ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI Thông qua diễn biến trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ (1954), hãy làm rõ sức mạnh đoàn kết của dân tộc Liên hệ với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay SINH VIÊN THỰC HIỆN TRƯƠNG BÙI HOÀI THƯƠNG LỚP HP 000014008 MSSV 19510101208 GVHD ThS NGUYỄN THỊ LAN CHIÊN DẪN LUẬN “Chín năm làm một Điện Biên Nên vành hoa đỏ, nên thi.
Trang 1ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: Thông qua diễn biến trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ
(1954), hãy làm rõ sức mạnh đoàn kết của dân tộc Liên hệ với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện
nay.
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRƯƠNG BÙI HOÀI THƯƠNG
LỚP HP: 000014008 MSSV: 19510101208 GVHD: ThS NGUYỄN THỊ LAN CHIÊN
Trang 2DẪN LUẬN
“Chín năm làm một Điện Biên Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”
Tố Hữu Sắp tới kỷ niệm 67 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 – 7-5-2021), mỗi người dân Việt Nam đều bồi hồi về chiến công hiển hách của dân tộc với sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Nhà nước Với nước Pháp, “Điện Biên Phủ thất thủ gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp Đó là một trong những thảm hại lớn nhất của phương Tây” Một trong những nguyên nhân đi đến thắng lợi vẻ vang này được nhận định là do sự đồng lòng, dốc sức của toàn thể nhân dân trong chiến dịch, gọi
là sức mạnh của đoàn kết toàn dân Sức mạnh này đã được minh chứng trong các cuộc chiến tranh thời phong kiến, cho đến chiến thắng Điện Phủ như thế nào, và sức mạnh ấy còn được đề cao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay hay không?
Trang 3NỘI DUNG
1 Chương 1 CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
1.1 Chiến thắng Điện Biên phủ (1954)
1.1.1 Bối cảnh lịch sử Tháng 5-1953, Pháp cử Đại tướng H Navarre (Hăngri Nava) đang đảm nhiệm chức vụ tổng tham mưu trưởng lục quân khối NATO sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương Tháng 7-1953, Nava đã vạch ra kế hoạch chính trị - quân sự mới lấy tên là “Kế hoạch Nava”, dự kiến thực hiện trong 18 tháng nhằm “chuyển bại thành thắng” Nava chủ trương tăng cường tập trung binh lực, hình thành những “quả đấm thép” để quyết chiến với chủ lực của Việt Minh
Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn nằm ở phía tây rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào, có vị trí chiến lược then chốt ở Đông Dương và cả ở Đông Nam
Á nên quân Pháp cố nắm giữ
Nava tập trung mọi cố gắng để xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn
cứ điểm mạnh nhất Đông Dương Tổng số binh lực địch ở đây lúc cao nhất có tới
16200 quân, được bố trí thành ba phân khu: phân khu Bắc gồm các cứ điểm Độc Lập, Bản Kéo; phân khu Trung tâm ở ngay giữa Mường Thanh, nơi đặt sở chỉ huy,
có trận địa pháo, kho hậu cần, sân bay, tập trung 2/3 lực lượng; phân khu Nam đặt tại Hồng Cúm, có trận địa pháo, sân bay Tổng cộng cả ba phân khu có 49 cứ điểm
Sau khi kiểm tra, các tướng lĩnh Pháp và Mĩ đều coi Điện Biên Phủ là “một pháo đài bất khả xâm phạm” Và nơi đây được giới quân sự, chính trị Pháp – Mĩ đánh giá là “một cỗ máy để nghiền Việt Minh”
Để đánh bại âm mưu và kế hoạch Nava, Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 Cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp bàn và thông qua chủ trương tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng của ta giữ vững thế chủ động, buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó Tháng 12-1953, Bộ Tổng tham mưu đã xây dựng xong các kế hoạch tác chiến cụ thể cho các chiến trường và được Bộ Chính trị phê chuẩn Trên cơ sở báo cáo quyết tâm của Tổng Quân ủy, cuộc họp Bộ Chính trị ngày 6-12-1953 đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ và giao Đại tướng Võ
Trang 4Nguyên Giáp – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh quân đội trực tiếp làm
Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt lực lượng địch ở đây, gải phóng vùng Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng Bắc Lào
Chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp bởi Catherine Karnow.
Khi che nủa mặt bên trái của cụ lại, sẽ thấy một người đàn ông hòa nhã, hiền lành Khi che nửa mặt bên phải của cụ, sẽ thấy một vị tướng dung cảm, sẵn sang quét sạch bất kì kẻ thù
nào, dù có hùng mạnh đến mấy, dám xâm lược đất nước ông.
Trang 51.1.2 Diễn biến
Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”, cả nước dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ Lực lượng tham gia chiến đấu lên đến 55.000 quân, gồm 3 đại đoàn
bộ binh (308, 312, 316), Trung đoàn bộ binh 57 (Đại đoàn 304), Đại đoàn công binh - pháo binh 351 Trên 260.000 dân công và 27.400 tấn gạo được huy động để cung cấp cho chiến dịch Hàng vạn thanh niên xung phong phối hợp cùng bộ đội công binh ngày đêm mở đường ra mặt trận dưới bom đạn địch, nên sau một thời gian ngắn, hàng ngàn km đường được xây dựng, sửa chữa Công tác chuẩn bị các mặt trên vượt ra ngoài mọi dự đoán, tạo bất ngờ lớn đối với cả Pháp và Mỹ
Chiến dịch Điện Biên Phủ chia làm 3 đợt:
Đợt 1, từ ngày 13 đến ngày 17-3-1954: quân ta tiến công tiêu diệt cụm cứ
điểm Him Lam và toàn bộ phân khu Bắc Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần
2000 tên địch
Đợt 2, từ ngày 30-3 đến ngày 26-4-1954: quân ta đồng loạt tiến công các cứ
điểm phía đông phân khu Trung tâm như E1, D1, C1, C2, A1 v.v Ta chiếm phần lớn các cứ điểm của địch, tạo thêm điều kiện để bao vây, chia cắt, khống chế địch Sau đợt này, Mĩ khẩn cấp viện trợ cho Pháp và đe dọa ném bom nguyên tử xuống Điện Biên Phủ Ta kịp thời khắc phục khó khan về tiếp tế, nâng cao quyết tâm giành thắng lợi
Đợt 3, từ ngày 1-5 đến ngày 7-5-1954: quân ta đồng loạt tiến công phân khu
Trung tâm và phân khu Nam, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm đề kháng còn lại của địch Chiều 7-5, quân ta đánh vào sở chỉ huy địch 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ Ban Tham mưu của địch đầu hàng và bị bắt sống
Trang 6Lược đồ diễn biến chiến lược Điện Biên Phủ (1954)
Các chiến trường toàn quốc đã phối hợp chặt chẽ nhằm phân tán, tiêu hao, kìm chân địch, tạo điều kiện cho Điện Biên Phủ giành thắng lợi
1.1.3 Kết quả Tiêu diệt toàn bộ quân địch, loại khỏi vòng chiến đấu 16200 quân địch, trong đó có 1 thiếu tướng, hạ 62 máy bay các loại, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh
Cuộc chiến dịch lịch sử đã đập tan kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định Vò
ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi
Ngày hôm sau, 8-5-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở
Điện Biên Phủ: “Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ Bác và chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang.Thắng lợi tuy lớn nhưng là
Trang 7mới bắt đầu Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình Bất kì đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn Bác và Chính phủ sẽ khen thưởng những cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương có công trạng đặc biệt.”
Chiến dịch dài ngày nhất (56 ngày đêm), động viên nỗ lực cao nhất của Quân đội và nhân dân Việt Nam trong chiến dịch với 55000 quân và hơn 260000 dân công phục vụ chiến dịch Đây là chiến thắng lớn nhất của toàn bộ cuộc chiến tranh chống Pháp, nhiều tấm gương hy sinh anh hung nhất, xuất hiện nhiều con người vĩ đại nhất, cũng là trận đánh có thương vong lớn nhất với 4020 chiến sĩ tử trận, 9118 chiến sĩ bị thương, 792 người mất tích Xương máu của những chiến sĩ Việt Minh làm rạng danh nòi giống Việt Nam – Châu Á, khiến cho người dân thuộc địa noi gương, góp phần quyết định đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới
1.1.4 Ý nghĩa Chiến dịch Điện Biên Phủ là một mốc son chói lọi trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ, anh dũng của nhân dân
ta chống thực dân Pháp, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh Việt Nam, đồng thời tác động mạnh đến phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Báo chí phản động Pháp – Mỹ đã phải nhận rằng: “Điện Biên Phủ là cuộc thất bại to lớn nhất từ ngày Pháp đầu hàng Đức (1940) Quân viễn chinh Pháp đã bị chặt mất đầu” Tin Điện Biên Phủ thất bại
về đến Pháp đúng vào ngày cả nước Pháp đang tưng bừng sắm sửa ăn mừng
“thắng” Đức (1945) Thành thử cuộc ăn mừng cụt hứng mà hóa ra cuộc truy điệu
1.2 Sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc
1.2.1 Sức mạnh đoàn kết dân tộc trong quá khứ Ngược dòng thời gian trở về với với những trận chiến hào hùng của dân tộc, những trận chiến đem lại thắng lợi vẻ vang mà nguyên nhân cốt yếu là sức mạnh của đoàn kết toàn dân tộc Trong những trang lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta đã ghi nhận, quân dân triều Trần đã ngăn chặn và đập tan ba cuộc chiến tranh xâm lược của đội quân Thành Cát Tư Hãn thiện chiến (1258, 1285, 1287 -1288) Để có được những thắng lợi đó, chắc chắn vua tôi nhà Trần đã khéo léo quy
Trang 8động sức mạnh toàn dân, trên dưới một lòng, quyết tâm chống giặc cứu nước, bảo
vệ nền độc lập dân tộc
Trước sức mạnh hủy diệt của quân Mông - Nguyên, nền độc lập dân tộc và cương vực nước Đại Việt bị đe đọa… Đứng trước tình hình đó, một số quan lại, quý tộc nhà Trần đã tỏ ra nao núng lo sợ, một bộ phận khác lộ rõ tư tưởng thỏa hiệp, đầu hàng, còn đối với người dân Đại Việt, họ vốn chỉ biết lam lũ làm ăn, lo toan nghéo khó, không quen cung, ngựa… làm sao chống lại được đội quân bách chiến, bách thắng Mông - Nguyên
Khi quân của Trấn Nam vương Thoát Hoan (con của Hốt Tất Liệt) chuẩn bị đưa đại quân tiến vào lãnh thổ Đại Việt, lập tức tháng 10-1282, vua Trần đã tổ chức hội nghị các vương hầu tại bến Bình Than để bàn kế sách chống giặc Nguyên xâm lược Tại hội nghị dù có nhiều ý kiến trái ngược nhau để đối phó với giặc,
nhưng cũng tại hội nghị, “Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư quyết xin đem quân
đi phòng giữ các nơi hiểm yếu, không cho quân Mông – cổ sang nước Nam Nhân tông ưng nghe lời ấy”.
Việc tổ chức hội nghị Bình Than đã minh chứng cho sự khéo léo của vua Trần trong việc tập trung huy động toàn bộ tướng lĩnh nhà Trần, những người chịu trách nhiệm trước vận mệnh quốc gia để cùng nhau tham gia, hoạch định chiến lược chống giặc cứu nước Tinh thần quyết chiến của các quý tộc Trần chính là ngọn lửa thắp sáng thêm tinh thần quyết chiến của toàn dân nước Đại Việt
Sau hội nghị Bình Than, vương triều Trần tỏ rõ quyết tâm phát động và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược Với tư cách là tầng lớp lãnh đạo, triều Trần nhận thấy nước Đại Việt có đủ sức mạnh để đánh bại đạo quân Mông – Nguyên trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát động cuộc chiến tranh nhân dân chống giặc cứu nước Do vậy, năm 1285, khi quân của Thoát Hoan đã áp sát biên giới nước Đại Việt, vua Trần liền tổ chức hội nghị Diên Hồng, mời các bô lão, những bậc cao niên được làng xã kính trọng, đại diện của nhân dân khắp nơi trong cả nước về triều để bàn hỏi về việc đánh giặc
Tại hội nghị Diên Hồng, khi nhà vua hỏi nên hòa hay đánh?,“Các phụ lão
đều nói là nên đánh, muôn người cùng lời như một” Sử thần Ngô Sĩ Liên có
viết:“Thánh tông muốn làm thế để xét lòng yêu nước của nhân dân và để nhân dân
nghe lời dụ hỏi mà cảm kích hăng hái lên thôi” Giáo sư sử học Trần Văn Giàu
nhận xét: “Quyết tâm của bô lão“quyết chiến!” là lời hứa hẹn, lời thề quyết chiến
của nhân dân đối với triều đình, cũng là lời của triều đình muốn qua các bô lão truyền vào nhân dân cả nước” Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm cũng khẳng
định “Hòa hay chiến?” cùng tiếng trả lời “Quyết chiến !” ở Hội nghị Diên Hồng
ngày xưa chính là một trong những biểu hiện sơ khai của sự kết hợp giữa tinh thần cứu nước và ý thức dân chủ của nhân dân ta”, “không nghi ngờ gì nữa, cuộc chiến
Trang 9tranh vệ quốc thế kỷ XIII là một cuộc kháng chiến toàn dân, một cuộc chiến tranh nhân dân theo cách nói của Engels, “một cuộc chiến tranh nhân dân để bảo tồn dân tộc” Việc tổ chức hội nghị Diên Hồng một lần nữa minh chứng cho sự khéo
léo đến tài tình của vua Trần trong việc tạo sự đồng thuận trong toàn dân, đồng thời phát động toàn dân quyết tâm cùng triều đình đánh giặc cứu nước
Vận nước lâm nguy, nhà vua trực tiếp cầm quân ra trận, tướng sĩ “tới bữa
quên ăn, nửa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đìa, ruột đau như cắt, chỉ giận không được ăn thịt, nằm da, nuốt gan, uống máu quân thù”, “dầu trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”, Đất nước
đứng trước nạn ngoại xâm, từ vua quan đến thần dân, từ tướng lĩnh đến quân sĩ, từ người già đến trẻ nhỏ… tất cả đồng lòng quyết tâm chống giặc cứu nước bảo vệ nền độc lập dân tộc
Trước lúc xung trận, lời thề Sát Thát được khắc chạm vào những cách tay trần của người dân Đại Việt, khối đại đoàn kết của cả một dân tộc đã tạo nên một sức mạnh thần thoại, sức mạnh Phù Dổng có thể đánh bại mọi kẻ thù xâm lược Và thực tế lịch sử đã chứng minh, vua tôi nước Dại Việt đã đập tan các cuộc chiến tranh xâm lược của đội quân Mông - Nguyên hùng mạnh
Song trong một số cuộc chiến tranh không tận dụng được sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân nên đã bị thất bại thảm hại Chiến tranh Đại Ngu – Đại Minh (1406-1407) là một minh chứng, khi kết quả là nhà Minh đánh bại hoàn toàn quân đội nhà Hồ, bắt được Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương, bởi Hồ Quý Ly đem lại sự bất mãn cho tầng lớp quý tộc và dân chúng trong nước, không được lòng dân nên không sử dụng được sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc
1.2.2 Sức mạnh đoàn kết dân tộc trong chiến dịch Điện Biên Phủ Một trong những nguyên nhân quyết định thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là sức mạnh đoàn kết của toàn thể nhân dân, nhân dân góp sức, hết lòng hướng về chiến dịch lịch sử Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là sách lược hay thủ đoạn chính trị mà là chiến lược lâu dài, nhất quán của cách mạng Việt Nam Người nói rõ: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân
ta không đoàn kết thị bị nước ngoài xâm lấn” Trong chỉ thị của chủ tịch Hồ Chí
Minh cho đại tướng Võ Nguyên Giáp (12-1953), Người chỉ rõ: “chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”
Nhận thấy được sức mạnh của đoàn kết toàn đân, nhằm phát huy sức mạnh của hậu phương, chi viện tiền tuyến, nhất là lực lượng nông dân, Trung ương
Trang 10Đảng, Quốc hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định phát động phong trào quần chúng đấu tranh triệt để giảm tô, giảm tức và tiến hành cải cách ruộng đất, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ủy ban chi viện tiên tuyến; Hội đồng cung cấp Mặt trận Trung ương và các địa phương cũng được thành lập Mọi nguồn nhân tài, vật lực, dân công tiếp tế, chi viện cho mặt trận Điên Biên Phủ được tăng cường với hàng vạn ngày công, hàng vạn tấn lương thực, đạn dược, vũ khí, phương tiện trang bị,…
21 000 xe đạp thồ, 261500 dân công cùng các loại ô tô, tàu, thuyền, lừa, ngựa… ngày đêm vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược lên mặt trận Điện Biên Phủ - một hình ảnh đẹp.
Sự đóng góp to lớn của lực lượng dân công, đảm bảo hậu cần cho chiến dịch
là một trong những nguyên nhân chính làm nên chiến thắng Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”, cả nước dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ Lực lượng tham gia chiến đấu lên đến 55000 quân, gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316), Trung đoàn bộ binh 57 (Đại đoàn 304), Đại đoàn công binh – pháo binh 351 Trên 260000 dân công và 27400 tấn gạo được huy động để cung cấp cho chiến dịch Hàng vạn thanh niên xung phong phối hợp cùng bộ đội công binh ngày đêm mở đường ra mặt trận dưới bom đạn địch, nên sau một thời gian ngắn, hàng ngàn km đường được xây dựng, sửa chữa Công tác chuẩn bị cho các mặt trận vượt ra ngoài mọi dự đoán, tạo bất ngờ lớn đối với cả Pháp và Mỹ