Trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, một trong những nội dung cơ bản cần phải giải quyết là phải tiếnhành cải tạo các quan hệ sản xuất mà điểm xuất phát là cải biến quan hệ sởhữu tư
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sở hữu tư liệu sản xuất là một nhân tố cơ bản cấu thành hệ thống quan
hệ sản xuất trong từng chế độ kinh tế - xã hội Trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, một trong những nội dung cơ bản cần phải giải quyết là phải tiếnhành cải tạo các quan hệ sản xuất mà điểm xuất phát là cải biến quan hệ sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất sang quan hệ sở hữu công cộng để đáp ứngyêu cầu phát triển lực lượng sản xuất
Ở nước ta, trước thời kỳ đổi mới, quá trình chuyển sở hữu tư nhân sang
sở hữu nhà nước được thực hiện thông qua quốc hữu hoá các tư liệu sản xuấtcủa giai cấp tư sản dưới hai hình thức không bồi thường và có bồi thường;chuyển sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ sang sở hữu tập thểthông qua phong trào hợp tác hoá để tập thể hoá tư liệu sản xuất Việc làm đóđããđưa quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất vượt quá xa so với khả năng quản l›
và trình độ phát triển lực lượng sản xuất
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới,trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, thực hiện đa dạng hóa các hình thức sởhữu, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thịtrường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cươnglĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và văn kiệncác kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội VII đến nay đều khẳng định thực hiện nhấtquán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần Trong đó sở hữu toàndân và sở hữu tập thể phải ngày cảng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốcdân Điều đó có nghĩa là song song với phát triển kinh tế tư nhân phải từngbước chuyển sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất
Thực hiện chủ trương đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về kinh tế thịtrường ở nước ta nói chung và sở hữu tư liệu sản xuất nói riêng đã được triển khaimạnh mẽ Tuy vậy, đến nay trên một số lĩnh vực việc nghiên cứu lý luận vẫn chưađáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong quá trình phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Chẳng hạn, kinh tế tư nhân, kinh tế tập
Trang 2thể, kinh tế nhà nước đã được nhiều công trình nghiên cứu, nhưng vấn đề chuyển
từ sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng còn chưa được nghiên cứu một cách đầyđủ; quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chuyển sở hữu thuần túy củanhà nước sang sở hữu của các cổ đông đã làm cho nhiều người lầm tưởng đó làquá trình tư nhân hóa tư liệu sản xuất Trong khi đó, trên thực tế quá trình cổ phầnhóa đang được đẩy mạnh, quá trình chuyển sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng
đã và đang diễn ra thường xuyên và phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau.Thực trạng đó phải được lý giải về mặt lý luận để làm cơ sở cho việc chỉ đạo hoạtđộng thực tiễn chuyển sở hữu tư nhân sang sở hữu công cộng trong quá trình pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đó là lý do để tác
giả lựa chọn “Vận dụng lý luận Mác - Lênin về sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta” làm đề tài luận văn tốt nghiệp sau quá trình học tập hệ cao học chuyên ngành
Kinh tế chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đây là vấn đề có ýnghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, trong hơn hai thập niên vừa qua, liên quan đến vấn đề sởhữu tư liệu sản xuất đã có nhiều công trình nghiên cứu, cụ thể là:
- Luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Hồng Sơn với đề tài: Đa dạng hoá
sở hữu ở nước ta hiện nay, xu hướng và vận dụng Bảo vệ năm 1993, tại Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Luận án phó tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đình Kháng với đề tài: Sở
hữu tư liệu sản xuất trong nền kinh tế nhiều thành phần Bảo vệ năm 1993 tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Luận án phó tiến sĩ kinh tế của Đỗ Trọng Bá với đề tài: Vấn về sở
hữu trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam Bảo vệ năm 1994, tại Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Luận án phó tiến sĩ triết học của Lương Minh Cừ với đề tài: Quan
niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về vấn đề sở hữu trong chủ nghĩa
xã hội Bảo vệ năm 1996 tại Viện Triết học.
Trang 3Năm 1998, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản cuốn Vai trò củanhà nước trong nền kinh tế trị trường, cũng năm này Nxb Chính trị quốc gia
xuất bản cuốn Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt
Nam do PGS.PTS Nguyễn Tĩnh Gia chủ biên.
Tác phẩm Những nhận thức kinh tế chính trị trong giai đoạn đổi mới ở
Việt Nam của hai tác giả PGS.PTS Nguyễn Đình Kháng và PTS Vũ Văn Phúc
xuất bản năm 1999
Năm 2004, Nxb Chính trị quốc gia xuất bản cuốn Một số vấn đề về sở
hữu ở nước ta hiện nay do GS.TS Nguyễn Văn Thạo và TS Nguyễn Hữu Đạt
đồng chủ biên Cùng năm này, Nxb Khoa học xã hội cũng giới thiệu cuốn Sở
hữu: Lý luận và vận dụng ở Việt nam của tác giả Nguyễn Văn Thức.
Năm 2006, Nxb lý luận chính trị cho ra mắt bạn đọc cuốn Sở hữu nhà
nước và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam của hai tác giả PGS.TS Nguyễn Cúc và PGS.TS
Kim Văn Chính
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và diễn đàn trên đã làm rõ vị trí,vai trò của từng hình thức sở hữu trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội pháttriển Song, việc nghiên cứu sự biến đổi sở hữu tư nhân sang sở hữu côngcộng về tư liệu sản xuất dưới các hình thức còn chưa được nghiên cứu đầy đủ
Do đó chưa làm rõ nội dung và yêu cầu xã hội hóa sở hữu tư liệu sản xuất ởnước ta để xác định phương hương và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quan
hệ sở hữu tư liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Với những nhận xét đó, luận văn mong muốn gópphần vào việc giải quyết những vấn đề đang đặt ra trên đây
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Khái quát hoá những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vịtrí, vai trò của sở hữu tư liệu sản xuất và sự biến đổi của quan hệ sở hữu tưnhân sang sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất để làm cơ sở cho việc phân
Trang 4tích, đánh giá thực trạng vận dụng những luận điểm đó vào thực tiễn nước tathời kỳ trước và sau đổi mới, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm củng cố vàphát triển sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất phù hợp với yêu cầu phát triểnlực lượng sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta.
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí, vai tròcủa sở hữu tư liệu sản xuất và sự biến đổi quan hệ sở hữu tư nhân sang sở hữucông cộng về tư liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường vàtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta giai đoạn trước và sau đổi mới
Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố và phát triển sở hữu công cộng
về tư liệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
3.3 Phạm vi nghiên cứu
3.3.1 Về nội dung
Lý luận Mác – Lênin về sở hữu tư liệu sản xuất rất rộng lớn và trừutượng, bao hàm nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, song luận văn chỉ tập trung vàonhững luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự biến đổi quan hệ sởhữu tư nhân sang sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất trong quá trình phát triểnkinh tế thị trường và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tư liệu sản xuất bao gồm nhiều loại, nhưng luận văn chỉ phân tích làm rõ
sự biến đổi quan hệ sở hữu về những tư liệu sản xuất do lao động của con ngườitạo ra thông qua sự chuyển hoá từ vốn tiền tệ thành tư liệu sản xuất và ngược lại
3.3.2 Về thời gian
Nghiên cứu sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu
tư liệu sản xuất ở nước ta từ khi đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội cho đến nay
Trang 54 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
- Những nguyên lý kinh tế, những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin về vấn đề sở hữu nói chung và sở hữu tư liệu sản xuất trong quá trìnhphát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết vấn đề sởhữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố liênquan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Triết học Mác Lênin, thông qua phương pháp trừu tượng hóa nhằm làm rõ các quan hệ lợiích kinh tế từ sở hữu và sự cần thiết biến đổi quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất
-để thực hiện lợi ích kinh tế
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng tổng hợp các phươngpháp cụ thể như điều tra khảo sát, thu thập và xử lý tư liệu để làm cơ sở choviệc phân tích và tổng hợp, rút ra những kết luận cần thiết
5 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ những cơ sở lý luận về sự biến đổi quan hệ sở hữu tư liệu sảnxuất ở nước ta trong quá trình đổi mới
- Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi quan hệ sở hữu tư liệu sản xuấttrong thời gian qua
- Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố và phát triển sở hữu công cộng về tưliệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ởnước ta
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận trong quá trình thực hiệnđường lối đổi mới kinh tế của Đảng ta
Trang 6- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu thamkhảo trong việc giảng dạy và hoạch định chính sách về xã hội hóa sở hữu tưliệu sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở nước ta.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương, 9 tiết
Trang 7Chương 1 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT
1.1 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ SỞ HỮU VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT
1.1.1 Khái quát một số luận điểm chủ yếu về sở hữu theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Sở hữu luôn là một vấn đề được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin quan tâm đặc biệt Trong hầu hết các tác phẩm từ Tuyên ngôn củaĐảng cộng sản đến bộ “Tư bản”, dù không dành riêng một phần nào để nói về
-sở hữu, về chế độ -sở hữu trong chủ nghĩa xã hội, nhưng khi bàn về cuộc cáchmạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, các ông luônđặt sở hữu lên vị trí hàng đầu và coi đó là vấn đề cơ bản mà các cuộc cáchmạng xã hội phải giải quyết
Qua nghiên cứu những tư tưởng đã được nêu lên trong các tác phẩmcủa các nhà kinh điển xoay quanh các vấn đề về sở hữu, có thể rút ra nhữngluận điểm chủ yếu về sở hữu như sau:
Một là, sở hữu trước hết là quan hệ xã hội giữa người với người trong
việc chiếm hữu sản phẩm tự nhiên và của cải do con người tạo ra Sở hữuchính là phương thức chiếm hữu mang tính xã hội trong những điều kiện lịch
sử cụ thể đối với những của cải vật chất và tinh thần được sử dụng trong quátrình sản xuất ra của cải vật chất ấy, hoặc để thỏa mãn mọi nhu cầu sinh hoạtcủa con người Theo Mác: “Khoa kinh tế chính trị không nghiên cứu các vậtphẩm, mà nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người, xét cho đến cùng làgiữa giai cấp với giai cấp, nhưng các quan hệ đó bao giờ cũng gắn với các vậtphẩm và biểu hiện ra như là những vật phẩm” [31, tr.615] Cho nên, nói đến
sở hữu là nói đến quan hệ xã hội giữa người và người đối với vật
Hai là, sở hữu được coi là điều kiện của nền sản xuất xã hội Mác viết:
“Bất cứ nền sản xuất nào cũng đều là việc con người chiếm hữu những vật
Trang 8phẩm của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông quahình thái đó Theo ý nghĩa đó, nói rằng sở hữu (sự chiếm hữu) là một điềukiện của sản xuất ” [30, tr.860] Mác lại nói “Nhưng khi người ta nói rằng,nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì ở đó cũng không thể có mộtnền sản xuất nào cả, do đó cũng không có một xã hội nào cả, thì đấy chỉ làmột điều lắp lại” [30, tr.860].
Trên thực tế, sản xuất xã hội lại là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hộiloài người, vì thế sở hữu là vấn đề trọng yếu trong lịch sử nhân loại
Ba là, quan hệ sở hữu luôn luôn biến đổi, không có một hình thức sở
hữu nào tồn tại vĩnh viễn Nguyên nhân của sự biến đổi đó là sự phát triển củalực lượng sản xuất mới, đòi hỏi phải có quan hệ sở hữu mới phù hợp.F.Ăngghen viết: “Bất cứ một sự thay đổi nào của chế độ xã hội, bất cứ một sựcải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạonên những lực lượng sản xuất mới, không còn phù hợp với các quan hệ sởhữu cũ nữa” [29, tr.467] C.Mác cũng đã nói về sự chuyển biến liên tục củaquan hệ sở hữu từ thấp đến cao: “Quan hệ sở hữu “cổ đại” đã bị quan hệ sởhữu “phong kiến” tiêu diệt, và quan hệ sở hữu phong kiến đã bị quan hệ sởhữu “tư sản” tiêu diệt Như vậy, chính lịch sử đã phê phán những quan hệ sởhữu đã qua” [32, tr.41]
C.Mác cũng đã chỉ ra cơ sở khách quan quyết định sự tồn tại của mộthình thức sở hữu nhất định nào đó chính là sự phát triển của lực lượng sảnxuất: Sự chiếm hữu đó nhất thiết phải có một tính chất phổ biến, phù hợp vớinhững lực lượng sản xuất và sự giao tiếp
Bốn là, sự vận động, phát triển của quan hệ sở hữu là một quá trình lịch
sử tự nhiên Một hình thái xã hội - với một hình thức sở hữu nhất định chỉ mất
đi, một hình thái xã hội mới với một hình thức sở hữu mới chỉ ra đời trongnhững điều kiện nhất định nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người Bởi vì,theo C.Mác:
Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả nhữnglực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát
Trang 9triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuấthiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó
chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ [31, tr.15-16]
Năm là, quan hệ sở hữu tư bản chủ nghĩa chuyển biến theo hướng xã
hội hóa, quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng C.Mác chỉ ra rằng, chủ nghĩa
tư bản trong quá trình sản xuất, theo đuổi giá trị thặng dư đã tạo ra nhữngnhân tố kinh tế mang tính chất quá độ sang phương thức sản xuất mới là cáccông ty cổ phần và nhà máy hợp tác của công nhân
Những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, cũng như nhà máyhợp tác, đều phải được coi là những hình thái quá độ từ phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể, nhưng chỉ
có điểm khác nhau là: trong những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa,mâu thuẫn được giải quyết một cách tiêu cực, còn trong những nhà máyhợp tác, mâu thuẫn được giải quyết một cách tích cực [36, tr.673]
Điều đáng chú ý là, khi nghiên cứu công ty cổ phần, C.Mác đã thấy “chứcnăng tư bản tách rời với quyền sở hữu tư bản”, và Người cho rằng “đó là kết quảcủa sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa” [36, tr.670, 668]
Sự tách rời đó chính là sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng(quyền quản lý và quyền kinh doanh) Điều này cũng được C.Mác đề cập rất
kỹ khi nghiên cứu về tư bản cho vay và địa tô Với sự tách rời này cho phéphuy động được nguồn vốn to lớn trong xã hội cho sự phát triển sản xuất
Sáu là, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc xóa bỏ chế độ tư
hữu phải là một quá trình lâu dài Tư tưởng này được F.Ăngghen nêu rõ:
Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không?Trả lời: Không, không thể được, cũng như không thể làm cho lựclượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết đểxây dựng một nền kinh tế công hữu Cho nên, cuộc cách mạng củagiai cấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ
có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã
Trang 10tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cảitạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu [29, tr.469].
Khi bàn về cải tạo chế dộ tư hữu, Ph.Ăngghen còn nói rõ thêm: “Đặctrưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung,
mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản” [29, tr.615], và “Chủ nghĩa cộng sảnkhông tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả Chủnghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao độngcủa người khác” [4, tr.618]
Vận dụng quan điểm này, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,chúng ta phải tuân theo di huấn của các nhà kinh điển: không nôn nóng xóa
bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sử dụng các thành phần kinh tế dựa trêntiền đề sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đang phù hợp với yêu cầu phát triểnlực lượng sản xuất nhưng phải tìm cách hạn chế và ngăn cấm lợi dụng quyền
sở hữu tư liệu sản xuất để nô dịch người lao động
Bảy là, sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội Trong một giai đoạn nào đó của sự phát triển xã hội, bên cạnhmột phương thức sản xuất chủ đạo còn phải kế thừa những tàn dư của cácphương thức sản xuất tàn dư, điều đó khiến cho trong cùng một thời gian,trong một nước có thể cùng tồn tại nhiều hình thức sở hữu C.Mác viết:
Chúng ta đau khổ không những vì sự phát triển của nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ.Ngoài những tai họa của thời đại hiện nay ra, chúng ta còn phải chịuđựng cả một loạt những tai họa kế thừa do chỗ các phương thức sảnxuất cổ xưa lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với những quan hệchính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra [35, tr.19]
Sau này, V.I.Lênin đã khẳng định sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu vànhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ: “Vận dụng vào kinh tế, có phải
nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận,những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ aicũng đều thừa nhận là có” [21, tr.362]
Trang 111.1.2 Vị trí của sở hữu tư liệu sản xuất trong các cuộc cách mạng
xã hội
Trong lịch sử, các cuộc cách mạng xã hội đã diễn ra bao giờ cũng gắnliền với mục tiêu cải biến hoặc thay đổi chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất.Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào nắm giữ sở hữu những tư liệu sản xuấtchủ yếu của xã hội thì giai cấp đó nắm giữ quyền thống trị xã hội về mặt kinh
tế và do đó thống trị chính trị, tư tưởng Theo C.Mác: “Vấn đề sở hữu bao giờcũng là vấn đề sống còn của giai cấp này hay giai cấp khác - tùy thuộc vàotrình độ phát triển của công nghiệp” [29, tr.428]
Đối với những người cộng sản, sở hữu được coi là vấn đề hàng đầu, vấn
đề cơ bản của mọi phong trào cách mạng Điều này đã được C.Mác vàPh.Ăngghen khẳng định trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản: “Tóm lại, ở tất cảmọi nơi, những người cộng sản đều ủng hộ mọi phong trào cách mạng chống lạitrật tự xã hội và chính trị hiện hành Trong tất cả phong trào ấy, họ đều đưa vấn đề
sở hữu lên hàng đầu, coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào” [29, tr.645-646]
Xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi cuộc cách mạng xã hội nhằm lật
đổ chế độ cũ và thiết lập chế độ xã hội mới bao giờ cũng phải đưa vấn đề chế
độ sở hữu lên hàng đầu, song mục đích của chủ nghĩa cộng sản không phải làxóa bỏ hoàn toàn mọi thứ sở hữu, cũng không tước bỏ mọi quyền chiếm hữusản phẩm xã hội của người lao động, mà chỉ tước bỏ quyền chiếm hữu sảnphẩm lao động ấy để nô dịch lao động của người khác Khi coi chế độ sở hữu
tư sản hiện đại là thứ sở hữu dựa trên “bóc lột lao động làm thuê”, thứ sở hữuvận động trong sự đối lập giữa hai cực: Tư bản và lao động, C.Mác vàPh.Ăngghen đã chỉ rõ:
Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ
sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản Nhưng chế độ tưhữu hiện thời, chế độ sở hữu tư sản lại là biểu hiện cuối cùng và hoàn
bị nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở những đốikháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia Theo
Trang 12ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thànhcông thức duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu [29, tr.616].
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, C.Mác đã chỉ rõ vịtrí và vai trò của sở hữu trong sự vận động và phát triển của xã hội loài người.Chế độ sở hữu là yếu tố cơ bản chi phối các yếu tố khác của đời sống xã hội.Mặt khác, bản thân chế độ sở hữu cũng là một yếu tố động, luôn có sự cảibiến Một trong những động lực chủ yếu, nguyên nhân chủ yếu của sự vậnđộng, biến đổi, cải biến đó là sự phát triển không ngừng cả về trình độ, tínhchất và quy mô của lực lượng sản xuất xã hội Khi chế độ sở hữu thay đổi sẽkéo theo sự thay đổi mọi yếu tố khác trong cấu trúc xã hội, cuối cùng sẽ làmthay đổi toàn bộ hình thái kinh tế - xã hội, một chế độ xã hội nào đó Mỗi mộthình thái kinh tế - xã hội có một chế độ sở hữu cơ bản đặc trưng cho hình tháikinh tế - xã hội đó Từ chế độ sở hữu, trong những quan hệ sở hữu, “bao giờchúng ta cũng tìm được cái điều bí ẩn sâu xa nhất, cái nền móng thầm kín củatoàn bộ kết cấu xã hội” [37, tr.499]
C.Mác chỉ ra rằng, giai cấp nào nắm giữ những tư liệu sản xuất chủ yếuthì giai cấp đó nắm quyền tổ chức quản lý sản xuất, nắm quyền phân phối sảnphẩm xã hội Giai cấp nào nắm quyền chi phối lĩnh vực sản xuất các giá trịvật chất thì giai cấp đó cũng nắm quyền chi phối mọi lĩnh vực hoạt động kháccủa đời sống xã hội, là giai cấp thống trị trong xã hội
C.Mác đã nêu lên các giai đoạn phát triển của xã hội loài người, trảiqua năm phương thức sản xuất, đánh dấu những bước tiến của lịch sử xã hộiloài người, tương ứng với các giai đoạn phát triển đó là những hình thái (chế
độ sở hữu) khác nhau: sở hữu bộ lạc, sở hữu công xã hay sở hữu nhà nướcthời cổ, sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp, sở hữu tư sản, sở hữu xã hội
xã hội chủ nghĩa Sự thay thế chế độ sở hữu này bằng chế độ sở hữu khác làmột tất yếu khách quan, là kết quả tác động của các quy luật khách quan,trong đó chủ yếu là tác động của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuấtvới trình độ của lực lượng sản xuất
Trang 131.1.3 Vị trí của sở hữu tư liệu sản xuất trong hệ thống các quan hệ sản xuất
Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát trong hệ thống các quan hệ sảnxuất Ta biết rằng quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quátrình tái sản xuất, do sự chi phối của ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chứcquản lý và quan hệ phân phối Sở hữu là mặt đầu tiên, là cơ sở cho các mặtkhác của quan hệ sản xuất
1.1.3.1 Sở hữu - cơ sở của các quan hệ tổ chức quản lý và phân phối
Trong một xã hội nhất định, giai cấp nào, tập đoàn nào nắm quyền sởhữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu thì giai cấp đó, tập đoàn đó nắm quyềnchi phối việc tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, quyếtđịnh hình thức thực hiện lợi ích kinh tế có lợi cho mình Ngược lại, nhữnggiai cấp khác, tập đoàn khác không nắm được quyền quyết định về những tưliệu sản xuất chủ yếu sẽ bị rơi vào tình trạng phụ thuộc và phục tùng, do đómọi hoạt động sản xuất cũng như những thành quả thu được bởi lao động của
họ chỉ nhằm phục vụ trước hết cho lợi ích của giai cấp thống trị
Tuy nhiên, trên thực tế, từ khi quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tưliệu sản xuất thì mâu thuẫn giữa chủ sở hữu tư liệu sản xuất với người laođộng sử dụng tư liệu sản xuất xuất hiện Vấn đề đầu tiên và cuối cùng màngười lao động quan tâm là phân phối như thế nào, tức là vấn đề lợi ích kinh
tế Chỉ thông qua lợi ích, các thành viên có liên quan trong hệ thống quan hệsản xuất mới nhận thức đúng về quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức quản lýsản xuất Quan hệ giữa người với người đối với việc chiếm hữu tư liệu sảnxuất là cơ sở quyết định vai trò cũng như việc thực hiện lợi ích kinh tế củamỗi người, mỗi tập đoàn, giai cấp Nói cách khác, lợi ích là quan hệ phản ánhcái bản chất sâu thẳm bên trong của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu Lịch
sử cho thấy, con người từ xưa đến nay tranh giành quyền sở hữu, quyền tổchức quản lý sản xuất cuối cùng cũng chỉ để thực hiện lợi ích kinh tế mà thôi
Giai cấp bị trị xưa nay đi theo lực lượng tiến bộ thực hiện các cuộccách mạng xã hội để cuối cùng có được lợi ích chính đáng của mình Xác
Trang 14định điều này có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc xác định mối quan hệ trựctiếp giữa quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối Khilợi ích của người lao động không được bảo đảm thì sớm muộn gì cũng tạo ramâu thuẫn với chủ sở hữu mà trước hết là mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế rồitất yếu sau đó là mâu thuẫn về quyền lợi xã hội, chính trị.
Tuy quan hệ sở hữu có vai trò quyết định đối với những mặt khác củaquan hệ sản xuất, nhưng các quan hệ phân phối và tổ chức quản lý, đến lượt
nó lại quyết định trở lại đối với việc bảo tồn hay phá vỡ quan hệ sở hữu Nếu
hệ thống tổ chức quản lý thích hợp, giải quyết hài hòa vấn đề lợi ích kinh tếthì nó duy trì sự tồn tại và thúc đẩy sự phát triển của quan hệ sở hữu Trái lại,không có một hệ thống tổ chức quản lý thích hợp và không giải quyết tốt vấn
đề lợi ích thì nó sẽ kìm hãm, thậm chí phá vỡ quan hệ sở hữu Nói cách khác,nếu bỏ qua hai yếu tố quản lý và phân phối thì việc xác lập quan hệ sở hữu chỉ
là hình thức, không có tác dụng tích cực trong thực tế Vai trò của quan hệquản lý và quan hệ phân phối là ở chỗ chúng làm cho quan hệ sở hữu từ chỗđược thừa nhận về mặt pháp lý trở nên có nội dung hiện thực, được cảm nhận
rõ ràng và cụ thể ở việc thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở hữu Lịch sử chothấy, nhờ cải cách trong quản lý tổ chức sản xuất và điều hoà vấn đề lợi íchgiữa chủ sở hữu tư bản với người lao động mà xã hội tư bản vẫn tiếp tục tồntại và phát triển cho đến ngày nay
Quyền sở hữu của chủ sở hữu sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có lợi íchkinh tế Lợi ích sẽ được duy trì tương đối ổn định và trở thành động lực bêntrong thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội khi chủ sở hữu và chủ sử dụng tưliệu sản xuất được thực hiện về mặt kinh tế trong quá trình tái sản xuất Thựctiễn đổi mới trong 20 năm qua cho thấy vai trò to lớn của việc thực hiện đúngđắn lợi ích kinh tế quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất đối với sựphát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ xã hội
1.1.3.2 Sở hữu - cơ sở của chế độ chính trị - xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội giữ vai trò phương pháp luận đểphân tích các thời đại lịch sử khác nhau Để nhận thức đúng các giai đoạn lịch
Trang 15sử xã hội của các chế độ chính trị, nhất thiết phải căn cứ vào đặc tính quyđịnh của hệ thống các quan hệ sản xuất, trong đó các quan hệ sở hữu vàphương thức kết hợp các yếu tố sản xuất để thực hiện các lợi ích kinh tế đượccoi là hạt nhân quy định bản chất và phương thức vận động của toàn bộ hệthống Quan hệ sở hữu là cơ sở để phân định bản chất chế độ xã hội; là cơ sởphân kỳ lịch sử và phân biệt sự giống và khác nhau của các giai đoạn lịch sử
xã hội Sự biến đổi của quan hệ sở hữu là động lực bên trong thúc đẩy sự thayđổi một hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội Chính trị bắt nguồn từ kinh tế,chính trị chẳng qua là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, do kinh tế và vì kinh
tế Cho nên chế độ chính trị thực chất là một hệ thống thiết chế nhằm bảo vệchế độ sở hữu để thực hiện lợi ích kinh tế quyền sở hữu Do vậy, sự biến đổicủa cơ sở kinh tế, của chế độ sở hữu sẽ kéo theo sự biến đổi của chế độ chínhtrị với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng
Từ mối quan hệ tất yếu giữa chế độ sở hữu và chế độ chính trị cho phépchúng ta tin tưởng vào dự báo khoa học về tính tất yếu của cách mạng vô sản
và sự ra đời của xã hội cộng sản văn minh Một xã hội: “Thay cho xã hội tưsản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện mộtliên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sựphát triển tự do của tất cả mọi người” [29, tr.628]
Logic này cho phép chúng ta khẳng định cách mạng xã hội chủ nghĩalấy việc xây dựng và phát triển chế độ công hữu về tư liệu sản xuất làm cơ sở
là đúng đắn, xa rời mục tiêu này sẽ không còn mang ý nghĩa là cuộc cáchmạng xã hội chủ nghĩa Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất không những làđặc trưng có ý nghĩa quyết định để phân biệt xã hội chủ nghĩa với tư bản chủnghĩa, mà còn là cơ sở để các đặc trưng cơ bản khác của chủ nghĩa xã hội tồntại và phát huy tác dụng Trong kiến trúc thượng tầng thì chế độ chính trị làmột bộ phận quan trọng nhằm bảo đảm quyền lực của giai cấp cầm quyền quanhững thiết chế, thể chế tương ứng để thực thi quyền lực về chính trị - kinh tế
- xã hội, chủ yếu là thực hiện lợi ích kinh tế trong đó vấn đề sở hữu là căn bảnnhất Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các cuộc cách mạng xã hội đều coi
Trang 16việc xác lập quyền thống trị của mình đối với tư liệu sản xuất - tài sản quốcgia như là điều kiện tiên quyết để giữ vững những thành quả cách mạng vàphát triển kinh tế.
Như vậy, chế độ sở hữu và chế độ chính trị là những thành phần cốt lõinhất của một chế độ xã hội Chế độ chính trị là một phạm trù lịch sử, nó biếnđộng cùng với sự biến động của cơ sở kinh tế, của chế độ sở hữu Quan hệ sởhữu lại phụ thuộc vào lực lượng sản xuất ở một trình độ phát triển nhất định.Thực chất quan hệ giữa chế độ sở hữu và chế độ chính trị là sự phản ánh mốiquan hệ giữa kinh tế và chính trị trong đời sống xã hội hiện thực Do vậy, đểxác định đúng mối quan hệ giữa sở hữu và chính trị chúng ta phải căn cứ vàođời sống hiện thực của xã hội Chế độ sở hữu và chế độ chính trị có mối quan
hệ biện chứng Tuy sở hữu đóng vai trò là cơ sở của chế độ chính trị nhưngchế độ chính trị lại là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và vận độngcủa chế độ sở hữu Thông thường trong lịch sử, khi quan hệ sở hữu lỗi thời, trởthành lực cản của lực lượng sản xuất thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi quan hệ sở hữutiến bộ hơn và theo đó chế độ chính trị phải tương ứng Nhưng mặt khác, giaicấp thống trị cũng thông qua những thiết chế của hệ thống chính trị để tác động,xây dựng và bảo vệ chế độ sở hữu, duy trì quyền lợi kinh tế cho mình Tùy theochế độ chính trị và mức độ tác động của nó tại một thời điểm nhất định mà cơcấu sở hữu ở các nước có sự khác nhau Nếu trong các nước tư bản chủ nghĩaphát triển chế độ tư hữu là đặc trưng chủ yếu, thì trong các nước xã hội chủnghĩa việc xây dựng chế độ công hữu là đặc trưng nền tảng cho một chế độ mới.Như vậy, trong cơ cấu sở hữu của hai chế độ xã hội tuy có những đặc trưng khácnhau, nhưng trong quá trình vận động vẫn có điểm tương đồng là cùng thực hiện
đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong quá trình phát triển kinh tế
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua phát triển kinh tế thịtrường cho nên không thể không thực hiện đa dạng hóa các loại hình sở hữutrong kinh tế, đồng thời cũng không thể không tăng cường các quyền lựcchính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa (thông qua việc từng bước hoàn thiện
hệ thống chính trị) Vì điều đó bảo đảm cho nền kinh tế nhiều thành phần phát
Trang 17triển theo đúng định hướng phục vụ lợi ích của quần chúng lao động và sự tự
do sáng tạo trong mỗi con người Trong việc hoàn thiện hệ thống chính trị,cần đặc biệt chú trọng vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nướctrong việc nhạy bén nắm bắt, xác lập, thừa nhận về mặt pháp lý các hình thức
sở hữu được hình thành từ phong trào quần chúng cho phù hợp với địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Phân tích mối quan hệ giữa sở hữu và chế độ chính trị, nhất là vai tròtác động tích cực của hệ thống chính trị giúp chúng ta có cơ sở phương phápluận trong việc hình thành những nguyên tắc và giải pháp hoàn thiện quan hệgiữa các loại hình sở hữu trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay
1.2 LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ SỰ BIẾN ĐỔI QUAN
HỆ SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.2.1 Những luận điểm chủ yếu về sự biến đổi sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ sang sở hữu tư bản tư nhân
Sở hữu tư nhân cũng phát triển từ nhỏ đến lớn Sự ra đời và phát triểncủa sở hữu tư nhân từ sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ sang sởhữu tư bản tư nhân gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hànghóa, từ sản xuất hàng hóa nhỏ lên sản xuất hàng hóa lớn (còn gọi là sản xuấthàng hóa tư bản chủ nghĩa) Cách thức thực hiện lợi ích của chủ sở hữu nhỏ
về tư liệu sản xuất là kết hợp trực tiếp sức lao động của bản thân với cácthành viên trong gia đình với tư liệu sản xuất của chính mình sản xuất ra cácsản phẩm để sử dụng trực tiếp gọi là sản xuất nhỏ tự cung tự cấp; hoặc thôngqua trao đổi để sử dụng vào đời sống và sản xuất của gia đình họ, cách thứcthực hiện lợi ích đó gọi là sản xuất hàng hóa nhỏ
Khi quy mô sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vượt quá khả năng sửdụng của các thành viên trong gia đình thì chủ sở hữu phải sử dụng sức laođộng của những người ngoài gia đình để thực hiện lợi ích kinh tế quyền sởhữu các tư liệu sản xuất Trong lịch sử, việc thực hiện lợi ích kinh tế quyền sởhữu ấy đã diễn ra như sau: thời cổ đại, chủ nô sử dụng lao động nô lệ; thời
Trang 18trung cổ, chủ sở hữu ruộng đất - địa chủ sử dụng lao động tá điền; thời hiệnđại, chủ sở hữu tư bản sử dụng lao động công nhân làm thuê Trong các thờiđại ấy, sở hữu tư bản tư nhân là đỉnh cao nhất, là hình thái cuối cùng của sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Sự chuyển hóa sở hữu tư nhân của những người sản xuất hàng hóa nhỏsang sở hữu tư bản tư nhân được thực hiện trước hết là do sự tác động của quyluật giá trị đã làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ Quy luật nàyđòi hỏi: trong quá trình sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải thực hiệnnguyên tắc hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là tiết kiệm lao động (cảlao động quá khứ và lao động sống) thì người sản xuất hàng hóa mới có lãi.Muốn vậy, người sản xuất hàng hóa phải tìm mọi cách để hạ thấp giá trị cábiệt của sản phẩm so với thời gian lao động xã hội cần thiết; còn trong traođổi phải thực hiện nguyên tắc ngang giá, nghĩa là giá cả bằng giá trị, phải đảmbảo bù đắp được chi phí cho người sản xuất hàng hóa (dựa trên cơ sở hao phílao động xã hội cần thiết)
Để tồn tại và phát triển, người sản xuất phải tìm mọi biện pháp đểnâng cao năng suất lao động cá biệt, giảm giá trị cá biệt so với giá trị xãhội của hàng hóa, bằng cách tăng năng suất lao động Cơ sở nào biết cảitiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động cá biệt, nângcao giá trị sử dụng của hàng hóa, đồng thời hạ thấp giá trị cá biệt sẽ chiếnthắng các đối thủ cạnh tranh, có lãi cao, có điều kiện mở rộng sản xuất,thuê mướn nhân công, họ ngày càng giàu có, khối lượng tiền của ngày càngtăng và dần dần trở thành chủ sở hữu lớn tư bản Ngược lại, đại bộ phậnnhững người sản xuất hàng hóa nhỏ do những khó khăn không cải tiếnđược kỹ thuật, năng suất lao động cá biệt thấp, sản xuất ngày càng sa sút,dần dần đi đến phá sản, không còn tư liệu sản xuất, chỉ còn lại khả năng laođộng Trong hoàn cảnh khó khăn đó, muốn tồn tại, họ phải bán sức laođộng cho người tập trung được phần lớn tư liệu sản xuất - các nhà tư bản
và trở thành lao động làm thuê
Trang 19Trong thực tế, sự tác động phân hóa này của quy luật giá trị diễn rachậm chạp, phải trải qua một thời kỳ lâu dài Vì vậy, trong lịch sử, quá trìnhphân hóa này đã được đẩy nhanh thông qua tích lũy nguyên thủy tư bản
Trong quá trình phát triển của sản xuất hàng hóa nhỏ, từ khi tiền tệ rađời là sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân hoạt động trên cơ sở mua rẻ, bánđắt để thu lợi nhuận Tích lũy sự giàu có vào tầng lớp thương nhân, đến cuốithế kỷ XV, chủ thuyết làm giàu bằng cách mở rộng trao đổi không ngang giáđược hình thành ở nhiều nước trên thế giới Địa vị kinh tế của tầng lớp thươngnhân ngày càng tăng, họ sử dụng lực lượng kinh tế thông qua thuế và tín dụng
để chi phối nhà nước phong kiến, buộc nhà nước phong kiến phải ban hànhcác chính sách và xây dựng lực lượng đáp ứng yêu cầu của họ về tích lũynguyên thủy tư bản Trong trường hợp này, nhà nước có vai trò quan trọngtrong quá trình chuyển đổi sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ sang
sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Đó là vai trò “bà đỡ” cho sự ra đời phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng việc đưa ra các chính sách đẩy mạnh quátrình tích lũy nguyên thủy của tư bản
Thực chất của tích lũy nguyên thủy tư bản là dùng bạo lực để tước đoạtquyền sở hữu tư liệu sản xuất của những người sản xuất nhỏ, nhất là ngườinông dân để tập trung tiền của vào tay các nhà tư bản và biến họ thành nhữngngười lao động làm thuê Điển hình của quá trình này là ở nước Anh, giai cấp
tư sản dựa vào nhà nước phong kiến dùng bạo lực đuổi nông dân, biến đồngruộng thành bãi chăn cừu Đồng thời, ban hành các đạo luật hà khắc để buộcnhững người nông dân bị mất đất phải vào làm thuê trong các xí nghiệp tưbản Tích lũy nguyên thủy tư bản còn được thực hiện bằng việc đi chinh phục
và bóc lột thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen từ Châu Phi đến các vùng đất mới
ở Châu Mỹ, thực hiện thương mại không bình đẳng,v.v…
Tóm lại, quá trình chuyển sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của những
người sản xuất nhỏ sang sở hữu tư nhân tư bản được thực hiện thông qua tácđộng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa nhỏ và thông qua tíchlũy nguyên thủy tư bản Trong đó, tác động của quy luật giá trị là nguyên
Trang 20nhân sâu xa làm xuất hiện sở hữu tư nhân tư bản; tích lũy nguyên thủy tư bản
là nhân tố trực tiếp tạo ra sở hữu tư bản tư nhân quy mô lớn và làm xuất hiệnphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ cuối thế kỷ XVII
1.2.2 Những luận điểm chủ yếu về sự biến đổi sở hữu tư bản tư nhân thuần túy sang sở hữu tư bản độc quyền và sở hữu tư bản độc quyền sang sở hữu tư bản độc quyền nhà nước
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh, C.Mác đã chỉ rõ:
tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ sản xuất; tích tụ sản xuất phát triển tới mộtmức nào đó sẽ dẫn tới sự xuất hiện các tổ chức độc quyền, cạnh tranh tự do sẽnhường chỗ cho độc quyền C.Mác cũng xác định sự hình thành các công ty
cổ phần và chế độ độc quyền là: “Điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyểnthành sở hữu của những người sản xuất nhưng không phải với tư cách là sởhữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữucủa những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp” [24, tr.192]
Đó là một xu hướng có tính quy luật của nền kinh tế thị trường tự do tư bảnchủ nghĩa Tuy nhiên C.Mác mới nêu lên những tư tưởng đầu tiên về sự biếnđổi của sở hữu tư bản tư nhân thuần túy sang sở hữu tập thể của các nhà tưbản (sở hữu độc quyền) chứ chưa xây dựng một học thuyết hoàn chỉnh về chủnghĩa đế quốc Quan sát thực tế vận động của chủ nghĩa tư bản, C.Mác vàPh.Ăngghen đã có dự báo thiên tài rằng với sự phát triển của lực lượng sản xuất,cạnh tranh tự do tất yếu sẽ dẫn đến độc quyền và độc quyền tư nhân sẽ chuyểnthành độc quyền nhà nước Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen đãnhận xét:
Sự cạnh tranh trong nội bộ quốc gia nhường chỗ cho sự độcquyền của một công ty duy nhất trong nội bộ quốc gia đó Đại biểuchính thức của xã hội tư bản chủ nghĩa, tức là nhà nước, cũng phải đảmđương lấy việc lãnh đạo các tư liệu sản xuất…Tư liệu sản xuất hay tưliệu giao thông đã thực sự vượt quá sự quản lý của các công ty cổ phần,
và do đó việc quốc hữu hoá trở thành không thể tránh khỏi về mặt kinh
tế [33, tr.385-386]
Trang 21Trên cơ sở kế thừa và phát triển những tư tưởng đó, khái quát hóa cáchiện tượng độc quyền trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX đầuthế kỷ XX, V.I.Lênin đã vạch ra đặc trưng của thời đại mới, xây dựng họcthuyết hoàn chỉnh về chủ nghĩa đế quốc, về sự biến đổi sở hữu tư bản tư nhânthuần túy sang sở hữu tư bản độc quyền và từ sở hữu tư bản độc quyền sang
sở hữu tư bản độc quyền nhà nước
Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tưbản, Lênin đã chỉ ra quy luật chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranhsang chủ nghĩa tư bản độc quyền (chủ nghĩa đế quốc) là do sự tích tụ sản xuất
đã đạt đến trình độ cao vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, tích tụ và tập trung tư bản dẫn đến tích tụ sản xuấtdiễn ra mạnh mẽ trong nền kinh tế ở các nước tư bản phát triển Sở dĩ nhưvậy là do sự phát triển nhanh của lực lượng sản xuất và việc ứng dụng nhữngthành tựu khoa học, kỹ thuật mới vào sản xuất đòi hỏi nguồn vốn lớn, cùngvới nó là các cuộc khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ ở hầu hết các nước tưbản chủ nghĩa Những nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản hàng loạt, còn cácnhà tư bản lớn thì phát tài và tăng quy mô tư bản một cách nhanh chóng hơntrước Thêm vào đó, sự ra đời nhanh hơn của các cơ cấu tài chính trung giannhư tín dụng, ngân hàng; sự hoạt động của các công ty cổ phần và chế độliên hợp sản xuất đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình tích tụ sản xuất trong cáccông ty lớn
Lênin giải thích: tích tụ sản xuất có nghĩa là tập trung sản xuất vàonhững xí nghiệp lớn, nhưng không phải chỉ là kết quả của tập trung tư bản mà
mà là kết quả của cả hai quá trình: tích tụ và tập trung tư bản Các xí nghiệp
cá biệt đã qua quá trình tích tụ tư bản (tích lũy nội bộ, nhờ tư bản hóa giá trịthặng dư) nay lại diễn ra quá trình tập trung thành những xí nghiệp khổng lồ
và dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cuối thế
kỷ XIX: đó là sự hình thành các tổ chức độc quyền
Trang 22Lênin khẳng định rằng: hình thức tích tụ sản xuất là “một đặc điểm cực kỳtrọng yếu mà người ta gọi là chế độ liên hợp hóa, nghĩa là sự tập trung vào trongtay một xí nghiệp duy nhất nhiều ngành công nghiệp khác nhau” [20, tr.398]
Các công ty cổ phần lớn và các xí nghiệp liên hợp tạo cơ sở vật chất để
tự do cạnh tranh chuyển thành độc quyền Khi mỗi ngành sản xuất còn phântán trong hàng trăm, hàng ngàn xí nghiệp độc lập nhỏ bé thì không thể có sựthỏa thuận để chi phối thị trường Do tích tụ sản xuất, trong mỗi ngành nổi lênnăm, bảy xí nghiệp kếch sù nắm đại bộ phận sản xuất của ngành đó và cạnhtranh nhau gay gắt thì lúc đó xuất hiện xu hướng thỏa thuận, liên minh vớinhau để “điều tiết việc sản xuất”, “quy định giá cả”, vì trong điều kiện mới,cạnh tranh khó khăn và ác liệt, tư bản cố định to lớn, không thể dễ dàng dichuyển tự do từ ngành này sang ngành khác Cho nên, nghiên cứu quá trìnhtích tụ sản xuất, Lênin rút ra kết luận quan trọng: tích tụ và tập trung sản xuấttất yếu “dẫn thẳng đến độc quyền Vì vài chục xí nghiệp khổng lồ có thể dễdàng thỏa thuận với nhau; mặt khác chính quy mô to lớn của các xí nghiệplàm cho cạnh tranh ngày càng khó khăn và làm nảy sinh khuynh hướng đi đếnđộc quyền” [20, tr.398]
Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển lên một nấc thang mới chủ nghĩa tư bản độc quyền, cạnh tranh tự do thống trị chuyển thành độcquyền thống trị đồng thời đã đánh dấu sự biến đổi về chất cục bộ trong quan
-hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân thuầntúy đã chuyển sang sở hữu tập thể của các tư nhân Điều đó có nghĩa là quan
hệ giữa từng nhà tư bản với lao động làm thuê đã chuyển sang quan hệ giữatập thể các nhà tư bản với lao động làm thuê Cho nên độc quyền không xóa
bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê
mà chỉ làm thay đổi hình thức vận động của quan hệ sản xuất: quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh dựa trên sở hữu tư bản cá thểthì nay dựa trên sở hữu độc quyền - sở hữu của tập thể các nhà tư bản thốngtrị các ngành kinh tế Như vậy, quá trình hình thành các tổ chức độc quyền đãdẫn đến sự biến đổi quan hệ sở hữu tư bản chủ nghĩa: sở hữu tư nhân tư bản
Trang 23cá thể, phân tán biến thành sở hữu độc quyền, hay sở hữu của tập thể của cácnhà tư bản để điều tiết các quan hệ kinh tế theo yêu cầu phát triển lực lượngsản xuất.
Sau khi phân tích, tìm ra nguyên nhân và khẳng định tính tất yếu củaviệc xuất hiện các tổ chức độc quyền, Lênin đã nghiên cứu các tổ chức độcquyền - những biểu hiện của sự biến đổi sở hữu tư bản tư nhân sang sở hữuđộc quyền Các hình thức tổ chức độc quyền ra đời và phát triển trong giaiđoạn đó là Các-ten, Xanh-đi-ca, Tơ-rớt và Công-xooc-xi-om
Lênin chỉ rõ, độc quyền ra đời từ cạnh tranh tự do nhưng không thủ tiêucạnh tranh tự do mà nó tồn tại bên trên và bên cạnh tự do cạnh tranh
Sống trong thời đại tư bản độc quyền, Lênin đã được chứng kiến sựphát triển của độc quyền tư bản chủ nghĩa với những hình thức phong phú của
nó, đặc biệt là thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước đế quốc đã trựctiếp can thiệp vào quá trình kinh tế, thậm chí dùng “mệnh lệnh” để buộc một
số xí nghiệp dân sự phải chuyển sang hình thức hoạt động mang tính quân sựhóa Từ đó Lênin đã rút ra nhận xét: chiến tranh đã thúc đẩy nhanh chóng, phithường sự chuyển hóa của chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa tư bảnđộc quyền nhà nước
Nếu “tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuấtnày, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền” [38, tr.402],các tổ chức độc quyền dựa trên sở hữu tập thể tư nhân tư bản chủ nghĩa, thì tậptrung sản xuất cao hơn nữa làm cho tính xã hội hóa của lực lượng sản xuất pháttriển, trình độ quốc tế hóa của sản xuất cao hơn nữa làm cho sở hữu tập thể của
tư bản tư nhân trở nên không còn phù hợp, tất yếu ra đời chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước Nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết chặt chẽ giữa các tổchức độc quyền với nhà nước tư sản về kinh tế và chính trị để chi phối trên tất cảcác mặt của quan hệ sản xuất, qua đó tăng sức mạnh của độc quyền và mở rộngvai trò kinh tế của nhà nước tư sản, biến nhà nước tư sản thành người đại diện lợiích của các tổ chức độc quyền
Trang 24Sự biến đổi từ sở hữu độc quyền của tập thể các tư nhân sang sở hữu độcquyền nhà nước là để thích ứng với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất Khi đãđạt trình độ xã hội hóa cao, đòi hỏi phải có một lực lượng kinh tế mới là tư bảnđộc quyền nhà nước điều hòa phối hợp quá trình sản xuất xã hội thông qua việcnhà nước kế hoạch hóa sự phát triển các ngành kinh tế; nhà nước đầu tư vàonhững ngành mà tư nhân không có khả năng đầu tư hoặc không muốn đầu tưnhưng lại rất cần cho sự phát triển; nhà nước đại diện cho lợi ích các tổ chức độcquyền trong quan hệ kinh tế quốc tế; nhà nước ban hành các chính sách nhằm ổnđịnh xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp tư sản phát triển, v.v
Xét về bản chất của sở hữu tư bản độc quyền nhà nước thì sở hữu củanhà nước tư sản là sở hữu tập thể của toàn bộ giai cấp tư sản, sở hữu độcquyền là sở hữu tập thể của tư nhân trong các tổ chức độc quyền Khi chúngxâm nhập vào nhau hình thành tư bản độc quyền nhà nước thì hoạt động củanhà nước phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền, phải phục tùng lợi ích của các
tổ chức độc quyền và biến thành nhà tư bản tập thể của các tổ chức độcquyền Vì theo Ăngghen: “Nhà nước hiện đại…là nhà nước của các nhà tưbản, là nhà tư bản tập thể lý tưởng Nhà nước ấy càng chuyển nhiều lực lượngsản xuất thành tài sản của nó bao nhiêu thì nó lại càng biến thành nhà tư bảntập thể thực sự” [33, tr.387]
Sở hữu tư bản độc quyền nhà nước được hình thành dưới những hìnhthức sau: xây dựng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách (trong đó
có cả doanh nghiệp sở hữu 100% vốn của nhà nước và doanh nghiệp liên kếtvới tư bản tư nhân trong và ngoài nước, kể cả liên kết với các nhà nước khác);quốc hữu hóa các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại; nhà nước mua cổphiếu của các doanh nghiệp tư nhân, mở rộng doanh nghiệp nhà nước bằngvốn tích lũy nội bộ và vốn từ ngân sách
Sự biến đổi quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất từ sở hữu tư bản độc quyềnsang sở hữu tư bản độc quyền nhà nước là một tất yếu kinh tế mang đặc trưngvận động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn lực lượng sảnxuất đạt đến trình độ xã hội hóa cao
Trang 251.3 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT TRONG THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.3.1 Những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác - Ăngghen về giải quyết vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất trong quá trình xây dựng xã hội
xã hội chủ nghĩa
Luận điểm cơ bản của Mác - Ăngghen về giải quyết vấn đề sở hữu tưliệu sản xuất trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là: xóa bỏ chế
độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, cho nên thủ tiêu chế
độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn
bộ chế độ xã hội, do đó: “Những người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề raviệc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình” và “Nhữngngười cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành thành một luận điểmduy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu” [28, tr.447, 616]
Trong “Bản thảo kinh tế - triết học” năm 1844, C.Mác đã đề cập đếnnhững quan niệm khác nhau của một số trào lưu tư tưởng cộng sản chủ nghĩatrước đây về vấn đề xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân Trên quan điểm kháchquan khoa học, ông đã xem xét sự diệt vong của chế độ tư hữu do tính tất yếulịch sử của nó và vì thế, ông đã phê phán gay gắt “chủ nghĩa cộng sản thô lỗ”khi họ chủ trương xóa bỏ tư hữu bằng chủ nghĩa bình quân Theo C.Mác: vớichủ nghĩa bình quân, “chủ nghĩa cộng sản thô lỗ” chỉ là “hình thức biểu hiệncủa sự ty tiện” của chế độ tư hữu “Người ta thấy rõ điều đó chính là sự phủđịnh một cách trừu tượng toàn bộ thế giới văn hóa và văn minh” Bằng cách
đó, “con người không những không vượt lên trên trình độ của chế độ tư hữu
mà còn chưa đạt tới chế độ đó” [26, tr.126 - 127]
Khuyết tật lớn nhất của chế độ tư hữu đối với con người, theo cách lậpluận của C.Mác, là nó đã làm tha hóa con người “Chế độ tư hữu đã làm chochúng ta ngu xuẩn và phiến diện đến nỗi một đối tượng nào đó chỉ là củachúng ta khi nào chúng ta chiếm hữu nó, nghĩa là khi nó tồn tại đối vớichúng ta như là tư bản hoặc khi chúng ta trực tiếp chiếm hữu nó, ăn nó, uống
Trang 26nó, mặc vào ta hay cư trú ở trong đó v.v nói tóm lại khi chúng ta tiêu dùngnó” Do vậy, “xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu…là sự xóa bỏ mộtcách tích cực sự tha hóa” Đó là sứ mệnh lịch sử của chủ nghĩa cộng sản mới
- chủ nghĩa cộng sản với tính cách là “chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị”, “chủnghĩa nhân đạo hoàn bị” [26, tr.128-129, tr.134-135]
Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra mục đích, nhiệm vụ của chủ nghĩacộng sản là xóa bỏ chế độ tư hữu, C.Mác còn vạch ra con đường, cách thức đểhiện thực hóa lý tưởng ấy C.Mác viết: “Muốn xóa bỏ tư tưởng về chế độ tưhữu, thì tư tưởng về chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn đủ rồi Còn muốn xóa bỏchế độ tư hữu trong hiện thực thực tế thì đòi hỏi phải có hành động cộng sảnchủ nghĩa, hiện thực” [26, tr.159]
Chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa, cũng như tất cả các chế độ sở hữutrước đó, chỉ là “những quan hệ lịch sử, mang tính nhất thời của quá trìnhphát triển của sản xuất, chứ không phải là những quy luật vĩnh cửu của tựnhiên và của lý trí ” [29, tr.619] Việc xóa bỏ, thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa
là một tất yếu khách quan, một kết quả đương nhiên trong quá trình phát triểncủa lịch sử loài người Trong tác phẩm “Tư bản” C.Mác khẳng định:
Sự độc quyền của tư bản trở thành những xiềng xích ràng buộccái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền đó
và dưới độc quyền đó Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóalao động đạt tới cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ
tư bản của chúng nữa [29, tr.317-318]
Khi đó, chính giai cấp tư sản chứ không phải là ai khác, với chế độ sởhữu của mình, ngoài ý muốn chủ quan của giai cấp đó, đã không những “rènnhững vũ khí sẽ giết mình”, mà còn “tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy” -
đó là những công nhân hiện đại, giai cấp vô sản
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là thực hiện cuộc cách mạng xã hộichủ nghĩa, xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữucộng sản chủ nghĩa Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, giai cấp vô sản sẽ thực hiện sứ
Trang 27mệnh lịch sử của mình như thế nào, đặc biệt là trong vấn đề giải quyết vấn đề sởhữu - một trong những nội dung cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
C.Mác nhấn mạnh rằng, giải quyết vấn đề sở hữu phải nhằm mục đíchtạo điều kiện để giai cấp vô sản giành lấy toàn bộ lực lượng sản xuất, xóa bỏ
sự tách rời người lao động khỏi những điều kiện lao động, thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển mạnh mẽ hơn nữa, bảo đảm cung cấp đầy đủ các sản phẩmthỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội
C.Mác cũng chỉ ra rằng, quá trình xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bảnchủ nghĩa không phải là quá trình phủ định sạch trơn sở hữu, mà là quá trìnhxóa bỏ sự đối lập gay gắt giữa hai cực Tư bản và Lao động Đối với tư bản, đó
là quá trình chuyển biến tính chất xã hội của sở hữu, xóa bỏ tính chất tư sảncủa sở hữu, xóa bỏ quyền dùng chiếm hữu để nô dịch người khác Đối với laođộng, đó là quá trình xóa bỏ tính chất bi thảm của phương thức chiếm hữu tưbản chủ nghĩa, “cái phương thức khiến cho người công nhân chỉ sống để làmtăng thêm tư bản, và chỉ sống trong chừng mực mà những lợi ích của giai cấpthống trị đòi hỏi” [29, tr.617]
C.Mác khẳng định, giải quyết vấn đề sở hữu trong quá trình xây dựng
xã hội xã hội chủ nghĩa bao hàm hai mặt: xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủnghĩa và xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài,phải dựa trên những điều kiện hiện thực và là kết quả của hoạt động hiện thực
Bước đầu tiên là, giai cấp vô sản phải làm “nổ tung tất cả cái thượngtầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội quan phương”, giànhlấy dân chủ, giành lấy chính quyền, trở thành giai cấp nắm quyền tối cao Sau
đó, với công cụ chính quyền nhà nước trong tay, giai cấp vô sản sẽ “từngbước một” thực hiện quá trình thay đổi tính chất của sở hữu, chuyển sở hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa sang công hữu xã hội chủ nghĩa
Nhấn mạnh sự cần thiết phải tiến hành sự chuyển biến sở hữu “từngbước một”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập đến những điều kiện vật chấtkhách quan đảm bảo cho sự chuyển biến này C.Mác viết:
Trang 28Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả nhữnglực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn cho phát triển, vẫnchưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới cao hơn cũng khôngbao giờ xuất hiện trước những điều kiện vật chất của những quan hệ đóchưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ [31, tr.15-16]
Điều kiện vật chất đó chính là sự phát triển của công nghiệp, hay nóikhác đi, đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Đúng nhưPh.Ăngghen đã chỉ ra: “Thủ tiêu chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất vàtổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội Việc cải tạo này là kếtquả tất yếu của sự phát triển của công nghiệp” [29, tr.467]
1.3.2 Những luận điểm chủ yếu về giải quyết vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất thông qua chính sách kinh tế mới của Lênin
Kế thừa những luận điểm khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen,V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng chủ nghĩa cộng sản là sự xóa bỏ chế độ tư hữunhững đó là quá trình được thực hiện từng bước một và bằng những hình thứchết sức đa dạng, phong phú, tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước,nhất là đối với những nước mà nền kinh tế chưa phát triển cao Thông qua cáctác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết (1918), bàn vềthuế lương thực (4 -1921), bàn về chế độ hợp tác (1923)…”, V.I.Lênin đãluận chứng cho tính tất yếu của sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Điều đó được khẳng định trong việc thực hiệnchính sách kinh tế mới (NEP) với nội dung cơ bản là phát triển nền kinh tếnhiều thành phần trên cơ sở thừa nhận sự đa dạng trong chế độ sở hữu
V.I.Lênin nhận định rằng, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội cómột thời kỳ quá độ, thời kỳ này dài hoặc ngắn, có ít hoặc nhiều khó khăn tùyvào chỗ: ở điểm xuất phát trong nền kinh tế, địa vị thống trị thuộc về chế độcanh tác quy mô lớn Ở một nước trong đó những người tiểu nông chiếm tuyệtđại đa số dân cư thì chỉ có thể thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng mộtloạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những
Trang 29nước tư bản phát triển - nơi công nhân làm thuê trong công nghiệp Khi chúng
ta đang chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội cần nhận rõ “chúngta” là những ai; cần nhớ tất cả những danh sách các bộ phận tổ thành, nhữngchế độ kinh tế khác nhau đã hợp thành nền kinh tế quốc dân Người viết:
“Chúng ta” tức là đội tiên phong, là đội tiên tiến của giai cấp vô sản, chúng tatrực tiếp chuyển lên chủ nghĩa xã hội; nhưng đội ngũ tiên tiến chỉ là một bộphận nhỏ của giai cấp vô sản và giai cấp vô sản lại cũng chỉ là một bộ phậnnhỏ trong quần chúng nhân dân Và để
Chúng ta có thể làm tròn một cách thắng lợi nhiệm vụ của chúng
ta, tức là chuyển thẳng lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải hiểu nhữngđường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết đểchuyển từ những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội
Đó là mấu chốt của vấn đề [23, tr.274]
Lênin cũng chỉ ra rằng, các bộ phận tổ thành, hay các thành phần kinh
tế thuộc những kết cấu kinh tế - xã hội khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
ở Nga khi thực hiện chính sách kinh tế mới gồm 5 bậc thuộc 5 kết cấu, từ kếtcấu gia trưởng là nửa dã man đến kết cấu xã hội chủ nghĩa, trong đó chiếm ưuthế là kết cấu tiểu nông, tức là kết cấu một phần có tính chất gia trưởng, mộtphần có tính chất tiểu tư sản Trong tình trạng trên, không ai có thể phủ nhậntính chất quá độ của nền kinh tế ở nước Nga Danh từ “nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Xô-viết” có nghĩa là chính quyền Xô-viết quyết tâm thực hiện bướcchuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không có nghĩa là chế độ kinh tếhiện thời là chế độ xã hội chủ nghĩa Vận dụng vào kinh tế, danh từ quá độ cónghĩa là trong chế độ hiện thời có những thành phần, những bộ phận, nhữngmảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Các thành phần thuộc các kếtcấu kinh tế - xã hội khác nhau thời đó ở Nga gồm:
1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất
tự nhiên;
2) Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì);3) Chủ nghĩa tư bản tư nhân;
Trang 304) Chủ nghĩa tư bản nhà nước
Thành phần kinh tế hàng hóa nhỏ bao gồm nông dân, thợ thủ công vànhững người làm dịch vụ cá thể, nhưng ở một nước tiểu nông thì nông dânchiếm đại đa số Nông dân, cũng như những người sản xuất hàng hóa nhỏ nóichung - vừa là người lao động, vừa là người tiểu tư hữu, vừa là người đầu cơ.Bởi vậy, lịch sử đã dậy chúng ta rằng: “nông dân nếu không đi theo công nhânthì đi theo tư bản, không thể khác được” [22, tr.435] Một trong những điều kiện
cơ bản để cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể thắng lợi triệt để là: “sự thoả thuậngiữa giai cấp vô sản đang thực hiện sự chuyên chính của mình hoặc đang nắmchính quyền nhà nước, với đại đa số nông dân Thỏa thuận là một khái niệmrất rộng, nó bao hàm cả một loạt biện pháp và bước quá độ” [23, tr.69]
Nhưng nông dân chỉ tin vào hành động, vào kinh nghiệm thực tiễn.Phải làm cho nông dân tin rằng, giai cấp vô sản tạo ra cho họ những điều kiệnsinh sống tốt hơn các điều kiện mà giai cấp tư sản đã tạo ra cho họ Chính vìthế vấn đề đầu tiên khi bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế mới ở Nga là dùngnhững biện pháp cấp bách để nâng cao lực lượng sản xuất của nông dân và cảithiện đời sống của họ Muốn cải thiện đời sống của công dân thì phải có bánh
Trang 31mì, nên phải bắt đầu từ nông dân Chỉ có bằng con đường này mới tăng cườngđược liên minh của công nông, củng cố được chuyên chính vô sản.
Khi việc nâng cao lực lượng sản xuất của nông dân đi đôi với việckhuyến khích tự do buôn bán thì nhiều người nông dân nghèo sẽ trở thànhtrung nông, sẽ phục hồi giai cấp tiểu tư sản và chủ nghĩa tư bản, thành thử thếlực tự phát tiểu tư hữu, tiểu tư sản sẽ tăng lên Đặc điểm cơ bản trong quanđiểm tiểu tư hữu là cốt vơ vét được phần hơn còn thì “sống chết mặc bay” Vìthế những điều kiện kinh tế tiểu tư sản và tính tự phát tiểu tư sản là kẻ thùchính và nguy hiểm nhất của chủ nghĩa xã hội Chính tầng lớp những ngườitiểu tư hữu vô cùng rộng rãi ở nước Nga là cơ sở kinh tế của tệ đầu cơ Chủnghĩa tư bản tư nhân có đại diện của mình ở trong mỗi người tiểu tư sản.Hàng triệu cái vòi của con thuồng luồng tiểu tư sản đang quấn lấy một số tầnglớp của công nhân; nạn đầu cơ đang chui vào mọi chân lông, kẽ tóc của đờisống kinh tế - xã hội nước Nga, phá hoại bằng nhiều cách chống lại sự kiểm
kê, kiểm soát của nhà nước Chừng nào giai cấp công nhân biết cách giữ gìntrật tự nhà nước, chống tình trạng vô chính phủ tiểu tư hữu, chừng nào giaicấp công nhân học được cách sắp đặt tổ chức sản xuất với quy mô lớn toànquốc, trên cơ sở chủ nghĩa tư bản nhà nước, thì khi ấy mới đảm bảo cho chủnghĩa xã hội được củng cố Chủ nghĩa xã hội sẽ không thể thành công nếu kỷluật tự giác của giai cấp vô sản không thắng tình trạng vô chính phủ tự phátcủa giai cấp tiểu tư sản
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân có đặc trưng cơ bản là dựa trên sở hữu
tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất và sử dụng sức lao động làm thuê Đươngnhiên, trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần dưới sự quản lý của chínhquyền Xô-viết, kinh tế tư bản tư nhân không hoàn toàn giống với kinh tế tư bản
tư nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Người khẳng định vị trí, vai trò của kinh
tế tư bản tư nhân:
Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tưbản lại là tốt so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủnghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những người sản xuất tạo
Trang 32nên Vì chúng ta chưa có điều kiện chuyển trực tiếp từ nền tiểu sảnxuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy, trong một mức độ nào đó, chủnghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nềntiểu sản xuất và trao đổi; bởi vậy chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa
tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bảnnhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủnghĩa xã hội, làm con đường, phương tiện, phương pháp, phươngthức để tăng lực lượng sản xuất lên [23, tr.276]
Với ý nghĩa ấy, chủ nghĩa tư bản tư nhân hay sở hữu tư nhân tư bảnđóng vai trò trợ thủ cho chủ nghĩa xã hội Điều đó không có gì là ngược đời,
mà là một sự thật kinh tế hoàn toàn không thể chối cãi được
Lênin cũng lưu ý, phải phân biệt những nhà tư bản văn minh với bọn tưbản không văn minh Những nhà tư bản văn minh chấp nhận chủ nghĩa tư bảnnhà nước, là những người tổ chức thông minh và có kinh nghiệm trong xínghiệp lớn, thật sự đảm nhiệm cung cấp sản phẩm cho hàng chục triệu người,tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật Còn bọn tư bản không văn minh - tức bọn tưbản không chịu chấp nhận bất cứ chủ nghĩa tư bản nhà nước nào - dùngnhững hành động đầu cơ, mua chuộc dân nghèo…để phá hoại các biện phápcủa chính quyền Xô-viết Đối với những nhà tư bản văn minh, buôn bán chínhđáng, thì chúng ta hết sức ủng hộ, còn đối với mọi hành vi ăn cắp, mọi mưutoan - trực tiếp hoặc gián tiếp, công khai hoặc lén lút - lẩn tránh sự kiểm tra,kiểm soát, kiểm kê của nhà nước thì phải trừng phạt nghiêm khắc Có như vậymới có thể hướng được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đi vào con đườngphát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước
Lênin là người Mác-xít đầu tiên đã xây dựng nên những nền tảng lýluận về chủ nghĩa tư bản nhà nước và chỉ đạo việc thực hiện chủ trương nàytrong thực tiễn Lênin đã vạch ra được một số hình thức cụ thể áp dụng trongnhững năm đầu thực hiện chính sách kinh tế mới ở nước Nga Xô-viết Nhữnghình thức kinh tế cơ bản trong việc thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước là:
Trang 33Tô nhượng: Lênin quan niệm tô nhượng là một sự giao kèo, một sự liên
kết, liên minh giữa chính quyền nhà nước Xô-viết với chủ nghĩa tư bản các nướctiên tiến, đó là: hợp đồng giữa nhà nước và một số nhà tư bản, nhà nước giao cho
họ được quyền kinh doanh, khai thác khoáng sản, canh tác hay xây dựng trongmột thời hạn nhất định Hợp đồng quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ của ngườinhận tô nhượng, trong đó có việc chia sản phẩm, lợi nhuận nộp thuế…hết hạnhợp đồng các tài sản trên lại thuộc về quyền sở hữu của nhà nước Hình thức đặcbiệt này lại càng có ý nghĩa trong những trường hợp mà nhà nước không có khảnăng đầu tư, không đủ năng lực kỹ thuật để khai thác…
Đánh giá về tính chất của hình thức tô nhượng, Lênin cho rằng so vớinhững hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong lòng chế độ Xô- viết thìchủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô nhượng là hình thức đơn giản, rõràng và dễ tiếp thu
Hình thức hợp tác xã: Hay còn gọi là chủ nghĩa tư bản nhà nước - hợp
tác xã Đây là hình thức liên minh giữa nhà nước vô sản với hàng triệu ngườisản xuất nhỏ, là sự kết hợp lợi ích tư nhân với sự giúp đỡ và kiểm soát củanhà nước đối với những lợi ích đó, làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi íchchung của toàn xã hội Với giải pháp kết hợp lợi ích có thể tránh được sựcưỡng bức nông dân vào hợp tác xã, xóa bỏ sở hữu cá thể của nông dân, bảođảm quyền sở hữu tài sản của tập thể những người sản xuất nhỏ và tự do buônbán, nhưng hạn chế tình trạng tự phát và phân hóa tư bản chủ nghĩa Đây làcon đường duy nhất đúng để đưa hàng triệu người sản xuất nhỏ đi theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Trong những năm thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin đặc biệt chú
ý đến hình thức hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ Ông coi hợp tác xãtrong điều kiện giai cấp vô sản nắm chính quyền và chế độ công hữu về tưliệu sản xuất đã được thiết lập cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhànước nhưng ít đơn giản hơn, có hình thù ít rõ rệt hơn, phức tạp hơn tô nhượngnên đặt chính quyền Xô-viết trước những khó khăn hơn Tuy vậy, nó tạo điềukiện thuận lợi hơn cho sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước Trong điều kiện
Trang 34giai cấp vô sản nắm chính quyền, ở một mức độ nào đó, chủ nghĩa tư bản hợp tác xã là cái tạo nên những điều kiện thuận lợi cho bước qúa độ lên chủnghĩa xã hội và mở ra con đường mới cho sản xuất nhỏ đi lên theo quỹ đạocủa chủ nghĩa xã hội Trong bản sơ thảo lần đầu cho tác phẩm “Những nhiệm
-cụ trước mắt của chính quyền Xô-viết”, Lênin đã coi hợp tác hóa là conđường đúng đắn để xây dựng chủ nghĩa xã hội Ông viết:
Vị trí hợp tác xã đã thay đổi căn bản về mặt nguyên tắc, từ khigiai cấp vô sản giành được chính quyền, từ khi chính quyền nhà nước
vô sản bắt đầu việc xây dựng một cách có hệ thống chế độ xã hội chủnghĩa Ở đây, lượng đã biến thành chất Hợp tác xã khi còn là hòn đảonhỏ trong xã hội tư bản chủ nghĩa, thì là một cửa hiệu nhỏ Nhưng nếuhợp tác xã đã được phổ cập trong toàn bộ một xã hội mà trong đó đấtđai đã được xã hội hóa và các công xưởng, nhà máy đã được quốc hữuhóa, thì nó là chủ nghĩa xã hội [21, tr.197]
Hình thức công ty hợp doanh: Đây là một loại hình chủ nghĩa tư bản
nhà nước, là sự hỗn hợp giữa sở hữu nhà nước với sở hữu tư bản tư nhân,trong đó vừa có các nhà tư bản tư nhân Nga và tư bản nước ngoài, vừa cónhững người cộng sản cùng tham gia Khi thực hiện chính sách kinh tế mới,đặc biệt khi chuyển sang kinh tế thị trường, Lênin hết sức chú ý đến hình thứccông ty hợp doanh Thực chất của công ty hợp doanh, theo Lênin là ở chỗ:những công ty này đều biểu hiện việc chúng ta, những người cộng sản, ápdụng những công thức buôn bán, những phương thức tư bản chủ nghĩa
Hình thức cho tư bản tư nhân thuê tài sản của nhà nước: Đây là một
hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước dựa trên tài sản sở hữu nhà nước chocác nhà tư bản thuê và đầu tư thêm tư bản của họ để tư nhân kinh doanh một
xí nghiệp, hoặc vùng mỏ, khu rừng, khu đất…phương thức cho thuê là thôngqua một hợp đồng giữa nhà nước với nhà tư bản Hình thức này giống nhưhình thức tô nhượng nhưng khác là đối tượng nhận tô nhượng không phải lànhà tư bản nước ngoài mà là nhà tư bản trong nước Một kiểu tô nhượng “nộiđịa” Chính hình thức cho thuê này đã tạo điều kiện mới cho nền kinh tế nước
Trang 35Nga Xô-viết phát triển với tốc độ nhanh - người được thuê tài sản có thể nộp
tô cho nhà nước bằng tiền hoặc bằng hiện vật
Hình thức gia công, đặt hàng, đại lý: Đây là một hình thức chủ nghĩa tư
bản nhà nước, trong đó nhà nước lôi kéo các nhà tư bản gia công một số chi tiếthàng hóa hoặc sản xuất ra hàng hóa cho nhà nước, họ bỏ vốn, thuê lao động và
tổ chức các doanh nghiệp để sản xuất và các cửa hàng để bán hàng hóa của nhànước Đồng thời giao cho họ cả việc tổ chức thu mua sản phẩm trên thị trường tự
do Làm như vậy nhà nước vừa liên kết trực tiếp với các nhà tư bản, một mặtthực hiện được sự kiểm kê, kiểm soát đối với họ, lôi kéo họ đi dần vào quỹ đạocủa chủ nghĩa xã hội Mặt khác, sử dụng được tiền vốn, tay nghề của họ, thôngqua họ mà dẫn dắt những người sản xuất nhỏ đi theo quỹ đạo của sản xuất lớn
Trên đây là một số hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước đã được thựchiện ở nước Nga trong thời kỳ thi hành Chính sách kinh tế mới Nhưng theoLênin, chủ nghĩa tư bản nhà nước không chỉ bó hẹp trong những hình thức cụthể đó, mà: ở chỗ nào có những thành phần tự do buôn bán và những thànhphần tư bản chủ nghĩa nói chung, thì ở đó có chủ nghĩa tư bản nhà nước dướinhững hình thức và trình độ khác nhau
Những quan điểm cơ bản của Lênin về chuyển sở hữu tư nhân sang sởhữu công cộng được thể hiện trong NEP là sự kế thừa, phát triển và vận dụngnhững nguyên lý kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác vào việc phân định cácthành phần kinh tế ở nước Nga khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội và mỗi thành phần kinh tế đều được xem xét trong tiến trình vận độngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa
Những tư tưởng cơ bản của Lênin về NEP nói chung, quan niệm củaông về giải quyết vấn đề sở hữu thông qua việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhànước, thi hành chế độ hợp tác xã, cho phép tự do buôn bán, tự do trao đổihàng hóa, kinh doanh tư nhân trên cơ sở điều tiết của nhà nước trong chínhsách kinh tế mới vẫn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa lớn lao của nó trong quátrình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta hiện nay
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG LÝ LUẬN MÁC - LÊNIN VỀ
SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA
2.1 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG LÝ LUẬN MÁC - LÊNIN VÀO VIỆC BIẾN ĐỔI QUAN HỆ SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG
2.1.1 Chuyển sở hữu tư nhân tư bản thành sở hữu toàn dân
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đất nước ta tạmchia làm hai miền, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào xây dựngchủ nghĩa xã hội, chúng ta đã quốc hữu hóa không bồi thường đối với các tàisản của thực dân Pháp và của tầng lớp tư sản mại bản, chuyển thành tài sảnthuộc sở hữu toàn dân, đồng thời đề ra chủ trương khôi phục kinh tế, hàn gắnvết thương chiến tranh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, giảm bớt những khó khăn
về đời sống của nhân dân, trước hết cho nhân dân lao động Hội nghị Trungương lần thứ 14 (khóa II) tháng 11 năm 1958 đã đề ra kế hoạch 3 năm cải tạo
và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc (1958 - 1960) với nội dung chủ yếu là:
Đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm trướcmắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phầnkinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và cuộc cải tạo xã hội chủnghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản, tư doanh; đồng thời ra sứcphát triển kinh tế quốc doanh [11, tr.12]
Trong việc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, căn cứ vàođiều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta chủ trương dùng phương pháp hòa bình:dùng chính sách sử dụng, hạn chế và cải tạo; chính sách chuộc lại và trả dầnđối với tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản Các hình thức được sử dụng là giacông, đặt hàng, đại lý, xí nghiệp công tư hợp doanh và xí nghiệp hợp tác, kếthợp các biện pháp hành chính, kinh tế và giáo dục
Với chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân
để dần dần biến nền kinh tế quốc dân thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩathuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu của toàn dân và của tập thể, tiến tới cao trào
Trang 37cải tạo xã hội chủ nghĩa trong tất cả các ngành, phát triển và củng cố mậu dịchquốc doanh và hợp tác xã mua bán nhằm đến năm 1960, sẽ nắm hầu hết thịtrường bán buôn và hơn một nửa tổng ngạch hàng hóa bán lẻ, đến cuối năm
1960 phải căn bản hoàn thành cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thươngnghiệp tư bản tư doanh
Thực hiện chủ trương đó, trên lĩnh vực cải tạo công thương nghiệp tưbản tư doanh chúng ta đã tiến hành khẩn trương, triệt để Một bộ phận các nhà
tư bản “tự nguyện” hiến tài sản của họ cho nhà nước thành xí nghiệp quốcdoanh; một bộ phận liên kết với nhà nước dưới hình thức xí nghiệp công tư hợpdoanh, sau một thời gian ngắn được chuyển sang xí nghiệp quốc doanh
Kết quả là đến cuối năm 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc căn bản hoàn thành 100% số hộ tư sản công nghiệp, 99,4% hộ tưsản thương nghiệp, 99% số hộ tư sản kinh doanh trong ngành giao thông vậntải đã được cải tạo “Năm 1960, thành phần kinh tế tư bản tư doanh và giaicấp tư sản dân tộc căn bản bị loại bỏ (chỉ còn 5% giá trị sản lượng côngnghiệp, 6,4% tổng mức bán buôn, 8,8% tổng mức bán lẻ)” [5, tr.79]
Qua 3 năm thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các xí nghiệp tưdoanh và xây dựng cơ sở mới, hệ thống kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu nhànước được hình thành và mở rộng nhanh chóng từ trung ương đến địaphương Thời điểm này toàn miền Bắc đã có trên 2.175 xí nghiệp quốc doanh(bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp và giao thông vận tải),trong đó riêng công nghiệp quốc doanh có 200 xí nghiệp công nghiệp quốcdoanh trung ương và 800 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh địa phương (baogồm các xí nghiệp được xây dựng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp,các xí nghiệp tước đoạt không bồi thường và xí nghiệp công tư hợp doanh)
Ở miền Nam, sau khi giải phóng, thống nhất đất nước, cả nước bướcvào thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội Chế độ sở hữu và mô hình quản lý kinh
tế đang áp dụng ở miền Bắc suốt mấy thập kỷ qua được nhân rộng ra cả nước
Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IV đặt ra mục tiêu đến năm 1980 phảihoàn thành công cuộc cải tạo đối với công thương nghiệp ở miền Nam Đến
Trang 38tháng 3 - 1977, Bộ Chính trị đã quyết định: Hoàn thành về cơ bản nhiệm vụcải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh trong 2năm 1977 - 1978, trước hết là xóa bỏ thương nghiệp tư bản chủ nghĩa Thựchiện chủ trương đó, công cuộc cải tạo tư bản tư doanh ở miền Nam đã đượcđẩy nhanh và thực hiện bằng các hình thức sau: quốc hữu hóa và chuyểnthành xí nghiệp quốc doanh (xí nghiệp công quản và xí nghiệp của tư sản mạibản, tư sản bỏ chạy ra nước ngoài) 1.354 cơ sở với 13 vạn công nhân, bằng34% số cơ sở, 55% số công nhân; xí nghiệp công tư hợp doanh có 498 cơ sởvới 13.000 công nhân, chiếm 14,5% số cơ sở, 5,5% số công nhân; xí nghiệphợp tác, gia công, đặt hàng có 1.600 cơ sở với trên 7 vạn công nhân, chiếm45% về cơ sở và khoảng 30% về công nhân Số cơ sở công nghiệp tư bản tưdoanh còn lại chiếm khoảng 6% về cơ sở, 5% về số công nhân trong tổng sốcác xí nghiệp công nghiệp tư doanh.
Đối với tư sản thương nghiệp và những người buôn bán nhỏ Nghị quyếtĐại hội IV của Đảng chỉ rõ: “xóa bỏ ngay thương nghiệp tư bản tư doanh”.Cuối năm 1975, đợt I của chiến dịch cải tạo tư sản mại bản được tiến hành ởcác thành phố lớn của miền Nam bằng các biện pháp: kiểm kê, tịch thu hànghóa của 218 tư sản mại bản lớn, đánh thuế siêu ngạch hàng hóa tồn kho của1.420 hộ tư sản thương nghiệp, tịch thu 270 cơ sở kinh doanh của họ Cuối năm
1976, đợt II của chiến dịch cải tạo nhằm vào số tư sản mại bản còn lại
Đến năm 1978, công cuộc cải tạo tư sản công thương nghiệp ở miềnNam được đánh giá là đã cơ bản hoàn thành Do cải tạo xã hội chủ nghĩa đốivới công nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam và đầu tư xây dựng mới củaNhà nước, số lượng cơ sở công nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh đãtăng lên từ 1.913 xí nghiệp năm 1976 lên 2.627 xí nghiệp năm 1980 và 3.224
xí nghiệp năm 1985
Thắng lợi trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở hai miền Nam - Bắc
có ý nghĩa lịch sử to lớn Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực côngthương nghiệp tư bản tư doanh, chuyển sở hữu tư nhân tư bản sang sở hữu toàn
Trang 39dân đã đem lại những kết quả tích cực, nền kinh tế nước ta đã có những biến đổicăn bản: Những tàn tích của nền kinh tế thực dân phong kiến đã được xóa bỏ.Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập một cách phổ biến (chủ yếu vềmặt sở hữu tư liệu sản xuất), chế độ người bóc lột người đã căn bản được xóabỏ; lực lượng sản xuất được giải phóng và đang trên đà phát triển, cơ sở vật chất
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ngày càng được tăng cường, lực lượng lao động xãhội được phân bổ hợp lý hơn Cơ cấu nền kinh tế quốc dân đã được chuyển dịchtheo hướng tỷ trọng của ngành công nghiệp tăng lên Cụ thể như sau:
Ở miền Bắc, hệ thống kinh tế quốc doanh được hình thành gắn liền vớiquá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất(1961-1965) đã tạo ra sự biến đổi nhiều mặt đối với nền kinh tế quốc dân.Tổng sản phẩm xã hội bình quân hàng năm thời kỳ 1961 - 1965 tăng 9,5%;thu nhập quốc dân bình quân tăng 7%, giá trị sản lượng công nghiệp bìnhquân tăng 13,4%, kim ngạch xuất khẩu bình quân tăng 12,6% Nếu lấy năm
1955 làm mốc (1 lần) thì đến năm 1965 chỉ số phát triển của một số ngànhnhư sau: “Công nghiệp tăng 9,1 lần, trong đó: điện lực tăng 11 lần; nhiên liệu7,7 lần; luyện kim đen 617 lần; luyện kim màu 8,8 lần; cơ khí 23 lần; hóa chất30,7 lần; khai thác chế biến gỗ 9,3 lần; sành sứ thủy tinh 5,3 lần; dệt, da, may,nhuộm 6,4 lần; thực phẩm 7,6 lần; văn hóa phẩm 13,3 lần; các ngành côngnghiệp khác 1,9 lần” [4, tr.10]
Nhìn chung, công nghiệp đã chiếm một tỷ trọng đáng kể trong nền kinh
tế Đánh giá những thành tựu của giai đoạn 1961 - 1965, Báo cáo của Chínhphủ tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa III (08 - 04 - 1965) đã ghi nhận: “Qua việcthực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tiềm lực kinh tế của miền Bắc tăng lên
rõ rệt, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chúng ta đang xây dựng một nềnkinh tế độc lập tự chủ, từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”
Có thể khẳng định, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của công cuộc cải tạo xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc là đã tạo được những cơ sở vật chất – kỹ thuật và cơ
sở kinh tế - xã hội cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhấtđất nước
Trang 40Vào giữa thập niên 60, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh pháhoại, lúc này miền Bắc phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược vừasản xuất vừa chiến đấu, với khẩu hiệu: “tất cả cho sản xuất, tất cả để chiếnthắng” Vì vậy, tiến hành quốc hữu hóa không bồi thường đối với tài sản củacác tư sản thực dân và tư sản mại bản, tước bỏ cơ sở kinh tế của tầng lớp chốngđối cách mạng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với điều kiện lịch sử Chế độ cônghữu xã hội chủ nghĩa mới được hình thành đã chứng tỏ có tác dụng tích cực đốivới sự nghiệp cách mạng của cả nước Một mặt, chiến tranh gây không ít khókhăn cho sự phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp vẫn còn nontrẻ, làm đảo lộn và giảm sút lực lượng lao động, tàn phá cơ sở vật chất kỹ thuậtmới được xây dựng Song, mặt khác, chiến tranh đã thức tỉnh mạnh mẽ tinhthần yêu nước và những truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta
Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại, mặc dù các cơ sở kinh tế quốcdoanh không phát triển ổn định như thời kỳ 1961 - 1965 nhưng vẫn có nhữngbước phát triển đáng kể Cơ sở vật chất kỹ thuật của nước ta tiếp tục đượcnâng lên Hệ thống kinh tế quốc doanh lúc này càng được củng cố và tăngcường, góp phần tích cực xây dựng và phát triển kinh tế miền Bắc
Ở miền Nam, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp
tư bản tư doanh và đầu tư xây dựng mới của nhà nước đã đem lại những kếtquả khích lệ: Giá trị tài sản cố định của toàn ngành công nghiệp đã tăng lênđáng kể: giai đoạn 1976 - 1980 là 13 tỷ đồng, bằng 35% tổng giá trị tài sản cốđịnh mới tăng thuộc khu vực sản xuất vật chất và giai đoạn 1981 - 1985 là18,6 tỷ đồng, bằng 40% tổng giá trị tài sản cố định mới tăng thuộc khu vựcnày Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1985 so với năm 1976 tăng 58%,bình quân mỗi năm tăng 5,2% Năng lực sản xuất đã được bổ sung thêm,riêng trong giai đoạn 1981 - 1986, tăng 456.000 Kwh điện, 2,5 triệu tấn than,2,1 triệu tấn xi măng, 33.000 tấn sợi, 58.000 tấn giấy Dầu mỏ bắt đầu đượckhai thác Giai đoạn 1981 - 1985, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng57,4%, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 9,5%