1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ tài các yếu tố dẫn đến sự BAN HÀNH LUẬT CẠNH TRANH năm 2004

18 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 270,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết sĐại hội VII 1991 của Đảng kết luận: “Bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà 1 “Kinh tế thị trường đị

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

ĐỀ TÀI: CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN SỰ BAN HÀNH LUẬT CẠNH TRANH NĂM 2004

Môn học: Luật cạnh tranh Lớp học phần: 211CT0113 Giảng viên: Trương Trọng Hiểu Sinh viên thực hiện: Nguyễn Huy Thành MSSV: K204070328

Trang 2

I. GIỚI THIỆU

Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt với nhiều thách thức và lo ngại khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường Thiếu điáđasađâhệ thống pháp luậtáđasađâđồngáđasađâbộ cùng với hậu quả của nền kinh tế phát triển chậm và hiệu quả thấp từ sau chiến tranh, Việt Nam càng khó điều chỉnh theo khuôn khổ toàn cầu hóa mới Nhưng từ sau chính sách Đổi mới được ban hành, Việt Nam đã chứng kiến những thay đổi nhỏ nhưng đáng kể trong cả suy nghĩ và hành động Nước ta đã xây dựng và ban hành Luật Cạnh tranh Việt Nam (VCL) để đưa mô hình ‘’Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa’’ vào thực tiễn Sau gần hai thập kỉ được ban hành (được sửa đổi thành vào năm 2018), VCL (2004) từng đã nhận rất nhiều chỉ trích vì chất liệu có phần lỗi thời

là không phù hợp Ngược lại, một số các chuyên gia kinh tế và học giả lại ủng hộ và

tỏ lòng biết ơn việc ban hành luật vào năm 2004 Các vấn đề liên quan đến cạnh tranh hiện đang là mối quan tâm quan trọng của thị trường trong nước và VCL đã thúc đẩy Việt Nam hội nhập vào khu vực và kinh tếáđasađâstoànáđasađcầu

áđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâsáđasađâs

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phổ biến VCL (2004) được xem xét trong luận án này

là các yếu tố bên trong nước và yếu tố ngoại lai từ bên ngoài.Từ góc nhìn về trong nước, những thay đổi về tư tưởng chính trị kinh tế và kinh nghiệm về bất lợi dài hạn trong nền kinh tế quốc dân được xác định là những nguyên nhân chính Và về các yếu tố ngoại lai bao gồm những áp lực chính bao gồm áp lực trực tiếp từ việc xin gia nhập các tổ chức khu vực như ASEAN và APEC, đến áp lực gián tiếp từ việc xin gia nhập WTO Luận án chỉ ra các yếu tố bên ngoài và bên trong đã đóng góp và tương tác với nhau như thế nào trong việc ban hành VCL (2004) Nó cho thấy các yếu tố này đã được hài hòa theo cách đáp ứng các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam và mong muốn hội nhập với nền kinh tế toàn cầu cũng như đáp ứng các yêu cầu của luật cạnh tranh trong nền kinh tế chuyển đổi

II CÁC YẾU TỐ TRONG NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ RA ĐỜI CỦA VCL NĂM 2004

Trang 3

1 Bối cảnh chính trị

Các Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII của Đảng chỉ rõ ra định hướng chiến lược kinh tế thị trường

Trong các kỳ họp Quốc hội liên tiếp và các báo cáo chính thức, Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam đã thể chế hóa và thiết lập quan điểm đổi mới Sau khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được diễn ra, xây dựng và điều hành “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1 là một mục tiêu chính sách rộng rãi và được đổi mới liên tục (1986)

Khái niệm kinh tế thị trường hoàn toàn không được đưa ra trong Đại hội Đảng toàn quốc đầu tiên của thời kì đổi mới vào năm 1986 Thay vào đó, người ta chú trọng

phát triển "các cơ chế kinh tế mới" "Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp,

thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp; chuyển mọi

chính sách này ngụ ý rằng sớm hay muộn nền kinh tế tiến gần hơn đến mục tiêu tự

do hóa thị trường vì việc loại bỏ cơ chế tập trung quan liêu và bao cấp sẽ giúp được tiến hành

Nghị quyết sĐại hội VII (1991) của Đảng kết luận: “Bước đầu hình thành nền kinh tế

hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

1 “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới , thay thế nền kinh tế kế hoạch bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường Những thay đổi này giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn cầu Cụm từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang ý nghĩa

là Việt Nam chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng cho một hệ thống xã hội chủ nghĩa trong tương lai Mô hình kinh tế này khá tương đồng với mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (socialist market economy) của Đảng Cộng sản Trung Quốc , trong đó các mô hình kinh tế tập thể, nhà nước, tư nhân cùng tồn tại, và khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo Tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_th%E1%BB

%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%E1%BB%8Bnh_h%C6%B0%E1%BB%9Bng_x%C3%A3_h

%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a

2 Thương nghiệp, Giai đoạn 1981-1985, Hội nghị trung ương 8 khoá V (6/1985) “Thời bao cấp” | Wikipedia Tại:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di_bao_c%E1%BA%A5p#Giai_%C4%91o%E1%BA%A1n_1981-1985_3

3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Báo cáo chính trị (16/4/2018) Tại:

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vii/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vii-cua-dang-17

Trang 4

nhận về cơ chế vận hành nhưng Đảng ta âsđã bắt đầu thừa nhận nền kinh tế hàng hóa

vàáđasađâskinháđasađâstế thịáđasađâstrường Và kết quả của Đại hội lần thứ VII là việc thị trường được sử dụng trong phạm vi của nền kinh tế Đây đã là sự thay đổi đáng kể vì trước năm

1986, khái niệm thị trường bị bác bỏ và không xuất hiện trong bất kể tài liệu nào Đây thực sự là một bước tiến lớn đã góp phần giúp cho nền kinh tế Việt Nam phát triển rất nhiều và cho tới tận ngày nay

“Đại hội VIII của Đảng (1996) tiếp tục khẳng định chủ trương “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và khẳng định “sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”4

Định hướng chiến lược phát triển của nền kinh tế gắn liền với cơ chế thị trường ngày càng được thể hiện rõ nét, được nhiều người đồng tình và phát huy Đảng và Nhà nước từng bước nhận thức rõ tầm quan trọng, sự cần thiết và tác động của thị trường, thể hiện một cuộc “cách mạng” sâu sắc về tầm nhìn và nguyên tắc tăng trưởng kinh tế

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 năm 2001 Trong Nghị quyết Đại hội Đảng, đây là lần đầu tiên sử dụng chính thức cụm từ “kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, và được coi là “mô hình kinh tế stổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”5

4 , 5 “Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua những năm đổi mới”, PGS.TS Nguyễn Văn Thạo (22/3/2019) Tại: http://hdll.vn/vi/nghien-cuu -trao-doi/nhan-thuc-ve-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-qua-nhung-nam-doi-moi.html

5

Trang 5

Tóm lại, Đảng ta đã từng bước điều chỉnh, sửa đổi cách tiếp cận nền kinh tế thị trường để phù hợp với điều kiện cũng như nhu cầu hiện tại của đất nước Việt Nam

đã có sự “tiến hóa” đáng kể về tư duy chính trị - kinh tế, dựa trên những thay đổi thực tế trong thực tiễn điều hành nền kinh tế, từ mô hình kế hoạch hóa tập trung cao

độ sang cơ chế thị trường Việc thừa nhận cơ chế thị trường trong hoạt động kinh tế nhiều thành phần đã tạo cơ sở cho những tiến bộ khác trong vận hành kinh tế thị trường

2 Bối cảnh kinh tế: Chính sách Đổi mới, một dấu mốc đưa Việt Nam chuyển sang

mô hình phát triển mới.

Vào thời kì bao cấp (Trước năm 1986), nước ta vận hành mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cùng với việc “nhúng tay” của Nhà nước vào mọi hoạt động kinh tế Chịu ảnh hưởng của chiến tranh trong một thời gian rất dài (Từ năm 1945 đến 1975), việc kinh tế của nước ta chậm phát triển và yếu ớt là một điều có thể coi như là hiển nhiên Và kết quả chính là hầu hết tất cả các hoạt động kinh doanh trong nước đều được tiến hành độc quyền Khi đó, “cạnh tranh” có vẻ như là khái niệm quá “xa xỉ”

để nghĩ tới

Sau khi thống nhất và độc lập dân tộc, toàn bộ nền kinh tế nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức và phương thức công nghiệp lạc hậu Theo số liệu của Bộ Công Thương, hoạt động xuất và nhập khẩu của cả nước bị đình trệ và thâm hụt thương mại triền miên từ năm 1975 đến năm 1985 Các yếu tố sau đây đã góp phần vào tình hình này: (i) xuất nhập khẩu được kiểm soát bởi cơ chế kế hoạch hóa tập trung.; (ii) thương mại nước ngoài được kiểm soát bởi độc quyền nhà nước, với phần lớn thị trường mục tiêu là các nước xã hội chủ nghĩa khác Chỉ có khoảng 30 doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu trên cả nước, với 70% tổng kim ngạch đến từ các ngành vẫn sử dụng đồng Rúp.6

6 “Các thời kỳ phát triển: Giai đoạn 1975-1985”, Chương B, Phần I, Mục 1.2 (03/04/2020) Tại

https://sonla.gov.vn/1289/31002/72118/557601/cac-thoi-ky-phat-trien/giai-doan-1975-1985

Trang 6

Nền kinh tế nước ta vào thời gian đó được điều hành thông qua quy hoạch và pháp lệnh hành chính Kết quả là, khi nền kinh tế chững lại và bộc lộ một số sai sót, các nhà lãnh đạo cấp cao buộc phải tìm kiếm các giải pháp mới và đưa ra những ý tưởng, biện pháp và chiến lược mới Các mô hình chính trị và xã hội thời đó không còn phù hợp, do những bất lợi về kinh tế và cái gọi là "thất bại" Nên là ta cần có một chương trình cải cách triệt để

Năm 1986, chính sách Đổi mới được triển khai và nêu chi tiết trong Nghị quyết VI của Đảng, Nước ta cải cách bắt đầu từ ba lĩnh vực chính: giáo dục, kinh tế và chính trị Cho thấy được rằng chính sách này đang giúp chúng ta hội nhập theo định hướng thị trường, đa ngành trong khu vực và ở toàn cầu

Những mục tiêu cao cả như vậy rất khó Câu trả lời cho những nỗ lực thực cải cách toàn diện của chính phủ Việt Nam với trọng tâm chính là phát triển kinh tế chỉ có thể

là thời gian Và những nỗ lực này đã tác động rất lớn đến sự tăng trưởng của nước ta

Mặc dù nó không được chỉ định chính xác trong bất kỳ tài liệu chính thức nào, chính

sách Đổi mới có thể như mang ý nghĩa "market delivers better outcomes than the

Nói chung, những lợi ích rất cơ bản của cạnh tranh có thể được liệt kê là: “lower

prices, better products, wide choice and greater efficiency than would be obtained

7 Nghĩa là: “Thị trường mang lại kết quả tốt hơn so với quy hoạch nhà nước; Và trung tâm ý tưởng về một thị trường

là quá trình cạnh tranh” “Competition Law” Tái bản lần thứ 7 Richard Whish và David Balley (2012) Trang 3-4 Tại: https://kupdf.net/download/richard-whish-7th-edition-pdf_5afb49fee2b6f50974132b13_pdf

8 Nghĩa là: "giá thấp hơn, sản phẩm tốt hơn, sự lựa chọn rộng rãi và hiệu quả cao hơn sẽ đạt được dưới sự cạnh tranh độc quyền" “Competition Law” Tái bản lần thứ 7 Richard Whish và David Balley (2012) Trang 4.

Trang 7

Chính sách Đổi mới đã đặt nền móng cho việc ra các ý tưởng và xây dựng Luật cạnh tranh Và sau khi mục tiêu xây dựng nền kinh tế định hướng thị trường thông qua chính sách Đổi mới được đặt, VCL (2004) đã được ban hành

Luật Cạnh tranh được ban hành chính là sự phản ánh của nhu cầu phát triển kinh

tế trong nước

Chính phủ bắt đầu phát triển kế hoạch loại bỏ trợ cấp ngân sách nhà nước (chính sách trong thời kì bao cấp) như một biện pháp biến chính sách Đổi mới trở thành hiện thực Cùng lúc đó, cạnh tranh thương mại xuất hiện và ngày càng trở nên gay gắt hơn, khiến chính phủ phải đưa ra các biện pháp xử lý để "sửa chữa" các sai sót của thị trường Một số nghiên cứu về môi trường cạnh tranh ở Việt Nam đã được thực hiện như một phần của mục tiêu này Đầu tiên là từ Viện Nghiên cứu Khoa học Thị trường và Giá cả vào năm 1996, tiếp theo là Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương vào năm 2000 và 2002 và Viện Nhà nước và Luật vào năm 2001

Từ những nghiên cứu và sự xuất hiện của ba yếu tố chính và định hình việc soạn thảo Luật:

tranh là luật cơ bản

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (thuộc thời kỳ bao cấp), các nhà hoạch định chính sách nhất trí rằng không có cạnh tranh, nhưng để vận hành nền kinh tế thị trường thì yếu tố then chốt chính là cạnh tranh Nói cách khác, họ kết luận rằng cạnh tranh phải được ưu tiên như một thành phần chính nếu Việt Nam muốn được thừa nhận là nền kinh tế thị trường

Trang 8

Hoàn toàn khác với sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh doanh trước năm

1986, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi lần nữa vào năm 2001) đã quy định cơ cấu

đa thành phần của nền kinh tế và mức độ cạnh tranh của các thành phần kinh tế.9

Nghĩa là các doanh nghiệp, bất kể cơ cấu sở hữu của họ, có thể cạnh tranh trên thị trường chứ không phải chịu sự quản lý và can thiệp của chính phủ như trước đây

 Tầm quan trọng của kiểm soát độc quyền trong bối cảnh tự do hóa thị trường vì

mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế

Theo các nhà hoạch định chính sách, bất kể độc quyền được thành lập hay tồn tại như thế nào đều có tác động bất lợi đến nền kinh tế trong nước Độc quyền dẫn đến giá cả săn mồi, đồng thời có ảnh hưởng tiêu cực đến phúc lợi của người tiêu dùng Do đó Chính phủ dự đoán rằng chỉ có một số độc quyền sẽ tồn tại và sẽ mất thời gian để tạo

ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các lĩnh vực vì không thể để thị trường Việt Nam hoạt động mà không có sự can thiệp của chính phủ

Vì các hành vi phản cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh có xu hướng gia tăng theo điều kiện thị trường và làm ảnh hưởng đến những tác động "tích cực" ban đầu của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, do đó, luật cạnh tranh là một lựa chọn tốt và là một công cụ thích hợp để Chính phủ điều chỉnh các vấn đề cạnh tranh trong tất cả các lĩnh vực Luật cạnh tranh và các quy định của nó sẽ đóng vai trò như một hệ thống để đảm bảo và duy trì cạnh tranh cho tất cả những doanh nghiệp, tổ chức tham gia

Tham gia các hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực đã trở thành một

xu hướng trong hoạt động kinh tế toàn cầu từ cuối những năm 90 đến đầu những năm

2000 Các tập đoàn đa quốc gia đang có xu hướng tìm kiếm nguồn lực và thị trường tiềm năng ở các nước mới nổi như Việt Nam Hơn nữa, các tập đoàn quốc tế là đối

9 Điều 15,16, Hiến pháp năm 1992, (được sửa lại vào 2001) Tại: https://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php

%20lut/view_detail.aspx?itemid=22335

Trang 9

thủ cạnh tranh tiềm năng với các nhà sản xuất và nhà cung cấp trong nước, vì chính phủ gia tăng ưu đãi và hoàn cảnh thuận lợi để thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài

"Quan điểm toàn cầu hóa" đã đặt ra một thách thức đáng kể cho các doanh nghiệp trong nước bị thiệt thòi về công nghệ, tài chính và nguồn nhân lực

 Sự cần thiết của một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

Cuối cùng, các nhà lập pháp đều hiểu được sự cần thiết của một môi trường cạnh tranh bình đẳng Mặc dù thực tế là Hiến pháp năm 1992 tuyên bố rằng các thành phần kinh tế tồn tại, bình đẳng và nên cạnh tranh Nhưng sự bất bình đẳng trong việc đối xử với các công ty trong các lĩnh vực khác nhau vẫn là một vấn đề phổ biến, đặc biệt là giữa khu vực tư nhân và công cộng

Tóm lại, phần này đã chứng minh việc áp dụng chính sách cạnh tranh ở Nước ta bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố bao gồm: hiệu suất hiệu quả thấp của nền kinh tế (do vị trí thống trị của các DNNN và sự can thiệp quá mức của nhà nước); nhận thức về vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế định hướng thị trường của lãnh đạo Đảng và Nhà nước và nhu cầu cấp thiết ban hành văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh để giữ môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh cho hoạt động kinh doanh thị trường Những yếu tố này đã góp phần tạo nên sự ban hành của VCL 2004

III CÁC YẾU TỐ NGOÀI NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ RA ĐỜI CỦA VCL NĂM

2004

Phần này chuyển từ việc xem xét các động lực trong nước của sang các tác động bên ngoài Phần này lập luận rằng các động lực bên ngoài tác động riêng trong việc ban hành VCL (2004) Nhưng khác với các yếu tố bên trong được chỉ ra một cách rõ ràng và trực tiếp trong các văn bản hoặc tuyên bố chính thức, những yếu tố bên ngoài hầu hết được ngụ ý từ hoặc được chứng minh bởi một số động thái của Chính phủ hoặc các sự kiện chính trị trước khi Dự án Luật Cạnh tranh được bắt đầu Các động lực bên ngoài cũng có thể được phân loại thành:

(i) Các xu hướng / khuynh hướng khu vực hoặc toàn cầu đã thúc đẩy

Việt Nam đi con đường tương tự

Trang 10

(ii) Các sự kiện chính trị cụ thể tạo ra áp lực lên Việt Nam xây dựng

pháp luật cạnh tranh như một khía cạnh không thể tách rời của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp thị trường đa dạng

2.1 Bối cảnh về sự phát triển của Luật Cạnh tranh trên thế giới đặc biệt là ở ASEAN

Khi nói đến sự phổ biến của pháp luật cạnh tranh trong khu vực ASEAN, nước Việt Nam ta là một trong những nước đi đầu và tiên phong Ngoại trừ Nhật Bản, nước có lịch sử lâu đời về thực thi cạnh tranh, đa phần các nền kinh tế mới bắt đầu thực hiện chính sách cạnh tranh trong một thập kỷ vừa qua Vào thời điểm đó chính sách cạnh tranh đang được mở rộng khắp ASEAN10, việc này đã giúp giải thích việc vì sao Việt Nam là một trong những nước đầu tiên thực hiện chính sách này

Tuy nhiên, Việt Nam mới chuyển sang nền kinh tế thị trường được một thời gian ngắn nên hình thức và mức độ biểu hiện của các quy luật cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ còn hạn chế (Và điều đó dẫn đến sự sửa đổi và bổ sung VCL vào năm 2018)

2.2 Tác động của chủ nghĩa khu vực đối với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam

Trong suốt lịch sử phát triển và hợp tác toàn cầu, rất nhiều lý thuyết đã được xây dựng để giải thích mối quan hệ “mạng nhện” giữa các nước Những lý thuyết này tập trung vào các kênh song phương, khu vực và đa phương thúc đẩy hợp tác nhưng quan trọng hơn là liệu các kênh và thỏa thuận như vậy có thể giải quyết những trở ngại chung đối với an ninh, thịnh vượng chung và các vấn đề khác hay không

Một số người cho rằng thế giới được chia thành các khu vực khác nhau được dựa trên các đặc điểm chính trị và địa lý và các quốc gia trong một khu vực có xu

10 “Chính sách và pháp luật cạnh tranh trong ASEAN”, Mục 2, Phùng Văn Thành (22/07.2019) Tại:

https://www.bvntd.gov.vn/tintuc_sukien/chinh-sach-va-phap-luat-canh-tranh-trong-asean/

Ngày đăng: 26/04/2022, 11:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. “Các thời kỳ phát triển: Giai đoạn 1975-1985”, Chương B, Phần I, Mục 1.2 (03/04/2020). Tại: https://sonla.gov.vn/1289/31002/72118/557601/cac-thoi-ky-phat-trien/giai-doan-1975-1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thời kỳ phát triển: Giai đoạn 1975-1985
5. Định nghĩa về “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%91%E1%BB%8Bnh_h%C6%B0%E1%BB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
8. “Chính sách và pháp luật cạnh tranh trong ASEAN”, Mục 2, Phùng Văn Thành (22/07.2019). Tại: https://www.bvntd.gov.vn/tintuc_sukien/chinh-sach-va-phap-luat-canh-tranh-trong-asean/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và pháp luật cạnh tranh trong ASEAN
9. Regionalism – International Political Economy, Tại: (Chủ nghĩa khu vực trong Chính trị và Kinh tế Quốc tế(IPE))https://mediawiki.middlebury.edu/IPE/Regionalism Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa khu vực trong Chính trị và Kinh tế Quốc tế "(IPE))
11. “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) là gì ?”, Mục 1, Lê Minh Trường (12/7/2021). Tại: https://luatminhkhue.vn/khu-vuc-mau-dich-tu-do-asean--afta--la-gi--.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) là gì
12. “Tuyên bố chung của hội nghị cấp cao Asean- Nhật Bản lần thứ 9”, Mục 4 (13/12/2005). Tại: https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/tuyen-bo-chung-cua-hoi-nghi-cap-cao-asean-nhat-ban-lan-thu-9-430668/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố chung của hội nghị cấp cao Asean- Nhật Bản lần thứ 9
13. “Asean Economic Community Blueprint”, Jakata (2008). Tại: https://www.asean.org/wp-content/uploads/images/archive/5187-10.pdf 14. Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_Th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asean Economic Community Blueprint
Tác giả: “Asean Economic Community Blueprint”, Jakata
Năm: 2008
7. Điều 15,16, Hiến pháp năm 1992, (được sửa lại vào 25-1-2001). Tại: https://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=22335 Link
15. Cộng đồng các Quốc gia Độc lập. Tại https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_%C4%91%E1%BB%93ng_c%C3%A1c_Qu%E1%BB%91c_gia_ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w