- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây chè trung du - Tìm hiểu về hiệu quả kinh tế của cây chè trung du mang lại cho người dân - Phân tích thuận lợi khó và khó khăn tr
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể
Đề tài được xây dựng nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và thực trạng sản xuất chè tại địa phương
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây chè trung du
- Tìm hiểu về hiệu quả kinh tế của cây chè trung du mang lại cho người dân
- Phân tích thuận lợi khó và khó khăn trong việc phát triển cây chè trung du
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát triển chè trung du
Ý nghĩa của đề tài
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của chè trung du tại xã Minh Tiến
Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và thực trạng sản xuất chè trung du tại tại xã Minh Tiến huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế việc sản xuất chè trung du của hộ chuyên và hộ kiêm tại xã Minh Tiến
- Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của chè trung du xã Minh Tiến huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
Phương pháp nghiên cứu
Minh Tiến là một xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, xã nằm ở phía bắc của huyện Đại Từ Hoạt động sản xuất của người dân ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trong đó sản xuất chè là chủ yếu Diện tích chè trung du vẫn còn nhiều tại địa bàn xã là điều kiện tốt để phục vụ thực hiện đề tài
Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho xã về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và các đặc điểm khác của xã
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua các văn bản, sách báo, tạp chí, các nghị định, chỉ thị, nghị quyết, chính sách có liên quan đến vấn đề khuyến nông Các số liệu và báo cáo tổng kết của xã Minh Tiến
- Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên tại ban thống kê của xã Minh Tiến bằng phương pháp sao chép, truy cập Internet
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp sử dụng để có được các số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Minh Tiến, về diện tích, sản lượng và năng suất bình quân của chè trong địa bàn xã
* Thu thập số liệu sơ cấp
Thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kỳ tài liệu nào, người thu thập có được thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau như:
+ Quan sát Sử dụng trực giác quan sát thực tế đối tượng nghiên cứu như nhà ở (nhà cấp 4, nhà kiên cố, nhà tầng) và điều kiên kinh tế hộ của đối tượng nghiên cứu
+ Sử dụng bảng hỏi Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với bộ câu hổi có sẵn phỏng vấn các hộ nông dân chè trên địa bàn xã Với những thông tin như diện tích, năng suất, sản lượng, tình hình tiêu thụ, các khoản chi phí, giá tiêu thụ và một số các thông tin khác có liên quan
* Phương pháp lấy mẫu Điều tra chọn mẫu có nghĩa là không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị của tổng thể, mà chỉ điều tra trên 1 số đơn vị nhằm để tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí Từ những đặc điểm và tính chất của mẫu ta có thể suy ra được đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó Chọn mẫu điều tra: Mẫu được chọn ngẫu nhiên, không lặp lại Số phiếu điều tra 60 hộ gồm các xóm tại xã Minh Tiến
Các xóm đều có trồng chè, mỗi xóm chọn ngẫu nhiên các hộ để điều tra và suy rộng ra cả xóm
- Nội dung phiếu điều tra Phiếu điều tra có các thông tin chủ yếu như: nhân khẩu, lao động, tuổi, trình độ học vấn của các chủ hộ, các nguồn lực của nông hộ như ruộng đất, tư liệu sản xuất, vốn; tình hình sử dụng đất của hộ, tình hình sản xuất chè của hộ, chi phí để sản xuất, thu nhập của người sản xuất chè; đời sống vật chất, tinh thần của hộ; các kiến nghị và nhu cầu của hộ sản xuất chè… Những thông tin này được thể hiện bằng những câu hỏi cụ thể để họ dễ hiểu và trả lời chính xác và đầy đủ
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp linh hoạt với hộ nông dân, nói chuyện, tiếp cận một cách nhanh nhẹn, linh hoạt, thông qua các cây hỏi mở và phù hợp với tình hình thực tế, sử dụng thành thạo, ứng biến kịp thời với các câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào và bao nhiêu? Phỏng vấn số hộ điều tra đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp
+ Phương pháp phỏng vấn bán chính thức: Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của đề tài để lập bảng kiểm tra các nội dung chính cần điều tra, chọn mẫu điều tra Đối tượng phỏng vấn ở đây là các cán bộ UBND phụ trách các vấn đề kinh tế và nông nghiệp, các cơ sở thu mua chế biến, các chủ nhiệm hợp tác xã trồng chè
3.3.4 Phương pháp phân tích xử lý thông tin
- Phương pháp thống kê mô tả: các thông tin được tổng hợp thông kê lên các bảng biểu từ đó rút ra các nhận xét, so sánh các số liệu đã thông kê
3.3.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
Giá trị sản xuất nông nghiệp (GO): Toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ được sản xuất ra trong nông nghiệp trong một thời gian nhất định thường là 1 năm
Trong đó: Pi: đơn giá/sản phẩm
Qi: khối lượng sản phẩm thứ i
Tổng chi phí (TC): Là tổng số chi phí về vật chất, dịch vụ và lao dộng đã đầu tư cho việc tổ chức và tiến hành sản xuất trong năm
TC = IC + A (khấu hao) + CL (lđ gia đình và các vật chất tự có)
Chi phí trung gian (IC) : Là bộ phận cấu thành cảu tổng giá trị sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí thường xuyên về vật chất và dịch vụ cho sản xuất sản phẩm nông nghiệp Chi phí trung gian trong hoạt động sản xuất bao gồm chi phí vật chất trực tiếp và chi phí dịch vụ thuê
IC = chi phí vật chất + chi phí dịch vụ (mua hoặc thuê ngoài)
Giá trị tăng thêm hay giá trị gia tăng (VA): Là chỉ tiêu phản ánh những phần giá trị do lao động sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định Đó chính là một bộ phận của giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi chi phí trung gian
Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần túy bao gồm cả công lao động của gia đình tham gia sản xuất
Lợi nhuận (LN): Là hiệu số giữa doanh thu và chi phí
Tình hình sản xuất chè của xã Minh Tiến
4.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng
Tình hình sản xuất chè của xã minh tiến qua 3 năm được thể hiện qua bảng sau
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chè tại xã Minh Tiến từ năm 2015 – 2017
So sánh Tốc độ pt
Tổng diện tích chè KD ha 126 160 170 34 126 10 106,2 134
(Nguồn: UBND xã Minh Tiến năm 2017) Qua các năm cho thấy sản lượng chè không ngừng tăng lên theo từng năm Cụ thể sản lượng chè năm 2017 là 1820 tấn/ năm, sản lượng chè của năm 2017 là
1568 tấn/năm ít hơn năm 2018 là 252 tấn và năm 2017 cũng nhiều hơn năm
2015 là 623 tấn Năm 2017 là năm sản lượng chè tăng mạnh trong 3 năm qua
4.2.2 Chế biến và tiêu thụ chè xã Minh Tiến
Sau khi kết thúc giai đoạn chế biến là giai đoạn sản xuất, chế biến chè sẽ là giai đoạn tiêu thụ Sự đòi hỏi ngày càng cao của thị trường làm cho người trồng chè có những thay đổi nhất định để đáp ững những nhu cầu đó Cũng giống như bất cứ sản phẩm nào được sản xuất ra, chất lượng có tốt, giá cả phù hợp nhưng nếu không có tổ chức hệ thống phân phối đến tận tay người tiêu dùng thì hiệu quả kinh doanh sẽ không cao, ảnh hưởng trực tiếp đên thu nhập của người nông dân Nhất là những người dân làm chè Qua quá trình điều tra hộ cho thấy các hộ sản xuất chủ yếu là tại nhà Sau khi sản xuất xong sẽ được các lái buôn đến tận nhà để thu mua với số lượng lớn Như vậy quá trình tiêu thụ chè của xã từ người sản xuất chè đến tay người tiêu dùng đã qua 1 bước trung gian Điều này làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trồng chè.
Phân tích hiệu quả sản xuất chè cuả nhóm hộ nghiên cứu
4.3.1 Tình hình chung của hộ nghiên cứu Để nghiên cứu tình hình sản xuất chè trung du và chè cành của hộ dân trên địa bàn xã Minh Tiến, tôi tiến hành điều tra khảo sát 60 hộ trồng chè trên địa bàn 3 xóm là Tân hợp 1, Hòa Tiến 1, Minh hòa Và việc lựa chọn các hộ là ngẫu nhiên điều này giúp chúng ta đánh giá chung nhất, chính xác nhất tình hình sản xuất các loại chè tại địa phương Từ đó có những đánh giá cụ thể trong việc sản xuất chè trung du của các hộ Sau đây là thông tin chi tiết của các hộ được tôi tiến hành điều tra trong thời gian nghiên cứu
4.3.2 Một số thông tin chung về các hộ điều tra
Bảng 4.4 Một số thông tin chung về các hộ điều tra
Chỉ tiêu ĐVT Số lượng Bình quân
1 Số hộ điều tra Hộ 60 100%
2 Tuổi BQ của chủ hộ Năm 48.6
3 Trình độ học vấn của chủ hộ Chủ hộ 8.1
- Trung học cơ sở Chủ hộ 12 20%
- Trung học phổ thông Chủ hộ 22 36.66%
4 Số nhân khẩu/hộ Người 4.76
5 Số lao động bình quân/hộ L.Động 2,5
(Nguồn: kết quả tổng hợp điều tra 3/2018 )
Kết quả tổng hợp cho thấy độ tuổi trung bình của chủ hộ là 48,6 tuổi hầu hết ở độ tuổi này các chủ hộ đều đã ổn định cơ sở vật chất, có vốn sống và kinh nghiệm nhất định trong việc sản xuất chè
Về hoạt động sản xuất chè trung du của hộ điều tra có 50 hộ chuyên trồng chè chiếm 50% trong tổng số hộ điều tra Còn 30 hộ còn lại chiếm 50% là hộ kiêm là những hộ ngoài sản xuất chè trung du ra còn các hoạt động sản xuất khác như trồng chè mơi, trồng lúa,…
Về trình độ học vấn của chủ hộ còn thấp trình dộ trung bình của chủ hộ là 8.1.22 chủ hộ học hết cấp 1 chiếm 43,33% trong tổng số hộ điều tra Cấp 2 có 12/60 hộ chiếm 20% Cấp 3 có 22 hộ chiếm 36,67% Trình độ văn hóa ảnh hưởng đến đầu tư, phát triển kinh tế, sản xuất chè của hộ, khả năng tiêp cận khoa học trong sản xuất
Về tình hình nhân khẩu và lao động của hộ thì số nhân khẩu của hộ trung bình là 4,76 người/hộ Số lao động trung bình của hộ là 2,5 lao động đây là nguồn lao động ổn đinh đảm bảo cho sản xuất chè
4.3.3 Tình hình sử dụng đất của hộ điều tra
Bảng 4.5 Tình hình sử sụng đất của hộ điều tra
Tổng diện tích đất SX(sào) 232 302
1 Diện tích đất trồng lúa
Diện tích đất rừng (sào) 183 239 7,03
(Nguồn từ tổng hợp số liệu điều tra 2018) Bảng trên cho ta thấy diện tích đất tham gia sản xuất chè trung du bình quân của hộ là 5,95 sào/hộ, gấp 1,75 lần diện tích đất sản xuất của chè giống mới là 3,4 sào/hộ Qua phỏng vấn các hộ chuyên và các hộ kiêm trồng chè thì
5 năm trở lại đây chè trung du đang có xu hướng giảm xuông do người dân đang dần thay đổi giống chè trung du bằng giống chè mới
4.3.4 Trang thiết bị phục vụ sản xuất
Bảng 4.6 Tình hình trang thiết bị sản xuất của nhóm hộ nghiên cứu
Hộ chuyên Hộ kiêm BQ thiết bị/hộ
(Nguồn từ tổng hợp số liệu điều tra 2018) Bảng kê khai trang thiết bị cho thấy các hộ chuyên sản xuất chè cho ta thấy số máy sao cải tiến đã có là 100% Của các hộ kiêm là 80% là 24/30 hộ về máy vò chè mini các hộ chuyên là 22/30 hộ đã có máy vò chiếm 73,3% Các hộ kiêm là 60% là 18/30 hộ đã có máy vò chè mini Bình quân 90% hộ điều tra đều đã có máy sao cải tiến để phục vụ cho việc sao chè và 66,6% các hộ đã có máy vò chè mini
Các hộ chuyên đã có những đầu tư thiết bị cần thiết cho việc sản xuất chè của gia đình nâng cao hiệu quả của việc chế biến chè hơn các hộ kiêm
4.3.5 Chi phí đầu tư cho sản xuất chè của hộ a Chi phí đầu tư Đầu tư phân bón và các chi phí vật tư khác là một khâu rất quan trọng, nó tác động trực tiếp tới năng suất chè của nông hộ Nếu như chỉ biết khai thác mà không có chế độ chăm sóc, bảo vệ đất một cách thích hợp thì đất sẽ bị bạc mầu và thoái hóa một cách nhanh chóng
Bón phân là một trong những biện pháp chủ yếu làm tăng chất dinh dưỡng cho đất tốt hơn, nếu đầu tư một lượng phân bón hợp lý trong mỗi giai đoạn phát triển của cây chè, ngoài tác dụng bảo vệ đất nó còn làm cho năng suất chè ngày càng tăng cao
Chi phí đầu tư của hộ điều tra được thể hiện qua bảng sau
Bảng: 4.7 Chi phí đầu tư cho sản xuất của hộ điều tra trên 1sao chè trung du Đơn vị tính: 1000đồng
SL Thành tiền SL Thành tiền
1 Chi phí phân đạm (kg)
2 Chi phí phân ka li (kg)
II Giá trị lđ thuê ngoài
(Nguồn từ tổng hợp số liệu Minh Tiến – 2018) Bón phân cho chè trung du người dân sử dụng chủ yếu là phân NPK
Vì phân này kích thích búp thường sau mỗi lứa các hộ bón đạm và kali cho chè Qua phỏng vấn cho thấy người dân không sử dụng hữu cơ và phân lân cho việc bón phân cho chè
Trong việc sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ trong sản xuất chè cụ thể là thuốc trừ sâu được phun 2 bình/sào/1lứa thuốc trừ cỏ được phun 1 năm 2 lần và 2 bình cho 1 lần phun/sào Việc phun thuốc đảm bảo cho quá trình phát triền và năng xuất của chè trung du được ổn đinh
Chi phí trung gian của các hộ sản xuất chè gom các chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ Chi phí trung gian bình quân của hộ chuyên là 2.495.000đ/hộ chi phí chung gian của hộ kiêm là 2.355.000đ/hộ
Về khấu hao tài sản, thiết bị máy móc Qua phỏng vấn cho thấy thiết bị máy móc hao mòn rất nhanh đặc biệt là máy sao cải tiến do phải chịu nhiệt độ cao trong việc chế biến chè b Chi phí lao động trong sản xuất chè của hộ
Lao động trong các hộ điều tra là lao động gia đình bỏ ra, hoặc làm việc theo hình thức hoán đổi công giữa các hộ gia đình cùng sản xuất chè Có nghĩa đến khi được thu hoạch thì một số người sẽ tập trung lại để hái chè cho một gia đình sau đó sẽ đến hái lần lượt cho các hộ gia đình đã đến giúp gia đình nhà mình có sử dụng lao động thuê ngoài nhưng không nhiều Các hộ gia đình chỉ thuê lao động khi vào chính vụ Như vậy vừa tiết kiệm được chi phí cho sản xuất lại gắn bó tình đoàn kết giữa các hộ gia đình với nhau
Bảng 4.8: Chi phí lao động bình quân của một sào chè trung du của hộ điêu tra
So sánh hộ chuyên/ hộ kiêm(lần)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2018)
4.3.6 Kết quả và hiệu quả sản xuất chè của hộ
4.3.6.1 Tình hình sản xuất chè của hộ
Bảng 4 9 Tình hình sản xuất chè của hộ năm 2017
Chỉ tiêu Đơn vị Hộ chuyên
4 Giá trị sản xuất Đồng 12.600 11.760 12.180
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
Trong sản xuất chè hiện nay có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng xuất, sản lượng, chất lượng của sản phẩm, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trồng chè
+ Đất: Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt với cây chè, no ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu hoặc thành phẩm Muốn chè có vị ngon chè nhất định phải trồng ở vùng đồi núi cao.Minh Tiến là 1 xã có điều kiện tự nhiên đất thích hợp cho việc trồng chè
+ Khí hậu: Chè thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau Chè sinh trưởng mạnh ở các vùng có lượng mưa 1000-4000mm và thích hợp nhất là 1500-2000mm , độ ẩm không khí từ 70-90, độ ẩm của đât 70-80 Lượng mưa bình quân 1000mm trên tháng chè phát triển tốt
+ Nhiệt độ trung bình để chè sinh trưởng phát triển tốt 22-28 0 c Mùa đông chè ngưng phát triển và phát triển vào mùa xuân Tùy thuộc vào giống và khả năng chống chịu của các loại chè khác nhau
+ Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất , chất lượng chè, nguyên liệu, và thành phẩm Có thể nói giống là tiền đề của năng xuất Hiện nay các giống chè mới cho năng suất rất cao nên các giống chè chịu hạn tốt như chè trung du đang bị các hộ nông dân trồng chè đổi mới để tăng hiệu quả kinh tế
+ Áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuât chè cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất chè Ví dụ như áp dụng các tiến bộ khoa học như tưới nước tự động cho chè, bón phân đúng khoa học, đốn chè, kĩ thuật hái chè, sao chè… ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm
+ Thị trường là yếu tố quan trọng có tính quyết định đến sự tồn tại của sản xuất chè, xuất khẩu chè Khi có thị trường tiêu thụ ngành chè mới phát triển đi lên và giúp cải thiện đời sống được.
Khó khăn và thuận lợi trong sản xuất chè của hộ
Từ khảo sát thực tế đến kêt quả phân tích trên các hộ tại địa bàn, từ ý kiến của ban lãnh đạo địa phương và người dân thông qua phóng vấn Cho thấy trên địa bàn bên cạnh những thuận lợi thì có những khó khăn nhất định Được thể hiện thông qua điều tra, phóng vấn người dân như sau:
Bảng 4.12 Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất chè của hộ
Thuận lợi Bình thường Khó khăn
(Nguồn từ tổng hợp số liệu điều tra Minh Tiến 2018) Qua bảng số liệu ta thấy các khó khăn và thuận lợi của hộ không giống nhau cụ thể như sau:
+ Về vốn: Qua nghiên cứu thực tế cho thấy các hộ nông dân trồng chè thiếu vốn sản xuất hay còn gặp khó khăn về vốn chiếm 66,6 % Cụ thể là những hộ gia đình trồng chè trung du có tuổi chè trên 20 năm rất muốn đc cải tạo lại hay những hộ nông dân rất muốn mở rộng diện tích chè cành nhưng lại thiếu vốn.chỉ có một số ít các hộ là không gặp khó khăn về vốn ( các hộ thuận lợi và bình thường về vốn chiếm 16,7 %,) Các hộ ít thiếu vốn là do sử dụng chủ yếu nguồn vốn của gia đình, thu hoạch của lứa này là nguồn vốn đầu tư cho lứa sau, do đó không gặp khó khăn
+ Về thị trường tiêu thụ: Khó khăn trong tiêu thụ chè chiếm 50%, hộ trung bình chiếm 25% và hộ thuận lợi cũng chiếm 25% Do chè của xã chưa có thương hiệu nên thường bị ép giá Do dó giá cả của sản phẩm chè không cao còn bấp bênh, không ổn định tùy vào từng mùa trong năm
+ Về kĩ thuật: do trình độ sản xuất của các hộ khác nhau, khi sản xuất các hộ có kĩ thuật sản xuất là khác nhau Cụ thể hộ thuận lợi kĩ thuật chiếm 33,3% và hộ trung bình về kĩ thuật chiếm 50% hộ khó khăn là 16,7% Cho thấy các hộ có chú ý kĩ thuật sản xuất chè của gia đình mình và tích lũy kinh nghiệp học hỏi kĩ thuật qua quá trình sản xuất
+ Về sâu bệnh: Sâu bệnh là một vấn đề lớn trong sản xuất chè Mức độ sâu bệnh quyết định năng suất, chất lượng của sản phẩm chè Ở bất cứ loại cây trồng nào sâu bệnh đều sinh trưởng và phát triển Chè cũng vậy, cụ thể không có hộ nào có thuận lợi trong về đề sâu bệnh ở chè Trong khi đó số hộ gặp khó khăn lại chiếm 80% Và 20% số hộ kiểm soát được phần nào sâu bệnh và thiệt hại cho chè
+ Về chính sách: chính sách của nhà nước chủ yếu giành cho hộ sản xuất còn gặp khó khăn về kinh tế chung Đồng thời, nhà nước có chính sách miễn thuế nông nghiệp cho người dân Do đó về chính sách của nhà nước đang tác động tích cực đến người dân trồng chè
+ Công tác khuyến nông: công tác khuyến nông tại địa phương được triển khai trong một bộ phận người dân trồng chè Số lượng còn lại người dân ít quan tâm đến sự chuyển giao kĩ thuật và giống của công tác khuyến nông
Do đó khuyến nông ít ảnh hưởng đến sản xuất hầu hết các hộ dân
+ Nước: trong sản xuất chè, thì nước là vấn đề quan trọng trong sản xuất chè Do điều kiện tự nhiên của xã, sự ưu đãi cua thiên nhiên Nên vấn đề nước hầu hết các hộ không gặp khó khăn Bên cạnh đó một số hộ do cách xa hệ thống kênh mương và có diện tích chè nằm trên đồi núi cao, xa nguồn nước Do đó vấn đề thiếu nước vào mùa khô vẫn xảy ra ở một số hộ
Qua một số ý kiến của hộ điều tra, cùng với sự quan sát tìm hiểu tình hình chung tại địa phương Cho thấy bên cạnh nhưng thuận lợi thì địa phương có khó khăn nhất định Từ những khó khăn thuận lợi trong mỗi vấn đề cụ thể của các hộ và qua phân tích, đánh giá, so sánh thực trạng sản xuất chè cành và chè trung du tại xã Tân Cương có thể rút ra kết luận như sau:
+ Được sự quan tâm của đảng và nhà nước trong việc định hướng phát triển sản xuất chè
+ Người dân đã biết lấy người tiêu dùng làm mục tiêu cho việc phát triển sản xuất chè của gia đình mình Nghĩa là, ngoài việc nâng cao năng suất của cây chè thì người dân họ chú trọng chất lượng sản phẩm chè của gia đình
+ Do địa hình, tập quán canh tác mà xã có nhiều sản phẩm chè khác nhau đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng mở rộng Với các địa hình đồi núi thấp, người dân biết tập dụng giống chè trung du vốn có Cải tạo chăm sóc nhằm nâng cao năng suất chất lượng
+ Có nguồn lao động có kinh nghiệm sản xuất chè từ lâu đời này theo phương thức “cha truyền con nối” đã tạo nên sản phẩm ngày một tốt hơn
+ Với ý trí vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình Nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn chuyển đổi giống chè (từ chè trung du già cỗi sang trồng chè cành), mở rộng diện tích của gia đình mình Đồng thời tích cực áp dụng khoa học kĩ thuật mới vào tất cả các khâu Đã làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm chè so với việc sản xuất chè trước đây nhiều lần
+ Người dân sống đoàn kết học hỏi lẫn nhau trong việc sản xuất
+ Hàng năm Nhà nước hỗ trợ giống và được tham gia các lớp tập huấn để học hỏi kinh nghiệm sản xuất chè
Bên cạnh những thuận lợi trên, việc sản xuất các loại chè của xã Minh Tiến vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn
+ Điều kiện thời tiết khí hậu bất thuận, mùa đông khô và lạnh làm cho năng xuất chè giảm mạnh Đặc biệt, chè cành gần như không cho thu hoạch