1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm (tổ chức bảo hiểm tương hỗ)

49 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm (Tổ Chức Bảo Hiểm Tương Hỗ)
Người hướng dẫn Giảng Viên Hướng Dẫn
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Tài Chính
Thể loại đề tài
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 100,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Những vấn đề cơ bản về kinh doanh bảo hiểm (4)
    • 1. Bảo hiểm (4)
      • 1.1. Nguồn gốc của bảo hiểm (4)
      • 1.2. Khái niệm bảo hiểm (4)
      • 1.3. Phân loại bảo hiểm (5)
    • 2. Kinh doanh bảo hiểm (8)
      • 2.1. Khái niệm kinh doanh bảo hiểm (8)
      • 2.2. Bản chất kinh doanh bảo hiểm (9)
      • 2.3. Đặc trưng của kinh doanh bảo hiểm (10)
      • 2.4. Hoạt động doanh nghiệp trong kinh doanh bảo hiểm (10)
  • II. Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm (13)
    • 1. Những vấn đề cơ bản về pháp luật về kinh doanh bảo hiểm (13)
      • 1.1. Khái niệm (13)
      • 1.2. Phạm vi điều chỉnh (14)
      • 1.3. Đối tượng điều chỉnh (15)
      • 1.4. Nguyên tắc của luật kinh doanh bảo hiểm (15)
      • 1.5. Pháp luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam hiện nay được quy định tại những văn bản pháp luật (16)
    • 2. Nội dung pháp luật vê kinh doanh bảo hiểm (16)
      • 2.1. Hình thức kinh doanh bảo hiểm (16)
      • 2.2. Cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (21)
    • 3. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2019 (29)
      • 3.2. Khái niệm “tổ chức bảo hiểm tương hỗ” (30)
      • 3.3. Thành lập và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ (30)
      • 3.4. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động tổ chức bảo hiểm tương hỗ (32)
      • 3.5. Nội dung và điều lệ của tổ chức bảo hiểm tương hỗ (33)
      • 3.6. Quản lý, điều hành tổ chức bảo hiểm tương hỗ (34)
      • 3.7. Quy chế hoạt động tổ chức bảo hiểm tương hỗ (35)
      • 3.8. Bổ sung, sửa đổi quy chế hoạt động (35)
      • 3.9. Thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ (36)
      • 3.10. Giới hạn trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm tương hỗ (37)
  • III. Thực trạng vấn đề kinh doanh bảo hiểm và giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về (38)
    • 1. Thực trạng vấn đề kinh doanh bảo hiểm (38)
    • 2. Giải pháp kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật về kinh doanh bảo hiểm của VN 40 (41)

Nội dung

2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MÔN HỌC LUẬT TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM (TỔ CHỨC BẢO HIỂM TƯƠNG HỖ) Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Lớp Hồ Chí Minh, Tháng 42022 Mục lục NỘI DUNG 4 I Những vấn đề cơ bản về kinh doanh bảo hiểm 4 1 Bảo hiểm 4 1 1 Nguồn gốc của bảo hiểm 4 1 2 Khái niệm bảo hiểm 4 1 3 Phân loại bảo hiểm 5 2 Kinh doanh bảo hiểm 8 2 1 Khái niệm kinh doanh bảo hiểm 8 2 2 Bản chất kinh doanh bảo hiểm 9 2 3 Đ.

Những vấn đề cơ bản về kinh doanh bảo hiểm

Bảo hiểm

1.1 Nguồn gốc của bảo hiểm

Bảo hiểm, mặc dù đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, vẫn chưa có thời gian ra đời chính xác Ý tưởng về bảo hiểm bắt nguồn từ việc người xưa nhận thấy lợi ích của việc tạo dựng kho dự trữ chung để phòng ngừa mất mùa hay chiến tranh Điều này cho thấy con người đã từ sớm ý thức được những rủi ro có thể xảy ra và tìm cách phòng tránh chúng Hiện nay, với nhận thức ngày càng cao về việc phòng ngừa rủi ro, bảo hiểm đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của con người.

Bảo hiểm, mặc dù có nguồn gốc và lịch sử phát triển lâu đời, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất do tính đặc thù của dịch vụ này Các chuyên gia cho rằng định nghĩa đầy đủ về bảo hiểm cần bao gồm việc hình thành quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), hoán chuyển rủi ro, và sự kết hợp của nhiều đơn vị độc lập chịu cùng một rủi ro, tạo thành một nhóm tương tác.

Trên thực tế, bảo hiểm được định nghĩa bởi nhiều quan điểm khác nhau Theo Dennis Kessler,

“Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít.” Còn theo Monique Gaullier,

Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, trong đó người được bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm để đảm bảo rằng trong trường hợp xảy ra rủi ro, họ hoặc người thứ ba sẽ nhận được khoản đền bù cho các tổn thất Người bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên các phương pháp thống kê.

Bảo hiểm, theo định nghĩa của Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ), là cơ chế mà cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức chuyển giao rủi ro cho công ty bảo hiểm Công ty này sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất nằm trong phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa các bên tham gia bảo hiểm.

Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa:

Bảo hiểm là cam kết của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểm, nhằm bồi thường thiệt hại hoặc mất mát liên quan đến đối tượng bảo hiểm do rủi ro đã thỏa thuận Điều kiện để nhận bồi thường là người được bảo hiểm đã ký hợp đồng và nộp phí bảo hiểm cho đối tượng đó.

Bảo hiểm hiện nay đã phát triển thành nhiều hình thức đa dạng và phong phú Dựa trên các tiêu chí khác nhau như cơ chế hoạt động, tính chất, đối tượng và quy định pháp luật, chúng ta có thể phân loại các loại hình bảo hiểm khác nhau.

1.3.1.Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là hệ thống bảo hiểm của nhà nước nhằm hỗ trợ tài chính cho viên chức và người lao động khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn, hoặc khi về hưu BHXH có tính chất bắt buộc và hoạt động theo quy định pháp luật, không nhằm mục đích kinh doanh Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, chủ yếu hình thành từ các khoản đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, và nhà nước Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho nhiều lĩnh vực như chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động, và các trợ cấp khác Theo Điều lệ BHXH Việt Nam, hệ thống bảo hiểm xã hội hiện nay bao gồm 5 chế độ chính.

“Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp thai sản;

Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp hưu trí; Trợ cấp tử tuất.”

Bảo hiểm thương mại là loại hình bảo hiểm mang tính chất kinh doanh và kiếm lời, khác với bảo hiểm xã hội, nó không bắt buộc và được thiết kế phù hợp với từng đối tượng và rủi ro cụ thể Mục đích chính của bảo hiểm thương mại là phục vụ cho hoạt động kinh doanh Hiện nay, có nhiều loại hình bảo hiểm thương mại, bao gồm bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu, bảo hiểm vật chất xe cơ giới, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm thiệt hại máy móc, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm sinh mạng cá nhân, bảo hiểm cây trồng, bảo hiểm chăn nuôi và bảo hiểm sắc đẹp.

1.3.2 Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm

Bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm bảo vệ con người trước rủi ro về sinh mạng, cung cấp khoản tiền bồi thường khi người được bảo hiểm qua đời, bị thương tật vĩnh viễn hoặc khi hết thời hạn bảo hiểm Đối tượng tham gia rất đa dạng, từ nhiều lứa tuổi khác nhau, và bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển mạnh mẽ với doanh thu phí bảo hiểm gia tăng, nhờ vào vai trò quan trọng của nó trong việc giảm bớt khó khăn tài chính cho cá nhân và gia đình khi gặp rủi ro Ngoài ra, bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần huy động vốn từ các nguồn nhàn rỗi, thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm việc làm Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam 2019, các loại hình bảo hiểm nhân thọ bao gồm bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí.

Bảo hiểm phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm bao gồm bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ, ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống và kinh doanh Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam 2019, bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm nhiều loại hình đa dạng như bảo hiểm tài sản và thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển qua các phương tiện khác nhau, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu cùng trách nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, và bảo hiểm nông nghiệp.

1.3.3 Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm

Nếu xem xét theo đối tượng bảo hiểm, có thể phân chia như sau:

Bảo hiểm con người là loại hình bảo hiểm bảo vệ tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người Các sản phẩm bảo hiểm con người bao gồm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn, với nhiều hình thức như bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm trả tiền định kỳ, và bảo hiểm chi phí khám chữa bệnh Người mua bảo hiểm có thể bảo hiểm cho bản thân hoặc cho các thành viên trong gia đình và người có liên quan Trong bảo hiểm tai nạn, người thụ hưởng nhận tiền bồi thường dựa trên thương tật thực tế và hợp đồng bảo hiểm, trong khi bảo hiểm sức khỏe chi trả chi phí khám chữa bệnh theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm bảo vệ tài sản của cá nhân hoặc tập thể, bao gồm tài sản cố định và lưu động như vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trị và quyền tài sản Các sản phẩm bảo hiểm tài sản phổ biến bao gồm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm nhà và bảo hiểm công trình.

Có ba loại hợp đồng bảo hiểm tài sản chính, bao gồm hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị, hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị và hợp đồng bảo hiểm trùng Mỗi loại hợp đồng này có những đặc điểm riêng, phù hợp với nhu cầu bảo vệ tài sản khác nhau của người tham gia bảo hiểm.

1.3.4 Căn cứ vào quy định của pháp luật

Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm theo quy định của pháp luật, yêu cầu tổ chức và cá nhân tham gia phải đảm bảo một mức tiền bảo hiểm tối thiểu Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện các điều khoản này nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội Mỗi quốc gia có quy định riêng về các loại hình bảo hiểm bắt buộc Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam 2019, một số loại hình bảo hiểm được xác định là bắt buộc.

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm hàng không đối với hành khách là những loại bảo hiểm quan trọng Ngoài ra, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong tư vấn pháp luật và của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng rất cần thiết Bên cạnh đó, bảo hiểm cháy, nổ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài sản Tuy nhiên, theo nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ, Chính phủ sẽ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định thêm các loại bảo hiểm bắt buộc khác.

* Bảo hiểm không bắt buộc: là những loại bảo hiểm khác, không thuộc bảo hiểm bắt buộc.

Kinh doanh bảo hiểm

2.1 Khái niệm kinh doanh bảo hiểm

Khi xã hội phát triển, nhu cầu về bảo hiểm ngày càng đa dạng và phong phú, dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của ngành kinh doanh bảo hiểm trong nền kinh tế thị trường Bảo hiểm ngày nay không chỉ đơn thuần là một sản phẩm tài chính mà còn là một giải pháp bảo vệ tài chính thiết yếu cho cá nhân và doanh nghiệp.

Kinh doanh bảo hiểm có sự đảo ngược trong chu trình kinh tế, khi người được bảo hiểm phải trả tiền trước để nhận dịch vụ, khác với mô hình cung cấp sản phẩm thông thường Bảo hiểm không chỉ bảo vệ sự phát triển kinh tế và ổn định đời sống, mà còn là lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp Hoạt động này được hiểu là dịch vụ tài chính từ các doanh nghiệp bảo hiểm, với quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự tham gia của những người có nhu cầu bảo hiểm Phí bảo hiểm thường nhỏ so với giá trị tài sản được bảo hiểm, và người tham gia sẽ nhận bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2019, hoạt động này được định nghĩa là việc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro để trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi có sự cố xảy ra.

2.2 Bản chất kinh doanh bảo hiểm

Kinh doanh bảo hiểm là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và bên cung ứng dịch vụ bảo hiểm, trong đó bên mua trả tiền định kỳ để được bồi thường khi xảy ra "sự kiện bảo hiểm" Hợp đồng bảo hiểm là phương tiện pháp lý ghi nhận quyền lợi và nghĩa vụ của các bên Ngoài hai bên chính, còn có các chủ thể như đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tham gia vào việc thiết lập hợp đồng bảo hiểm.

Ngoài mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm, còn tồn tại các quan hệ bảo hiểm phái sinh, đặc biệt là quan hệ kinh doanh tái bảo hiểm.

2.3 Đặc trưng của kinh doanh bảo hiểm

Từ định nghĩa trên, có thể thấy kinh doanh bảo hiểm được thể hiện qua những đặc trưng sau:

Chủ thể chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), có nhiệm vụ lập quỹ bảo hiểm từ phí bảo hiểm của người tham gia DNBH quản lý và sử dụng quỹ này để chi trả cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Kinh doanh bảo hiểm là một loại hình dịch vụ tài chính đặc biệt, trong đó sản phẩm bảo hiểm gắn liền với cam kết đối phó với các yếu tố rủi ro.

Hoạt động bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm mục đích thu lợi nhuận thông qua việc tạo ra thu nhập từ hai nguồn chính Thứ nhất, DNBH thu được phần chênh lệch giữa số phí bảo hiểm mà người tham gia đóng và các nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường Thứ hai, DNBH còn có lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính, sử dụng nguồn thu phí để đầu tư sinh lợi.

Thứ tư, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có điều kiện, đặt dưới sự quản lý nhà nước của Bộ Tài chính

Thứ năm, hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bằng Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật khác có liên quan

2.4 Hoạt động doanh nghiệp trong kinh doanh bảo hiểm a Hoạt động doanh nghiệp

Doanh nghiệp bảo hiểm là tổ chức hoạt động theo Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định liên quan, phải được Bộ Tài chính cấp giấy phép để hoạt động tại Việt Nam Các hoạt động chính của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm, phòng ngừa rủi ro, giám định tổn thất, đại lý giám định tổn thất, quản lý quỹ và đầu tư vốn, cùng các hoạt động khác theo quy định pháp luật.

Theo quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ các hoạt động cụ thể được phép và không được phép thực hiện Đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm phi nhân thọ, pháp luật cấm doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh đồng thời bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cung cấp dịch vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người như một phần bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ (theo Điều 77 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP).

Theo Điều 37 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016, Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành Luật Kinh doanh Bảo hiểm và các sửa đổi, bổ sung liên quan đến luật này.

1 Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài được phép hoạt động theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 60 Luật kinh doanh bảo hiểm

2 Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không được phép kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ và ngược lại

3 Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe

4 Chi nhánh nước ngoài chỉ được kinh doanh các nghiệp vụ, sản phẩm bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được kinh doanh theo quy định của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính

Khoản 3 Điều 37 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh Bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe.”

Khoản 1 và khoản 3 Điều 4 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh Bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định:

1 Bảo hiểm nhân thọ gồm các nghiệp vụ quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm và khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.”

3 Bảo hiểm sức khỏe gồm các nghiệp vụ quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.” Đối với chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ theo Nghị định 73/2016/NĐ-CP tại khoản 4 Điều 37 Điều kiện thành lập chi nhánh nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp Bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thành lập chi nhánh tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 8 Nghị định b Nguồn quỹ bảo hiểm

Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

Những vấn đề cơ bản về pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

Dịch vụ bảo hiểm có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và đời sống xã hội, do đó, nhà nước cần sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thường được chia thành hai phần chính: đầu tiên là các quy định về hình thức tổ chức kinh doanh bảo hiểm, chủ yếu được quy định trong luật doanh nghiệp; thứ hai là các quy định điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm, tập trung vào việc điều chỉnh các hợp đồng bảo hiểm.

Từ thực tiễn lập pháp của Việt Nam có thể rút ra định nghĩa pháp luật kinh doanh bảo hiểm như sau:

Pháp luật kinh doanh bảo hiểm bao gồm các quy định pháp lý điều chỉnh tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, đồng thời xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động bảo hiểm.

Các quy phạm pháp luật này có thể chia làm hai nhóm :

Nhóm thứ nhất bao gồm các quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh trong thị trường bảo hiểm, như doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm Các quy định này được tìm thấy trong nhiều nguồn luật khác nhau.

Nhóm quy phạm pháp luật thứ hai điều chỉnh mối quan hệ về thu, nộp phí bảo hiểm và chi trả tiền bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Các quy định này chủ yếu được quy định trong luật kinh doanh bảo hiểm cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.

Luật Kinh doanh bảo hiểm điều chỉnh các tổ chức và hoạt động liên quan đến bảo hiểm, bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm Mục tiêu của luật là bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của các cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm Theo Điều 1 của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2019, phạm vi điều chỉnh được quy định rõ ràng nhằm đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Luật kinh doanh bảo hiểm quy định về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

Tổ chức kinh doanh bảo hiểm là quá trình thiết lập mối quan hệ bảo hiểm giữa các cá nhân và tổ chức theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2019.

+ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các hoạt động, hình thức thực hiện kinh doanh bảo hiểm khi đã xác lập quan hệ kinh doanh bảo hiểm

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm là những yếu tố quan trọng trong mối quan hệ bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm Các tổ chức và cá nhân cần hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cũng như thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình tham gia bảo hiểm.

Luật kinh doanh bảo hiểm không áp dụng cho các loại bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và những bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện, vì chúng được quy định trong các luật như Luật bảo hiểm xã hội và Luật bảo hiểm y tế Những loại bảo hiểm này không mang tính chất kinh doanh tự phát mà hoàn toàn được Nhà nước điều chỉnh và quản lý.

Theo Khoản 1 Điều 2 của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2019, tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam phải tuân thủ quy định của luật này cùng các quy định pháp luật liên quan Để được áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm, các tổ chức phải đáp ứng hai điều kiện: là chủ thể hoạt động kinh doanh bảo hiểm và thực hiện các hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

“Hoạt động trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

1.4 Nguyên tắc của luật kinh doanh bảo hiểm

Nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm là tư tưởng chủ đạo của doanh nghiệp bảo hiểm và các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm Việc vi phạm các nguyên tắc này sẽ dẫn đến các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật Các nguyên tắc pháp luật và nguyên tắc nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm khác nhau về bản chất; trong khi doanh nghiệp bảo đảm thực hiện theo nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm, việc tuân thủ các nguyên tắc pháp luật là nghĩa vụ bắt buộc Theo Điều 6, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2019, có hai nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm.

Tổ chức và cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thể lựa chọn tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp trong nước hoặc sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới Nguyên tắc này được đặt ra nhằm ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài khai thác thị trường Việt Nam và chuyển phí bảo hiểm ra nước ngoài, ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư phát triển.

Doanh nghiệp bảo hiểm, với tư cách là một chủ thể kinh doanh, có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật và đảm bảo yêu cầu tài chính để thực hiện cam kết với bên mua bảo hiểm Hoạt động kinh doanh bảo hiểm mang tính rủi ro cao, do đó, việc đảm bảo khả năng tài chính không chỉ tạo uy tín và hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn góp phần quan trọng vào sự ổn định của nền kinh tế và đời sống xã hội.

1.5 Pháp luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam hiện nay được quy định tại những văn bản pháp luật

Pháp luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam hiện nay được quy định bởi nhiều văn bản pháp luật, bao gồm Bộ luật dân sự 2015, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung 2010, Luật kinh doanh bảo hiểm 2019, và Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 Các văn bản này được ban hành bởi Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan Trong đó, Luật kinh doanh bảo hiểm 2019 là văn bản chủ đạo, hợp nhất từ Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 và Luật sửa đổi bổ sung 2010, đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

Nội dung pháp luật vê kinh doanh bảo hiểm

2.1 Hình thức kinh doanh bảo hiểm

Trước đây, bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực độc quyền của nhà nước tại Việt Nam, chỉ có Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) hoạt động trong lĩnh vực này, đảm nhận cả chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh Tuy nhiên, khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước đã không còn giữ độc quyền, cho phép các thành phần kinh tế khác tham gia kinh doanh bảo hiểm Điều này đã dẫn đến sự hình thành và phát triển đa dạng của thị trường bảo hiểm, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Chúng tôi sẽ trình bày một số tiêu chí phân loại các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay.

Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp:

Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước là tổ chức kinh doanh bảo hiểm được thành lập và quản lý bởi nhà nước, với nhiệm vụ thực hiện các hoạt động bảo hiểm và thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước giao Ngoài việc tuân thủ quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp này còn phải tuân theo các quy định trong các văn bản pháp luật dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước.

Công ty cổ phần bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm mà các thành viên góp vốn để kinh doanh, chia sẻ lợi nhuận và chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi vốn góp của mình Đây là những công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, và hoạt động của chúng phải tuân theo Luật kinh doanh bảo hiểm cùng với Luật doanh nghiệp.

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là một pháp nhân được thành lập với mục tiêu kinh doanh bảo hiểm nhằm hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, trong đó mỗi thành viên vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm Trên thế giới, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động dưới hình thức này, và ở Việt Nam, pháp luật hiện hành đã quy định rõ ràng về tổ chức bảo hiểm tương hỗ theo Điều 70 LKDBH Tuy nhiên, trong các lĩnh vực phát triển mạnh như nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hoặc hoạt động hiệu quả chưa cao.

Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, là những tổ chức được thành lập với một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ từ doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, nhằm hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm tại Việt Nam.

Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thì các doanh nghiệp bảo hiểm được chia thành:

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là tổ chức chuyên cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhằm bảo vệ tài chính cho người tham gia trong suốt cuộc đời Bảo hiểm nhân thọ không chỉ là một hình thức bảo hiểm mà còn kết hợp với tiết kiệm và đầu tư, giúp người tham gia tích lũy tài sản Đặc điểm nổi bật của bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng có thời hạn dài và tính chất đền bù cao, mang lại sự an tâm cho người được bảo hiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chuyên cung cấp các dịch vụ bảo hiểm liên quan đến tài sản và trách nhiệm dân sự Đây là loại hình bảo hiểm không bao gồm các rủi ro liên quan đến tính mạng con người, mà tập trung vào việc bảo vệ tài sản và quyền lợi hợp pháp của cá nhân và tổ chức.

Doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe cung cấp dịch vụ bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm trong các trường hợp bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc cần chăm sóc sức khỏe.

Do sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại nghiệp vụ bảo hiểm nên theo Khoản 3 Điều

Theo quy định tại khoản 3 điều 77 của Luật Kinh doanh bảo hiểm (LKDBH), doanh nghiệp bảo hiểm không được phép hoạt động đồng thời trong các lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe, trừ những trường hợp đặc biệt được quy định trong luật.

Hiện nay, tại Việt Nam, có ba loại hình doanh nghiệp bảo hiểm: doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Những loại hình này không chỉ khác nhau về tên gọi và nghiệp vụ kinh doanh, mà còn có những quy định pháp luật cụ thể khác nhau Sự khác biệt này cũng được thể hiện qua quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 không phân chia bảo hiểm sức khỏe mà chỉ bao gồm trong bảo hiểm phi nhân thọ, trong khi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2021 đã tách biệt bảo hiểm sức khỏe thành một loại hình riêng Trước đây, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được chia thành hai loại: doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có quyền cung cấp các sản phẩm như bảo hiểm sinh kỳ, tử kỳ, hỗn hợp, hưu trí, trọn đời và bảo hiểm trả tiền định kỳ, cùng với các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe theo quy định tại Điều 37 Nghị định 73/2016/NĐ-CP Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cũng được phép kinh doanh bảo hiểm sức khỏe theo cùng một nghị định Tuy nhiên, theo quy định, doanh nghiệp bảo hiểm không được kinh doanh cả hai loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, trừ khi doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cung cấp bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người như một phần bổ trợ cho sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.

Công ty cổ phần bảo hiểm là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, nơi các thành viên cùng góp vốn, chia sẻ lợi nhuận và chịu lỗ theo tỷ lệ vốn góp Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi vốn đã góp Hoạt động của công ty cổ phần bảo hiểm được điều chỉnh bởi Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật doanh nghiệp.

Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm bao gồm các loại hình như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm.

Bảo hiểm hợp tác xã là một hình thức bảo hiểm quan trọng trên thế giới, được tổ chức dưới hai hình thức chính: hợp tác xã bảo hiểm và bảo hiểm từng hộ Tại nhiều quốc gia phát triển như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc, bảo hiểm hợp tác xã đóng vai trò hàng đầu trong lĩnh vực bảo hiểm Đặc biệt trong nông nghiệp, bảo hiểm hợp tác xã chiếm tỷ lệ lớn, vì không có tổ chức kinh doanh bảo hiểm nào với mục tiêu lợi nhuận tham gia vào bảo hiểm nông nghiệp cho nông dân Các tổ chức bảo hiểm hợp tác xã nông nghiệp ở các nước thường là những tổ chức lớn, cung cấp cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ Để phát triển khuôn khổ pháp lý cho các loại hình hợp tác xã, cần nghiên cứu bổ sung quy định về hợp tác xã kinh doanh bảo hiểm vào Dự thảo Luật, theo đề nghị của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội trong báo cáo thẩm tra.

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được thành lập nhằm mục đích kinh doanh bảo hiểm và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên Trong mô hình này, các thành viên không chỉ là bên mua bảo hiểm mà còn là đồng chủ sở hữu của tổ chức, tạo ra sự gắn kết và trách nhiệm chung trong việc bảo vệ quyền lợi của nhau.

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2019

3.1 Lý do chọn “tổ chức bảo hiểm tương hỗ” để phân tích trong nội dung về “pháp luật về kinh doanh bảo hiểm”

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây, đóng góp quan trọng vào việc giảm thiểu rủi ro trong sản xuất và đời sống xã hội Sự phát triển này không chỉ cải thiện môi trường đầu tư mà còn giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Một yếu tố then chốt trong thành công này là sự xuất hiện và phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm đa dạng, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội đã dẫn đến nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng, tuy nhiên, các sản phẩm bảo hiểm hiện có trên thị trường vẫn chưa đáp ứng hiệu quả nhu cầu của người dân, đặc biệt là đối với các rủi ro đặc thù như nông nghiệp, tín dụng, thiên tai và hoạt động nghề nghiệp Nguyên nhân chủ yếu là do tính chất đặc thù của những rủi ro này, khiến các doanh nghiệp bảo hiểm khó có thể đáp ứng Một giải pháp khả thi là phát triển doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ, nơi các thành viên vừa là bên bảo hiểm vừa là bên mua bảo hiểm, góp phần ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm tại các nước phát triển và đang phát triển.

3.2 Khái niệm “tổ chức bảo hiểm tương hỗ”

Theo Điều 70 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2019 định nghĩa về tổ chức bảo hiểm tương hỗ như sau:

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là một pháp nhân được thành lập theo quy định pháp luật nhằm mục đích kinh doanh bảo hiểm, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên Các thành viên không chỉ là người mua bảo hiểm mà còn là chủ sở hữu của tổ chức Để thành lập, tổ chức cần có Giấy phép hoạt động và các thành viên sáng lập phải ký kết hợp đồng trước khi xin cấp phép Tổ chức này có tài khoản ngân hàng riêng, trụ sở độc lập và có khả năng chịu trách nhiệm dân sự, hình sự đối với các hoạt động của mình.

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ được thành lập với mục đích hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, khác với doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, tổ chức này không nhằm thu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đặc điểm này khiến tổ chức bảo hiểm tương hỗ giống với các tổ chức nghề nghiệp hơn là với các doanh nghiệp và chi nhánh nước ngoài.

3.3 Thành lập và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Các thành viên sáng lập sẽ thành lập Ban vận động để khởi xướng việc thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ, và những người sáng lập này có thể là cả tổ chức lẫn cá nhân.

Sau khi thành lập, Ban vận động phải xây dựng và gửi Bộ Tài chính văn bản xin ý kiến về đề án thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ, kèm theo các tài liệu như dự thảo điều lệ, phương án kinh doanh và năng lực tài chính.

Sau khi Bộ Tài chính chấp thuận nguyên tắc, Ban vận động sẽ tiến hành tuyên truyền để thu hút những người có nhu cầu tham gia tổ chức bảo hiểm tương hỗ Đồng thời, Ban sẽ tiếp nhận các khoản đóng góp và đơn xin tham gia Tiếp theo, Ban cần chuẩn bị và nộp hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ theo quy định Cuối cùng, Ban sẽ xúc tiến các công việc cần thiết khác để hoàn tất việc thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

Sau khi nhận được sự chấp thuận về nguyên tắc từ Bộ Tài chính và đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết, các thành viên sáng lập sẽ nộp hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ cho Bộ Tài chính.

Bước 5: Tiến hành các công việc cần thiết để khai trương hoạt động trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép

3.3.2 Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là một loại hình tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, và cần có Giấy phép thành lập và hoạt động Trước khi được cấp Giấy phép này, các thành viên sáng lập phải ký kết hợp đồng nhằm phục vụ cho việc thành lập tổ chức theo điều 12 Nghị định số 18/2005/NĐ.

CP về: “Hợp đồng được ký trước khi cấp Giấy phép thành lập và hoạt động”

Theo Điều 11 Nghị định số 18/2005/NĐ-CP, việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức bảo hiểm tương hỗ phải tuân thủ các quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể các nội dung liên quan đến quy trình này.

Để trở thành thành viên sáng lập của tổ chức bảo hiểm tương hỗ, các tổ chức và cá nhân cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện, đảm bảo có ít nhất 10 thành viên ngay từ thời điểm thành lập Khi các điều kiện này được thỏa mãn, tổ chức bảo hiểm tương hỗ sẽ tiến hành thủ tục xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động bằng cách gửi hồ sơ đến Bộ Tài chính Theo Điều 1 Chương III Thông tư số 52/2005/TT-BTC ngày 20/06/2005, tổ chức cần đáp ứng 5 điều kiện cụ thể để được cấp Giấy phép này.

Có mức vốn thành lập không thấp hơn mức vốn pháp định

Có hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Có lĩnh vực và nội dung hoạt động dự kiến phù hợp

Có số lượng thành viên tối thiểu là 10 thành viên

3.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Theo Điều 2 của Nghị định số 18/2005/NĐ-CP, quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ, có những quy định cụ thể về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các tổ chức này.

Theo quy định, "tổ chức có tư cách pháp nhân" nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm phải được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và tài sản độc lập Doanh nghiệp này phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập Chỉ khi đáp ứng đầy đủ các yếu tố này, doanh nghiệp bảo hiểm mới có thể được thành lập.

Theo quy định, tên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ cần phản ánh rõ bản chất tương hỗ, nhằm phân biệt và tránh nhầm lẫn với các loại hình bảo hiểm khác.

Theo quy định, “Thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ” bao gồm các tổ chức và cá nhân đáp ứng đủ điều kiện pháp luật để tham gia thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ Những thành viên sáng lập này phải cam kết mua bảo hiểm từ tổ chức ngay sau khi tổ chức được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định.

Thực trạng vấn đề kinh doanh bảo hiểm và giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về

Ngày đăng: 26/04/2022, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w