Từ đó đánh giá những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật và trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng của công ty; trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn th
Trang 1- Họ và tên: ThS Hoàng Thanh Giang - Họ và tên: Trần Minh Trang
- Mã SV: 18D200108
HÀ NỘI - 2022
Trang 2ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
4.3 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu khoá luận tốt nghiệp 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ 5
1 1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ 5
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng 5
1.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ 6
1.1.3 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ 7
1.1.4 Phân loại hợp đồng dịch vụ 8
1.1.5 Vai trò của hợp đồng dịch vụ đối với các doanh nghiệp 10
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ 10
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ 10
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ 11
1.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ 14
1.3.1 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí hợp tác, trung thực và ngay thẳng 14
1.3.2 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng dịch vụ nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội 15
1.4.3 Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU BÌNH MINH 16
Trang 32.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ 19
2.2.1 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh đối tượng hợp đồng dịch vụ 19 2.2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh chủ thể hợp đồng dịch vụ
19
2.2.3 Thực trạng pháp luật quy định về giá dịch vụ và trả tiền dịch vụ 19 2.2.4 Thực trạng pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ 20 2.2.5 Thực trạng pháp luật quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ
21
2.2.6 Thực trạng pháp luật quy định về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng dịch vụ 23 2.2.7 Thực trạng pháp luật quy định về sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng dịch vụ 25 2.2.8 Thực trạng pháp luật quy định về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong quan hệ hợp đồng dịch vụ 27
2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ và thực tiễn thực hiện tại công ty tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh 30
2.3.1 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch
vụ tại công ty tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh 30 2.3.2 Thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch
vụ tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh 31
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 35 2.4.1 Những thành tựu mà Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh đạt được trong quá trình giao kết hợp đồng dịch vụ
35
Trang 4iv
2.4.2 Một số bất cập trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ của Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình
Minh 36
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ 39
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ 39
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ 40
3.2.1 Về phía nhà nước 41
3.2.2 Về phía công ty 45
3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 46
KẾT LUẬN 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 5v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng: Doanh thu của Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh 32
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), điều này đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam một cơ hội phát triển lớn Trong suốt khoảng thời gian 15 năm kể từ ngày gia nhập WTO cho đến nay, ngành dịch vụ của Việt Nam có bước tiến phát triển mới Dịch vụ đã trở thành hàng hóa và việc trao đổi, mua bán dịch vụ ngày càng trở nên sôi động, phổ biến khi thị trường thương mại dịch vụ được mở cửa, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp Việt nam với nhau cũng như giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Việt Nam với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài Để có thể nâng cao sức cạnh tranh trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ trong các hoạt động thương mại các doanh nghiệp đã
sử dụng hợp đồng dịch vụ như một công cụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia thị trường thương mại dịch vụ Hợp đồng dịch vụ là một chế định nhằm tạo ra cơ sở pháp lý giúp cho các chủ thể kinh doanh dịch vụ có được môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ vẫn còn tồn tại những khuyết điểm nhất định, môi trường chính sách dịch vụ ở Việt Nam là một hệ thống khá phức tạp với nhiều loại luật, văn bản dưới luật… Các văn bản quy phạm pháp luật về cung ứng dịch vụ, hợp đồng dịch vụ còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau với hiệu lực pháp lý cao thấp cũng khác nhau, xong vẫn chưa tạo được tính thống nhất và tính hệ thống, chưa thể bắt kịp được với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Do đó, khi áp dụng các quy phạm pháp luật về cung ứng dịch vụ vào thực tế cho thấy rất nhiều vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện của các doanh nghiệp, các tổ chức và trong công tác quản lý của nhà nước tạo ra những hạn chế nhất định gây kìm hãm sự phát triển của các hoạt động cung ứng dịch vụ Xuất phát từ thực tế nêu trên và từ thực tiễn trong các hoạt động cung ứng dịch vụ mà em nhận thấy được trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh Em cho rằng việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển kinh tế của một đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế với nền kinh tế thế giới như Việt Nam hiện nay
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Với tầm quan trọng không hề nhỏ đối với khả năng tồn tại, sự phát triển của các doanh nghiệp, cũng như đối với sự phát triển của nền kinh tế, đã có rất nhiều các công trình khoa học, các đề tài khoá luận, các bài báo, …dành mối quan tâm đặc biệt nghiên cứu các vấn đề về hợp đồng nói chung và về hợp đồng dịch vụ nói riêng Từ các góc nghiên cứu khác nhau, các bài viết, bài báo cho thấy một cái nhìn toàn diện hơn về
Trang 82
pháp luật về hợp đồng dịch vụ để từ đó ta có cái nhìn khách quan, toàn diện hơn về hợp đồng dịch vụ Và sau đây là một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về pháp luật hợp đồng dịch vụ:
Khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Yến – Khoa Luật Kinh tế, Viện đại học Mở Hà Nội (2013), “Pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH nhà nước một thành viên Thăng Long – GTC” Đề tài chỉ tập trung vào việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch và thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng này tại công ty TNHH nhà nước một thành viên Thăng Long – GTC Đề tài này chỉ đề cập đến pháp luật về cung ứng dịch vụ ở mảng du lịch chứ không đưa ra những vấn đề pháp lý thuộc phạm vi dân sự, thương mại
Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Mơ – Khoa Luật, Trường đại học Quốc Gia Hà Nội (2011), “Những vấn đề pháp lý về hợp đồng dịch vụ - thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng dịch vụ” Ngoài việc tìm hiểu những vấn đề pháp lý
về hợp đồng dịch vụ, đề tài đi sâu phân tích những vụ việc thực tế về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Kiều Thị Thuỳ Linh (2017), Hợp đồng dịch vụ theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội Đề tài tập trung phấn tích các quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng dịch vụ và các vấn đề thực tiễn
Ngoài những công trình nghiên cứu điển hình trên còn có các bài phát biểu, những bài báo và một số bài viết có liên quan như:
Bài viết của Th.S Hà Công Bảo Anh (2013) “Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của nó đối với doanh nghiệp”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại Bài viết đưa ra một khái niệm mới về thương mại dịch vụ, từ đó phân tích vai trò và tầm quan trọng của loại hợp đồng này đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Bài viết của Kiều Thị Thuỳ Linh (2017) “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, bản giấy số tháng 2 năm 2017 Bài viết đưa ra các quan điểm nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ
Các công trình trên đã nghiên cứu, đánh giá những vấn đề có liên quan đến hợp đồng dịch vụ ở những khía cạnh khác nhau và là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho khoá luận tốt nghiêp nghiên cứu về pháp luật hợp đồng dịch vụ này Tuy nhiên, do có mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau nên các tác giải chưa đề cập một cách toàn diện, đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ Hơn nữa, các công trình nghiên cứu ở trên có một số bài viết đã trở nên cũ so với nội dung pháp luật hiện nay khi BLDS 2015 có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2017 Do đó, em chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng dịch vụ - Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH
Trang 93
Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh” để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn pháp luật về hợp đồng dịch vụ Khoá luận sẽ đi sâu vào nghiên cứu các quy phạm pháp luật về hợp đồng dịch vụ và thực tiễn thực hiện tại một doanh nghiệp cụ thể cũng như đặc điểm, vai trò của loại hợp đồng này với các doanh nghiệp để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về vấn đề này
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Thực tế, nhu cầu sử dụng dịch vụ của xã hội ngày càng tăng dẫn đến các hoạt động kinh doanh cung ứng dịch vụ ngày càng phát triển và đóng vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế Để đảm bảo việc cung ứng dịch vụ diễn ra suôn sẻ thì việc chấp hành pháp luật về hợp đồng dịch vụ là điều tất yếu Do đó, việc tìm hiểu pháp luật về hợp đồng dịch vụ và thực tiễn áp dụng, thực hiện hợp đồng dịch vụ là việc làm cần thiết Nhằm hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật về việc giao kết và thực hiện các hợp đồng dịch vụ thế nào là đúng, là hợp lý? Các đặc điểm pháp lý của hợp đồng dịch vụ là gì? Vai trò của hợp đồng dịch vụ là như thế nào? Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ diễn ra như thế nào? Các đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ là gì? Để trả lời cho các câu hỏi trên, em xin chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng dịch vụ - Thực tiễn thực hiện tại công
ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khoá luận được xây dựng với mục tiêu làm cho người đọc thấy rõ các vấn đề pháp lý về hợp đồng dịch vụ được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật đó tại một doanh nghiệp
cụ thể Trên cơ sở phân tích lý thuyết và phân tích thực tiễn thực hiện tại một doanh nghiệp cụ thể để thấy được các mặt hạn chế, thiếu sót của hệ thống pháp luật quy định các vấn đề liên quan đến hợp đồng dịch vụ, ta có thể đưa ra một số quan điểm, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quy định về vấn đề trên góp phần thúc đầy nền kinh tế nước nhà phát triển
Từ những mục đích nghiên cứu trên, khoá luận đặt ra các mục tiêu cụ thể sau: nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ trong hoạt động thương mại và các quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ; phân tích thực trạng áp dụng quy định
Trang 104
pháp luật về hợp đồng dịch vụ và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh Từ đó đánh giá những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật và trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng của công ty; trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật, đưa
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Do kiến thức còn hạn hẹp và thời gian nghiên cứu không nhiều nên khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại, như LTM 2005, BLDS 2015, và một số văn bản luật chuyên ngành khác Và việc thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ tại Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài khoá luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như phương
pháp duy vật biện chứng, phương pháp định tính, phương pháp định lượng, … Ví dụ, phương pháp duy vật biện chứng, đề tài sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin để giải qyết những vấn đề lý luận và pháp lý liên quan đến các quy định về hợp đồng dịch vụ Trong đó, chú trọng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh pháp luật để làm rõ mối quan hệ quy định về hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2015 với các quy định về cung ứng dịch vụ trong LTM
2005 Hay, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng như phương pháp thu thập, xử lý số liệu, phương pháp khảo sát đánh giá thực tế để tìm hiểu thêm thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ tại Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh nhằm làm rõ hơn thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ tại công ty
6 Kết cấu khoá luận tốt nghiệp
Ngoài chương mở đầu và những mục có liên quan như lời cảm ơn, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ Chương 2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Phát triển công nghệ và Xuất nhập khẩu Bình Minh
Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
Trang 11Ngay từ thời La Mã cổ đại hợp đồng đã chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong pháp luật về nghĩa vụ dân sự Những quy định của người La Mã cổ đại về hợp đồng dân sự đã trở thành kim chỉ nam cho các nhà làm luật của nhiều nước trên thế giới Trong pháp luật La Mã, hợp đồng được coi là “ hình thức thể hiện ý chí của các giao dịch song phương và việc xác lập chúng có thể trực tiếp làm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ”
Theo quy định tại Điều 1.101, Chương I, những quy định mở đầu về hợp đồng
và nghĩa vụ hợp đồng trong BLDS Cộng Hòa Pháp thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó” Theo định nghĩa này, hợp đồng chính là sự thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều người, không giới hạn số người tham gia vào quan hệ hợp đồng, trong đó liên quan tới việc mua bán một vật hoặc không được làm một việc gì đó
Tương tự như cách định nghĩa về hợp đồng của BLDS Pháp, khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994) quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Dưới góc độ pháp luật thực định, khái niệm hợp đồng tại Việt Nam được quy định tại Điều 385 BLDS 2015, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Như vậy, các định nghĩa trên tuy có cách thể hiện khác nhau phù hợp cách thức lập pháp của từng quốc gia nhưng nói chung đều chỉ rõ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, hay nói cách khác nó là sự thống nhất ý chí của các bên Khi đối chiếu với định nghĩa hợp đồng của BLDS 2015 của Việt Nam thì có thể nói, khái niệm hợp đồng của BLDS 2015 có nhiều điểm giống BLDS Nga, Pháp nhưng thể hiện tính ngắn gọn, súc tích và đầy đủ
Trang 126
Có thể nói, thuật ngữ “hợp đồng” là một phạm trù đa nghĩa và có thể được xem xét nhiều góc độ khác nhau Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “hợp đồng” theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan Theo nghĩa khách quan, “hợp đồng” là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các “quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau” Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng “là sự ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể giao kết hợp đồng” hay “là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về quyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện”
Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận, là kết quả của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật có quy định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên Xét về vị trí và vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, là căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thoả thuận nhưng không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng Chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên mới tạo nên quan hệ hợp đồng
Như vậy, ta có thể hiểu: Hợp đồng là phương tiện pháp lý thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Ý chí của các bên đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì
nó sẽ làm phát sinh nghĩa vụ ràng buộc giữa các bên
1.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ
Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp
lý là hợp đồng dịch vụ Hợp đồng dịch vụ mang bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận của các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cung ứng dịch vụ
Dịch vụ xuất hiện từ khá lâu, ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Ngày nay, có thể dễ dàng nhận thấy nhiều loại hình dịch vụ trong đời sống thường ngày như: dịch vụ ăn uống, khám chữa bệnh, cắt tóc, dịch vụ giáo dục, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, Tuy nhiên, hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác niệm khác nhau về dịch vụ Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu như Adam Smith, Philip Kotler, … đưa ra quan niệm về dịch vụ ở dưới góc độ kinh tế Dưới góc
độ này, dịch vụ được hiểu là các hoạt động của con người mà được trao đổi trên thị trường, mang tính vô hình và quá trình cung ứng và tiêu dùng diễn ra đồng thời cùng
Trang 13Khi sử dụng dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại, người sử dụng phải trả một khoản tiền nhất định cho bên cung ứng dịch vụ, tức là dịch vụ cũng có giá trị và giá trị
sử dụng như là hàng hóa Chỉ có điều, dịch vụ là sản phẩm hàng hóa vô hình, người sử dụng không sở hữu dịch vụ mà chỉ được hưởng những tiện ích từ dịch vụ mang lại Do vậy, dịch vụ cũng là hàng hóa nhưng là hàng hóa vô hình
Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện công việc cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận
Như vậy, có thể hiểu cung ứng dịch vụ là việc mà một bên sẽ thực hiện công việc nào đó theo yêu cầu của khách hàng và sẽ nhận lại được thanh toán cho việc của mình Theo đó, hợp đồng dịch vụ có thể được hiểu: “Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận của bên cung ứng dịch vụ và bên thuê mà theo đó bên cung ứng có nghĩa vụ thực hiện một công việc nhất định nhằm mang lại lợi ích cho bên thuê còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng theo các nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ củ các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.” Hợp đồng dịch vụ là hình thức pháp lý của quan hệ cung ứng dịch vụ, nó gắn liền với hoạt động cung ứng dịch vụ
1.1.3 Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ mang một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ: Cả bên cung ứng dịch vụ và
bên sử dụng dịch vụ đều có quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia vào quan hệ hợp đồng dịch vụ, trong đó quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Mỗi bên trong hợp đồng đều chịu sự ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyềnđồi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trong hợp đồng dịch vụ tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau, đó là: bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ còn bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc
và trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ Ví dụ như trong hợp đồng dịch vụ viễn thông – cung cấp mạng giữa nhà mạng FPT và bà H Bên nhà cung cấp dịch vụ (nhà
Trang 148
mạng FPT) có nghĩa vụ cung cấp mạng internet cho bà H và bà H có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ theo quy định trong hợp đồng đã kỹ trước đó
Thứ hai, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng ưng thuận: Quyền và nghĩa vụ của bên
cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ phát sinh ngay sau khi các bên đã thoả thuận với nhau xong về nội dung của hợp đồng Trong hợp đồng dịch vụ, dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhưng đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng Hay nói cách khác, hợp đồng dịch
vụ là hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao kết
Thứ ba, hợp đồng dịch vụ luôn gắn liền với cơ chế thị trường: Như Các Mác đã
khẳng định: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển” [3.III, Kiều Thị Thuỳ Linh (2017), Hợp đồng dịch vụ theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội] Mà thị trường là nơi giao dịch mua bán, chuyển nhượng hàng hoá, dịch vụ, … Vì vậy, dịch vụ gắn liền với thị trường và chịu ảnh hưởng của quy luật thị trường Do đó, hợp đồng dịch vụ luôn gắn liền với cơ chế thị trường
Thứ tư, hợp đồng dịch vụ có đối tượng là công việc thực hiện được: Thật vậy,
bởi dịch vụ là hoạt động của con người nhằm thực hiện công việc nhất định đáp ứng nhu cầu của chủ thể trong xã hội Và hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng về việc bên cung ứng thực hiện một công việc nhằm thoả mãn nhu cầu của bên thuê Do đó, đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện hiện được và không trái với đạo đức xã hội hay vi phạm điều cấm của luật
Thứ nhất, căn cứ vào tính chất quốc tế của hợp đồng gồm có: Hợp đồng dịch
vụ nội địa và hợp đồng dịch vụ quốc tế Trong đó, hợp đồng dịch vụ nội địa là hợp đồng dịch vụ được giao kết giữa các chủ thể trong nước và đối tượng của hợp đồng là công việc được thực hiện trong phạm vi của nước sở tại Còn hợp đồng dịch vụ quốc tế
là loại hợp đồng dịch vụ mà có đối tượng hợp đồng được cung cấp ở nước ngoài
Thứ hai, căn cứ vào dịch vụ quy định trong Luật thương mại 2005 gồm có: Hợp
đồng dịch vụ khuyến mại; hợp đồng dịch vụ quảng cáo; hợp đồng dịch vụ trưng bày,
Trang 159
giới thiệu hàng hoá dịch vụ; hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá; hợp đồng dịch vụ quá cảnh; hợp đồng nhượng quyền thương mại Tất cả các loại hợp đồng trên đều là hợp đồng dịch vụ thuong mại nên một bên chủ thể sẽ là thương nhân Ví dụ, hợp đồng dịch vụ quá cảnh hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó thương nhân thực hiện việc quá cảnh cho hàng hóa thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài qua lãnh thổ Việt Nam để hưởng thù lao
Thứ ba, căn cứ vào BLDS 2015 gồm có: hợp đồng dịch vụ vận chuyển hành
khách (Điều 522), hợp đồng dịch vụ bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển tài sản (Điều 530), hợp đồng gia công (Điều 542), hợp đồng gửi giữ tài sản (Điều 554), hợp đồng uỷ quyền (Điều 562) và hợp đồng dịch vụ khác Theo đó, tại quy định của Điều 522, hợp đồng vận chuyền hành khách được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đã định theo thoả thuận, hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển Và cũng như vậy hợp đồng gia công là sự thoả thuận của các bên, theo đó bên gia công sẽ thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công và bên đặt gia công sẽ phải nhận sản phẩm và trả tiền công
Thứ tư, căn cứ vào kết quả thực hiện gồm có hợp đồng dịch vụ có kết quả là lợi
ích vật chất và hợp đồng dịch vụ có kết quả là lợi ích tinh thần Hợp đồng dịch vụ có kết quả là lợi ích vật chất là hợp đồng dịch vụ có công việc thực hiện được và tạo ra lợi ích là một sản phẩm mà chúng ta có thể thấy được Ví dụ: hợp đồng dịch vụ gia công cốc, theo đó bên thuê yêu cầu bên cung ứng dịch vụ làm cho mình 100 cái cốc Như vậy kết quả đạt dược của hợp đồng dịch vụ này là 100 cái cốc (vật chất) Còn hợp đồng dịch vụ có kết quả là lợi ích tinh thần là loại hợp đồng dịch vụ mà kết quả đem lại là thứ chúng ta không thể thấy được, không thể cầm nắm được Ví dụ, hợp đồng dịch vụ Karaoke, lợi ích đem lại là sự thoải mái trong tinh thần của bên thuê
Thứ năm, căn cứ vào chủ thể hưởng lợi ích gồm có: Hợp đồng dịch vụ vì lợi ích
bên thuê và hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba Trong đó, hợp đồng dịch vụ
vì lợi ích của bên thuê là hợp đồng dịch vụ mà bên thuê và bên nhận lợi ích từ dịch vụ thuê là cùng một chủ thể Còn hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba nghĩa là người hưởng lợi ích từ dịch vụ được cung cấp và bên thuê là hai chủ thể khác nhau
Thứ sáu, căn cứ vào chủ thể cung ứng dịch vụ gồm có hợp đồng dịch vụ có bên
cung ứng là cá nhân và hợp đồng dịch vụ có bên cung ứng là pháp nhân Như chúng ta
đã biết, chủ thể tham gia hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng có thể là
tổ chức, cá nhân, pháp nhân có năng lực dân sự Do đó, chủ thể cung ứng dịch vụ có thể là cá nhân, pháp nhân có năng lực dân sự Vì vậy, tuỳ theo chủ thể cung ứng dịch
Trang 1610
vụ ta sẽ có hợp đồng dịch vụ có chủ thể cung ứng dịch vụ là pháp nhân và hợp đồng cung ứng dịch vụ là cá nhân
1.1.5 Vai trò của hợp đồng dịch vụ đối với các doanh nghiệp
Thứ nhất, hợp đồng dịch vụ là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện việc
cung ứng dịch vụ cho khách hàng: Nền kinh tế thị trường phát triển là cơ hội cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ phát triển Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ sẽ cung cấp dịch vụ cho khách hàng của mình dựa trên cơ sở hợp đồng Và khi đó, hợp đồng dịch vụ chính là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp thực hiện việc cung cấp dịch vụ và đảm bảo quyền lợi của mình khi thực hiện xong hợp đồng Bởi hợp đồng dịch vụ là những thoả thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng do đó nó có ý nghĩa như là một văn bản pháp luật điều chỉnh quyền và trách nhiệm của các bên trong quan hệ hợp đồng nhằm đảm bảo quyền lợi của mỗi bên
Thứ hai, hợp đồng dịch vụ là công cụ quan trọng để doanh nghiệp nâng cao sức
cạnh tranh của mình trong hoạt động kinh doanh: Tài chính là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Thông qua hợp đồng, các doanh nghiệp dịch vụ sẽ xác định được chi phí, giá cả theo một thời gian nhất định trong quá trình cung cấp dịch vụ, tránh được những rủi ro tiềm ẩn trong việc tăng chi phí khi hoạt động Từ đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng được kế hoạch tài chính – là điều quan trọng nhất trong việc thực hiện các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Hợp đồng dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng uy tín và thương hiệu - một trong những điều kiện chứng minh và tạo cơ hội cạnh tranh lớn
Thứ ba, hợp đồng dịch vụ là công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp Việt Nam thâm
nhập thị trường dịch vụ nước ngoài: Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế như hiện nay thì hoạt động cung cấp dịch vụ không chỉ gói gọn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà được rộng sang thị trường quốc tế Đây là một cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và mở rộng thị trường của mình Đồng thời tạo ra một cơ hội phát triển mới
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để phù hợp với đường lối mới của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, trong đó có lĩnh vực dịch vụ Dịch vụ ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Và trong quá trình cung ứng, sử dụng dịch vụ được thực hiện giữa các chủ thể thường trên cơ sở giao kết hợp đồng dịch vụ Trước thực tế này, nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia trong quan
Trang 1711
hệ hợp đồng dịch vụ, pháp luật Việt Nam đã có quy định cụ thể điều chỉnh mối quan
hệ này Cụ thể, tại mục 7 Chương II Phần thứ ba Bộ luật dân sự 1995 – Bộ luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định về hợp đồng dịch
vụ, đánh dấu sự quan trọng của pháp luật về hợp đồng dịch vụ
Cùng với sự phát triển không ngừng của dịch vụ cũng như xã hội, Luật thương mại 2005 ra đời điều chỉnh cụ thể các hoạt động cung ứng dịch vụ trong họat động thương mại, BLDS 2015 ra đời và các luật có liên quan, nghị định thông tư liên quan đến hợp đồng dịch vụ ngày càng được chú trọng ban hành, sửa đổi để phù hợp với thực tế áp dụng nhằm mục đích đưa hoạt động cung ứng dịch vụ đi đúng hướng; các chủ thể trong quan hệ hợp đồng dịch vụ được tự do nhưng trong khuôn khổ pháp luật, thúc đẩy kinh tế; đồng thời tạo điều kiện để Nhà nước dễ dàng quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ của các chủ thể trong nền kinh tế
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
Hoạt động cung ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại do đó chịu sự điều chỉnh của LTM 2005 và pháp luật có liên quan Tùy từng lĩnh vực cụ thể như dịch vụ
tư vấn, dịch vụ thiết kế, dịch vụ giám định… chịu sự điều chỉnh của các quy định cụ thể khác nhau Các hợp đồng dịch vụ cụ thể chịu sự điều chỉnh của LTM 2005 và BLDS 2015 Đối với những hợp đồng dịch vụ có yếu tố nước ngoài mà Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của LTM, BLDS thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế Các bên trong giao dịch nước ngoài được thỏa thuận
áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Như vậy, hợp đồng dịch vụ chịu sự điều chỉnh của LTM 2005, BLDS 2015, Điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế có liên quan
BLDS 2015 với vai trò là luật chung đã quy định chi tiết các vấn đề về giao kết
và thực hiện hợp đồng nói chung tại mục 7 chương XV và vấn đề giao kết hợp đồng dịch vụ nói riêng từ Điều 513 đến Điều 521 Về vấn đề giao kết hợp đồng dịch vụ, BLDS 2015 quy định đầy đủ về nguyên tắc, đối tượng, trình tự thủ tục, hình thức và nội dung giao kết hợp đồng dịch vụ Bên cạnh đó, BLDS 2015 cũng đưa ra những quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ để đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên và hạn chế tranh chấp xảy ra
Trong khi đó, LTM 2005 với vai trò là luật chuyên ngành, đã mở rộng phạm vi điều chỉnh so với LTM 1997, không chỉ điều chỉnh các hoạt động mua bán hàng hoá
mà còn điều chỉnh các hoạt động cung ứng dịch vụ Hoạt động cung ứng dịch vụ nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng được quy định trong chương III của Luật này
Trang 1812
Trong chương này quy định chung đối với các hoạt động cung ứng dịch vụ và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ Ngoài ra, LTM 2005 còn có các quy định về hình thức hợp đồng dịch vụ, các dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh
và kinh doanh có điều kiện làm cơ sở quản lý nhà nước về hoạt động cung cấp dịch vụ Song LTM 2005 có những quy định chung về quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ và khách hàng, luật còn đưa ra các quy định đặc thù về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ tuỳ theo tính chất của loại dịch vụ
Như vậy, nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ bao gồm các nội dung cơ bản như đối tượng hợp đồng dịch vụ, chủ thể, quyền nghĩa vụ các bên, … Cụ thể, tại Điều 514 BLDS 2015 quy định, đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải thoả mãn
ba yêu cầu: công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật và không trái với đạo đức xã hội Hay nói cách khác, đối tượng của hợp đồng dịch vụ là các công việc có thể thực hiện được, không bị luật cấm và không trái với đạo đức xã hội Ví dụ: hợp đồng dịch vụ sửa chữa thang máy thì đối tượng của hợp đồng dịch vụ này là hoạt động sửa chữa thang máy Bên cạnh đó, pháp luật dân sự không có quy định riêng biệt đối với chủ thể của hợp đồng dịch vụ nên chủ thể của hợp đồng dịch vụ phải tuân thủ các điều kiện đặt ra đối với chủ thể tham gia giao dịch dân sự nói chung Do đó, chủ thể tham gia hợp đồng dịch vụ là những cá nhân, tổ chức có đầy đủ năng lực pháp luật dân
sự và năng lực hành vi dân sự Và chủ thể của hợp đồng dịch vụ bao gồm bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ Bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ có thể là cá nhân, pháp nhân Và chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có thể không phải là các bên trong hợp đồng mà là người đại diện theo pháp luật hoặc uỷ quyền
Ngoài ra, BLDS 2015 còn có quy định về trả tiền dịch vụ Cụ thể, theo quy định của Điều 519 BLDS 2015, bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ tại địa điểm thực hiện công việc khi hoàn thành dịch vụ trừ khi có thoả thuận khác Và theo quy định của LTM 2005 thì một bên có nghĩa vụ thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thoả thuận và theo quy định của pháp luật Trong hợp đồng dịch vụ, giá thường được xác định dựa trên các căn cứ như đơn giá, điều kiện cơ sở tính giá, điều khoản bảo lưu về giá hàng hoá, … Theo nguyên tắc giá cả cần phải được quy định rõ, đúng và chính xác Giá do các bên thoả thuận hoặc do bên thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên và được ghi vào hợp đồng Trong trường hợp, khi giao kết hợp đồng không có thoả thuận về giá dịch vụ, phương thức xác định giá dịch vụ và không có bất kỳ chỉ dẫn nào về giá dịch
vụ thì giá dịch vụ được xác định căn cứ vào giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng
Tiếp đến là các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong thực hiện hợp đồng dịch vụ Đối với quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ: Theo quy định
Trang 1913
của Điều 517, 518 BLDS 2015 thì bên cung ứng dịch vụ có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau: thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác; Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc; Bảo quản và giao lại tài liệu, phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc cho bên thuê; Báo cho bên thuê về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không đảm bảo chất lượng để hoàn thành công việc; Giữ bí mật thông tin; Bồi thường thiệt hại cho bên thuê; Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện; Thay đổi điều kiện dịch vụ; Yêu cầu trả tiền dịch vụ Còn đối với quyền và nghĩa vụ của bên thuê, ta có theo quy định tại Điều 515, 516 và 519 BLDS 2015 thì bên thuê có các quyền và nghĩa vụ cơ bản như cung cấp thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết thực hiện dịch vụ; trả tiền dịch vụ; yêu cầu thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác; Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Đó đều là những quyền và trách nhiệm của bên thuê và bên cung ứng dịch vụ Và nhìn vào đó, chúng ta có thể thầy rằng quyền của bên cung ứng dịch
vụ là nghĩa vụ của bên thuê và ngược lại
BLDS 2015 không quy định riêng về hình thức hợp đồng dịch vụ nên hình thức hợp đồng dịch vụ sẽ theo quy định về hình thức của hợp đồng thông thường là có thể thể hiện bằng lời nói, hành vi và văn bản, đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo quy định đó Tuy nhiên, theo quy định LTM 2005, hợp đồng dịch vụ thì phải được lập bằng văn bản trừ khi có quy định khác của pháp luật Theo đó, đối với các hợp đồng dịch vụ có tính thương mại thì hình thức của hợp đồng là văn bản trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác Sau khi các bên đàm phán và ghi trong hợp đồng, mọi thỏa thuận ghi trong hợp đồng ràng buộc các bên Hợp đồng thể hiện rõ quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà mỗi bên trong hợp đồng có được Các bên bắt đầu tiến hành thực hiện hợp đồng theo đúng thỏa thuận ghi trong hợp đồng Pháp luật dân sự không có quy định riêng về thực hiện hợp đồng dịch vụ nên việc thực hiện hợp đồng này tuân thủ theo nguyên tắc thực hiện hợp đồng nói chung và thực hiện giao dịch dân sự Quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng dịch vụ có một số nội dung chủ yếu sau: nguyên tắc thực hiện hợp đồng dịch
vụ, thực hiện hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba và tiếp tục thực hiện hợp đồng dịch vụ Theo quy định tại Điều 3 BLDS 2015, thực hiện hợp đồng dịch vụ tuân thủ theo nguyên tắc: bên cung ứng dịch vụ và bên thuê thực hiện đúng hợp đồng; bên cung ứng dịch vụ và bên thuê phải thực hiện trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, đảm bảo tin cậy lẫn nhau; bên cung ứng và bên thuê không được xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của người khác Đúng vậy, bởi tin tưởng lẫn nhau là cơ sở để sự hợp tác của các bên trong quan hệ hợp
Trang 2014
đồng được bền chặt và đạt được kết quả tốt nhất Các bên trong quan hệ hợp đồng sẽ hợp tác và cùng thực hiện công việc có lợi nhất cho đối tác của mình đồng thời sự hợp tác đó không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Vì nếu thực hiện hợp đồng mà làm xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích quốc gia thì hợp đồng đó sẽ phải chấm dứt và không được thực hiện Do vậy, khi thực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác và đảm bảo thực hiện hợp đồng một cách trung thực, tin tưởng lẫn nhau
Theo Điều 521 BLDS 2015 quy định về tiếp tục thực hiện hợp đồng: “Sau khi kết thúc thời hạn thực hiện công việc theo hợp đồng dịch vụ mà công việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, bên sử dụng dịch vụ biết nhưng không phản đối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn thành” Theo đó, hợp đồng tiếp tục thực hiện khi kết thúc thời hạn thực hiện hợp đồng nhưng công việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc Và thời gian tiếp tục thực hiện hợp đồng là thời gian bên cung ứng hoàn thành công việc quy định trong hợp đồng dịch vụ
1.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
1.3.1 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Theo nguyên tắc này các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng và bảo đảm nội dung của quan hệ đó Hợp đồng phải thể hiện được sự tương ứng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các bên Các bên khi giao kết không được đe dọa, cưỡng ép bên kia giao kết hợp đồng với mình mà không theo ý chí của họ Nếu phát hiện hợp đồng được giao kết mà bị đe dọa, cưỡng ép, lừa dối để giao kết thì hợp đồng đó sẽ bị vô hiệu
Bên cạnh đó, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên phải thể hiện rõ thái độ trung thực và ngay thẳng Trung thực và ngay thẳng có nghĩa là các phải nói rõ cho nhau biết về tình trạng và đặc tính của đối tượng, không được lừa dối nhau, nếu che dấu khuyết tật của đối tượng hợp đồng nhằm mục đích tư lợi mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường
Ngoài ra, các bên phải có tinh thần hợp tác với nhau Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên phải hỗ trợ, giúp đỡ nhau và thông tin cho nhau để đáp ứng nhu cầu
và bảo đảm lợi ích cho các bên Theo nguyên tắc này, các bên phải hỗ trợ nhau, tạo điều kiện để các bên hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình
Trang 211.4.3 Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi bên tham gia vào quan hệ hợp đồng kinh tế đều xuất phát từ lợi ích riêng của mình Do đó, khi tham gia giao kết hợp đồng dịch
vụ, các bên cùng nhau thoả thuận những điều khoản hợp đồng theo hướng có lợi nhất cho các bên, không bên nào được lừa dối hay chèn ép bên nào Việc thỏa thuận khi tham gia giao kết hợp đồng dịch vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng dịch vụ không được tùy tiện mà phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép và chú ý đến lợi ích của quốc gia, lợi ích cộng đồng và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân khác Nói cách khác, cá nhân, pháp nhân khi tham gia giao kết hợp đồng phải trong giới hạn của pháp luật cho phép; quyền của cá nhân, pháp nhân luôn bị giới hạn bởi lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng và quyền của cá nhân, pháp nhân khác Việc xâm phạm đến các lợi ích này đều bị pháp luật cấm và nếu gây thiệt hại cho cá nhân, pháp nhân khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường (trừ trường hợp bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn hoặc do thực hiện quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền)
Để thực hiện nguyên tắc này, khi tham gia giao kết hợp đồng dịch vụ, các cá nhân, pháp nhân phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, luôn coi lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng là trên hết Bên cạnh đó, phải chú ý đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân khác Khi gặp các giao dịch xâm phạm đến lợi ích này, pháp nhân, cá nhân phải từ chối cam kết, thỏa thuận
Trang 22
16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DỊCH
VỤ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHỆ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU BÌNH MINH 2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
Năm 2021, cơ cấu nền kinh tế Việt Nam như sau: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,36%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,86%; khu vực dịch vụ chiếm 40,95%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,83% [2.IV, TTXVN (2021), “Toàn cảnh kinh tế-xã hội Việt Nam năm 2021”, trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương, truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2021] Như vậy, ngành dịch vụ đang chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế Việt Nam Hay nói cách khác, dịch vụ là hoạt động kinh tế chính ở Việt Nam và hiện nay, hoạt động dịch vụ không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra các quốc gia khác nhau trên thế giới Các hoạt động dịch vụ diễn ra một cách thường xuyên, liên tục hình thành nên các hợp đồng dịch vụ với số lượng tăng nhanh theo nhu cầu thị trường, đặc biệt từ khi Viẹt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Hợp đồng dịch vụ là một chế định thiết lập nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia thị trường thương mại dịch vụ, là cơ sở pháp lý, là công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp nước ta nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước và thâm nhập thị trường nước ngoài
Cùng với những biến đổi đa dạng của xã hội cũng như nền kinh tế, hệ thống pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng dịch vụ được xây dựng, hoàn thiện và đi vào cuộc sống Các vấn đề liên quan đến hợp đồng dịch vụ được điều chỉnh tương đối toàn diện trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
Thứ nhất, nhóm các quy định chung về hợp đồng dịch vụ: nhóm này quy định
những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc đối với hoạt động cung ứng dịch vụ, hợp đồng dịch vụ Những vấn đề về giao kết hợp đồng được quy định trong mục 7, chương
XV của BLDS 2015 và những quy định về hợp đồng dịch vụ thuộc mục 9 chương XVI của BLDS 2015
Thứ hai, nhóm các quy định chuyên ngành về hợp đồng dịch vụ: Bên cạnh
những quy định chung về hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2015 thì LTM 2005 quy định khá cụ thể về các vấn đề liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ và hợp đồng dịch
vụ Ngoài ra, một số ngành dịch vụ đặc thù còn được quy định tại các luật và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Luật Du lịch 2017; Luật Kinh doanh bảo hiểm
2000 sửa đổi, bổ sung 2010, 2019; Luật Viễn thông 2009,
Trang 2317
Thứ ba, nhóm các quy định về hợp đồng dịch vụ có yếu tố nước ngoài (điển
hình là hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS): Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại, Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nên việc thực hiện các giao dịch có yếu tố nước ngoài là tương đối phổ biến Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của LTM 2005, BLDS 2015 thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế
đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
Thứ nhất, nhân tố về kinh tế Nước ta đang từng bước chủ động hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Tháng 7/1995 Việt Nam gia nhập ASEAN
mở đầu cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Tiếp đó, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã đánh dấu bước hội nhập của nước ta với nền kinh tế thế giới Giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do mới với các đối tác Đến nay, Việt Nam đã chính thức tham gia, ký kết thực hiện 14 Hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệu lực và 01 FTA đã chính thức ký kết, sắp có hiệu lực, hiện đang đàm phán 02 FTA Trong số 14 FTA đã có hiệu lực và đang triển khai, Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia, tiếp theo đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam -
Liên minh Châu Âu (EVFTA)
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đem lại nhiều cơ hội cũng như những thách thức cho các doanh nghiệp và nền kinh tế của Việt Nam Cơ hội lớn nhất là mở rộng thị trường nhờ cắt giảm thuế và xóa bỏ rào cản thương mại để tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu Tăng trưởng và phát triển kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến việc giao kết hợp đồng dịch vụ Theo đó, khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển thì số lượng và mức độ phức tạp của các hợp đồng kinh tế - thương mại, của các hợp đồng dịch vụ ngày càng tăng Vì thế, kinh tế phát triển là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động cung ứng dịch vụ nói chung và của hợp đồng dịch
vụ nói riêng
Thứ hai, nhân tố con người Khác với nhu cầu về hàng hóa là có giới hạn, nhu
cầu dịch vụ của con người không có điểm dừng cuối cùng Nhu cầu dịch vụ xuất hiện trong tất cả các lĩnh vực sản xuất cũng như đời sống sinh hoạt của con người Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống của con người ngày càng cao
Trang 2418
nên nhu cầu về dịch vụ càng mới, ngày càng nhiều hơn về số lượng và cao hơn về chất lượng Do đó, số lượng cũng như tính phức tạp của mỗi hợp đồng dịch vụ ngày càng tăng Bởi vậy, hơn bao giờ hết, nhận thức của con người về pháp luật hợp đồng dịch
vụ, đặc biệt là pháp luật về giao kết hợp đồng dịch vụ trở nên hết sức quan trọng Nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của các cá nhân, tổ chức kinh tế khi tham gia giao kết hợp đồng dịch vụ Chính vì thế, nâng cao nhận thức của con người về pháp luật hợp đồng dịch vụ là cách tốt nhất để giảm thiểu tối đa những rủi ro tiềm ẩn
có thể xảy ra
Thứ ba, nhân tố kỹ thuật An toàn trong giao kết hợp đồng luôn là vấn đề lớn
đối với sự thành công của một hợp đồng dịch vụ hay xa hơn là sự thành công trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức hay bất kỳ một chủ thể nào trong nền kinh tế Đây là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc giao kết hợp đồng dịch vụ của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp phải có đầy đủ các phương
tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật
Thứ tư, các nhân tố khác Ngoài các nhân tố trên, còn một số nhân tố khác ảnh
hưởng đến giao kết hợp đồng dịch vụ như: sự quản lý của Nhà nước về vấn đề giao kết
hợp đồng dịch vụ; mức độ chặt chẽ của các quy định pháp luật về hợp đồng; nhận thức
của doanh nghiệp, của các chủ thể về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ; văn hóa doanh nghiệp, Theo quy định của pháp luật, các bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có quyền tự do giao kết hợp đồng trong khuôn khổ pháp luật cho phép Và nếu Nhà nước không quản lý việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng thì rất có thể sẽ có nhều sai phạm trong giao kết và thực hiện hợp đồng Vì thế,
sự quản lý của Nhà nước về vấn đề giao kết hợp đồng dịch vụ luôn là đóng vai trò hết sức quan trọng bởi Nhà nước là chủ thể quản lý, ban hành pháp luật và hợp đồng của các chủ thể giao kết hợp đồng không được trái với luật, vi phạm điều cấm của luật vì
nó ảnh hưởng đến tính có hiệu lực của hợp đồng Do đó, để hợp đồng ký kết có hiệu lực thì các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng cần tìm hiểu rõ các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng dịch vụ Bên cạnh đó, mức độ chặt chẽ của các quy định pháp luật về hợp đồng cũng rất quan trọng Bởi sự chặt chẽ trong quy định pháp luật
về hợp đồng giúp cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng ít gặp rủi ro khi giao kết hợp đồng Việc thiếu chặt chẽ trong quy định pháp luật về giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng tạo nên những lỗ hổng của luật dẫn đến tình trạng các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng có thể dựa vào những lỗ hổng đó để lách luật và có thể gây thiệt hại cho các chủ thể khác trong hợp đồng hoặc ảnh hưởng đến lợi ích của bên thứ ba
Trang 2519
2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ
Pháp luật dân sự Việt Nam quy định cụ thể về hợp đồng dịch vụ, đặc biệt ghi nhận trong Bộ luật Dân sự và luật thương mại Các quy định cơ bản của pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ bao gồm:
2.2.1 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh đối tượng hợp đồng dịch
vụ
Như đã phân tích tại Chương 1, đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải thoả mãn
3 yêu cầu là: công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật và không trái với đạo đức xã hội Việc pháp luật quy định yêu cầu đối với đối tượng hợp đồng dịch vụ có ý nghĩa trong việc buộc các chủ thể khi giao kết hợp đồng không chỉ quan tâm việc đem lại lợi ích cho mình mà phải quan tâm đến sự ảnh hưởng của nó tới lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Nhưng việc quy định không rõ ràng ranh giới giữa đối tượng hợp đồng này với đối tượng hợp đồng thực hiện công việc đẫn đến khó khăn trong việc xác định hợp đồng nào là hợp đồng dịch vụ và hợp đồng nào là hợp đồng thực hiện công việc Điều đó đẫn đến những khó khăn khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ và hợp đồng thực hiện công việc
2.2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh chủ thể hợp đồng dịch vụ
Cũng như phân tích ở Chương 1, chủ thể của hợp đồng dịch vụ là những cá nhân, tổ chức có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Đặc biệt chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có thể không phải là các bên trong hợp đồng
mà là người đại diện theo pháp luật hoặc uỷ quyền Do đó, việc xem xét chủ thể hợp đồng dịch vụ cần phải xem xét năng lực hành vi dân sự, sự tự nguyện của bên cung ứng, bên thuê dịch vụ cũng như người trực tiếp giao kết hợp đồng
2.2.3 Thực trạng pháp luật quy định về giá dịch vụ và trả tiền dịch vụ
Khoản 2 Điều 519 BLDS 2015 quy định về cách thức xác định giá dịch vụ:
“Khi giao kết hợp đồng, nếu không có thỏa thuận về giá dịch vụ, phương pháp xác định giá dịch vụ và không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định căn cứ vào giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng” Theo đó, khi các bên không có thoả thuận gì về giá khi giao kết hợp đồng thì giá dịch vụ sẽ được xác định theo giá thị trường của dịch vụ cùng loại Tuy nhiên, pháp luật chưa có định nghĩa về giá dịch vụ, dịch vụ cùng loại Do đó, việc xác định giá dịch vụ trên thực tế là rất khó
Bên cạnh đó, trong thực tiễn đời sống, tuỳ vào loại công việc mà giá dịch vụ được gọi dưới nhiều tên khác như phí dịch vụ, học phí, lệ phí, … Pháp luật có quy định về trả tiền dịch vụ của bên thuê cho bên cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, quy định
Trang 2620
pháp luật hiện nay mới chỉ dừng ở cơ sở xác định phương thức trả tiền, địa điểm trả tiền dịch vụ trong trường hợp các bên không có thoả thuận cũng như các điều kiện được giảm tiền dịch vụ Quy định pháp luật về giá dịch vụ và trả tiền dịch vụ còn bộc
lộ nhiều bất cập như: pháp luật chưa ghi nhận trường hợp áp dụng nguyên tắc trả tiền dịch vụ khi pháp luật có quy định riêng về trả tiền dịch vụ; pháp luật chưa quy định về cách thức xác định giá dịch vụ trong trường hợp các bên không đạt được sự thoả thuận
và không có phương pháp xác định ía dịch vụ, bất kỳ chỉ dẫn nào về giá dịch vụ, giá dịch vụ cùng loại trên thị trường; pháp luật chưa quy định về phương thức trả tiền dịch
vụ trong trường hợp các bên không có thoả thuận cụ thể về thời điểm trả tiền dịch vụ; pháp luật chưa ghi nhận mức độ giảm tiền dịch vụ mà bên thuê có quyền áp dụng
2.2.4 Thực trạng pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ
Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của bên thuê
Theo quy định tại Điều 515, 516 và 519 BLDS 2015 thì bên thuê có các quyền
và nghĩa vụ cơ bản như sau: Cung cấp thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết thực hiện dịch vụ; Trả tiền dịch vụ; Yêu cầu thực hiện công việc theo đúng chất lượng,
số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác; Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của bên thuê là cơ sở pháp lý cho các bên chủ thể trong quá trình quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ Tuy nhiên, quy định pháp luật còn bộc lộ một số điện hạn chế như: trong quy định nghĩa vụ của bên thuê thì nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu chỉ phát sinh
kể từ thời điểm hợp đồng dịch vụ có hiệu lực pháp luật; nhà làm luật không quy định việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền dịch vụ trong trường hợp pháp luật có quy định riêng; pháp luật không quy định nghĩa vụ cung cấp giấy phép liên quan đến thực hiện công việc cho bên cung ứng; pháp luật không đặt ra yêu cầu cho bên thuê pháp cung cấp các chỉ dẫn của mình cho bên cung ứng; pháp luật cũng không buộc bên thuê phải thông báo cho bên cung ứng dịch vụ trong trường hợp có sự kiện bất thường xảy ra và cuối cùng pháp luật hiện nay chưa quy định quyền yêu cầu cung cấp dự báo rủi ro trong quá trình thực hiện công việc, yêu cầu cung cấp các phương án thực hiện công việc để bên thuê có quyền lực chọn mặc dù hoạt độn cung ứng dịch vụ là quá trình thực hiện công việc có chuyên môn, có tổ chức của bên cung ứng dịch vụ nên bên thuê có quyền đòi hỏi cao hơn đối với đối tác của mình
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ bên cung ứng dịch vụ
Theo quy định của Điều 517, 518 BLDS 2015 thì bên cung ứng dịch vụ có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau: Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác; Không được giao cho người khác thực hiện thay
Trang 2721
công việc; Bảo quản và giao lại tài liệu, phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc cho bên thuê; Báo cho bên thuê về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không đảm bảo chất lượng để hoàn thành công việc; Giữ bí mật thông tin; Bồi thường thiệt hại cho bên thuê; Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện; Thay đổi điều kiện dịch vụ; Yêu cầu trả tiền dịch vụ những quy định này nền tảng để các chủ thể trong hợp đồng dịch vụ xác định được quyền, nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ trong trường hợp các bên không có thoả thuận hoặc phát sinh tranh chấp mà không xác định được quyền, nghĩa vụ theo nội dung hợp đồng Tuy nhiên, các quy định này cũng bộc lộ những điểm chưa hợp lý như quy định pháp luật hiện nay còn chưa quy định về một số nghĩa vụ cho bên cung ứng dịch vụ như nghĩa vụ cảnh báo các rủi ro có thể gặp trong quá trình thực hiện công việc, nghĩa vụ xây dựng các phương án thực hiện dịch vụ, nghĩa vụ điều chỉnh nội dung đã đàm phán trong trường hợp hoàn cảnh hoàn cảnh thay đổi, nghĩa vụ tập hợp thông tin trước khi thực hiện công việc Hay pháp luật chưa quy định về quyền yêu cầu cung cấp giấy phép phục vụ cho việc triển khai dịch vụ, quyền được cảnh báo các sự kiện bất thường từ bên thuê
2.2.5 Thực trạng pháp luật quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ
Nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ là những tư tưởng chỉ đạo được quán triệt trong những quy phạm pháp luật về hợp đồng dịch vụ, có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể trong khi tiến hành ký kết loại hợp đồng này Trong nền kinh tế thị trường, việc giao kết hợp đồng, về nguyên tắc không những là kỷ luật của nhà nước, là nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan và các đơn vị kinh tế mà còn là quyền tự do hợp đồng, một trong những nội dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh Việc quy định nguyên tắc giao kts hợp đồng nhằm đảm bảo sự an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao kết hợp đồng Các nguyên tắc này được quy định tại Điều 3, Điều 406 BLDS 2015 và Điều 11 LTM 2005 Cụ thể như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật,
đạo đức xã hội
Nếu như BLDS 2005 quy định cụ thể về nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội trong điều khoản về giao kết hợp đồng thì BLDS 2015 đã lược đi nội dung của điều luật nêu trên Tuy nhiên trong nội dung của BLDS 2015 cũng có các quy định thể hiện ý chí tự do giao kết hợp đồng thông qua Điều 406 như: “Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này” Theo đó, ta có thể hiểu bên đề nghị giao kết được tự do gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến bất kỳ chủ thể nào mà họ mong muốn và chủ thể nhận được đề nghị giao kết có
Trang 2822
thể từ chối hoặc chấp nhận đề nghị và khi chấp nhận đề nghị thì hợp đồng của họ bắt đầu được hình thành Qua đó, ta thấy sự tự do về giao kết hợp đồng giưã các chủ thể trong quan hệ hợp đồng Ngoài ra Điều 11 LTM 2005 cũng quy định về nguyên tắc tự
do giao kết hợp đồng như: “các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó” Theo đó các bên trong hợp đồng có quyền tự do thoả thuận điều khoản giao kết hợp đồng nhưng không được trái với luật, trái đạo đức, thuần phong mỹ tục Hay nói cách khác, các bên có quyền tự do thoả thuận giao kết hợp đồng nhưng trong khuôn khổ pháp luật cho phép và được pháp luật bảo hộ các điều khoản đó
Pháp luật quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như nhu cầu tinh thần Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch, hợp đồng nào, nếu muốn Bên cạnh
đó, họ được quyết định mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng, không có bất kỳ cá nhân,
tổ chức nào kể cả Nhà nước được can thiệp, làm thay đổi ý chí của các bên chủ thể Tuy nhiên, hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của các bên giao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của nhà nước Hay nói cách khác, sự tự do ý chí giao kết hợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định – giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật
tự công cộng Nếu để các bên tự do vô hạn thì hợp đồng sẽ trở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội Chính vì vậy, trong xã hội nước ta – xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hội không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biến những hợp đồng thành phương tiện bóc lột
Tuy nhiên, tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối thể hiện ở việc Nhà nước buộc các bên giao kết hợp đồng dịch vụ phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục quốc gia Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủ thể phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác và của toàn xã hội Lợi ích của cộng đồng, của toàn xã hội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng và trong mọi hành vi của chủ thể nói chung Chính vì vậy, trong một số trường hợp luật định, nhân danh tổ chức quyền lực công, Nhà nước có thể can thiệp vào việc thỏa thuận hợp đồng dịch vụ và do đó đã giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng dịch
vụ của các bên Nhưng sự can thiệp này của Nhà nước phải hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng