44)
    • 2.1. Một số án lệ trong lĩnh vực kinh tế (44)
      • 2.1.1. Án lệ về tín dụng (44)
      • 2.1.2. Án lệ về hợp đồng mua bán hàng hóa (53)
      • 2.1.3. Án lệ về bảo hiểm (60)
      • 2.1.4. Án lệ gián tiếp liên quan đến hoạt động kinh tế (63)
    • 2.2. Đánh giá vai trò của án lệ đối với pháp luật kinh tế (64)
      • 2.2.1. Án lệ giải thích điều luật và nhận định tình hình thực tế (64)
      • 2.2.2. Một số vấn đề giữa án lệ và luật kinh tế (66)
      • 2.2.3. Tầm quan trọng của án lệ đối với kinh tế (68)
  • CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, VÀ NÂNG TẦM ÁN LỆ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI (72)
    • 3.1. Hoàn thiện quá trình xây dựng án lệ Việt Nam (72)
      • 3.1.1. Phương thức xây dựng án lệ (72)
      • 3.1.2. Mở rộng hình thức án lệ (75)
      • 3.1.3. Thành lập cơ quan phụ trách xây dựng án lệ Việt Nam (78)
    • 3.2. Chính sách phát triển xây dựng án lệ từ nguồn án (83)
      • 3.2.1. Sách lược xây dựng hệ thống pháp luật liên hệ với án lệ (83)
      • 3.2.2. Nâng tầm của án lệ Việt Nam (86)
      • 3.2.3. Khái quát hoá lập luận có tính chất án lệ trong nguồn án (91)
    • 3.3. Đề xuất chính sách án lệ cho một số lĩnh vực kinh tế – xã hội hiện đại (95)
      • 3.3.1. Thí điểm mở rộng án lệ về kinh tế (95)
      • 3.3.2. Pháp luật kinh tế thời công nghệ và đề án thí điểm Tòa Sở hữu trí tuệ và Thương mại điện tử (99)
      • 3.3.3. Thí điểm án lệ cho giáo dục và giới luật Việt Nam (103)
  • KẾT LUẬN (110)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (111)
    • Chương II Bảng 2. 1: Thống kê vụ việc trong hệ thống tòa án Việt Nam giai đoạn 2018 – 2021 (0)
    • Chương III Bảng 3. 1: Thống kê nguồn án của án lệ Việt Nam (0)

Nội dung

Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.

Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đã trải qua giai đoạn khó khăn của kinh tế kế hoạch hóa và bắt đầu mở cửa, đổi mới từ năm 1986 với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa từ thế kỷ XXI đã giúp Việt Nam học hỏi và áp dụng kinh nghiệm quản lý và phát triển kinh tế từ nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm cả hệ thống tư bản chủ nghĩa Mặc dù phát triển kinh tế theo hướng hội nhập, Việt Nam vẫn kiên định với chủ nghĩa xã hội, cho phép hoạt động của "bàn tay vô hình" trong nền kinh tế thị trường dưới sự kiểm soát của tổ chức chính trị và chính quyền, đồng thời tôn trọng quy luật kinh tế khách quan và tư tưởng kinh tế tự do.

Năm 2021, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII đã diễn ra, xác định sách lược và nhiệm vụ cho nhiệm kỳ này và các giai đoạn tiếp theo Kinh tế – xã hội được đặt làm trọng điểm, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nâng cao vai trò của pháp luật trong xã hội.

Án lệ là một khái niệm có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Tại Việt Nam, án lệ thời hiện đại được nhắc đến từ đầu thế kỷ XXI và đã được lựa chọn, công bố để áp dụng thực tế từ năm 2016 Vậy, vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật và thực tiễn xét xử hiện nay là gì?

Pháp luật Việt Nam là một hệ thống pháp luật thành văn, có nguồn gốc từ hàng nghìn năm trước và đã tồn tại lâu dài trong lịch sử Án lệ cũng đã xuất hiện qua nhiều thời kỳ, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp trong hệ thống tư pháp của Việt Nam.

Việt Nam đang tập trung vào phát triển kinh tế và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, dẫn đến sự gia tăng các vấn đề pháp lý như xung đột và tranh chấp Hệ thống tòa án Việt Nam ngày càng tham chiếu án lệ trong việc giải quyết tranh chấp, cho thấy mối liên hệ giữa án lệ và pháp luật kinh tế Các án lệ này có thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chủ thể, khách thể trong lĩnh vực kinh tế và quy định pháp luật về kinh tế, từ đó làm nổi bật vai trò của án lệ trong việc hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý trong kinh doanh.

Thuật ngữ "Bàn tay vô hình" do Adam Smith giới thiệu vào năm 1776 đặc trưng cho kinh tế thị trường Hiện nay, án lệ đang trong giai đoạn phát triển, được nghiên cứu và thảo luận rộng rãi cả trong nước và quốc tế Sự quan tâm của cộng đồng đối với án lệ và kinh tế ngày càng tăng, vì vậy tác giả đã chọn chủ đề "Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam" cho luận văn thạc sĩ luật học của mình nhằm nghiên cứu sâu về án lệ Việt Nam.

Nam và phân tích mối liên hệ này.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Án lệ, một phần quan trọng của pháp luật, đã tồn tại lâu trong khoa học pháp lý Trong thời kỳ chiến tranh, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tập trung vào việc xây dựng hậu phương và thống nhất đất nước mà không chú trọng đến án lệ Ngược lại, miền Nam, dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ và các đồng minh, đã phát triển hệ thống pháp luật theo mô hình châu Âu lục địa, trong đó án lệ được áp dụng và nghiên cứu Những tác phẩm nổi bật về án lệ trong giai đoạn này đã góp phần vào sự phát triển của nền pháp lý Việt Nam.

Trần Đại Khâm (1969), Án lệ vựng tập (Recueil de jurisprudence), Nhà sách

Khai Trí, Sài Gòn Tác giả Trần Đại Khâm, Chánh án Tòa thượng thẩm Sài Gòn, đã tổng hợp và phân loại độ phổ biến của các án lệ tại miền Nam trong giai đoạn 1948 – 1967, chủ yếu từ khi Chính phủ Quốc gia Việt Nam khôi phục chủ quyền tư pháp vào năm 1949 Bài viết bao gồm đầy đủ các chủ đề như dân sự, lao động, nhà phố, điền địa, thương mại, quân sự, hình sự và hành chính.

Vũ Văn Mẫu và Lê Đình Chân (1968) trong tác phẩm "Danh từ và Tài liệu: Dân luật và Hiến luật" đã nhấn mạnh tầm quan trọng của án lệ trong việc hiểu và áp dụng luật pháp Hai giáo sư, luật gia tiêu biểu của miền Nam thời chiến tranh, khẳng định rằng "Lời của luật pháp phải nặng như kim cương", cho thấy rằng án lệ không chỉ làm sáng tỏ ý nghĩa mà còn nâng cao hiệu lực của luật Họ so sánh việc học luật mà không đọc án lệ như việc chỉ chơi hoa giấy mà không biết đến hương sắc của hoa thật, từ đó khẳng định vai trò thiết yếu của án lệ trong việc học và thực hành luật.

Sau khi thống nhất đất nước, nghiên cứu về án lệ chỉ diễn ra với tần suất thấp trong giai đoạn đầu Tuy nhiên, từ những năm 2000, chính sách án lệ đã được khôi phục và phát triển trở lại, đánh dấu sự quan tâm ngày càng tăng đối với lĩnh vực này.

Châm ngôn nổi tiếng của triết gia và luật gia Jeremy Bentham (1748 – 1832) khẳng định rằng "Les paroles de la loi doivent se peser comme diamants", nhấn mạnh tầm quan trọng của ngôn ngữ pháp lý Bentham, người sáng lập Chủ nghĩa vị lợi (Utilitarianism) và là nhà lý thuyết hàng đầu trong triết học luật pháp Anh Mỹ, đã góp phần định hình cách hiểu về giá trị và ý nghĩa của luật pháp trong xã hội.

Trước năm 2016, nhiều nghiên cứu về án lệ tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc so sánh giữa án lệ của châu Âu lục địa và thông luật Anh Mỹ, nhằm đề xuất các giải pháp cho sự phát triển án lệ Việt Nam Một ví dụ tiêu biểu là nghiên cứu của Ngô Quốc Chiến và Medhi Kebir (2013) về tính hồi tố và sự thay đổi của án lệ, được công bố trên Tạp chí Tòa án nhân dân Nghiên cứu này đã phân tích quá trình hình thành và biến đổi của án lệ, làm rõ những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống án lệ.

Kể từ năm 2016, khi án lệ được công bố chính thức, nghiên cứu về án lệ đã được thúc đẩy mạnh mẽ Tòa án nhân dân tối cao đã quản lý và tổ chức nhiều hội thảo trong và ngoài nước nhằm tăng cường sự quan tâm của giới luật đối với chính sách án lệ Nhiều tài liệu và sách về chủ đề này cũng đã được xuất bản.

Lưu Tiến Dũng (2021), Án lệ Việt Nam – Phân tích và Luận giải, Nhà xuất bản

Tư pháp; Trần Văn Hà (chủ biên, 2021) đã cho ra mắt cuốn sách "Hệ thống án lệ và các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao", cung cấp hướng dẫn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động và hôn nhân gia đình Cuốn sách được biên soạn công phu, phân tích các án lệ dựa trên quy định pháp luật hiện hành, nhằm giúp người đọc hiểu rõ và khái quát nội dung các kết luận pháp lý Đây là nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho các thẩm phán, luật sư và nhà nghiên cứu quan tâm đến án lệ tại Việt Nam.

Nghiên cứu về án lệ hiện nay được thực hiện theo hai phương pháp: (i) từ trong ra ngoài, tập trung vào khía cạnh cụ thể của án lệ và pháp luật thực định liên quan đến tình tiết thực tế; và (ii) từ ngoài vào trong, đánh giá khung tổng quan trong hệ thống cấu tạo Các tác giả tiêu biểu như Đỗ Văn Đại, thành viên Hội đồng tư vấn án lệ Tòa án nhân dân tối cao, và Nguyễn Sơn, nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, đã có nhiều công trình nghiên cứu và bình luận về công tác án lệ Ngoài ra, sự tham gia của các luật gia nổi tiếng như Kim Tae-joon và Phan Trung Hoài cũng đóng góp quan trọng vào việc phát triển và áp dụng án lệ tại Việt Nam.

Trong nghiên cứu này, tôi đề cập đến các học giả và nhà nghiên cứu ngành luật từ góc độ của Luật sư, với một số đề xuất và kiến nghị Phạm Duy Nghĩa (2021) đã nêu rõ việc xây dựng án lệ trong thời đại chuyển đổi số, và các nghiên cứu này đã được công bố tại hội thảo nghiên cứu án lệ của Tòa án nhân dân tối cao Tình hình nghiên cứu cho thấy còn thiếu các công trình phân tích mối liên hệ giữa án lệ và pháp luật kinh tế tại Việt Nam, cùng với việc đánh giá ảnh hưởng của các án lệ đã ban hành đối với các phân ngành kinh tế cụ thể Ngoài ra, cũng có ít công trình đề xuất giải pháp để xây dựng và phát triển án lệ, đặc biệt là án lệ liên quan đến pháp luật kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu này sử dụng phép biện chứng, nhấn mạnh rằng mọi vấn đề đều có sự liên kết chặt chẽ với các chủ thể, đối tượng và lập luận khác Điều này cho thấy rằng lý lẽ phải có căn cứ vững chắc; nếu thiếu bằng chứng, không có thực tế rõ ràng hoặc không thể xác định được mối quan hệ giữa các yếu tố, thì những lập luận đó sẽ không đáng tin cậy.

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống, bao gồm tổng hợp, phân tích, so sánh và bình luận án lệ.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn đã đạt được mục tiêu đề ra, chứng minh tầm quan trọng và khả năng áp dụng của án lệ trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng án lệ hiện hành Nghiên cứu đã thống kê và phân tích ý nghĩa lịch sử của án lệ, cho thấy sự bảo tồn và duy trì giá trị từ thế hệ trước cho thế hệ sau Bài viết cũng đã viện dẫn và phân tích các án lệ, đặc biệt là án lệ về kinh tế, để chỉ ra mối quan hệ và tác động ngày càng tăng giữa án lệ và pháp luật kinh tế, cũng như ảnh hưởng của pháp luật kinh tế đối với chính sách phát triển kinh tế Cuối cùng, luận văn đã đánh giá và đề xuất các đối sách nhằm nâng cao chất lượng án lệ, góp phần xây dựng và phát triển án lệ trong lĩnh vực pháp luật kinh tế trong thập niên 2020.

Cấu trúc của Luận văn

Luận văn được chia thành ba phần chính: phần mở đầu, nội dung và kết luận, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn bao gồm ba chương.

Án lệ ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển pháp luật kinh tế, với tác động hiện tại không chỉ làm rõ các quy định pháp lý mà còn tạo ra sự linh hoạt trong việc áp dụng luật Để nâng cao hiệu quả của án lệ trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, cần xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm phát triển và hoàn thiện hệ thống án lệ, từ đó góp phần thúc đẩy sự minh bạch và công bằng trong pháp luật kinh tế Việt Nam.

TỔNG QUAN VỀ ÁN LỆ Ở VIỆT NAM VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI PHÁP LUẬT KINH TẾ

Lược sử quá trình hình thành và phát triển án lệ ở Việt Nam và án lệ trong hệ thống pháp luật một số nước

hệ thống pháp luật một số nước

1.1.1 Lịch sử hình thành án lệ ở Việt Nam thời phong kiến Án lệ là một bộ phận của pháp luật, tồn tại trong cả hai trường phái pháp luật chủ đạo của thế giới là thông luật và luật thành văn Việt Nam là một quốc gia theo trường phái luật thành văn, xuất hiện và tồn tại trong thời gian dài của lịch sử.

Thứ nhất, các bộ luật thành văn chủ đạo.

Trong lịch sử Việt Nam, đất nước chính thức bắt đầu độc lập từ thế kỷ thứ X, trải qua nhiều giai đoạn biến cố phức tạp Các triều đại như Lý, Trần, Lê, và Nguyễn đã nắm quyền và tạo ra ảnh hưởng lớn đến lãnh thổ, dân tộc, phong tục, tập quán, và pháp luật Đặc biệt, vào năm 1042, Thái Tông Lý Phật Mã đã ra lệnh xây dựng và soạn thảo Bộ luật Hình thư, đánh dấu bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước quân chủ chuyên chế Việt Nam.

Bộ luật Hình thư ra đời nhằm thay thế các chiếu chỉ và quy định trước đó, thiết lập nguyên tắc lẽ phải trong việc xử phạt, từ đó ngăn chặn tình trạng lạm dụng và oan sai cho người dân Bộ luật này đã tạo ra một hệ thống khung pháp lý xuyên suốt thời kỳ Nhà Lý (1009 – 1225) và được tiếp tục sử dụng và cải tiến dưới thời Nhà Trần.

Từ năm 1225 đến 1400, Bộ luật Hình thư đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý và hoạt động xét xử dưới triều đại quân chủ Việt Nam, với Lý Thái Tông là nhân vật tiêu biểu Đến thời Nhà Lê sơ (1428 – 1527), vào năm 1483, Thánh Tông Lê Tư Thành đã chỉ đạo việc chỉnh sửa và biên soạn lại các điều luật cũ, tạo ra bộ Quốc triều Hình luật hay Bộ luật Hồng Đức, bao gồm sáu quyển và 722 điều, được áp dụng từ thời Hồng Đức cho đến hết thế kỷ XVIII Tiếp theo, dưới triều đại Nhà Nguyễn (1802 – 1945), vào năm 1815, Thế Tổ Nguyễn Ánh đã ban hành Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long), có hiệu lực từ năm 1818 cho đến cuối thời kỳ này.

6 Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (2009), tr 127–129.

Vào năm 2020, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử tiêu biểu trong hoạt động xét xử của Việt Nam, trong đó Lý Thái Tông (1000 – 1054) được bình chọn nhờ các công trạng nổi bật như ban hành Bộ luật Hình thư và đúc chuông để người dân có thể bày tỏ nỗi oan ức Ông đã xét xử nhiều vụ án quan trọng trong lịch sử, bao gồm vụ án Loạn tam Vương và Nùng Trí Cao, đồng thời truyền dạy cho con trai trưởng là Thánh Tông Lý Nhật Tôn, người sau này trở thành một vị quan xử án mẫu mực trước khi lên ngôi Hoàng đế Trong thời kỳ phong kiến, Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long được coi là hai bộ luật tiêu biểu và phổ biến nhất.

Trong suốt thiên niên kỷ qua, nhà nước phong kiến Việt Nam do quý tộc và quan lại lãnh đạo đã sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, tạo ra khung pháp lý cho đại đa số tầng lớp Quá trình lập pháp tuân theo quy trình nhất định, dựa trên ý chí của tầng lớp cầm quyền, bao gồm cả việc ban hành các bộ luật chính thức cũng như các chiếu, chỉ, dụ, sắc, lệ, và lệnh để điều chỉnh hoạt động xét xử Hình thức này không chỉ thể hiện sự áp dụng triệt để của các triều đại phong kiến mà còn tương đồng với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và án lệ hiện đại.

Thứ hai, án lệ trong pháp luật Nhà Lê.

Thời Nhà Lê, Thánh Tông Lê Tư Thành đã chỉ đạo cải cách pháp luật nhằm làm cho nó đầy đủ, dễ hiểu và rộng rãi hơn thông qua việc lưu trữ và tóm tắt các bản án của quan lại trong quá khứ Những bản án này được chọn làm tiền lệ pháp, phục vụ cho việc tham khảo và áp dụng trong các trường hợp tương tự sau này Ví dụ, trong Bộ luật Hồng Đức, các Điều 396 và 397 liên quan đến phân chia tài sản bất động sản đều dựa trên những án lệ đã được tóm lược và đưa vào bộ luật Những án lệ này không chỉ được nâng cấp thành luật mà còn được bổ sung vào Luật Hương hỏa, với các điểm tương đồng về hình thức và nội dung Cụ thể, hai án lệ đã đổi tên đương sự từ thực tế thành tên ẩn danh, sử dụng các tên gọi chung như Giáp, Ất, Bính, Đinh, phản ánh văn hóa phương Đông.

8 Đặng Việt Thủy, Đặng Thành Trung (2008), tr 283.

9 Nguyên văn Điều 396, Bộ luật Hồng Đức: Người ông là Phạm Giáp sinh con trai trưởng là Phạm Ất, thứ là

Phạm Giáp, tổ tiên của dòng họ, đã giao hai mẫu ruộng hương hỏa cho con trưởng là Phạm Ất Tuy nhiên, Phạm Ất đã nhập hai mẫu này vào ruộng đất của mình và chia cho các con, chỉ giữ lại năm sào để con trai quản lý Con trai Phạm Ất sinh toàn con gái, trong khi Phạm Bính, con thứ, có con trai và cháu trai Hiện tại, năm sào hương hỏa phải được giao lại cho con trai hoặc cháu trai của Phạm Bính, nhưng không được đòi lại đủ hai mẫu hương hỏa của tổ tiên để tránh tranh chấp.

10 Nguyên văn Điều 397, Bộ luật Hồng Đức: Người ông là Trần Giáp sinh được trai gái hai con, trai trưởng là

Trần Ất, tên thật là Trần Thị Bính, có một con gái là Trần Thị Đinh Sau khi Trần Ất qua đời, Trần Giáp đã lập di chúc giao phần ruộng đất hương hỏa cho Trần Thị Bính Khi Trần Thị Bính mất, phần hương hỏa sẽ được trả lại cho Trần Thị Đinh Theo Nguyễn Ngọc Nhuận và Nguyễn Tá Nhí (2003), các bản án trong pháp luật Việt Nam hiện đại thường sử dụng các ký hiệu A, B, C để bảo mật danh tính đương sự Hai án lệ liên quan đến đất hương hỏa, phong tục thờ cúng tổ tiên và chia di sản thừa kế phản ánh thực tế về đất đai, huyết thống và gia tộc trong xã hội Việt Nam, một vấn đề vẫn tồn tại cho đến ngày nay trong văn hóa Đông Á.

Ngoài Bộ luật Hồng Đức, Nhà Lê còn áp dụng các văn bản pháp luật khác như Luật thư do Nguyễn Trãi biên soạn vào năm 1440 và Hồng Đức thiện chính thư, góp phần quan trọng vào hệ thống pháp luật thời kỳ này.

Trong lịch sử pháp lý Việt Nam, các bộ luật như Bộ Lê triều quan chế (1471) và Quốc triều khám tụng điều lệ (1777) đã đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là Hồng Đức thiện chính thư, bộ văn bản lưu trữ án lệ và luật pháp chủ yếu Thời kỳ phong kiến, với xã hội nông nghiệp và cộng đồng khép kín, nhiều án lệ liên quan đến ruộng đất - tài sản chủ đạo Ngoài ra, cũng có án lệ liên quan đến hôn nhân và gia đình, như Án lệ phụ trái tử hoàn, đề cập đến nghĩa vụ con cái đối với cha mẹ, và Án lệ bất phu hữu thai, liên quan đến việc giảm án cho phụ nữ không chồng mà có thai Một số án lệ này được Lương Thế Vinh trình bày và được Thánh Tông Lê Tư Thành phê chuẩn.

Án lệ chính thức xuất hiện từ thời Nhà Lê sơ, đánh dấu sự phát triển của việc sử dụng bản án xét xử trong quá khứ làm căn cứ tham khảo cho các vụ việc dân sự và hình sự sau này Kỹ thuật lập pháp này không chỉ giúp đưa ra đường lối xét xử rõ ràng mà còn làm cho quá trình xử án trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn trong thực tế.

Thứ ba, án lệ trong pháp luật Nhà Nguyễn.

Án lệ 11 liên quan đến vụ kiện giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần A và bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn B, với các đương sự liên quan bao gồm Trần Duyên H, Trần Lưu H1, Trần Lưu H2, Trần Thanh H, Trần Minh H, Phạm Thị V, Tạ Thu H, Lưu Thị Minh N, Nguyễn Tuấn T, và Đỗ Thị H.

Nếu cha mẹ mắc nợ và bỏ trốn, con cháu sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ; ngược lại, nếu con cháu có nợ và bỏ trốn, cha mẹ và ông bà không bị liên đới (Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Sĩ Giác, 1959, tr 52)

Nếu gian phụ có thai, có thể xác định chứng cứ từ phía gian phụ; trong khi đó, phía nam phu không có bằng chứng nên chỉ có thể xử phạt gian phụ về tội thông gian.

14 Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2006), tr 479.

Tổng quan về án lệ Việt Nam

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của án lệ Việt Nam

Thời kỳ phong kiến, án lệ được cấu thành từ hai từ: án và lệ Án ám chỉ văn thư, thể lệ, và các bản kiện tụng đã được giải quyết, trong khi lệ là những quy định đã trở thành nề nếp, được lặp đi lặp lại thành thói quen Trong bối cảnh quốc tế, án lệ theo thông luật Anh – Mỹ là vụ án đã được giải quyết, tạo cơ sở cho việc xét xử các vụ án tương tự sau này, đóng vai trò quan trọng trong pháp luật Anh và Hoa Kỳ Luật thành văn Pháp định nghĩa án lệ là bản án có tiền lệ, mang tính thống nhất giữa các cấp xét xử, và được coi là nguồn luật thứ yếu Thuật ngữ tiền lệ pháp cũng liên quan, nhưng án lệ cụ thể hơn về vụ án và xét xử của tòa án.

Từ nửa sau thế kỷ XX, thuật ngữ án lệ đã được nhắc đến trong nghiên cứu pháp lý tại Việt Nam, mặc dù trước đó nó từng được coi là danh từ cũ từ thời Pháp thuộc Án lệ được hiểu là những quy tắc mà các tòa án áp dụng khi xét xử các vụ án cụ thể, hình thành từ sự đồng nhất trong cách hiểu và giải quyết các vấn đề pháp lý Đến năm 2015, thuật ngữ này đã chính thức được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật, được hiểu theo nghĩa hẹp là bản án và quyết định của tòa án.

42 Từ điển Luật học (2006), tr 13.

Án lệ Việt – Nhật (2008) cung cấp sự giải thích và áp dụng pháp luật mà Tòa án tối cao đã chọn lựa, với số lượng cụ thể, nhằm giải quyết các vụ án có nội dung tương tự trong tương lai.

Án lệ Việt Nam, kể từ khi được thiết lập và công bố, được định nghĩa là những lập luận và phán quyết trong các quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, được lựa chọn bởi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và công bố bởi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Án lệ này nhằm mục đích cung cấp cơ sở cho các tòa án nghiên cứu và áp dụng trong quá trình xét xử Nội hàm của án lệ Việt Nam hiện đại được thể hiện trong hệ thống pháp luật đa phương diện, được chia thành ba nhóm chính.

Án lệ được định nghĩa là lập luận và phán quyết trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án đối với vụ việc cụ thể Điều này áp dụng cho các lĩnh vực dân sự, hình sự và hành chính, nơi mà sau quá trình tố tụng, tòa án cấp huyện, tỉnh và cấp cao ra bản án hoặc quyết định, bao gồm cả sơ thẩm và phúc thẩm Khi các văn bản này có hiệu lực, chúng trở thành nguồn để xem xét, đề xuất và công bố án lệ Nội dung của án lệ bao gồm lập luận và phán quyết, với phần nhận định của tòa án được căn cứ theo quy phạm pháp luật.

Chỉ có Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền lựa chọn án lệ, trong khi việc công bố án lệ thuộc về Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Đây đều là những cá nhân, tổ chức thuộc cơ quan xét xử cao nhất của Việt Nam.

Án lệ được chọn nhằm phục vụ nghiên cứu và áp dụng trong xét xử của các tòa án tại Việt Nam Cụm từ này cho thấy án lệ không phải là quy định bắt buộc như các đạo luật, mà chỉ là căn cứ để viện dẫn trong quá trình xét xử.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, án lệ là văn bản tư pháp do Tòa án nhân dân tối cao công bố, được các cơ quan xét xử từ trung ương đến địa phương tham khảo và áp dụng trong quá trình tố tụng, chủ yếu là xét xử Tuy nhiên, án lệ không mang tính bắt buộc và không được ban hành theo trình tự chính thức.

48 Điều 1, Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP (giữ nguyên khái niệm tại Điều 1, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP).

Theo Khoản 1 Điều 104 của Hiến pháp 2013, án lệ không được coi là văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam Trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân sẽ lần lượt áp dụng các nguồn luật như Hiến pháp, điều ước quốc tế, bộ luật và luật nội địa, tiếp theo là tập quán và tương tự pháp luật Án lệ chỉ được áp dụng khi không có luật, tập quán hay tương tự pháp luật nào khác Do đó, vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam là thứ yếu và thường được áp dụng ở giai đoạn cuối cùng.

Án lệ Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa sự duy ý chí của thẩm phán, nâng cao kỹ năng và chất lượng xét xử, cũng như chuẩn hóa việc viết bản án và quyết định Việc tham khảo án lệ giúp thẩm phán đưa ra phán quyết có cơ sở vững chắc hơn, từ đó giảm thiểu số lượng bản án bị tòa án cấp trên hủy, sửa đổi Hơn nữa, án lệ cho phép đo lường sự thống nhất trong giải pháp pháp lý và dự đoán các thay đổi trong tương lai Tuy nhiên, việc viện dẫn án lệ không có nghĩa là nó trở thành cơ sở pháp lý cho vụ án, mà vẫn phải dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Thẩm phán có quyền quyết định có áp dụng án lệ hay không, nhưng nếu không, họ cần đưa ra lý do hợp lý cho sự không áp dụng này.

1.2.2 Quy trình lựa chọn án lệ ở Việt Nam

Quy trình lựa chọn án lệ đã được xây dựng và chính thức áp dụng trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện nội hàm rõ ràng trong quan điểm pháp lý.

Danh mục các tiêu chí lựa chọn án lệ bao gồm tính chuẩn mực pháp luật, giá trị giải thích quy định pháp luật với các cách hiểu khác nhau, phân tích sự kiện pháp lý và vấn đề, chỉ ra đường lối, nguyên tắc xử lý, quy phạm pháp luật áp dụng trong vụ việc cụ thể, cũng như thể hiện lẽ công bằng trong các vấn đề chưa có điều luật cụ thể Ngoài ra, án lệ còn có giá trị hướng dẫn áp dụng trong thực tiễn.

50 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2018), tr 122.

52 Ngô Quốc Chiến; Medhi Kebir (2013), tr 13.

Hệ thống pháp luật Việt Nam, được Quốc hội ban hành theo thời gian, bao gồm các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, hệ thống này còn nhiều hạn chế như nội bộ các điều luật chưa rõ ràng, dẫn đến tranh cãi và khó khăn trong xử lý vụ việc Ngoài ra, tiến độ ban hành quy phạm pháp luật không theo kịp sự thay đổi xã hội và toàn cầu hóa Trong bối cảnh đó, án lệ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết những khó khăn này, góp phần thống nhất pháp luật và nâng cao tính minh bạch trong xét xử.

Đề xuất và lựa chọn án lệ được thực hiện từ các bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án các cấp, nhằm phát triển thành án lệ theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Việc này được thực hiện bởi hai nhóm: nhóm đầu tiên gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội, và nhóm thứ hai là các tòa án Cả hai nhóm đều có quyền gửi đề xuất các bản án, quyết định đáp ứng tiêu chí cần thiết Nhóm đầu tiên mang đến cái nhìn khách quan và phong phú từ nhiều lĩnh vực trong xã hội, trong khi nhóm thứ hai, các tòa án, thực hiện chức năng rà soát và phát hiện bản án của mình, đóng vai trò chủ lực trong việc xử án và là nguồn gốc tạo nên án lệ.

Các bản án và quyết định được đề xuất để phát triển thành án lệ sẽ được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao Thời gian để các tòa án, nhà khoa học, chuyên gia pháp lý, và các cá nhân, tổ chức quan tâm gửi ý kiến là 30 ngày kể từ ngày đăng tải.

54 Điều 2, Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.

Mối quan hệ giữa án lệ và pháp luật kinh tế

1.3.1 Lĩnh vực pháp luật kinh tế

Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác giữa con người và xã hội, liên quan đến sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ Pháp luật, ngược lại, là quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện trong xã hội Mối liên hệ giữa kinh tế và pháp luật rất sâu sắc, vì các khía cạnh như trao đổi và phân phối sản phẩm đều phản ánh quan hệ xã hội giữa các bên, trong khi sản xuất và tiêu dùng được thực hiện trong khung định lượng.

Một nhà sản xuất cần nhiều yếu tố như vật liệu, máy móc và lao động, những yếu tố này thường được thu thập từ khai thác, mua bán và thỏa thuận việc làm Tất cả các quy trình này đều phải tuân theo hệ thống pháp luật Khi sản phẩm hoàn thiện và được đưa ra thị trường, nó tiếp tục chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật tương ứng.

Nền kinh tế bao gồm nhiều yếu tố như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, cùng với các khía cạnh thị trường và cung cầu, chịu ảnh hưởng bởi sự độc lập của mỗi chủ thể Tuy nhiên, mọi hoạt động kinh tế đều nằm trong giới hạn và quy luật do số đông thiết lập, tạo nên lĩnh vực kinh tế - luật Pháp luật đóng vai trò như đường ray dẫn dắt cộng đồng và xã hội, trong khi kinh tế là nền tảng thiết yếu của đời sống xã hội, đồng thời thúc đẩy pháp luật phát triển để mở ra những giai đoạn mới.

Mối liên hệ giữa các quy định pháp lý trong hoạt động thương mại tại Việt Nam rất rõ ràng Cả thể nhân và pháp nhân tham gia vào các hoạt động thương mại như đầu tư, xúc tiến thương mại, mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ đều phải tuân thủ Luật Thương mại Đầu tư vào kinh doanh phải tuân theo Luật Đầu tư, trong khi việc thành lập doanh nghiệp phải tuân theo Luật Doanh nghiệp Hơn nữa, các vấn đề về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân, cũng như các vấn đề liên quan đến tài sản, đều được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự.

Trong lịch sử hiện đại, Đảng Cộng sản Việt Nam ban đầu đã phủ nhận và phản đối kinh tế thị trường, nhưng sau đó nhận thức được giá trị của nó trong bối cảnh toàn cầu Hiện nay, Đảng đã quyết định chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm mục tiêu trong quá trình phát triển, coi đây là mô hình kinh tế phù hợp nhất cho giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Mô hình này được xác định là một nền kinh tế thị trường hiện đại, hoạt động đầy đủ và đồng bộ theo các quy luật kinh tế, đồng thời hội nhập quốc tế dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nam lãnh đạo 60 nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, tôn trọng cá nhân và tổ chức trong hoạt động cung ứng Những thay đổi liên tục từ quốc tế cần được quản lý chặt chẽ, với pháp quyền và thượng tôn pháp luật là trung tâm Điều này thể hiện rõ mối quan hệ không thể tách rời giữa kinh tế và pháp luật.

Kể từ khi gia nhập xu hướng toàn cầu hóa, kinh tế Việt Nam đã mở rộng hợp tác đa phương và tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế, bao gồm cả công pháp và tư pháp Điều này đã dẫn đến việc ký kết nhiều điều ước quốc tế quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế toàn cầu.

59 Khoản 1 Điều 1; Khoản 1 Điều 3, Luật Thương mại 2005.

Việt Nam đã tích cực tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế, bắt đầu từ việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ký kết những văn bản quan trọng như Hiệp ước GATT và GATS, nhằm thúc đẩy nguyên tắc tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia trong thương mại toàn cầu Đặc biệt, trong thời gian gần đây, Việt Nam chú trọng phát triển các mối quan hệ kinh tế tập trung, bao gồm các hiệp định song phương và đa phương như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Trong hoạt động kinh tế, cá nhân và tổ chức không chỉ cần tuân thủ pháp luật trong nước mà còn phải chú trọng đến pháp luật quốc tế và các điều ước đã ký kết Điều này mở ra lĩnh vực mới về tập quán thương mại quốc tế, bao gồm Bộ quy tắc thương mại quốc tế (Incoterms), các vấn đề liên quan đến thanh toán, giao dịch quốc tế và vận tải đường biển Bên cạnh đó, việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế và những khó khăn liên quan đến xung đột pháp luật cũng rất quan trọng Qua đó, có thể thấy rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa kinh tế và pháp luật, cả trong nước lẫn trên trường quốc tế.

1.3.2 Vị trí và vai trò của án lệ trong pháp luật kinh tế

Pháp luật kinh tế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh hoạt động kinh tế, phản ánh sự đa dạng của các lĩnh vực kinh tế thông qua các quy phạm pháp luật tương ứng Tại Việt Nam, quyền kinh tế được ghi nhận trong Hiến pháp, cho phép mọi người tự do kinh doanh trong các ngành nghề không bị cấm Hệ thống pháp luật bao gồm Hiến pháp, điều ước quốc tế, các đạo luật và văn bản dưới luật, tất cả đều tham gia vào việc quản lý kinh tế Án lệ, với vai trò là văn bản dưới luật, cũng góp phần quan trọng trong việc áp dụng pháp luật kinh tế, đặc biệt là trong các vụ việc liên quan đến kinh tế.

Thứ nhất, quy định về áp dụng.

Pháp luật kinh tế quy định các quy tắc cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong xã hội Bộ luật Dân sự là văn bản pháp lý chủ yếu điều chỉnh quan hệ dân sự trong lĩnh vực kinh tế, cùng với các đạo luật khác trong lĩnh vực cụ thể Nếu có sự khác biệt giữa luật chung và luật riêng với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng Trong trường hợp không có thỏa thuận giữa các bên hoặc quy định pháp luật, tập quán sẽ được sử dụng để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Nếu không có tập quán, sẽ xem xét các quan hệ dân sự tương tự để áp dụng quy định pháp luật, sau đó mới đến án lệ và lẽ công bằng.

Thứ hai, áp dụng trong giải quyết tranh chấp.

Trong quá trình tố tụng dân sự, nguyên đơn khởi kiện bị đơn và gửi đơn đến tòa án có thẩm quyền, tòa án sẽ thụ lý và mở phiên tòa sơ thẩm để ra bản án Nếu không đồng ý, các bên có thể kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm, nơi sẽ xem xét và ra bản án hoặc quyết định mới Nếu tiếp tục không đồng ý, họ có thể gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm để viện kiểm sát và chánh án cấp trên xem xét lại bản án Án lệ, khi được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua, sẽ có hiệu lực áp dụng cho các tòa án trong nước, giúp rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp Đối với việc ban hành đạo luật, quá trình bao gồm đề xuất, nghiên cứu và soạn thảo, sau đó trình Quốc hội thông qua, với trọng tâm là đánh giá thực tế và dự định tương lai để xây dựng quy phạm.

Điều 5, Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc áp dụng tập quán trong bối cảnh kinh tế hiện nay Sự biến động nhanh chóng của thị trường trong nước và quốc tế, cùng với sự sáng tạo trong hoạt động của cá nhân và tổ chức, đã tạo ra nhiều thách thức cho các vụ việc dân sự Những yếu tố này dẫn đến sự gia tăng xung đột và tranh chấp, trong khi quy định pháp luật chưa kịp thời đáp ứng các tình huống phát sinh.

Trong xã hội, có nhiều tình huống cụ thể mặc dù dựa trên nguyên tắc đạo đức và lẽ phải nhưng không thể quy định thành luật Ví dụ, trong việc chia di sản thừa kế, đặc biệt là khi có sự tham gia của người Việt định cư ở nước ngoài và tài sản liên quan đến quyền sử dụng đất, đã trải qua nhiều giai đoạn tố tụng mà vẫn chưa giải quyết được do khó khăn trong tương trợ tư pháp quốc tế Không có quy định pháp luật cụ thể cho trường hợp này, án lệ đã được áp dụng để cho phép người quản lý nhà đất thay cho người thừa kế ở nước ngoài cho đến khi họ được liên lạc Một ví dụ khác là các giao dịch dân sự liên quan đến chuyển nhượng nhà đất từ những năm 1990, trong đó có sự cam kết về quyền sở hữu sau khi nhà nước hóa giá Tuy nhiên, do thủ tục hóa giá không diễn ra, hợp đồng này trở thành giao dịch có điều kiện nhưng vô hiệu Án lệ đã được tạo ra để giải thích các điều luật liên quan trong Bộ luật Dân sự khi không có quy định cụ thể.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, luật kinh tế phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc giải quyết tranh chấp, bao gồm sự đa dạng của tình tiết vụ việc và nhu cầu xây dựng pháp luật phù hợp với yêu cầu xã hội Các cá nhân và tổ chức kinh tế đang cần giải quyết tranh chấp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi luật pháp phải nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi của nền kinh tế Án lệ, với vai trò là một phần của pháp luật, được coi là giải pháp khả thi để đối phó với những khó khăn mà luật kinh tế đang gặp phải.

TÁC ĐỘNG CỦA ÁN LỆ HIỆN TẠI ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, VÀ NÂNG TẦM ÁN LỆ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

Ngày đăng: 26/04/2022, 14:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 1: Thống kê nguồn án của án lệ Việt Nam - Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.
Bảng 3. 1: Thống kê nguồn án của án lệ Việt Nam (Trang 85)
Bảng 3. 2: Bảng thống kê lựa chọn án lệ theo chính sách nâng tầm án lệ Việt Nam - Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.
Bảng 3. 2: Bảng thống kê lựa chọn án lệ theo chính sách nâng tầm án lệ Việt Nam (Trang 89)
Bảng 3. 5: Đề xuất chương trình giáo dục thí điểm về án lệ Việt Nam - Án lệ và mối liên hệ với pháp luật kinh tế ở Việt Nam.
Bảng 3. 5: Đề xuất chương trình giáo dục thí điểm về án lệ Việt Nam (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w