ở Pháp, thẩm quyền đợc hiểu là quyền của một cơ quan nhà nớc,một quan chức nhà nớc hay t pháp đợc làm những việc và có quyền quyết định về những vấn đề trong phạm vi đợc pháp luật cho ph
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tố tụng hình sự (TTHS), thẩm quyền của Tòa án (TA) các cấp làmột chế định quan trọng Thẩm quyền càng đợc phân định rõ ràng, khoa học, sátvới thực tế bao nhiêu càng bảo đảm cho việc xét xử khách quan, chính xác, đúngngời, đúng tội bấy nhiêu Với tầm quan trọng đó, các quy phạm pháp luật vềthẩm quyền của TA luôn luôn đợc chú ý từ khi ban hành pháp luật Bộ luật Tốtụng hình sự (BLTTHS) của nớc ta quy định tơng đối đầy đủ các quy phạm phápluật về thẩm quyền của TA các cấp Việc áp dụng chúng hơn 10 năm qua tạo
điều kiện cho TA các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự Tuynhiên, do sự phát triển của tình hình kinh tế - xã hội, trớc yêu cầu đổi mới tổchức và hoạt động của các cơ quan t pháp, một số quy định về thẩm quyền của
TA các cấp bộc lộ nhiều điểm bất cập không còn phù hợp gây khó khăn cho hoạt
động xét xử của Tòa án nhân dân (TAND) Đó là sự phân định thẩm quyền xét
xử giữa TA cấp huyện và TA cấp tỉnh không hợp lý, vẫn giao cho TA cấp tỉnhxét xử sơ thẩm quá nhiều việc nên tình trạng tồn đọng án từ năm này sang nămkhác còn nhiều Ngoài ra, một số quy định của BLTTHS không cụ thể, các vănbản hớng dẫn chậm đợc ban hành nên việc nhận thức và áp dụng vào thực tiễnxét xử vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm; giám đốcthẩm, tái thẩm; quyền hạn của TA cấp phúc thẩm và Hội đồng giám đốc thẩm,tái thẩm cha thống nhất
Thực tiễn xét xử thời gian qua cho thấy có nhiều tội phạm ít nghiêm trọng,ngời phạm tội bị bắt quả tang, chứng cứ rõ ràng rất cần thiết phải đợc giải quyếttheo thủ tục rút gọn, nhiều vụ án qua xét xử sơ thẩm bị cáo đã nhận tội, khôngkháng cáo kêu oan chỉ xin giảm nhẹ, Viện kiểm sát (VKS) không kháng nghị,ngời bị hại không kháng cáo theo hớng tăng nặng nên không cần triệu tập ngờitham gia tố tụng đến phiên tòa mà chỉ cần xét xử dựa trên hồ sơ, giảm bớt một số
Trang 2thủ tục trong xét xử để vụ án đợc kết thúc nhanh, tiết kiệm công sức mà vẫn đảmbảo tính công minh, chính xác, đúng pháp luật của bản án Nhng pháp luật tốtụng không quy định thủ tục rút gọn, thủ tục xét xử phúc thẩm dựa trên hồ sơ vụ
án nên những vụ án đó vẫn đợc tiến hành theo thủ tục thông thờng dẫn đến kéodài thời gian giải quyết vụ án một cách không cần thiết Để nhanh chóng pháthiện và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, tiết kiệm thời gian và công sức cầnnghiên cứu quy định thủ tục rút gọn và xét xử phúc thẩm theo thủ tục bút lụctrong pháp luật TTHS
Hiện nay, cùng với sự đổi mới toàn diện các mặt đời sống xã hội, các cơquan t pháp cũng đợc đổi mới theo hớng tăng cờng hiệu quả, chất lợng hoạt
động Đối với TAND, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ơng (BCHTW) Đảng
đã có chỉ thị cụ thể về việc nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động theo hớng
"từng bớc mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện trên cơ sởkiện toàn tổ chức và cán bộ cho TA cấp này Kiện toàn đến đâu, mở rộng thẩmquyền xét xử đến đó" [1] Các Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng khóaVII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII, Nghị quyếthội nghị lần 3 BCHTW Đảng khóa VIII đều chỉ rõ phơng hớng củng cố, kiệntoàn bộ máy các cơ quan t pháp, phân định lại thẩm quyền xét xử của TAND;Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng
định phải "cải cách tổ chức, nâng cao chất lợng và hoạt động của các cơ quan tpháp sắp xếp lại hệ thống TAND, phân định hợp lý thẩm quyền của TA cáccấp" Vì vậy, việc nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định củapháp luật về thẩm quyền của TA, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thẩmquyền của TA các cấp để nâng cao chất lợng xét xử là một yêu cầu cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về "cải cách tổ chức, nâng caochất lợng và hoạt động của các cơ quan t pháp sắp xếp lại hệ thống TAND,phân định hợp lý thẩm quyền của Tòa án các cấp", đã có nhiều công trình khoa
Trang 3học, nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở những mức độ khác nhau đề cập
đến các vấn đề về tổ chức và hoạt động của TA, thủ tục tố tụng, thẩm quyền của TAmỗi cấp Trong số các công trình nghiên cứu khoa học phải kể đến Đề tài khoa học
cấp Bộ "Nâng cao chất lợng hiệu quả công tác kiểm sát hình sự trong giai đoạn giám đốc thẩm" của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) năm 1997 đã đề cập nhiều về thực trạng xét xử giám đốc thẩm; đề án "Đổi mới công tác đào tạo và bồi dỡng cán bộ t pháp" của Bộ T pháp về vấn đề đào tạo Thẩm phán Các công trình khoa học: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam" của VKSNDTC năm 1995; "T pháp hình sự so sánh" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, 1999; "Tìm hiểu về nhà nớc pháp quyền" của tập thể tác giả
Viện Nhà nớc và Pháp luật do PGS.TSKH Đào Trí úc làm chủ biên Các bài viết
của GS.TS Hoàng Văn Hảo "Tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nớc"; PGS.TS Trần Ngọc Đờng "Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân" trong cuốn "Tìm hiểu về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc theo Hiến pháp năm 1992", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 đã nêu bật
cơ sở lý luận của việc tổ chức nhà nớc, thẩm quyền của TA và cơ quan t pháp Một
số luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành hình sự đợc công bố trong thời gian qua đãnghiên cứu ở những góc độ khác nhau về thẩm quyền của TA các cấp Đó là luận
văn của ThS Đàm Văn Dũng về "Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự" năm
1998, luận văn của ThS Trần Văn Tín về "Giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự" năm 1997, luận văn của ThS Nguyễn Văn Tiến về "Thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm trong tố tụng hình sự" năm 1998, luận văn của ThS Nguyễn Văn Trợng về
"Giám đốc thẩm trong luật tố tụng hình sự" năm 1996 Đối với thẩm quyền xét xử
sơ thẩm của TAND và TAQS các cấp, chúng tôi cũng có dịp nghiên cứu và đã viếtluận văn thạc sĩ về vấn đề này từ năm 1996
Về những vấn đề liên quan đến đề tài đã có các bài viết của TS Nguyễn
Đình Lộc: "Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan t pháp ở nớc ta", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6/1995; Phạm Hng: "Tiếp tục đổi mới tổ
Trang 4chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân", Tạp chí Cộng sản, số 16/1997;
TS Nguyễn Văn Hiện: "Về thực tiễn, lý luận và yêu cầu hoàn thiện thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm các vụ án hình sự của Tòa án các cấp", "Vấn đề giới hạn xét xử của Tòa án nhân dân", Tạp chí TAND, số 4/1997 và 8/1999; TS Đặng Quang Phơng: "Tìm hiểu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về rút truy tố", Tạp chí TAND, số 4/1992; TSKH Lê Cảm: "Các đặc điểm của tội phạm và tính quyết định xã hội của chúng", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 7/2000; PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa: "Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận", Tạp chí TAND, số 1/1993; PGS.TS Kiều Đình Thụ: "Một số vấn
đề về phân loại tội phạm trong phần chung của luật hình sự", Tạp chí TAND, số 2/1992; TS Võ Khánh Vinh: "Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khi quyết định hình phạt", Tạp chí TAND, số 12/1990; TS Trần Văn Độ: "Một số vấn đề về tái thẩm", "Về các căn cứ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp", Tạp chí Luật học, số 3/1995 và 3/1997; TS Phạm Hồng Hải: "Một số nét lịch sử và phát triển của Luật tố tụng hình sự Việt Nam trong 50 năm qua", "Bàn về quyền công tố", Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật,
số 3/1995 và 12/1999 và một số bài khác Các công trình đã phân tích ở nhiềukhía cạnh khác nhau về tổ chức và hoạt động của TA, lịch sử phát triển, thủ tục
tố tụng trong xét xử, thẩm quyền xét xử
Mặc dù đã có một số công trình, bài viết đợc công bố, nhng cho đến naycha có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về thẩm quyềncủa TA các cấp Các công trình, bài viết mới dừng lại ở những nội dung khác nhau,phân tích theo từng góc độ nhất định về thẩm quyền của TA Luận án là côngtrình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện cả về cơ sở lý luận cũng nh thực tiễn
vấn đề "Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam".
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHS, thực tiễn xét xửcủa TA, mục đích của luận án nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, bản
Trang 5chất, nội dung của chế định thẩm quyền của TA các cấp, chỉ ra những điểmkhông hợp lý, những vớng mắc khi áp dụng chúng, qua đó đề xuất những giảipháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS về thẩm quyền của TA các cấp, kiện toàn về tổ chức và cán bộ, tăng cờng các biện pháp bảo đảm để thực hiệnthẩm quyền.
Để đạt đợc mục đích trên luận án có nhiệm vụ:
- Phân tích những vấn đề lý luận để làm rõ các quan niệm, quan điểmkhoa học, nhận thức chung về thẩm quyền của TA trong TTHS; luận giải nhữngcăn cứ để quy định thẩm quyền của TA Đây là cơ sở khoa học để dựa vào đóphân định thẩm quyền cho TA các cấp
- Phân tích quá trình hình thành, phát triển các quy định của pháp luậtTTHS về thẩm quyền của TA các cấp trớc khi ban hành BLTTHS làm tiền đề choviệc nghiên cứu đánh giá các quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luậtTTHS sau này
- Phân tích các quy định của BLTTHS Việt Nam về thẩm quyền xét xử,giới hạn, phạm vi xét xử, thẩm quyền quyết định của TA các cấp; làm rõ thựctiễn áp dụng các quy định đó, chỉ ra những vớng mắc trong quá trình thực hiện,những bất cập của pháp luật cần bổ sung, sửa đổi
- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy địnhcủa BLTHS về thẩm quyền của TA các cấp
4 Phạm vi, đối tợng nghiên cứu của luận án
Thẩm quyền của TA là một chế định lớn trong luật TTHS Tính phức tạp
và nhiều mặt về nội dung, về sự thể hiện của nó ở các giai đoạn xét xử không chophép trong phạm vi của một luận án tiến sĩ xem xét và giải quyết hết mọi vấn đề
Do vậy, luận án chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu nội dung thẩm quyền xét xử,giới hạn và phạm vi xét xử, thẩm quyền quyết định của TA các cấp (riêng thẩmquyền tái thẩm, luận án chỉ nghiên cứu những nét khái quát nhất) Việc nghiên
Trang 6cứu thẩm quyền: áp dụng biện pháp ngăn chặn; kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm; xem xét chứng cứ và thẩm quyền xử lý hành chính của TA,chúng tôi hy vọng đợc nghiên cứu tiếp về sau
Với phạm vi trên, đối tợng nghiên cứu của đề tài là thẩm quyền xét xử,giới hạn, phạm vi xét xử và thẩm quyền quyết định của TA các cấp, trong đóluận án tập trung nghiên cứu nhiều hơn về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vì nó là cơ
sở xác định thẩm quyền của TA các cấp
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận án là triết học Mác
-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về Nhà nớc và pháp luật, những quan điểm của Đảng
và Nhà nớc ta về xây dựng Nhà nớc pháp quyền về cải cách t pháp và cải cáchnền hành chính quốc gia
Việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét xử của TA các cấp trêncơ sở khảo sát nghiên cứu một số lợng lớn các vụ án do các TAND, Tòa án Quân
sự (TAQS) xét xử, các số liệu thống kê về xét xử, về tổ chức cán bộ của các cơquan chức năng nh TANDTC, VKSNDTC, Bộ T pháp v.v để đánh giá, chỉ rõnhững bất cập trong các quy định của pháp luật để kiến nghị bổ sung, sửa đổi chophù hợp
Phơng pháp nghiên cứu đề tài cụ thể là đi từ cái chung đến cái riêng và cácphơng pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống khác nh: Phơng phápphân tích, tổng hợp, so sánh, tiếp cận hệ thống, lịch sử, điều tra xã hội học và ph-
ơng pháp thống kê v.v
6 Những vấn đề mới của luận án
Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học TTHS nghiêncứu một cách toàn diện, hệ thống về thẩm quyền của TA các cấp Luận án cónhững điểm mới sau:
- Luận án làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thẩm quyền của TA; góp phần thốngnhất nhận thức về nội dung, bản chất chế định thẩm quyền của TA Luận án đã
Trang 7luận giải những căn cứ khoa học làm cơ sở cho việc phân định thẩm quyền của
TA các cấp Những căn cứ này giúp cho các nhà lập pháp có điều kiện lựa chọn,cân nhắc để tìm ra phơng án tối u khi quy định thẩm quyền cho TA các cấp
- Luận án phân tích lịch sử hình thành và phát triển các quy định của phápluật TTHS về thẩm quyền của TA các cấp trớc khi ban hành BLTTHS làm tiền đềcho việc nghiên cứu đánh giá các quy định của BLTTHS và các văn bản phápluật TTHS sau này
- Luận án phân tích các quy định của Bộ luật TTHS về thẩm quyền của
TA các cấp, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về thẩm quyền của TA khixét xử và chỉ ra những bất cập cần phải bổ sung, sửa đổi
Trên cơ sở nghiên cứu, luận án đề xuất những giải pháp hoàn thiện cácquy định của Bộ luật TTHS về thẩm quyền của TA, những biện pháp kiện toàn tổchức và cán bộ, bảo đảm cơ sở vật chất để các TA thực hiện thẩm quyền Cácgiải pháp mà luận án đa ra góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực của
TA các cấp và việc sửa đổi, bổ sung toàn diện BLTTHS trong thời gian tới
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Các kết quả nghiên cứu của luận án là những bổ sung quan trọng vào lýluận về thẩm quyền của TA, góp phần thống nhất nhận thức về bản chất, nộidung chế định thẩm quyền của TA Trên cơ sở đó có cách nhìn nhận, đánh giákhoa học thấy rõ những mặt đợc, những điểm còn tồn tại bất cập của các quy
định về thẩm quyền của TA trong pháp luật TTHS
Dựa vào những căn cứ khoa học đề cập trong luận án, các nhà làm luật có
điều kiện cân nhắc để tìm ra một phơng án tốt nhất khi sửa đổi, bổ sung các quy
định của BLTTHS về thẩm quyền của TA
Bằng các kết quả nghiên cứu, luận án góp phần khẳng định chủ trơng,quan điểm của Đảng về kiện toàn tổ chức, sắp xếp lại hệ thống TAND, phân địnhhợp lý thẩm quyền của TA các cấp theo hớng từng bớc mở rộng thẩm quyền xét
Trang 8xử của TA cấp huyện trên cơ sở kiện toàn tổ chức và cán bộ để việc xét xử sơthẩm đợc thực hiện chủ yếu ở TA cấp này, TA cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúcthẩm, TANDTC chủ yếu xét xử giám đốc thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, h-ớng dẫn các TA các địa phơng áp dụng thống nhất pháp luật là hoàn toàn đúng
đắn, phù hợp với sự trởng thành, phát triển của TA cấp huyện, phù hợp với thựctiễn xét xử, yêu cầu của xã hội và pháp luật quốc tế
Với những đề xuất, kiến nghị về sửa đổi, bổ sung các quy định của phápluật, kiện toàn tổ chức và cán bộ, tăng cờng các biện pháp bảo đảm thực hiệnthẩm quyền của TA, luận án có những đóng góp nhất định vào công cuộc cảicách t pháp đang đợc thực hiện ở nớc ta
Luận án có thể đợc dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và học tậptrong các cơ sở đào tạo luật và nghề t pháp
8 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án đợc chia thành 3 chơng, 8 mục
Trang 9Chơng 1: một số vấn đề chung về thẩm quyền
của Tòa án các cấp
1.1 Khái niệm thẩm quyền của Tòa án
Từ thời kỳ cổ đại đã xuất hiện các quan niệm về Nhà nớc pháp quyền
ở những nhà t tởng Các quan niệm này đợc đa ra để chống lại sự mơ hồ ấutrĩ cho rằng sự công bằng, pháp luật là do trời định, lẽ phải bao giờ cũngthuộc về kẻ mạnh Họ mơ ớc xây dựng một nhà nớc gắn liền với xã hộicông dân mà ở đó bộ máy quyền lực đợc hình thành trên cơ sở của luật,hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, các thành viên trong xã hội hành
động phù hợp với pháp luật; luật pháp là cơ sở cho việc phân công, tổ chức
và thực hiện quyền lực nhà nớc Để thực hiện đợc sự mơ ớc đó, các nhà t ởng kêu gọi mọi ngời phải đấu tranh loại bỏ chế độ nhà nớc độc đoánchuyên quyền, xây dựng Nhà nớc có pháp luật Nhà t tởng cổ đại Hêraclit
t-đã nói: "Nhân dân phải đấu tranh bảo vệ luật nh bảo vệ chỗ nơng thân củamình thể hiện sự tôn trọng luật" [90, tr 6]
Cùng với việc tôn trọng tính tối cao của pháp luật, các nhà t tởng cổ đạicòn chú ý tới sự tổ chức hợp lý hệ thống quyền lực nhà nớc, tổ chức các cơ quannhà nớc với sự phân định rõ ràng về thẩm quyền của các cơ quan đó Theo họ cầnphải tổ chức nhà nớc theo nguyên tắc phân quyền Arixtôt cho rằng trong bất kỳnhà nớc nào cũng đều có ba yếu tố: lập pháp, hành pháp và t pháp Lập pháp làquyền của cơ quan làm ra luật, hành pháp là quyền thi hành pháp luật, còn t phápchỉ thực hiện xét xử theo quy định của luật Ông cho rằng ba yếu tố trên tạothành cơ sở của Nhà nớc Quan niệm của ông hoàn toàn đối lập với cách tổ chứcnhà nớc mà quyền lực chỉ tập trung trong tay một ngời Theo ông cách tổ chứcthực hiện quyền lực đó khó tránh khỏi sự lạm quyền và tùy tiện trong quản lý và
điều hành xã hội Nhận xét về sự tùy tiện trong chế độ quân chủ chuyên chế
Trang 10C.Mác đã viết: "Sự tùy tiện là quyền lực của nhà Vua" hay "quyền lực của Vua là
sự tùy tiện" [10, tr 319]
Sau khi cuộc cách mạng t sản nổ ra, giai cấp t sản lên nắm chính quyền thìmột yêu cầu cấp bách đặt ra là tổ chức lại bộ máy nhà nớc thay cho hình thứcquân chủ chuyên chế Trớc yêu cầu đó, nhà xã hội học ngời Pháp Montesquieuthế kỷ XVIII đã nêu ra học thuyết "Tam quyền phân lập" Theo học thuyết nàythì quyền lực nhà nớc phải đợc phân chia để quyền lực hạn chế quyền lực Mỗimột loại cơ quan nhà nớc chỉ đợc thực hiện một loại quyền lực (quyền lập pháp,hành pháp và t pháp) để chúng ràng buộc lẫn nhau, không cho phép cơ quan nào
đợc lạm dụng quyền lực Theo ông, "cũng không có gì là tự do nếu quyền t phápkhông tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền t pháp nhập lạivới quyền lập pháp thì ngời ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do củacông dân; t pháp nhập với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnhcủa kẻ đàn áp" [44, tr 101]
Học thuyết của Montesquieu về phân quyền có ảnh hởng lớn đến các quan
điểm về tổ chức nhà nớc, quá trình lập hiến và thực tiễn pháp luật của nhiều nớc
t sản "ảnh hởng đó đợc thể hiện rõ nét trong Hiến pháp Mỹ năm 1787, trongtuyên ngôn của Pháp về quyền con ngời và của công dân năm 1789 Đặc biệt,
tuyên ngôn 1789 nêu rõ ở Điều 16: Một xã hội trong đó không bảo đảm việc sử dụng các quyền và không thực hiện sự phân quyền thì không có Hiến pháp" [90,
tr 37] Học thuyết về phân quyền đợc nhiều nhà t tởng và xã hội học của chế độ
t sản ủng hộ Kant (1724-1804) là ngời đã lập luận về mặt triết học cho lý luận vềNhà nớc pháp quyền cũng triệt để tán thành áp dụng thuyết phân quyền Theo
ông thì ở đâu có sự phân quyền thì ở đó có Nhà nớc pháp quyền còn nếu khôngthì là chuyên quyền Hegel cũng cho rằng t tởng về tự do tồn tại dới chính thểquân chủ lập hiến dựa trên cơ sở của nguyên tắc phân quyền Ông cho rằng, "sựphân quyền trong Nhà nớc là sự bảo đảm của tự do công cộng" [90, tr 14]
Trang 11J.Locke (1632-1704) thì đa ra t tởng về khế ớc xã hội ủng hộ thuyết phân quyền
và nói về vai trò chủ đạo của quyền hành pháp trong Nhà nớc
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong khi xây dựng họcthuyết của mình về Nhà nớc kiểu mới đã kế thừa những hạt nhân hợp lý củacác học thuyết chính trị và trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm đấu tranh giaicấp để đa ra quan điểm về tổ chức quyền lực nhà nớc Đó là quyền lực nhà n-
ớc thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân Nhân dân trao quyềnlực ấy cho cơ quan đại diện cao nhất của mình là Quốc hội nh V.I Lênin đã nói: "Đó không phải là một cơ quan đại nghị, mà là một cơquan hành động, vừa lập pháp, vừa hành pháp các nghị sĩ tự mình cộng tác,
tự mình thực hiện những pháp luật của mình, tự mình kiểm tra lấy tác dụngcủa những pháp luật ấy, tự mình phải chịu trách nhiệm trực tiếp trớc cử tricủa mình" [83, tr 33] Nhng cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nớc khôngtrực tiếp làm tất cả mà phân công cho các cơ quan nhà nớc khác, mỗi cơ quan
có thẩm quyền hoạt động trong một lĩnh vực nhất định Toàn bộ hoạt động củacác cơ quan đó đều nhằm thực hiện một chu trình quản lý nhà nớc, trong đócơ quan quyền lực (Quốc hội) có thẩm quyền tối cao thực hiện chức năng lậppháp và giám sát tối cao, còn các cơ quan khác (Chính phủ, TA, VKS) thựchiện chức năng hành pháp và t pháp Theo GS.TS Hoàng Văn Hảo thì "sự phâncông nói trên thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nớc tập quyền xã hội chủ nghĩa Tập quyền không mâuthuẫn với sự phân công và sự phân biệt chức năng giữa các loại cơ quan nhà n-ớc" [72, tr 16] PGS.TSKH Đào Trí úc khẳng định:
Sự thống nhất đó không phải là sự tập trung quyền lực cao độ vàomột "nhánh" quyền lực nào theo kiểu phân lập quyền lực mà là sự thốngnhất ở mục tiêu chung là phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nớc, củadân tộc sự thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp là phơngthức để đạt đợc sự thống nhất của quyền lực nhà nớc [81, tr 4-5]
Trang 12Trong nhà nớc pháp quyền, mỗi một loại cơ quan nhà nớc có chức năngnhiệm vụ riêng Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhànớc do pháp luật quy định đợc hiểu là thẩm quyền của cơ quan nhà nớc đó Ph.
Ăngghen viết: "Phân quyền xét cho cùng không phải là cái gì đó khác hơn làphân công lao động thiết thực, đợc áp dụng trong cơ chế nhà nớc nhằm mục đíchgiản đơn và kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nớc" [72, tr 11]
Theo định nghĩa của Từ điển Luật học thì "thẩm quyền" đợc hiểu là "tổnghợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc
hệ thống bộ máy nhà nớc do pháp luật quy định" [75, tr 459] Khái niệm "thẩmquyền" gồm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền quyết định Quyềnhành động là quyền đợc làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định làquyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép Giáo trìnhLuật tố tụng hành chính Trờng Đại học Luật Hà Nội năm 2001 cũng định nghĩa:
"Thẩm quyền là quyền hạn theo pháp luật quy định, của cơ quan công quyền vàcông chức giữ chức vụ nhà nớc nhất định [79, tr 29] Từ sự phân tích trên, ta có
thể hiểu thẩm quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một tổ chức hoặc một cán bộ, công chức nhà nớc đợc thực hiện công việc trong các lĩnh vực và phạm vi nhất định.
Bộ máy nhà nớc ta đợc tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nớc làthống nhất không phân chia, nhng có phân công rành mạch giữa ba quyền lậppháp, hành pháp và t pháp Quyền T pháp theo nghĩa rộng bao gồm cả điều tra,truy tố, xét xử, thi hành án và bổ trợ t pháp đợc giao cho các CQĐT, VKS, TAthực hiện Trong đó "TA là biểu hiện tập trung của quyền t pháp - nơi mà kết quảcủa hoạt động điều tra, công tố, bào chữa v.v đợc kiểm tra, xem xét một cáchcông khai thông qua thủ tục tố tụng do luật định để đa ra những phán quyết cuốicùng mang tính chất quyền lực nhà nớc; nơi phản ánh một cách đầy đủ và sâusắc nhất bản chất nền công lý của chế độ ta " [29, tr 1] GS.TS Hoàng Văn Hảocho rằng: "TA là cơ quan xét xử, là chức năng trung tâm của quyền t pháp" [91,
Trang 13tr 117] TA là cơ quan đợc Quốc hội phân công trực tiếp thực hiện quyền t pháp
có chức năng xét xử để bảo vệ pháp luật, bảo đảm lẽ phải và công bằng xã hội.Bởi vậy, quyền t pháp theo nghĩa hẹp còn đợc hiểu là quyền xét xử của TA Thựchiện chức năng này, TA có thẩm quyền xét xử và nhân danh Nhà nớc để ra bản
án giải quyết vụ án Nh vậy hoạt động xét xử của TA có vai trò hết sức to lớntrong việc bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Nhà nớc, tập thể và công dân tránhnhững xâm hại của tội phạm PGS.TS Trần Ngọc Đờng nhận xét: "Hơn bất kỳmột dạng hoạt động nào của Nhà nớc, hoạt động xét xử phản ánh trực tiếp và sâusắc bản chất của Nhà nớc Sai lầm của TA trong việc giải quyết vụ án chính là sailầm của Nhà nớc Vì thế đòi hỏi xét xử phải chính xác công minh, thể hiện đợc ýchí nguyện vọng của nhân dân" [72, tr 103]
Việc nghiên cứu để đa ra một khái niệm khoa học, chính xác về thẩmquyền của TA có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định quyền hạn thụ lý và giảiquyết từng vụ án cụ thể của TA các cấp Khái niệm này cũng đợc đề cập trongpháp luật của nhiều nớc trên thế giới Tuy cách hiểu có khác nhau nhng điểmchung về thẩm quyền đều đợc các nớc thừa nhận là quyền xét xử và quyền quyết
định của TA ở Pháp, thẩm quyền đợc hiểu là quyền của một cơ quan nhà nớc,một quan chức nhà nớc hay t pháp đợc làm những việc và có quyền quyết định
về những vấn đề trong phạm vi đợc pháp luật cho phép Theo Lemeunier, tác giảcuốn từ điển pháp luật thì thẩm quyền của TA đợc hiểu là "khả năng của một TAxem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép" [34, tr 74]
ở Anh, thuật ngữ Jurisdiction đợc dùng để chỉ thẩm quyền hoặc quyềnphán quyết về một vụ việc nào đó của TA trong phạm vi pháp luật cho phép.Theo TS Wolf Ruecliger Schenke, Giáo s Trờng Đại học Tổng hợp Mannheim -Cộng hòa Liên bang Đức sau khi nghiên cứu thẩm quyền của TA đã đặt vấn đềlà: "Đối với thẩm quyền của TA thì cần phân biệt sự khác nhau giữa thẩm quyền
vụ việc, địa điểm và thẩm quyền phẩm cấp" [20, tr 227] ở nớc ta thẩm quyềncủa TA đợc hiểu theo những góc độ khác nhau tùy thuộc vào mục đích của việc
Trang 14nghiên cứu Chẳng hạn, trong tố tụng dân sự, thẩm quyền chung về dân sự của
TA đợc hiểu là "tổng hợp các loại việc về dân sự mà TA có thẩm quyền thụ lýgiải quyết" [77, tr 39] Thẩm quyền chung về dân sự của TA phân biệt thẩmquyền của TA với thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức khác; phân biệt thẩmquyền của TA trong việc giải quyết các loại việc về dân sự với thẩm quyền của
TA trong việc giải quyết các loại việc khác Trong tố tụng kinh tế, thẩm quyềngiải quyết các vụ án kinh tế đợc hiểu là "quyền và nghĩa vụ của TA kinh tế tronglĩnh vực giải quyết các tranh chấp kinh tế" [78, tr 422] Trong tố tụng hànhchính, thẩm quyền của TA là "phạm vi thực hiện quyền lực nhà nớc của một chủthể (Tòa hành chính) để giải quyết những tranh chấp hành chính giữa một bên làcông dân và bên kia là cơ quan công quyền theo thủ tục tố tụng hành chính màpháp luật tố tụng hành chính đã quy định" [79, tr 30] Trong TTHS, ThS Nguyễn
Đức Mai cho rằng, thẩm quyền của TA là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố
có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền vềnội dung Thẩm quyền về hình thức đợc thể hiện ở quyền hạn xem xét và phạm vixem xét của TA (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử), còn thẩm quyền về nộidung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của TA đối với những vấn đề
đã đợc xem xét [39, tr 2] ThS Nguyễn Văn Tiến quan niệm phạm vi - giới hạnhoạt động của TA và quyền năng pháp lý của TA có mối liên quan chặt chẽ vớinhau tạo thành thẩm quyền của TA Thẩm quyền của TA bao gồm: thẩm quyền xét
xử, phạm vi - giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của TA [71, tr 8] Khinghiên cứu thẩm quyền giám đốc thẩm các vụ án hình sự, TS Nguyễn Văn Hiện
đa ra khái niệm thẩm quyền giám đốc thẩm là:
Tập hợp các quy phạm pháp luật TTHS liên quan đến việc giao
vụ án mà bản án có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị cho TA cấp nàogiải quyết, phạm vi các vấn đề cần giải quyết và quyền ra các quyết
định của TA cấp giám đốc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án nhằm
đạt đợc yêu cầu và mục đích của giám đốc thẩm [27, tr 1]
Trang 15Dới một góc độ chung hơn, Từ điển tiếng Việt định nghĩa thẩm quyền của
TA là "quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật" [86, tr 890]
Nh vậy, thẩm quyền của TA là một khái niệm có nội dung rất rộng baogồm nhiều quyền của TA khi giải quyết vụ án Đó là quyền xét xử đối với từng
vụ án cụ thể, trong một phạm vi (giới hạn) do pháp luật quy định (gọi là thẩmquyền xét xử), là quyền ra các quyết định khi xét xử vụ án (gọi là thẩm quyềnquyết định hay quyền hạn của TA) Thẩm quyền quyết định hay quyền hạn làmột nội dung quan trọng của thẩm quyền Nói đến thẩm quyền của TA khôngthể không đề cập đến quyền hạn Thiếu nội dung quyền hạn thì quyền xét xử của
TA cũng trở thành vô nghĩa TA xét xử nhng không có quyền ra các quyết định
cụ thể thì vụ án cha đợc giải quyết Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thìquyền hạn là "quyền đợc xác định về nội dung, phạm vi, mức độ" [86, tr 786] Từ
điển Pháp luật cũng định nghĩa, quyền hạn là "quyền đợc xác định lại trongphạm vi không gian, thời gian, lĩnh vực hoạt động" [75, tr 402] Các định nghĩatrên đều xác định nội dung quyền hạn của TA chỉ trong những phạm vi, mức độ
do pháp luật quy định ở các thủ tục xét xử khác nhau, phạm vi, mức độ quyềnhạn của TA cũng khác nhau và đợc gọi là phạm vi xét xử và giới hạn xét xử.Theo Từ điển Tiếng Việt thì "giới hạn" là sự hạn chế trong một mức độ nhất
định, là ranh giới phải dừng lại không đợc phép vợt qua còn "phạm vi" là lĩnh vực
đợc giới hạn cho một hành động, sự việc [86, tr 390-738] Trong TTHS kháiniệm "phạm vi xét xử" đợc dùng khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
để giới hạn TA cấp phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xét xửnhững vấn đề đã đợc TA cấp dới xét xử (có thể toàn bộ hoặc từng phần của vụ
án); còn "giới hạn xét xử" dùng để hạn chế TA cấp sơ thẩm chỉ đợc xét xử trongnội dung bản cáo trạng do VKS truy tố Xác định đúng quyền xét xử của TAtrong giới hạn và phạm vi pháp luật cho phép sẽ tạo điều kiện thuận lợi để TAthực hiện quyền quyết định đối với các vấn đề cụ thể của vụ án Thẩm quyền xét
Trang 16xử và thẩm quyền quyết định của TA là hai nội dung quan trọng có mối liên hệmật thiết với nhau tạo thành thẩm quyền của TA Có thể nghiên cứu thẩm quyềncủa TA theo hai góc độ khác nhau: góc độ hành chính và góc độ tố tụng Dớigóc độ hành chính nghiên cứu thẩm quyền của TA theo cách tổ chức hệ thống
TA bao gồm: Thẩm quyền của TANDTC, thẩm quyền của TAND cấp tỉnh,thẩm quyền của TAND cấp huyện và thẩm quyền các TAQS Dới góc độ tốtụng nghiên cứu thẩm quyền của TA theo cấp xét xử bao gồm: thẩm quyền của
TA cấp sơ thẩm, thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm và thẩm quyền giám đốcthẩm, tái thẩm Theo góc độ hành chính, nếu chỉ nghiên cứu thẩm quyền xét xửcủa TA các cấp sẽ rất thuận lợi, nhng nghiên cứu cả thẩm quyền quyết định của
TA khi xét xử lại khó khăn vì BLTTHS chỉ quy định quyền hạn của HĐXX sơthẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm mà không quy định quyền hạn khixét xử cho TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TANDTC hoặc TAQS Còn dớigóc độ tố tụng sẽ có điều kiện làm rõ cả thẩm quyền xét xử và thẩm quyềnquyết định của TA các cấp Một mặt phân biệt đợc thẩm quyền xét xử sơ thẩmgiữa TAND cấp tỉnh với TAND cấp huyện, giữa TAQS cấp quân khu với TAQSkhu vực; phân biệt thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm giữaTAND cấp tỉnh với TANDTC, giữa TAQS cấp quân khu với Tòa án quân sựtrung ơng (TAQSTW) Mặt khác, cũng làm rõ đợc thẩm quyền quyết định củatừng cấp xét xử, theo đó các TA khác nhau nhng xét xử một thủ tục giống nhau
đều có thẩm quyền quyết định nh nhau Nh vậy, dới góc độ tố tụng thì sẽ có
điều kiện nghiên cứu toàn diện cả thẩm quyền xét xử và thẩm quyền quyết địnhcủa TA nên luận án nghiên cứu thẩm quyền của TA theo góc độ này
1.1.1 Thẩm quyền xét xử
Điều 127 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Tổ chức TA năm 1992 quy
định TANDTC, các TAND địa phơng, các TAQS và các TA khác do luật định lànhững cơ quan xét xử của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo quy
định của pháp luật thì chỉ có TA mới có thẩm quyền xét xử các vụ án mà không
Trang 17một cơ quan nhà nớc nào có đợc quyền này Để bảo đảm cho TA thực hiện tốtchức năng xét xử, Nhà nớc trao cho TA nhiều quyền năng pháp lý, theo đó giảiquyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính đều thuộc thẩmquyền của TA
Trong lĩnh vực hình sự, thẩm quyền xét xử của các TA ở mỗi quốc giacũng có sự quy định khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố nh hệ thống pháp luậtnói chung và luật vật chất (luật hình sự) nói riêng, bộ máy tổ chức của các cơquan t pháp, năng lực Thẩm phán, điều kiện kinh tế - xã hội Qua tìm hiểu phápluật của một số nớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống luật án
lệ thì thấy các TA đợc tổ chức theo cấp xét xử: TA cấp sơ thẩm, TA cấp phúcthẩm và TA tối cao Tơng ứng với các cấp xét xử đó luật quy định thẩm quyềnxét xử cho từng cấp TA Ví dụ: ở nớc Pháp hệ thống TA đợc tổ chức thành TAcấp sơ thẩm (Tòa vi cảnh) có thẩm quyền xét xử các vụ tiểu hình, TA cấp sơthẩm (Tòa Hình sự hoặc Tòa cải tạo) có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự vềtội ít nghiêm trọng và có thể xử phạt mức án đến 5 năm tù, TA cấp sơ thẩm (Tòa
đại hình) có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về tội phạm nghiêmtrọng và tuyên hình phạt đến tù chung thân, TA cấp phúc thẩm (các Tòa phúcthẩm) có thẩm quyền xét xử các vụ án của TA cấp dới bị kháng cáo hoặc khángnghị, TA cấp phúc thẩm (Tòa Thợng thẩm - Tòa phúc thẩm tối cao) có thẩm quyềnlàm vô hiệu bản án đã có hiệu lực pháp luật khi TA cấp dới sai lầm trong việc ápdụng pháp luật ở nớc Anh hệ thống TA gồm có: TA cấp sơ thẩm (Tòa vi cảnh) xét
xử các tội phạm ít nghiêm trọng, TA cấp sơ thẩm (TA Hoàng gia) xét xử các tộiphạm nghiêm trọng, TA cấp phúc thẩm (TA phúc thẩm) xét xử phúc thẩm tất cả các
vụ án đã xét xử sơ thẩm nhng bị kháng cáo, kháng nghị, TA cấp phúc thẩm (TAtối cao) xét xử các vụ án bị kháng cáo vì có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật
ở Nigeria hệ thống TA bao gồm TA tối cao liên bang, TA liên bang khác và hệthống của TA bang Thẩm quyền xét xử cũng đợc phân định rõ cho các TA tơngứng: các Tòa vi cảnh, Tòa phúc thẩm liên bang và TA tối cao [89, tr 207-217] ở nớc
ta các TA đợc tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, các TAND cấp huyện và
Trang 18TAQS khu vực (gọi chung là TA cấp huyện) chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩmcòn các TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu (gọi chung là TA cấp tỉnh) và TAtối cao vừa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vừa có thẩm quyền xét xử phúc thẩm,giám đốc thẩm và tái thẩm Theo Từ điển Luật học thì thẩm quyền xét xử là "sựphân định thẩm quyền xét xử các vụ án giữa các TA với nhau" [75, tr 459].Nghiêncứu về thẩm quyền xét xử của TA các cấp theo luật TTHS của nớc ta và một sốnớc trên thế giới thì thấy tuy có sự quy định khác nhau nhng pháp luật các nớc
đều có điểm chung là dựa vào một số dấu hiệu của vụ án để phân định thẩmquyền xét xử Đó là dấu hiệu về tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm, địa
điểm phạm tội và ngời thực hiện tội phạm Muốn xác định một vụ án xảy ra cóthuộc thẩm quyền xét xử của một TA hay không phải xem xét đến các dấu hiệunày Chỉ trên cơ sở xem xét từng dấu hiệu mới có thể xác định thẩm quyền xét xử
đợc chính xác
Khi đã xác định chính xác thẩm quyền xét xử sơ thẩm thì có thể dễ dàngxác định đợc thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm Vì xét xử theo cácthủ tục này đều do các TA cấp trên của TA cấp sơ thẩm thực hiện Xét ở một góc
độ khác, khi VKS đã truy tố bị cáo trớc TA và xét thấy có đủ căn cứ để xét xử thì
vụ án đợc xét xử sơ thẩm, nhng cha hẳn vụ án này sẽ đợc xét xử theo thủ tụcphúc thẩm và giám đốc thẩm Việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốcthẩm, tái thẩm chỉ đặt ra khi có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu Xét xử theo thủtục phúc thẩm, nhất là thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm gọn nhẹ hơn, một số thủtục ở cấp sơ thẩm đợc lợc bỏ
Vì vậy, muốn xác định thẩm quyền của TA các cấp, trớc hết phải xác địnhthẩm quyền xét xử sơ thẩm Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở để xác địnhthẩm quyền của TA các cấp
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, trong khoa học luật TTHS thẩm quyềnxét xử thờng đợc phân loại Việc phân loại giúp cho ngời áp dụng pháp luật xác
định đúng thẩm quyền của TA Có nhiều cách phân loại dựa trên những căn cứ
Trang 19và mục đích nghiên cứu khác nhau Đối với những ngời áp dụng pháp luật thìcách phân loại sau đây nhằm phân biệt rõ thẩm quyền xét xử của TA các cấp làphổ biến nhất:
- Dựa vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm để phân biệt
thẩm quyền của TA cấp huyện với TA cấp tỉnh, thẩm quyền của TAQS khu vựcvới TAQS quân khu
- Dựa vào địa điểm hoặc không gian thực hiện tội phạm, thực hiện hành vi
tố tụng để phân biệt thẩm quyền xét xử của các TA cùng cấp (TA huyện này với
huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác) Trong trờng hợp có bị cáo phạm tội ở nớc ngoàinếu xét xử ở Việt Nam thì cách phân loại này cũng là căn cứ để phân biệt thẩmquyền xét xử của TA các cấp
- Dựa vào ngời thực hiện tội phạm để phân biệt thẩm quyền xét xử giữa
TAQS và TAND, giữa TAQS các cấp với nhau và xác định thẩm quyền của
TA đặc biệt
1.1.2 Thẩm quyền quyết định của Tòa án các cấp
Dựa vào những quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử, có thể xác
định một vụ án xảy ra thuộc thẩm quyền của TA nào; nếu có tranh chấp thì căn
cứ các dấu hiệu về sự việc, lãnh thổ và ngời thực hiện tội phạm để xác định thẩmquyền xét xử Nhng chỉ có quy định về thẩm quyền xét xử, các TA sẽ gặp khókhăn khi phải quyết định những vấn đề cụ thể trong quá trình giải quyết vụ án.Cùng với việc quy định thẩm quyền xét xử, Nhà nớc giao những quyền năng(quyền quyết định) cho TA các cấp Các TA sử dụng những quyền này để ra cácphán quyết khi xét xử Nhng thẩm quyền ra quyết định không phải là vô hạn, các
TA chỉ xem xét và quyết định những vấn đề trong giới hạn, phạm vi pháp luậtcho phép Thẩm quyền quyết định của TA bao gồm:
Trang 20a) Thẩm quyền quyết định đối với những vấn đề về nội dung vụ án
Thẩm quyền này đợc TA thực hiện sau khi xét xử vụ án ở thủ tục xét xửsơ thẩm, TA ra bản án giải quyết mọi vấn đề của vụ án nh: Quyết định bị cáophạm tội hay không phạm tội (nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điềukhoản nào của BLHS, nếu bị cáo không phạm tội thì ra bản án tuyên bố bị cáo vôtội); quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt; quyết định áp dụnghình phạt đối với bị cáo; quyết định xử lý vật chứng; quyết định bồi thờng thiệt hại;
TA cũng có thể ra quyết định đình chỉ vụ án nếu có căn cứ do luật quy định
ở thủ tục phúc thẩm, TA xét xử trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị đối vớibản án sơ thẩm, chỉ trong những trờng hợp cần thiết TA cấp phúc thẩm mới xemxét những phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị Vì không phải
vụ án nào cũng yêu cầu xem xét lại mọi vấn đề mà TA cấp sơ thẩm đã giải quyếtnên TA cấp phúc thẩm cũng không có quyền quyết định về mọi vấn đề của vụ án
nh khi xét xử sơ thẩm Khi xét xử, TA cấp phúc thẩm có quyền quyết định:Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản
án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại; hủy bản án sơthẩm và đình chỉ vụ án
ở thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm xét lại bản án và quyết
định đã có hiệu lực pháp luật nhng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm phápluật trong việc xử lý vụ án Với mục đích bảo đảm cho việc xét xử đợc chính xác,xét xử giám đốc thẩm kiểm tra tính hợp pháp của các bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật bị kháng nghị Do đó, Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét
và quyết định những vấn đề mà kháng nghị yêu cầu Đối với những phần của vụ
án không bị kháng nghị nhng có liên quan đến kháng nghị, Hội đồng giám đốcthẩm cũng phải xem xét vì xét xử giám đốc thẩm là một hoạt động của giám đốcxét xử nên có trách nhiệm xem xét toàn bộ vụ án Khi xét xử, Hội đồng giám đốcthẩm có quyền ra các quyết định: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyênbản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật; hủy bản án hoặc quyết định đã
Trang 21có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệulực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại; sửa bản án hoặc quyết định đã cóhiệu lực pháp luật
b) Thẩm quyền quyết định đảm bảo cho việc giải quyết vụ án
Cùng với việc ra bản án hoặc quyết định để giải quyết những vấn đề về nộidung vụ án, TA còn có quyền ra quyết định đảm bảo cho việc xét xử Thực hiệnthẩm quyền này, trong khi chuẩn bị xét xử, TA ra các quyết định sau: Quyết định
áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (bắt để tạm giam, cấm đikhỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm); quyết định trả hồ sơ để
điều tra bổ sung; quyết định tạm đình chỉ vụ án
Ngoài thẩm quyền ra quyết định giải quyết những vấn đề về nội dung vụ ánhoặc đảm bảo cho việc xét xử, để thực hiện các nhiệm vụ khác của TTHS, khixét xử TA còn có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, ra các quyết định xử lýhành chính nh cảnh cáo, phạt tiền đối với những ngời vi phạm trật tự phiên tòa
Nh vậy, thẩm quyền của TA là một chế định lớn trong TTHS bao gồmnhững nội dung chính nh sau:
- Thẩm quyền xét xử để xác định TA đợc xét xử những vụ án nào;
- Giới hạn và phạm vi xét xử để xác định quyền của TA đợc xem xétnhững vấn đề gì khi xét xử;
- Thẩm quyền quyết định để xác định quyền hạn giải quyết những vấn đề
về nội dung vụ án đã đợc xem xét, những vấn đề đảm bảo cho việc xét xử hoặccác vấn đề khác của TTHS liên quan đến hoạt động xét xử
Trong các nội dung trên, thẩm quyền xét xử, giới hạn và phạm vi xét xử làcơ sở để xác định thẩm quyền quyết định của TA vì TA chỉ có thể quyết địnhnhững vấn đề trong phạm vi cho phép và đã đợc xem xét Mặt khác, những vấn
đề thuộc thẩm quyền xem xét của TA cũng chỉ có ý nghĩa khi đợc giải quyếtbằng những quyết định của Hội đồng xét xử (HĐXX)
Trang 22Từ những phân tích trên có thể đa ra khái niệm thẩm quyền của TA nh
sau: Thẩm quyền của TA là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho TA
đ-ợc xét xử những vụ án cụ thể và quyết định đối với các vấn đề về nội dung vụ án hoặc đảm bảo cho việc xét xử trong giới hạn hoặc phạm vi nhất định.
1.2 Những căn cứ để quy định thẩm quyền của Tòa án
Muốn quy định thẩm quyền đợc chính xác phải dựa vào những căn cứ (cơsở) có tính khoa học đợc đúc rút từ thực tiễn Việc xác định các căn cứ này có ýnghĩa quan trọng khi phân định thẩm quyền Dựa vào những căn cứ để quy địnhthẩm quyền của TA, các nhà làm luật tính toán cân nhắc đến mọi khả năng, dựliệu các tình huống để quy định thẩm quyền cho mỗi cấp TA Các căn cứ nàycàng cụ thể, chi tiết thì quy định thẩm quyền càng chính xác Qua nghiên cứukhảo sát thực tiễn thì đã có một số bài viết trực tiếp hay gián tiếp nghiên cứu vềvấn đề này nhng các tác giả thờng tập trung vào các căn cứ: trình độ, năng lực củaThẩm phán, số lợng án tồn đọng hàng năm ở TA cấp này hay cấp khác để đề nghịphân định thẩm quyền Chúng tôi cho rằng, phân định thẩm quyền của TA mà chỉdựa trên cơ sở về tổ chức, con ngời thôi là cha đầy đủ mà còn phải căn cứ vàonhiều yếu tố khác nữa Theo chúng tôi, có thể dựa vào các căn cứ sau đây để quy
định thẩm quyền của TA các cấp
1.2.1 Căn cứ vào đờng lối, chính sách của Đảng
Pháp luật là một trong những hình thức thể hiện của chính trị Cụ thểhơn, pháp luật là sự thể chế hoá đờng lối, chính sách của Đảng thành nhữngquy định chung, thống nhất trong toàn xã hội ở nớc ta, vai trò lãnh đạo của
Đảng đã đợc khẳng định trong suốt chiều dài lịch sử gần một thế kỷ qua ờng lối, chính sách của Đảng thể hiện nguyện vọng của toàn thể nhân dântrong đó có yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm phù hợp với từng thời kỳnhất định Là một công cụ hữu hiệu trong đấu tranh chống tội phạm, pháp luật
Đ-tố tụng hình sự phải thể hiện đúng đờng lối, chính sách của Đảng Có nh vậy,mỗi quy định đợc ban hành mới phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp
Trang 23ứng đợc yêu cầu, đòi hỏi của xã hội Nếu văn bản pháp luật tố tụng hình sự xarời hoặc đi chệch quan điểm của Đảng thì nó sẽ không đợc nhân dân đồngtình, xã hội chấp nhận và không đợc thực hiện Thực tiễn hoàn thiện pháp luật
tố tụng hình sự nói chung và chế định thẩm quyền của TA nói riêng cho thấy
đờng lối, chính sách của Đảng luôn luôn là một căn cứ quan trọng để xâydựng các quy phạm pháp luật cụ thể
Năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nớc ta đợc ban hành nhằm đáp ứngnhững yêu cầu của thời kỳ đổi mới Để góp phần thực hiện mục tiêu “làmtrong sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nớc; đẩy lùi và xóa
bỏ các hiện tợng tiêu cực, làm lành mạnh các quan hệ xã hội và thực hiệncông bằng xã hội” [24, tr 146], BLTTHS đã nâng thẩm quyền của TA các cấplên một bớc đáng kể so với trớc đây Nếu nh năm 1960 TA cấp huyện chỉ cóthẩm quyền xét xử sơ thẩm các tội có thể phạt từ 2 năm tù trở xuống, đến năm
1981 đợc xét xử các tội có khung hình phạt đến 5 năm tù thì BLTTHS đãnâng thẩm quyền cho TA cấp huyện đợc xét xử những tội phạm mà BLHS quy
định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống Điều đó hoàn toàn phù hợp với chủ
tr-ơng xây dựng cấp huyện vững mạnh về mọi mặt của Đảng ta
Những thay đổi lớn lao của tình hình kinh tế - xã hội và thực tiễn xét
xử thời gian qua cho thấy những quy định về thẩm quyền của TA các cấptrong BLTTHS không còn phù hợp Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết về côngtác t pháp trong đó nhấn mạnh yêu cầu phân định hợp lý thẩm quyền của TAcác cấp Cụ thể là Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng khoá VII,Nghị quyết hội nghị lần thứ 3, hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng khoá VIII,Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Các Nghị quyết của Đảng đã
định hớng việc phân định thẩm quyền của TA các cấp là thực hiện hai cấp xét
xử, tăng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp quận, huyện theo hớng việc xét xửsơ thẩm đợc thực hiện chủ yếu ở TA cấp này, TA cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúcthẩm, TANDTC chủ yếu xét xử giám đốc thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử,
Trang 24hớng dẫn các TA địa phơng thực hiện xét xử thống nhất pháp luật Mới đây,Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới lại khẳng định cần khẩn trơngchuẩn bị tốt điều kiện để thực hiện việc tăng thẩm quyền xét xử cho TA cấphuyện, đổi mới tổ chức của TANDTC để tập trung làm tốt nhiệm vụ giám đốcthẩm, tổng kết thực tiễn xét xử, hớng dẫn các TA áp dụng pháp luật thốngnhất Những định hớng chiến lợc nêu trên là kết quả của hoạt động nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn của Đảng ta Nó đã phản ánh đúng đắn yêu cầu đấutranh phòng chống tội phạm, tạo tiền đề cho những nghiên cứu cụ thể về thẩmquyền của TA các cấp Chính vì vậy, tuân theo đờng lối, chính sách của Đảng
là một trong những yêu cầu cơ bản không thể thiếu khi xây dựng và sửa đổicác quy định về thẩm quyền của TA các cấp
1.2.2 Căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS
Trong hệ thống các quy phạm TTHS, nguyên tắc TTHS chiếm một vị tríquan trọng Nó thể hiện bản chất của TTHS, là cơ sở cho mọi hoạt động TTHS.Các nguyên tắc của TTHS liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất
để hớng các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thực hiện đúng mục
đích của tố tụng Các nguyên tắc của TTHS là cơ sở để xây dựng các chế địnhcủa luật TTHS Thẩm quyền của TA là một chế định lớn của luật TTHS, nên khiquy định phải căn cứ vào các nguyên tắc của TTHS, đặc biệt là những nguyên tắclàm cơ sở cho hoạt động xét xử của TA
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; nguyên tắc không
ai có thể bị coi là có tội, nếu cha có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của
TA là những nguyên tắc dân chủ trong luật TTHS, tạo điều kiện thuận lợi cho bịcan, bị cáo đa ra chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,giúp cho việc xử lý vụ án đúng đắn, tránh đợc những oan sai không đáng có Vìthế quy định thẩm quyền của TA phải cân nhắc đến các nguyên tắc này Khi xét
xử, nếu TA không chứng minh đợc bị cáo thực hiện tội phạm thì phải tuyên bố
Trang 25họ vô tội; tất cả những nghi ngờ về trách nhiệm hình sự của bị cáo phải đợc giảithích theo hớng có lợi cho bị cáo; việc xét xử phúc thẩm theo hớng làm xấu hơntình trạng của bị cáo phải có kháng cáo của ngời bị hại, nguyên đơn dân sự hoặckháng nghị của VKS; TA cấp giám đốc thẩm không thể tự mình quyết định sửatăng hình phạt hoặc áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn đối với bị cáo.
Nguyên tắc xác định sự thật vụ án, nguyên tắc giám đốc việc xét xử lànhững nguyên tắc cho phép Hội đồng giám đốc thẩm có quyền xét lại bản ánhoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhng bị kháng nghị vì phát hiện có viphạm pháp luật trong việc xử lý vụ án; cho phép Hội đồng giám đốc thẩm đợc
ra quyết định nhằm bảo đảm cho việc xét xử của TA đúng pháp luật
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉtuân theo pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho Thẩm phán và Hội thẩm khixét xử, đề cao trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Nguyên tắcnày không cho phép bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào đợc can thiệp vàoviệc xét xử của TA làm cho việc xét xử không công bằng TA cấp trên cũngkhông có quyền buộc TA cấp dới phải xét xử theo ý kiến chủ quan của mình.Sau khi xét xử nếu bản án có sai sót sẽ đợc giải quyết theo các thủ tục phúcthẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Nếu quy định thẩm quyền của TA khôngchú ý đến nguyên tắc “xét xử độc lập” thì TA cấp trên có thể buộc TA cấp dớiphải xét xử theo mình và nh vậy sẽ làm cho việc xét xử không chính xác Quy
định của BLTTHS về thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm đã cân nhắc và bảo
đảm nguyên tắc "xét xử độc lập" Ví dụ: Khoản 3 Điều 222 BLTTHS quy địnhrõ: "Khi hủy án sơ thẩm để xét xử lại, TA cấp phúc thẩm không quyết định trớcnhững chứng cứ mà TA cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ,cũng nh không quyết định trớc về điều khoản BLHS và hình phạt mà TA cấpsơ thẩm sẽ phải áp dụng"
Các nguyên tắc khác của luật TTHS ở những mức độ khác nhau cũng ảnhhởng đến việc xác định thẩm quyền của TA Do vậy, khi quy định thẩm quyềncủa TA phải căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS
Trang 261.2.3 Căn cứ vào tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm
Theo Điều 8 BLHS, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy
định trong BLHS, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm tới các quan hệ xã hội đợc Luật hình sự bảo vệ Kháiniệm này cho thấy cơ sở quan trọng để xác định tội phạm là tính nguy hiểm choxã hội của hành vi Khi nghiên cứu các đặc điểm của tội phạm, TSKH Lê Cảmkhẳng định: "Chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội và đợc quy định trong luật hình
sự mới có thể bị coi là tội phạm - khi nó đợc thực hiện một cách có lỗi bằng xử sự
cụ thể (dới dạng hành động hoặc không hành động) của ngời có năng lực tráchnhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định" [12, tr 6].Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đợc xem xét ở hai mặt: mặtthực tế (tức đã gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại) cho một hay nhiềukhách thể nhất định và mặt xã hội (tức xem xét tính nguy hiểm cho xã hội củahành vi phải đợc đặt trong những điều kiện xã hội nhất định) [87, tr 161] Đánhgiá tính nguy hiểm cho xã hội của một loại tội phạm, theo TS Võ Khánh Vinhphải xem "tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan hệ xã hội do tộiphạm đó xâm hại" [85, tr 15] Hành vi phạm tội xâm hại đến những quan hệxã hội, khách thể quan trọng sẽ gây nguy hại lớn cho xã hội thì tội phạm càngnghiêm trọng Tính nghiêm trọng của tội phạm đợc nhà làm luật thể hiệnthông qua mức chế tài quy định với tội phạm đó Vì "hình phạt là hậu quảpháp lý của tội phạm" [69, tr 10] nên tội phạm càng nghiêm trọng thì hìnhphạt càng cao Vì vậy, muốn giải quyết vụ án đợc nhanh chóng, chính xác,tránh oan sai, khi phân định thẩm quyền xét xử cho TA các cấp phải căn cứvào tính nghiêm trọng của tội phạm Theo đó loại tội càng nghiêm trọng càng
đòi hỏi cơ quan và ngời tiến hành tố tụng có năng lực cao hơn BLTTHS đãquy định thẩm quyền xét xử theo hớng này
Cùng với việc căn cứ vào tính nghiêm trọng của tội phạm, khi quy địnhthẩm quyền xét xử còn phải căn cứ vào tính phức tạp của từng loại tội phạm.Tính phức tạp của tội phạm đợc xem xét cả dới góc độ Luật hình sự và luật
Trang 27TTHS Dới góc độ luật hình sự tính phức tạp của tội phạm đợc xem xét ở kháchthể tội phạm và đờng lối xử lý tội phạm đó Còn dới góc độ TTHS, tính phức tạpcủa tội phạm đợc xem xét ở khả năng điều tra, truy tố, xét xử tội phạm Sở dĩ quy
định thẩm quyền xét xử phải căn cứ cả tính nghiêm trọng và phức tạp của tộiphạm vì tính nghiêm trọng và tính phức tạp của tội phạm là hai khái niệm không
đồng nhất Thông thờng tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệtnghiêm trọng là phức tạp, tội phạm ít nghiêm trọng là đơn giản Nhng cũng nhiềutrờng hợp tội phạm ít nghiêm trọng lại phức tạp Tính phức tạp của tội phạm đợcxem xét ở nhiều khía cạnh:
- Về chủ thể tội phạm: Đó là tội phạm do ngời nớc ngoài hoặc ngời giữchức vụ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, là ngời có chức sắc cao trong tôn giáo,
có uy tín cao trong dân tộc ít ngời thực hiện Vì giải quyết vụ án do các chủ thểtrên thực hiện có nhiều phức tạp nên cần phải quy định thuộc thẩm quyền của TAcấp tỉnh, TAQS cấp quân khu
- Về khả năng chứng minh tội phạm và ngời phạm tội: Đó là các vụ án vềcác tội xâm phạm an ninh quốc gia, do việc xử lý các vụ án này đòi hỏi phải có
sự chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quanhữu quan khác Hoặc những trờng hợp phạm tội gây thiệt hại cho quân đội, phạmtội trong các khu vực cấm, liên quan đến bí mật quân sự thì việc chứng minh tộiphạm có liên quan nhiều đến quân đội Vì thế các tội này phải do các cơ quantiến hành tố tụng có khả năng, điều kiện chứng minh tội phạm, đánh giá chứng
cứ mới đảm bảo tính chính xác khách quan của vụ án Pháp lệnh Tổ chức TAQSnăm 1993 đã quy định thờng dân phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặcgây thiệt hại cho quân đội thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS
1.2.4 Căn cứ vào mối liên hệ giữa thẩm quyền của Tòa án với các chế định khác của TTHS
Trong TTHS các chế định pháp lý có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qualại lẫn nhau Sự hình thành, phát triển của một chế định này luôn tác động đến
Trang 28những chế định khác Là một chế định quan trọng của luật TTHS, thẩm quyềncủa TA có liên quan tới nhiều chế định khác Khi thay đổi thẩm quyền của TAcấp này hay cấp khác sẽ tác động đến những chế định đó Sự tác động này có thểthúc đẩy nhng cũng có thể hạn chế việc thực hiện các chế định khác, nh thẩmquyền điều tra, truy tố, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, sự
có mặt của những ngời tham gia tố tụng khi đợc triệu tập, thời hạn và hiệu quảkinh tế của các hoạt động tố tụng Vì thế, quy định thẩm quyền của TA các cấpphải cân nhắc kỹ xem có thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố cũng nh thựchiện các chế định khác hay không; xem khả năng của cơ quan điều tra, VKScùng cấp có thể thực hiện tốt nhiệm vụ điều tra, truy tố theo thẩm quyền xét xửcủa Tòa án hay không Nếu một vụ án thuộc thẩm quyền của TA cấp huyện nh-
ng quy định là thẩm quyền của TA cấp tỉnh thì vụ án đó sẽ thuộc thẩm quyền
điều tra của CQĐT cấp tỉnh và thẩm quyền truy tố của VKS cấp tỉnh Trờng hợpnày, việc thực hiện các hoạt động điều tra, kiểm sát điều tra sẽ khó khăn hơn.CQĐT cấp tỉnh phải tiến hành các hoạt động khám nghiệm hiện trờng, khám xét,thu giữ vật chứng ở một địa điểm cách xa trụ sở CQĐT rất nhiều lần so với việcCQĐT cấp huyện điều tra Việc triệu tập ngời làm chứng, ngời bị hại, ngời cóquyền lợi liên quan đến vụ án cũng khó khăn hơn Vì xa xôi, đi lại mất nhiềuthời gian nên có thể họ vắng mặt, CQĐT phải triệu tập đến lần thứ hai hoặcphải đến chỗ ở của họ để lấy lời khai Nếu vụ án đợc xét xử ở TA cấp huyệnthì bảo đảm đợc sự tham gia của những ngời này ngay từ giai đoạn điều tra.Tại đây họ sẽ trình bày lời khai, đa ra tài liệu, đồ vật, đa ra chứng cứ để bảo vệquyền lợi của mình Nếu không đồng ý với quyết định của cơ quan điều tra,VKS, họ có điều kiện khiếu nại ngay các quyết định đó Do vậy quyền, lợi íchhợp pháp của họ đợc đảm bảo hơn Quy định vụ án thuộc thẩm quyền xét xửcủa TA cấp tỉnh thì việc tham gia vào các hoạt động tố tụng của những ngờitham gia tố tụng sẽ khó khăn hơn Một số ngời do nghĩa vụ pháp lý phải thamgia vào vụ án nh ngời giám định, ngời làm chứng cũng có thể vắng mặt tạiphiên tòa Nếu TA cứ xét xử thì không bảo đảm sự thật vụ án, nếu hoãn phiên
Trang 29tòa thì kéo dài thời gian xét xử ảnh hởng đến quyền lợi của bị cáo và nhữngngời tham gia tố tụng khác.
Mặt khác, trong mối liên hệ giữa thẩm quyền của TA với các chế địnhkhác của TTHS cũng cần tính đến hiệu quả kinh tế của các hoạt động tố tụngkhi quy định thẩm quyền của TA các cấp sao cho vừa đạt đợc kết quả nhngchi phí lại thấp Có thể xem xét hiệu quả kinh tế của các hoạt động tố tụngtrên những vấn đề sau:
Thứ nhất, chi phí cho các hoạt động điều tra Nếu vụ án do CQĐT cấp
huyện điều tra thì ít tốn kém, nếu do CQĐT cấp tỉnh điều tra thì chi phí nhiều hơn
Ví dụ: khi tiến hành khám nghiệm hiện trờng, thực nghiệm điều tra, khám xét CQĐT, VKS cấp tỉnh phải đi xa, gặp nhiều khó khăn đặc biệt ở địa bàn miền núi;việc vận chuyển các đồ vật thu giữ về CQĐT; việc dẫn giải ngời phạm tội dọc đ-ờng đi tất cả đều phải chi phí lớn hơn nhiều so với CQĐT cấp huyện điều tra
Thứ hai, chi phí cho hoạt động xét xử Nếu vụ án đợc xét xử ở TA huyện,
chi phí sẽ thấp hơn khi xét xử ở TA tỉnh Vụ án xét xử ở TA huyện khi có khángcáo, kháng nghị sẽ do TA cấp tỉnh xét xử phúc thẩm Việc xét xử phúc thẩm cóthể đợc tiến hành tại trụ sở TA tỉnh đó hoặc đợc xét xử lu động tại địa bàn nơixảy ra tội phạm Khoảng cách từ tỉnh xuống nơi xảy ra tội phạm cũng không xanên chi phí đi lại tổ chức phiên tòa xét xử cũng không lớn Nhng vụ án này nếu
do TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm thì khi có kháng cáo hoặc kháng nghị sẽ doTòa phúc thẩm TANDTC xét xử phúc thẩm Hiện nay cả nớc chỉ có ba Tòa phúcthẩm (tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố (Tp.) Hồ Chí Minh) Mỗi Tòa phúcthẩm phải phụ trách nhiều tỉnh khác nhau Với phạm vi nh vậy, các Tòa phúcthẩm khi tổ chức xét xử lu động tại các địa phơng phải chi phí cho xét xử nhiềuhơn so với cấp tỉnh xét xử phúc thẩm
Thứ ba, chi phí cho việc đi lại của những ngời tham gia tố tụng, tổ chức
xã hội tham gia vào TTHS Vụ án đợc xét xử ở cấp dới sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho những ngời tham gia tố tụng tham gia phiên tòa Bởi vì họ không phải
Trang 30chi phí cho đi lại, chi phí cho ăn nghỉ nhiều Nếu vụ án xét xử ở TA tỉnh thìviệc đi lại, ăn nghỉ của họ thực sự khó khăn Họ phải chi phí một khoản tiềnkhông nhỏ cho việc đi lại, ăn nghỉ trong những ngày xét xử.
Từ những vấn đề trên đây cho thấy khi quy định thẩm quyền của TA cáccấp phải căn cứ vào mối liên hệ giữa thẩm quyền của TA với các chế định pháp
lý khác của TTHS, nhất là chế định thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra,
để đảm bảo sự phù hợp giữa cơ quan xét xử với cơ quan điều tra, truy tố
1.2.5 Căn cứ tính chất các thủ tục xét xử
Để giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, xét xử
đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật, pháp luật quy định nhiều thủ tục xét xử: Xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Yêu cầu với mỗi thủ tục xét xửkhác nhau nên tính chất của các thủ tục xét xử cũng khác nhau
Đối với xét xử sơ thẩm, với tính chất là xét xử lần đầu nên TA cấp sơ thẩm
đợc giải quyết toàn bộ mọi vấn đề của vụ án Đối với xét xử phúc thẩm, với tínhchất là TA cấp trên trực tiếp xét lại toàn bộ hay từng phần của vụ án mà bản ánhoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định nên
TA cấp phúc thẩm xem xét các vấn đề kháng cáo, kháng nghị đặt ra và xét xử lại
về nội dung vụ án Đối với xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm với tính chất là xét lạibản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhng có vi phạm pháp luật trongviệc xử lý vụ án hoặc có những tình tiết mới đợc phát hiện có thể làm thay đổi cơbản nội dung vụ án nên Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét việc ápdụng pháp luật, giải quyết vụ án của TA cấp dới có đúng hay không, có tình tiếtmới đợc phát hiện hay không để khắc phục các sai lầm, thiếu sót của cấp dới màkhông xét xử lại về nội dung vụ án
Tính chất của các thủ tục xét xử do pháp luật quy định thể hiện bản chất củathủ tục xét xử đó Nó là cơ sở để xác định nhiệm vụ, quyền hạn của một cấp xét xử.Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của một cấp xét xử không đợc trái với tính chất củacấp xét xử đó mà phải bao gồm các nội dung xác định rõ TA cấp đó đợc xét xử
Trang 31những vụ án nào, phạm vi (giới hạn) xét xử và quyền quyết định đến đâu Chính cácquyền năng này là nội dung thẩm quyền của TA các cấp Vì thế phải căn cứ vào tínhchất các thủ tục xét xử để quy định thẩm quyền của từng cấp xét xử cho phù hợp.
1.2.6 Căn cứ vào năng lực của đội ngũ cán bộ xét xử và cán bộ điều tra, truy tố cũng nh khả năng thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng
Để thực hiện nhiệm vụ "bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN,quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nớc, của tập thể, bảo vệ tínhmạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân", các TA phải thực sự
là ngời cầm cân nẩy mực, "trong công tác xử án phải công bằng liêm khiết trongsạch" [43, tr 188] Xã hội luôn đòi hỏi TA phải là biểu tợng của việc tuân thủHiến pháp và pháp luật, là nơi thể hiện bản chất của pháp luật, nơi mọi ngời tìmthấy lẽ phải, sự công bằng, tính nhân đạo của pháp luật Nơi ấy thiện, ác phải đợcphân biệt rõ ràng, cái thiện phải đợc bảo vệ, cái ác phải bị trừng trị; công lýkhông thể bị uốn cong Chỉ có đáp ứng đợc đòi hỏi đó TA mới thực sự là củadân, là TAND Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề và vinh quang của mình, TAphải có đội ngũ những ngời xét xử có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết trungthực, có kiến thức pháp lý, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần kiênquyết bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ công lý Đáp ứng yêu cầu trên, Pháp lệnh
về Thẩm phán và Hội thẩm TAND ngày 14/5/1993 quy định rõ về tiêu chuẩnchuyên môn phải có trình độ Cao đẳng TA hoặc Đại học Luật, có thời gian nhất
định làm công tác pháp luật mới đợc bổ nhiệm làm Thẩm phán Chỉ có một trình
độ chuyên môn nh thế ngời Thẩm phán, Hội thẩm TAND mới độc lập trong xét
xử, không chịu một tác động nào từ bên ngoài mà vẫn có niềm tin nội tâm để căn
cứ vào pháp luật ra những phán quyết đúng đắn Trình độ chuyên môn cùng vớinhững kinh nghiệm thu đợc từ thực tế xét xử tạo thành năng lực của ngời Thẩmphán Những vụ án càng nghiêm trọng, phức tạp càng đòi hỏi ngời xét xử phải cótrình độ, năng lực cao Không thể giao cho những Thẩm phán trình độ chuyênmôn thấp, xét xử những vụ án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng phức tạp
Trang 32hoặc xét xử theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm để sửa bản án của TAcấp dới Tuy vậy, không chỉ đơn thuần nhìn vào trình độ chuyên môn của độingũ Thẩm phán hiện tại mà phải thấy đợc sự phát triển của đội ngũ đó trong tơnglai Đó là khả năng của các cơ sở đào tạo luật có đáp ứng kịp yêu cầu đòi hỏi tiêuchuẩn hóa đội ngũ Thẩm phán hay không.
Theo thống kê của Bộ T pháp, tính đến ngày 01/6/2001, trong số Thẩmphán TAND địa phơng đợc Chủ tịch nớc bổ nhiệm là 3.200 ngời, vẫn còn 14%
"nợ" tiêu chuẩn về chuyên môn Trong số đó có nhiều đồng chí đang theo họccác lớp Đại học Luật tại chức Thời gian tới, những Thẩm phán còn "nợ" vềchuyên môn sẽ đợc đào tạo để có đủ tiêu chuẩn của Thẩm phán
Đối với các chức danh nh Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng đợc quy định
rõ trong Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự ngày 4/4/1989 của Hội đồng Nhà
n-ớc và Pháp lệnh về Kiểm sát viên ngày 12/5/1993 của ủy ban thờng vụ Quốc hội(UBTVQH)
Đối với Điều tra viên, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự quy định có babậc: cao cấp, trung cấp và sơ cấp; đối với Kiểm sát viên, Pháp lệnh về Kiểm sátviên VKSND cũng quy định ba bậc: Kiểm sát viên VKSNDTC, VKSQSTW,Kiểm sát viên VKSND tỉnh, VKS quân khu và Kiểm sát viên VKSND huyện,VKSQS tỉnh, khu vực ứng với mỗi bậc Điều tra viên, Kiểm sát viên có các tiêuchuẩn chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ công tác
Hiện nay, chúng ta đã có một đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên đông
đảo từ trung ơng đến địa phơng Việc tiêu chuẩn hóa các chức danh t pháp là
điều kiện cần thiết để các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ Cùngvới năng lực của đội ngũ cán bộ, khi quy định thẩm quyền của TA cũng còn phảixem xét đến cả điều kiện cơ sở vật chất của CQĐT, VKS, TA, tức là khả năngthực tế của các cơ quan này có thể hoàn thành nhiệm vụ đợc giao hay không Cáccơ quan tiến hành tố tụng sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ khi có đội ngũ cán bộ giỏi,
có đủ điều kiện về cơ sở vật chất để làm việc Vì thế không thể giao cho một cấp
Trang 33TA xét xử nhiều loại tội phạm nếu các TA cấp này quá nghèo nàn về cơ sở vậtchất: trụ sở làm việc nhỏ hẹp, không đủ phòng làm việc, phòng xử án, các trangthiết bị phục vụ cho công tác đều thiếu Tuy vậy, khi xem xét về khả năng thực tếcủa cơ quan tiến hành tố tụng cần phải có cách nhìn nhận toàn diện từ thực trạng
đến tơng lai gần của sự phát triển cả về năng lực cán bộ và cơ sở vật chất của cáccơ quan này để quy định thẩm quyền của TA các cấp cho phù hợp
1.2.7 Căn cứ vào cách tổ chức hệ thống cơ quan nhà nớc nói chung, các cơ quan t pháp nói riêng và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
Dựa theo sự phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ, cơ quan quyền lực vàhành chính đợc tổ chức từ Trung ơng đến cấp xã (phờng) Riêng hệ thống cơquan t pháp (TA, VKS và CQĐT) chỉ tổ chức đến cấp huyện, quận Theo cách tổchức này các TA bao gồm: TANDTC, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện Bêncạnh hệ thống TAND còn có các TAQS: TAQSTW, TAQS quân khu, TAQS khuvực Với cách tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, các cơ quan hành chínhNhà nớc từ Trung ơng đến địa phơng tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có quan
hệ chặt chẽ với nhau Xuất phát từ chức năng hoạt động quản lý, chấp hành và điềuhành, mà tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nớc đều đặtdới sự chỉ đạo của Chính phủ (ngời đứng đầu là Thủ tớng) Khác với tổ chức củacơ quan hành chính, các TA mặc dù cũng đợc tổ chức theo đơn vị hành chính, lãnhthổ, nhng quan hệ giữa TA cấp trên và TA cấp dới chỉ đợc xem xét dới góc độhành chính tổ chức còn về góc độ tố tụng thì mối quan hệ này là quan hệ theothẩm quyền do luật định TA cấp trên hớng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho TAcấp dới, nhng lại không có quyền ra lệnh cho TA cấp dới về việc xét xử đối vớimột vụ án cụ thể Theo quyền hạn của mình, các TA có toàn quyền xét xử và rabản án, quyết định một cách độc lập Các bản án hoặc quyết định này nếu bịkháng cáo, kháng nghị sẽ đợc xét xử lại theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩmhay tái thẩm Cách tổ chức và mối quan hệ giữa các TA nh trên đã đảm bảo chocác TA xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Trang 34Dựa vào cách tổ chức các cơ quan quyền lực, hành chính và t pháp theo
đơn vị hành chính lãnh thổ ở trên, nhà làm luật quy định thẩm quyền cho từngcấp TA Việc quy định này phù hợp với nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nớc hiệnnay của chúng ta BLTTHS đã căn cứ vào cách tổ chức đó để quy định thẩmquyền cho TA các cấp
Cùng với việc căn cứ vào cách tổ chức cơ quan nhà nớc theo địa giới hànhchính, việc phân định thẩm quyền của TA còn căn cứ vào thực tiễn điều tra, truy
tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng Thực tiễn này cho thấy khối lợngcông việc của các TA cấp tỉnh quá nhiều (vừa xét xử sơ thẩm, vừa xét xử phúcthẩm, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm) Vì thế, TA cấp tỉnh không đủ cán bộ đểgiải quyết hết công việc đợc giao, dẫn đến để án bị tồn đọng từ năm này sang nămkhác Còn đối với TAND cấp huyện, TAQS khu vực thì khả năng xét xử các vụ
án hình sự ngày càng tốt hơn Nếu nh trớc năm 1960, TA cấp huyện có ít Thẩmphán và chỉ xử những vụ hình sự nhỏ có tính chất vi cảnh, thì sau năm 1960 TA cấphuyện đã xét xử những vụ án hình sự có thể xử phạt 2 năm tù trở xuống và hiệnnay đợc xử cả tội nghiêm trọng có hình phạt từ 7 năm tù trở xuống Kết quả xét
xử trong thời gian qua cho thấy khả năng các TA này còn đảm nhiệm đợc khối ợng công việc nhiều hơn nữa Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử trên chính là cơ
l-sở để quy định thẩm quyền xét xử của TA cho chính xác
1.2.8 Căn cứ vào tình hình tội phạm, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ nhất định
Tình hình tội phạm là một hiện tợng xã hội có quan hệ chặt chẽ biệnchứng với các hiện tợng xã hội khác Cũng nh mọi hiện tợng xã hội, tình hình tộiphạm không ở trạng thái tĩnh tại, bất biến mà có thay đổi, biến động Những thay
đổi về tình hình kinh tế, xã hội dẫn đến thay đổi tơng ứng của tình hình tội phạm.Khi nền kinh tế của chúng ta chuyển từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tếthị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng XHCN thì nhiều tội phạmkhông còn tồn tại trên thực tế nhng nhiều tội phạm mới lại xuất hiện dẫn đến sự
Trang 35thay đổi về cơ cấu tội phạm của BLHS Sự biến đổi về tình hình tội phạm đó làmcho số lợng vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của các cấp TA cũng thay đổi, có thểtăng lên hoặc giảm đi Vì vậy, quy định thẩm quyền của TA các cấp phải căn cứvào diễn biến của tình hình tội phạm Căn cứ vào tình hình tội phạm và nhữngthay đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau mà yêucầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm cũng khác nhau Yêu cầu này thểhiện quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta trong đấu tranh với tội phạm để phục vụkịp thời cho sự nghiệp phát triển đất nớc Khi quy định thẩm quyền của TA cáccấp phải căn cứ vào các yêu cầu đó
Tất cả các căn cứ nêu trên có mối quan hệ biện chứng, liên quan mật thiếtvới nhau Các căn cứ đó có thể bổ sung cho nhau hoặc mâu thuẫn nhau Nếu xét
về hiệu quả của việc quy định thẩm quyền của TA các cấp thì vụ án đợc xét xử ở
TA cấp thấp hơn có điều kiện bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân, bảo
đảm tốt hơn các quyền của ngời tham gia tố tụng nh quyền có mặt tại phiên tòa,
đa ra các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ; việc chi phí chohoạt động tố tụng, chi phí của những ngời tham gia tố tụng ít hơn Nhng xét vềnăng lực của những ngời tiến hành tố tụng thì vụ án do TA cấp cao hơn xét xử
đảm bảo chính xác hơn vì theo các pháp lệnh quy định về chức danh Điều traviên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm TAND thì các cơ quan tiến hành tốtụng cấp cao hơn đòi hỏi ngời tiến hành tố tụng có năng lực cao hơn
Trong thời gian qua khi thảo luận về dự án luật tăng thẩm quyền xét xửhình sự cho TA cấp huyện tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X, đa số đại biểu quốchội đều quan tâm đến chất lợng xét xử, năng lực đội ngũ cán bộ, khả năng thực tếcủa TA cấp huyện, một số thì quan tâm tới hiệu quả của việc quy định thẩmquyền phải bảo đảm quyền dân chủ của công dân và hiệu quả kinh tế Sở dĩ dự ánluật này cha đợc Quốc hội thông qua là vì còn nhiều đại biểu Quốc hội bănkhoăn về chất lợng xét xử, năng lực cán bộ và khả năng thực tế của cơ quan tiếnhành tố tụng cấp huyện Nh vậy có thể thấy, yêu cầu về năng lực đội ngũ cán bộ,
Trang 36chất lợng xét xử và khả năng thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng có hoànthành nhiệm vụ đợc giao hay không là những căn cứ đợc nhà làm luật u tiên hơn
so với những căn cứ khác khi quy định thẩm quyền xét xử Theo chúng tôi, dùmột số căn cứ đợc coi là u tiên, nhng vẫn phải xem xét, cân nhắc toàn diện tất cảcác căn cứ để tìm ra sự kết hợp hợp lý, tìm ra phơng án tối u nhất trong hoạt độnglập pháp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể quy định thẩm quyền cho TA các cấp phùhợp
1.3 Thẩm quyền của TòA án các cấp trớc khi ban hành bộ luật tố tụng hình sự
Ra đời từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, gắn liền với sự ra đời và pháttriển của Nhà nớc ta từ Nhà nớc dân chủ nhân dân tới Nhà nớc XHCN, hơn 55năm qua các TA đã thực sự là công cụ hữu hiệu của Nhà nớc trong cuộc đấutranh chống và phòng ngừa tội phạm góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy vậy, thựctiễn xét xử cũng cho thấy nhiều bất cập trong việc quy định thẩm quyền của TAcác cấp Để góp phần khắc phục những bất cập đó, cần nghiên cứu một cách hệthống các quy định của pháp luật, cũng nh quá trình thực hiện thẩm quyền của
TA các cấp theo những giai đoạn lịch sử của đất nớc
1.3.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TA các cấp
1.3.1.1 Giai đoạn 1945 đến 1960
1- Thẩm quyền xét xử của TAQS và TA binh
Từ những ngày đầu mới giành đợc chính quyền, Nhà nớc ta đã phải thựchiện nhiệm vụ chống thù trong giặc ngoài để giữ vững thành quả của cách mạng.Nên cha có điều kiện ban hành ngay một hệ thống pháp luật để phục vụ kịp thờicho việc quản lý đất nớc Do đó các cơ quan nhà nớc đợc phép vẫn tạm thời ápdụng một số luật lệ cũ không trái với nguyên tắc độc lập của Nhà nớc Việt Nam
và chính thể Cộng hòa Tuy nhiên trong lĩnh vực t pháp, đấu tranh chống tội
Trang 37phạm thì không thể sử dụng luật lệ cũ, mà phải ban hành các văn bản pháp luậtmới [21, tr 35-36] Theo đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng đợc xây dựng đểtrấn áp sự phản kháng của kẻ thù nh trong tác phẩm "Nhà nớc và cách mạng"Lênin đã viết: "Giai cấp vô sản cần có chính quyền Nhà nớc, cần có tổ chức sứcmạnh tập trung, cần có tổ chức bạo lực để trấn áp sự phản kháng của bọn bóc lột
và lãnh đạo quảng đại quần chúng nhân dân " [83, tr 32] TA là một trongnhững cơ quan đợc tổ chức sớm nhất Chỉ một thời gian ngắn sau khi giành đợcchính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ngày 13/9/1945 và sau đó bổsung bằng Sắc lệnh 21 ngày 14/2/1946 thành lập các TAQS Theo Sắc lệnh ngày13/9/1945, các TAQS đợc thành lập trên phạm vi cả nớc gồm 9 TA Sau đó Hội
đồng Chính phủ ra Sắc lệnh ngày 29/9/1945 đặt thêm một TAQS nữa tại NhaTrang Đến ngày 28/12/1945 trớc tình hình đặc biệt tại phía Nam Trung Bộ cầnphải có thêm TAQS nên Hội đồng Chính phủ ra Sắc lệnh 77 thiết lập thêm mộtTAQS đặt tại Phan Thiết Mời một TAQS trên cả nớc đều có thẩm quyền xét xửtất cả ngời nào phạm vào một việc gì đó phơng hại đến nền độc lập của nớc ViệtNam Dân chủ Cộng hòa xảy ra trớc hoặc sau ngày 19/8/1945 Thực hiện thẩmquyền này các TAQS đã xét xử đợc nhiều loại tội phạm, trấn áp và trừng trị kịpthời mọi âm mu và hành động chống phá Cách mạng, chống phá chính quyềndân chủ nhân dân của bọn tội phạm, góp phần bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo
vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Thể hiện sự chuyên chính của Nhànớc trong đấu tranh chống tội phạm, phù hợp với tình hình đất nớc thời kỳ đó nêncác TAQS đều có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm Các quyết
định của TAQS có hiệu lực thi hành ngay, bị cáo không có quyền kháng cáo.Riêng bản án tử hình thì bị cáo có quyền đệ đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ângiảm
Sau khi thành lập hệ thống TAQS, để tăng cờng sức mạnh chiến đấu và giữnghiêm kỷ luật của quân đội cách mạng, ngày 23/8/1946 Bộ trởng Bộ Nội vụ thaymặt Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh 163 tổ chức TAbinh lâm thời đặt tại Hà Nội TA này có thẩm quyền xét xử các quân nhân phạm
Trang 38pháp bất cứ về tội gì, trừ những tội vi cảnh thuộc thẩm quyền các TA T pháp vànhững "thờng tội" thuộc quyền nghị phạt của các cấp chỉ huy quân đội; những nhânviên các ngành chuyên môn trong quân đội, những ngời làm việc trong quân đội nhcông nhân, chủ thầu khi phạm pháp có liên can đến quân đội; những ngời thuộc bất
cứ hạng nào mà phạm pháp ở trong các đồn trại, quân y viện, nhà đề lao binh hoặcmột cơ quan nào của quân đội, hoặc phạm pháp làm thiệt hại đến quân đội Về loạiviệc, TA binh lâm thời có thẩm quyền xét xử những tội thuộc về tiểu hình và đạihình, nếu bị cáo là những ngời thuộc đối tợng xét xử của TA binh Đối với các tội
có tính chất nhà binh, Sắc lệnh này cũng giao cho TA binh xét xử
Có thể thấy Sắc lệnh 163 là một trong những văn bản pháp luật đầu tiênquy định về tổ chức, thẩm quyền của các TA binh Đây là văn bản pháp luật làmtiền đề cho việc quy định tổ chức, thẩm quyền của các TAQS hiện nay
Qua nghiên cứu thẩm quyền của các TA binh giai đoạn 1945-1960, có thểthấy rằng trong giai đoạn này đã có những văn bản pháp luật quy định về tổ chức
và thẩm quyền của các TA binh làm tiền đề cho việc tổ chức và quy định thẩmquyền xét xử của các TAQS ngày nay Các TA binh sau năm 1960 đợc đổi tênthành TAQS, còn về thẩm quyền xét xử có nhiều điểm cho đến nay vẫn còn phùhợp Đó là:
- Các TA binh chỉ xét xử các vụ án hình sự;
- Xét xử quân nhân phạm bất kỳ tội gì, xét xử các nhân viên chuyên môntrong quân đội, xét xử những ngời khác gây thiệt hại cho quân đội hoặc phạm tộitrong các doanh trại, quân y viện, nơi quân đội quản lý;
- Xét xử bất kỳ ai phạm tội phản cách mạng nh phản quốc, làm gián điệp trong thời chiến;
- Xét xử theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm;
- Thẩm quyền xét xử của TA binh Trung ơng, TA binh khu đợc xác địnhtrên cơ sở có phân biệt chức vụ của ngời phạm tội
Trang 392- Thẩm quyền xét xử của TA t pháp và TA đặc biệt
Các TA t pháp đợc thành lập theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946.Theo Sắc lệnh này cách tổ chức TA t pháp và ngạch Thẩm phán trong cả nớclần đầu tiên đợc đề cập tới theo những nguyên tắc tiến bộ nh tổ chức TA biệtlập với cơ quan hành chính, bổ nhiệm Thẩm phán, có Phụ thẩm nhân dân thamgia xét xử v.v Thẩm quyền xét xử của các TA này đợc quy định trong Sắc lệnh51/SL ngày 17/4/1946 Cụ thể là:
- TA sơ cấp có thẩm quyền xử chung thẩm những án phạt bạc từ 0đ50 đến
9đ00; những án xử bồi thờng từ 150 đồng trở xuống Có quyền xét xử sơ thẩmnhững vụ án phạt giam từ 1 đến 5 ngày, những vụ án xử bồi thờng quá 150 đồnghoặc những việc xin bồi thờng quá số tiền ấy (Điều 5)
- TA đệ nhị cấp có thẩm quyền xét xử chung thẩm những án vi cảnh củaTòa sơ cấp bị kháng cáo; xét xử sơ thẩm những việc tiểu hình và đại hình Nhữngviệc tiểu hình là những việc có thể bị phạt tù từ 6 ngày đến 5 năm, hay phạt bạctrên 9 đồng (Điều 10)
- Tòa thợng thẩm có quyền xét xử những việc kháng cáo án sơ thẩm củacác TA đệ nhị cấp (Điều 13)
Thực hiện thẩm quyền trên đợc một thời gian, nhất là trong điều kiện cóchiến tranh thì thấy có những điểm cha phù hợp nên ngày 26/5/1948 Chủ tịchChính phủ ra Sắc lệnh số 185/SL về ấn định thẩm quyền các TA sơ cấp và đệnhị cấp, trên tinh thần mở rộng thẩm quyền của TA sơ cấp Nếu trớc đây TAsơ cấp chỉ đợc xử việc bồi thờng không quá 150 đồng thì nâng lên quá 200
đồng; nếu vì tình thế chiến tranh lại mất liên lạc với TA đệ nhị cấp thì chophép TA này giam cứu bị can đến 45 ngày nếu là việc tiểu hình hoặc đến 4tháng nếu là đại hình
Việc tổ chức các TA t pháp và tăng thẩm quyền cho các TA này trong thời
kỳ chiến tranh đã kịp thời trấn áp tội phạm góp phần bảo vệ chính quyền cáchmạng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Trớc tình hình của cuộc
Trang 40kháng chiến có nhiều chuyển biến, cần phải động viên toàn bộ nhân lực, vật lựccho sự thắng lợi hoàn toàn, Nhà nớc ta chủ trơng cải cách t pháp vào những năm
1950 Cùng với việc cải cách bộ máy các cơ quan hành chính nhà nớc, hệ thống
TA t pháp cũng đợc kiện toàn Sắc lệnh số 85 ngày 25/5/1950 quy định đổi têncác TA sơ cấp, đệ nhị cấp, thợng thẩm thành TAND huyện, TAND tỉnh, TANDliên khu Theo Sắc lệnh 150/SL ngày 22/11/1950 thì TAND liên khu là sự hợpnhất giữa Tòa Thợng thẩm và TAQS TAND liên khu có thẩm quyền xét xử phúcthẩm các bản án và quyết định sơ thẩm của TAND tỉnh hoặc thành phố và xét xửcác tội phản cách mạng
Thời kỳ đó có một số vùng còn tạm thời bị địch chiếm đóng nên cần phải
có TA có thẩm quyền rộng để xét xử kịp thời bọn tội phạm, do vậy ngày17/11/1950 Chủ tịch nớc ra Sắc lệnh số 157/SL tổ chức các TAND vùng tạm bịchiếm đóng Thẩm quyền của những TA này rộng hơn các TA vùng tự do Theo
Điều 3 của Sắc lệnh 157 thì "TAND vùng bị tạm chiếm có thẩm quyền củaTAND huyện, TAND tỉnh và TAQS" Việc mở rộng thẩm quyền cho TANDvùng tạm bị chiếm là cần thiết trong thời kỳ bấy giờ để tạo điều kiện cho các TAnày xét xử kịp thời mọi tội phạm [33, tr 7]
Cùng với việc thành lập các TAQS, TA binh là những TA đợc xét xử bất
kể ngời nào phạm tội có phơng hại đến nền độc lập của nớc nhà thì cũng cầnphải có những TA đặc biệt để xét xử những cán bộ, viên chức nhà nớc phạm tộihối lộ, tham nhũng, cửa quyền làm giảm uy tín của chính quyền cách mạng Vìthế một TA đặc biệt đã đợc thành lập đặt tại Hà Nội theo các Sắc lệnh số 223ngày 17/11/1946, số 64 ngày 23/11/1946 để xét xử các cán bộ, nhân viên nhà n-
ớc phạm các tội hối lộ, tham ô công quỹ Vào những năm 1953, để phục vụ chochính sách cải cách ruộng đất của Đảng, ngày 12/4/1953 các TAND đặc biệt đợcthành lập theo Sắc lệnh số 150/SL để xét xử những tên địa chủ cờng hào gian ácchống phá chính sách cải cách ruộng đất Các TA đặc biệt đợc thành lập ở từngthời kỳ đã phục vụ kịp thời cho yêu cầu chính trị, góp phần không nhỏ vào sựthắng lợi của cuộc kháng chiến trờng kỳ của dân tộc