1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp định hướng và những con đường tiếp cận 50

145 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1 Lý do chọn đề tài Đối với sinh viên mới tốt nghiệp ra trường tìm được một việc làm ưng ýkhông phải là một công việc dễ dàng Hiện tượng thất nghiệp khá phổ biếnkhiến cho nhiều sin

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGHỀ CỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP: ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG TIẾP CẬN

(Qua nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học

Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Dân lập Phương Đông)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 2

Dự định về nơi làm việc phân theo khu vực sinhsống của gia đình

Dự định về nơi làm việc phân theo giới tínhKhu vực kinh tế mong muốn làm việc phân theothành phần gia đình

Khu vực kinh tế làm việc phân theo dự định về nơilàm việc

Định hướng về môi trường làm việc phân theo dựđịnh về khu vực kinh tế mong muốn làm việc

Sự năng động của sinh viên trong tiếp cận việc làmphân theo giới tính

Cách thức tiếp cận việc làm thông qua gia đình phântheo thành phần gia đình

Cách thức tiếp cận việc làm thông qua gia đình phântheo khu vực kinh tế mong muốn làm việc

44

4549

Trang 4

Sinh viên và những dự định sau khi ra trườngĐối tượng định hướng việc làm cho sinh viênĐịnh hướng về địa điểm làm việc

Khu vực kinh tế mong muốn làm việcĐịnh hướng về môi trường làm việcCác con đường tiếp cận thông tin về việc làm

Lý do sinh viên không tìm hiểu về việc làm

Sự năng động của sinh viên trong tiếp cận việc làm

Tỷ lệ sinh viên tiếp cận việc làm thông qua gia đình

Tỷ lệ sinh viên tiếp cận việc làm thông qua bạn bèVai trò của nhà trường trong việc định hướng việclàm cho sinh viên

Những hoạt động giúp sinh viên tiếp cận việc làmcủa nhà trường

Mức độ tham gia vào các hoạt động của nhà trườngĐánh giá về các hoạt động giúp sinh viên tiếp cậnviệc làm của nhà trường

Tỷ lệ sinh viên tiếp cận việc làm thông qua các kênhthông tin đại chúng

Trang

282933

3439424752586061646870

71

7273

75

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với sinh viên mới tốt nghiệp ra trường tìm được một việc làm ưng ýkhông phải là một công việc dễ dàng Hiện tượng thất nghiệp khá phổ biếnkhiến cho nhiều sinh viên phải chấp nhận hoặc chủ động làm những công việckhông liên quan đến chuyên ngành được đào tạo Bên cạnh đó, không ít sinhviên rơi vào vòng xoáy “nhảy việc” và không biết đến khi nào mới tìm đượcbến đỗ ổn định… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên như khủnghoảng kinh tế hay sinh viên chưa tìm được công việc thích hợp… Một nguyênnhân khác đóng vai trò không kém phần quan trọng là sinh viên mới ra trường

có kiến thức nhưng lại thiếu kỹ năng tìm việc

Việc chọn nghề không chỉ quan trọng đối với từng cá nhân, gia đình màcòn liên quan đến lợi ích xã hội Bởi một cá nhân chỉ có thể có một cuộc sốngtốt đẹp, đóng góp được nhiều nhất cho gia đình, xã hội nếu họ được làm việctrong một môi trường yêu thích, phù hợp với năng lực của bản thân Chính vìvậy, việc định hướng nghề nghiệp không chỉ quan trọng đối với những họcsinh ở bậc học phổ thông mà hoạt động này đối với sinh viên cũng rất quantrọng Có một nghịch lý là học sinh phổ thông rất vất vả để có thể chen chânđược vào cổng trưởng đại học với tỷ lệ cạnh tranh rất cao nhưng sau khi tốtnghiệp có một số lượng không nhỏ trong số đó gặp khó khăn trong quá trìnhtìm kiếm việc làm Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là

họ đã không có một định hướng nghề nghiệp và các cách tiếp cận nghề đúngđắn và phù hợp Bên cạnh việc chương trình đào tạo của các trường đại họccòn có những điểm bất cập so với yêu cầu thực tế thì những sinh viên mới ratrường còn thiếu kỹ năng làm việc, kỹ năng hoạch định mục tiêu định hướngnghề nghiệp cho mình một cách rõ ràng, đánh giá đúng bản thân để có thể đề

ra những cách thức tiếp cận nghề một cách phù hợp

Trang 6

Việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên là một quá trình liên tục vàkéo dài cho đến những năm cuối cùng của bậc đại học Nhưng hiện nay không

ít sinh viên coi nhẹ việc định hướng nghề nghiệp nên sau khi tốt nghiệp, họmất phương hướng về nghề nghiệp, không tự tin về bản thân và không có kỹnăng xin việc Không chỉ bản thân sinh viên mà gia đình, nhà trường cũngchưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc định hướng việc làm và cáccon đường tiếp cận việc làm cho sinh viên ngay khi họ còn ngồi trong ghế nhàtrường

Việc chọn nghề không chỉ liên quan đến sở thích mà còn phụ thuộc vàonăng lực, phẩm chất, cá tính… Có những sinh viên chỉ mong muốn có đượcmột công việc để có tiền lương nuôi sống bản thân chấm dứt tình trạng sốngnhờ vào bố mẹ, có sinh viên lại lấy thu nhập làm thước đo tìm việc làm…Vậy sinh viên hiện nay đã có những định hướng như thế nào về nghềnghiệp trong tương lai? Liệu họ đã có những phương hướng tiếp cận nào đề

có thể tìm được công việc như ý muốn sau khi ra trường? Sinh viên ở khốitrường công lập và dân lập có khác nhau trong những định hướng và cáchthức tiếp cận việc làm trong tương lai hay không? Để trả lời cho những câu

hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp: định hướng và những con đường tiếp cận” Nghiên cứu của chúng

tôi được tiến hành tại hai trường trên địa bàn thành phố Hà Nội là Trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội và Trường Đạihọc Dân lập Phương Đông

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 1 Ý nghĩa khoa học

Để tài góp phần ứng dụng một số lí thuyết xã hội học trong việc lí giảiviệc định hướng nghề và những con đường tiếp cận của sinh viên sau khi ratrường Từ trước đến nay, có khá nhiều nghiên cứu về hướng nghiệp khi sinh

Trang 7

viên đang ngồi trên ghế nhà trường Nhưng tìm hiểu hướng nghiệp và nhữngcon đường tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên là một khoảng trống trongnghiên cứu Do vậy, đề tài này sẽ bổ sung cho “khoảng trống” đó

2 2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài nhắm đến việc tìm hiểu về những địnhhướng và cách thức tiếp cận việc làm trong tương lai của sinh viên hai trườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại họcDân lập Phương Đông Cũng như nghiên cứu những ảnh hưởng của các yếu

tố như gia đình, bạn bè, nhà trường, các đoàn thể xã hội, các phương tiệnthông tin đại chúng… đến những định hướng đó

Với những kết quả nghiên cứu thực địa, tác giả cũng mong muốn đưa ranhững khuyến nghị đối với vấn đề này để có một cái nhìn đúng đắn về mộtvấn đề liên quan đến sinh viên hiện nay

3 Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tượng nghiên cứu

Định hướng nghề và những con đường tiếp cận nghề nghiệp của sinhviên sau khi ra trường

Trang 8

Đồng thời, đề tài cũng nhấn mạnh đến năng lực hội nhập thị trường lao độngcủa đối tượng này thông qua tìm hiểu những hành trình đến với nghề của họ

3 3 2 Phạm vi không gian

Nghiên cứu này được tiến hành trong phạm vi không gian là hai trườngđại học trên địa bàn thành phố Hà Nội: Trường Đại học Khoa học Xã hội vàNhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Dân lập PhươngĐông Hai trường đại học này được tác giả lựa chọn để đại diện cho hai khốitrường khác nhau là khối trường công lập và khối trường dân lập

đó, đề tài góp phần đề ra những biện pháp giúp sinh viên có thể thuận lợi hơntrong quá trình tìm việc làm

5 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

 Những định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp (vềđịa điểm làm việc, khu vực kinh tế làm việc, môi trường làm việc) Một

số nhân tố tác động định hướng nghề nghiệp của sinh viên

 Những con đường tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra

trường Sự tác động của các yếu tố thành phần gia đình, khu vực sinhsống của gia đình đến vấn đề này

Trang 9

6 Phương pháp nghiên cứu

6 1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp bao gồm các

công trình nghiên cứu, bài tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Phương pháp này vừa giúp nhóm nghiên cứu có được những hìnhdung ban

đầu về hiện trạng nghiên cứu trong lĩnh vực này và là những tư liệu quan

trọng để góp phần so sánh, diễn giải và làm sâu sắc thêm kết quả nghiên cứu

6 3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi phỏng vấn sâu 16 sinhviên thuộc

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội vàTrường Đại học Dân lập Phương Đông để tìm hiểu về những định

Trang 10

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Trang 11

Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích có được những thông tinsâu hơn, góp phần làm rõ hơn kết quả định lượng từ phương pháp trưng cầu ýkiến bằng bảng hỏi tự ghi

6 4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi tự ghi

Phiếu trưng cầu ý kiến sẽ được sử dụng nhằm mục đích thu thập nhữngthông tin định lượng cho đề tài nghiên cứu Mẫu nghiên cứu được lựa chọntheo phương pháp ngẫu nhiên, có cân nhắc đến một số yếu tố như đơn vịtrường học, thành phần gia đình

Chúng tôi đã tiến hành phát 300 phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó mỗitrường là 150 phiếu Kết quả chúng tôi đã thu lại được 231 phiếu với cơ cấumẫu như sau:

Trang 12

 Giới tính: (đơn vị: %)

33

Nam Nữ 67

 Khu vực sinh sống của gia đình: (đơn vị: %)

Trang 13

7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

7 1 Giả thuyết nghiên cứu

Sinh viên có xu hướng tìm việc làm tại Hà Nội, trong cơ quan nhà

nước hoặc khu vực có yếu tố nước ngoài và hướng đến một môi trường

làm việc ổn định, có thu nhập cao Internet là nơi cung cấp nhiều thông tin liên quan đến việc làm cho

sinh viên nhưng định hướng việc làm của họ chịu ảnh hưởng nhiều nhất

là từ gia đình Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủyếu đã

có sự định hướng việc làm từ trước khi vào trường trong khi phần lớn

sinh viên Trường Đại học Dân lập Phương Đông lại chỉ có sự định

hướng sau khi đã vào trường Trong các con đường tiếp cận việc làm, sinh viên đánh giá cao sự nỗ

lực của bản thân và sự giúp đỡ từ gia đình

Trang 14

14

Trang 15

của sinh viên:

+ Về địa điểm làm việc

+ Về thu nhập

+ Về khu vực làm việc

+ Về môi trường làm việc

Các môi trường xã hội hóa: gia đình,nhà trường, bạn bè, truyền thông đại

chúng

Sinh viên

Những con đường tiếp cậnnghề của sinh viên:+ Sự nỗ lực của bản thân+ Sự giúp đỡ từ gia đình+ Bạn bè

+ Nhà trường+ Kênh thông tin đại chúng

Trang 16

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vựcthành thị trong cả nước năm 2009 là 4,6% Tỷ lệ này tuy đã giảm so với cácnăm trước đó nhưng vẫn là một con số cao làm đau đầu không chỉ Nhà nước

mà toàn xã hội Trong đó tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên mới ra trường chiếmmột con số không nhỏ Để hạn chế tình trạng này, nhiều biện pháp đã đượcthực hiện như giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, giúp cho họcsinh có một lựa chọn phù hợp cho tương lai Tuy nhiên, điều này lại chưađược thực hiện một cách triệt để ở bậc đại học Sinh viên khi học trên cácgiảng đường đã được cung cấp một khối lượng lớn về kiến thức nhưng lạikhông được dạy cách tìm việc làm Thực tế, có một số lượng không nhỏ sinhviên sau khi ra trường không tìm được việc làm do thiếu những kỹ năng mềmliên quan đến việc chọn ngành nghề Quan tâm đến vấn đề này, đã có rấtnhiều nghiên cứu xã hội học quan tâm đến định hướng nghề của sinh viên saukhi ra trường

Luận văn thạc sỹ năm 2009 “Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội” (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) của tác giả Phạm

Huy Cường tập trung vào khách thể nghiên cứu là nhóm sinh viên năm cuốiđại học vì tác giả cho rằng nhóm này đã có một quá trình đào tạo, tìm hiểu vềnghề nghiệp và có tâm thế trong việc tìm việc làm Đây là một nghiên cứuđịnh lượng với dung lượng mẫu là 250 sinh viên Nghiên cứu cho thấy rằngsinh viên hầu như đã có định hướng nghề nghiệp nhưng định hướng lại thiếutính cụ thể cũng như thực tế Khi tìm việc, sinh viên quan tâm nhất đến tính

Trang 17

ổn định và thu nhập Bên cạnh đó, đề tài cũng đưa ra và phân tích một số yếu

tố tác động đến định hướng nghề của sinh viên như gia đình, bạn bè, truyềnthông đại chúng, môi trường học tập, môi trường nghề nghiệp

Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương với luận văn thạc sỹ năm 2009 về đề

tài “Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp trường đại học Đông Đô) là một nghiên cứu định lượng với 262 mẫu là sinh viên thuộc trường đại

học dân lập Nghiên cứu chỉ ra rằng định kiến xã hội đối với sinh viên cáctrường ngoài công lập đã có ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần học tập cũngnhư đến việc chọn nghề và tìm việc của sinh viên trong trường

Trong nghiên cứu về “Định hướng chọn nghề và nơi làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên hiện nay” thông qua việc nghiên cứu 750 sinh viên

thuộc 12 trường đại học của miền Bắc vào năm 1997, tác giả Phạm Tất Thắngcho rằng sự định hướng nghề nghiệp của sinh viên là cảm tính, không nhậnđược sự định hướng của các thiết chế xã hội Định hướng của sinh viên về giátrị nghề nghiệp và nơi làm việc có sự thay đổi trong quá trình học tập do sựtác động của nhiều yếu tố như: nhận thức tăng do được cung cấp thêm trithức, do sự biến đổi của môi trường sống (đối với những sinh viên từ nôngthôn ra thành thị)…

Đề tài luận văn thạc sỹ khoa học Xã hội học năm 1997 của tác giả

Trương An Quốc quan tâm đến vấn đề “Bước đầu tìm hiểu về giá trị việc làm trong sinh viên và thanh niên Hà Nội” Trong nghiên cứu này tác giả đã đề

cập đến vấn đề việc làm, xu thế biến đổi cũng như đề cập đến giá trị của việclàm thời kinh tế thị trường Tác giả chỉ ra rằng đã có sự thay đổi trong việcđịnh hướng về khu vực làm việc, trình độ học vấn của lao động ngoài quốcdoanh đã tăng lên đáng kể từ năm 1990 Có được điều này là do những người

Trang 18

có trình độ đại học đã không chỉ tham gia vào thành phần kinh tế quốc doanh

mà đã tự nguyện và tự nhiên vào tất cả các thành phần kinh tế

Nghiên cứu về “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” của thạc sỹ Nguyễn Thị Như Trang đã lựa chọn

khách thể nghiên cứu là nhóm sinh viên năm 2 và năm 3 Từ đó đi sâu phântích, tìm hiểu thực trạng định hướng nghề nghiệp trong tương quan với địnhhướng chuyên môn cũng như đánh giá hai yếu tố tác động đến định hướngnghề nghiệp của sinh viên là gia đình và trường học Theo đó, tuy gia đình ít

có vai trò trong việc lựa chọn chuyên môn và định hướng giá trị việc làmnhưng lại có vai trò đáng kể trong việc duy trì hướng chuyên môn của sinhviên Nhà trường cũng có tác động nhất định đến định hướng nghề nghiệp củasinh viên nhưng sự tác động đó còn ở mức độ hạn chế so với đòi hỏi của thựctiễn

Đề tài “Định hướng giá trị của sinh viên - con em cán bộ khoa học” của

PGS TS Vũ Hào Quang quan tâm đến mối liên quan giữa các khía cạnh nhưgiới tính, đặc điểm xã hội, nguồn gốc gia đình, quan hệ xã hội của sinh viênđến định hướng và cơ hội việc làm của sinh viên, trong đó tác giả đặc biệtquan tâm đến đối tượng là con em của cán bộ làm khoa học Kết quả nghiêncứu cho thấy phẩm chất của cá nhân được hình thành trong hệ thống giá trịnhất định, đó là sự tác động của môi trường xã hội mà cá nhân đó tham gia Định hướng giá trị của cá nhân chịu sự tác động sâu sắc bởi đặc điểm xã hộicủa gia đình

Như vậy, đã có không ít những nghiên cứu về vấn đề định hướng việclàm của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng Tuy nhiên, những đề tàinày mới chỉ quan tâm đến định hướng nghề và giá trị nghề của sinh viên màchưa có sự quan tâm sâu sắc đến các con đường, các cách thức mà sinh viên

đã đề ra hoặc dự định sẽ sử dụng để có thể tìm kiếm một việc làm phù hợp

Trang 19

trong tương lai Đây là vấn đề mà chúng tôi sẽ quan tâm nghiên cứu trong đềtài này

1 2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là một đơn vị thành viêncủa Đại học Quốc gia Hà Nội Trong hơn 60 năm xây dựng và phát triển,trường luôn được coi là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học xã hội nhânvăn lớn nhất của cả nước Nhà trường đang tham gia đào tạo ở 18 ngành học,bao gồm: Báo chí - Truyền thông, Chính trị học, Công tác xã hội, Du lịch học,Đông phương học, Hán Nôm, Khoa học quản lý, Lịch sử, Lưu trữ học và quảntrị văn phòng, Ngôn ngữ học, Nhân học, Quốc tế học, Tâm lý học, Thông tin -thư viện, Triết học, Văn học, Việt Nam học, Xã hội học Số lượng sinh viêntham gia đào tạo chính quy của trường hiện nay là 5 472 sinh viên

Mục tiêu của nhà trường đến năm 2020 là xây dựng nhà trường trở thànhđơn vị đứng đầu cả nước về khoa học xã hội và nhân văn Tập trung xây dựng

và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế

Bên cạnh việc cung cấp kiến thức cho sinh viên, Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn cũng rất quan tâm đến quá trình hướng nghiệp chosinh viên bằng các hoạt động thiết thực như tổ chức các buổi hội chợ việclàm, cho thành lập một bộ phận trực thuộc Phòng Chính trị và Công tác sinhviên với nhiệm vụ tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên… Bêncạnh đó, nhà trường cũng đã rất quan tâm đến công tác quảng bá, giới thiệu vềcác ngành đào tạo của trường, góp phần giúp cho các em học sinh phổ thông

có một sự lựa chọn đúng đắn khi đăng ký ngành dự thi

Trên thực tế, tuy nhà trường đã có những hoạt động hướng nghiệp tíchcực cho sinh viên nhưng việc định hướng nghề của sinh viên trong trường vẫnđang còn nhiều vấn đề đáng lưu tâm

Trang 20

Trường Đại học Phương Đông được thành lập do những người sáng lậpmong muốn có một mô hình đào tạo giáo dục mới ngoài công lập Phươnghướng, chủ trương của nhà trường là đào tạo những cái xã hội cần, trong quátrình đạo tạo cho sinh viên sẽ nhấn mạnh khả năng thực hành, khả năng thíchứng nghề nghiệp, khả năng lập nghiệp, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học Trong đó, tin học và ngoại ngữ là mũi nhọn Bên cạnh việc đào tạo cử nhân,trường cũng tham gia đào tạo cao đẳng, trung cấp và dạy nghề

Về đào tạo trình độ đại học, hiện nay trường đang tham gia đào tạo ở cácchuyên ngành như Công nghệ thông tin, Kinh tế và quản trị kinh doanh,

Ngoại ngữ, Kiến trúc công trình, Cơ điện tử, Công nghệ sinh học - môi

trường, Hợp tác quốc tế Trong khi Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn chỉ tập trung đào tạo các ngành xã hội nhân văn thì trường Đại học Dânlập Phương Đông lại tham gia đào tạo trên nhiều lĩnh vực khác nhau như kỹthuật, tự nhiên, kinh tế…

Đặc điểm của sinh viên trường Đại học Phương Đông là có một tỷ lệkhông nhỏ sinh viên vào trường là do nguyện vọng 2, nguyện vọng 3 khi mà

họ thi trượt trong các kỳ thi vào các trường công lập Nhiều sinh viên vàotrường với tâm lý chờ thời cơ để có thể thi lại vào đợt sau… Với những tâm

lý học tập như vậy, sinh viên đã có những định hướng như thế nào cho nghềnghiệp tương lai của mình?

Tuy điều kiện của hai trường có khác nhau nhưng sinh viên Trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn và sinh viên Trường Đại học Dân lậpPhương Đông đều có những vấn đề cần quan tâm trong việc định hướng nghềnghiệp Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn sinh viên hai trường, một đại diệncho các trường công lập, một đại diện cho các trường dân lập tham gia vàonghiên cứu của mình

Trang 21

Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của cá nhân Tính tích cựcnày bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: nhu cầu, lợi ích, định hướng giátrị của chủ thể hành động

Hành động xã hội được cấu trúc nên bởi nhiều thành tố khác nhau, giữacác thành tố này có mối liên quan hữu cơ với nhau Ta có sơ đồ sau:

Hoàn cảnh

phươngtiệnKhởi đầu của hành động xã hội bao giờ cũng là nhu cầu, lợi ích của cánhân, đây là động cơ thúc đẩy hành động Động cơ tạo ra tính tích cực củachủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hànhđộng Bất kỳ hành động nào cũng cần có chủ thể Chủ thể hành động có thể là

Trang 22

cá nhân, nhóm, cộng đồng hay toàn thể xã hội Ngoài ra, để tạo nên hànhđộng cũng cần có môi trường Đó chính là điều kiện mà ở trong nó hành độngđược diễn ra Tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau mà các chủ thể sẽ tạo rahành động phù hợp nhất với hoàn cảnh đó

Như vậy, tùy theo hoàn cảnh khác nhau như năng lực của bản thân, giớitính, ngành học, mối quan hệ, năng lực… cũng như các nhu cầu khác nhau vềthu nhập, môi trường làm việc… mà mỗi sinh viên sẽ có những định hướng

và những con đường tiếp cận nghề khác nhau Sự định hướng về nghề và conđường tiếp cận này đều được mỗi cá nhân cân nhắc đề có thể có được hànhđộng tốt nhất dẫn đến một kết quả tối ưu

1 3 2 Lý thuyết xã hội hóa

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xã hội hóa Nhà xã hội học người

Mỹ Neil Smelser cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân họccách thức hành động tương ứng với vai trò của mình”

Fichter, một nhà xã hội học người Mỹ khác cho rằng: “Xã hội hóa là mộtquá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấpnhận những khuôn mẫu hành động, và thích nghi với những khuôn mẫu hànhđộng đó”

Nếu như định nghĩa của Smelser cho rằng vai trò của các cá nhân trongquá trình xã hội hóa chỉ là tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực màkhông đề cập đến khả năng các cá nhân này có thể tạo ra những kinh nghiệm,giá trị, chuẩn mực để xã hội học theo Trong khi Fichter chỉ mới chú ý hơnđến tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã hội hóa thì nhà khoa họcngười Nga là G Andreeva đã nêu được hai mặt của quá trình xã hội hóa: “Xãhội hóa là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hộibằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ

Trang 23

xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vàocác mối quan hệ xã hội” [2, tr 258 - 259]

Có rất nhiều môi trường xã hội hóa khác nhau, một trong số đó là giađình, trường học và các tổ chức trước tuổi đi học, các nhóm thành viên vàthông tin đại chúng

Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của mỗi cá nhân Mỗi gia đình là một tiểu văn hóa với những truyền thống riêng, lối sống

riêng… Mỗi cá nhân sẽ tiếp nhận những giá trị, cách cư xử… từ chính ông bà,cha mẹ, anh chị… của mình Đến khi cá nhân lập gia đình, họ lại tham gia vàomột quá trình xã hội hóa mới

Trường học và các tổ chức trước tuổi đi học là nơi học sinh được cungcấp những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, văn hóa làm nền tảng chocuộc sống sau này Thời kỳ này cũng giúp cho cá nhân hình thành được nhiềunhững tương tác và các mối quan hệ xã hội

Các nhóm thành viên như lớp sinh viên, tập thể lao động, nhóm bạn cùng

sở thích… là nhóm xã hội hóa quan trọng thứ hai sau gia đình Các nhóm nàygiúp cho các cá nhân thu nhập các kinh nghiệm xã hội theo cả con đườngchính thống và phi chính thống

Thông tin đại chúng là phương tiện cung cấp thông tin chủ yếu cho các

cá nhân, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Những thôngtin từ các phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp cho các cá nhân có nhữngđịnh hướng và quan điểm đối với các sự kiện xảy ra trong cuộc sống hàngngày

Quá trình xã hội hóa đóng góp một vai trò quan trọng trong quá trìnhgiúp cho mỗi sinh viên định hướng về nghề và những con đường tiếp cậnnghề trong tương lai Những định hướng này sẽ trở nên khác nhau khi sinhviên xuất thân từ những thành phần gia đình khác nhau, có môi trường học tập

Trang 24

khác nhau, tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng khác nhau vớinhững mức độ khác nhau, tham gia vào các nhóm bạn bè khác nhau… Chính

vì vậy, chúng tôi rất quan tâm đến sự tác động của những đặc điểm cá nhâncủa khách thể đến đối tượng nghiên cứu của mình

1 3 3 Lý thuyết mạng xã hội

Mỗi cá nhân trong xã hội không sống đơn độc mà thuộc về nhiều nhómkhác nhau, phần lớn cuộc đời chúng ta sống trong các nhóm đó Mỗi chúng tatrong cuộc sống của mình duy trì một mạng lưới xã hội, đó là phức thể cácmối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộcsống thực của họ với tư cách là thành viên của xã hội

Các mạng lưới xã hội bao gồm các quan hệ đan chéo chằng chịt nhưquan hệ gia đình, thân tộc, bạn bè, đảng phái, nghề nghiệp… là một phầnquan trọng của cơ cấu xã hội Thông qua mạng lưới xã hội, các cá nhân và cácnhóm xã hội có sự trao đổi về thông tin, kiến thức…

Trong quá trình sinh viên định hướng nghề và các cách thức để tiếp cậnnghề, mạng xã hội đóng góp một vai trò quan trọng Các yếu tố như gia đình,bạn bè… là một trong những yếu tố quan trọng cung cấp thông tin giúp chomỗi sinh viên hình thành nên các định hướng của mình Và mối quan hệ củagia đình cũng như bản thân với các mạng lưới này cũng tạo điều kiện thuậnlợi hơn cho sinh viên trong quá trình xin việc

1 4 Những khái niệm công cụ

1 4 1 Khái niệm nghề

Khái niệm “nghề” được hiểu theo hai nghĩa:

(1) Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công của xã hộinhư nghề giáo, nghề nông

(2) Thành thạo trong một công việc nào đó Ví dụ: chuyền bóng rất

nghề [20, tr 1192]

Trang 25

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm về nghề theo nghĩa thứnhất Tức là, nghề mà chúng tôi đề cập đến ở đây là một lĩnh vực hoạt độnglao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có những tri thức, những

kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần để đáp ứng nhu cầucủa xã hội

Như vậy, nghề bao hàm cơ bản các yếu tố sau: yếu tố luật, tức là hoạtđộng mang lại thu nhập được pháp luật của Nhà nước bảo vệ, yếu tố kiến thứcnền tảng thường gắn với đào tạo, yếu tố kĩ năng, yếu tố năng lực và yếu tốnhiệm vụ

1 4 2 Khái niệm sinh viên

Sinh viên hiểu theo nghĩa chung nhất là những người đang học ở bậc đạihọc [20, tr 1448] Họ là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, bổtúc trung học, trung học chuyên nghiệp đang trong quá trình học tập, chuẩn bịnghề nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng Họ là một nhóm xã hội đặc biệt,thường có độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi và xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhautrong xã hội

Nhìn từ góc độ xã hội học, sinh viên có những đặc điểm cơ bản sau:

 Mang tính phân tầng xã hội, có khả năng di động xã hội nhanh, dođược tiếp cận với những giá trị mới, năng động nên họ thuận lợi trong cơ hộichiếm lĩnh những vị trí cao trong xã hội sau khi học

 Mang tính đặc thù về độ tuổi và phẩm chất xã hội, thường có quá

trình xã hội hóa riêng biệt so với các nhóm xã hội khác Có địa vị, vị trí, vaitrò xã hội xác định

 Có lối sống và định hướng giá trị đặc thù, dễ dàng tiếp thu những giátrị xã hội mới

 Có tính tích cực xã hội, tính độc lập, tự lập và có nhu cầu khẳng địnhbản thân khá cao [9, tr 25]

Trang 26

1 4 3 Khái niệm tốt nghiệp

Khái niệm tốt nghiệp ở đây được dùng để chỉ sinh viên đã hoàn thànhcấp học đại học Ở các trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại họcDân lập Phương Đông bằng cử nhân là cấp học được thừa nhận khi sinh viênđược xác nhận là “tốt nghiệp đại học”

Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến vấn đề sinh viên sẽ có nhữngđịnh hướng và tiếp cận gì về nghề nghiệp sau khi họ hoàn thành khóa học tạitrường đại học

1 4 4 Khái niệm định hướng

Định hướng là xác định phương hướng, là việc chủ thể hành động đưa ramột hướng đi với hoạt động nào đó trên cơ sở cân nhắc kỹ khả năng, tài chínhcủa từng đối tượng Mục đích cuối cùng của định hướng là có được một

hướng đi phù hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan củachủ thể [1, tr 24]

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi quan tâm đến việc những sinh viêndựa trên cơ sở những điều kiện của bản thân như năng lực của bản thân, sởthích, các mối quan hệ, sự hiểu biết, tài chính… đã chọn ra cho mình mộthướng đi như thế nào để có thể tìm được công việc tối ưu nhất đối với bảnthân

1 4 5 Khái niệm con đường tiếp cận

Về khái niệm này, chúng tôi muốn nêu bật hai hàm ý cơ bản như sau:(1) Con đường tiếp cận thể hiện một lôgic hành động, lôgic xã hội hayhành trình xã hội đi từ chỗ tìm kiếm cơ hội, chuẩn bị tâm thế cho đếnviệc quyết định chọn nghề trong tương lai Đây là những nền tảng cơbản cho phép biết được các khuynh hướng chọn nghề của sinh viênsau khi tốt nghiệp;

Trang 27

(2) Con đường tiếp cận biểu hiện những mô thức hay hình thức tìm kiếmthông tin, tăng cường kiến thức và cách thức tìm kiếm việc làm củanhóm xã hội này

Trang 28

CHƯƠNG 2:

ĐỊNH HƯỚNG TÌM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN

2 1 Sinh viên và những dự định sau khi tốt nghiệp

Trong những năm gần đây, chương trình định hướng nghề nghiệp chohọc sinh phổ thông đang được Bộ giáo dục và đào tạo, các tổ chức xã hội vàcác trường phổ thông quan tâm nhằm giúp nhóm xã hội này có những quyếtđịnh chọn nghề phù hợp Tuy nhiên, nhóm xã hội là sinh viên thì thường ítđược hướng nghiệp hơn Hay nói chính xác, sinh viên thường được hướngngành mà ít được hướng nghề hoặc hội nhập nghề Với đề tài nghiên cứu này,chúng tôi cũng rất quan tâm đến những thời điểm quan trọng ở đó sinh viênthể hiện “tính định hướng nghề nghiệp” của mình một cách rõ ràng

20 4

36 7 Trước khi vào trường

Sau khi vào trường Chưa có định hướng gì

42 9

Biểu đồ 2 1: Thời điểm sinh viên có định hướng về việc làm (đơn vị: %)

Số liệu điều tra cho thấy rằng, phần lớn sinh viên sau khi vào trường đạihọc mới có định hướng nghề cho mình Bên cạnh đó một số lượng không nhỏ(20 40%) sinh viên hiện nay thậm chí còn chưa có định hướng nghề Điều nàycho thấy sinh viên thi đại học để được đi học mà chưa có những ý định rõ

Trang 29

ràng cho tương lai của mình Họ chỉ quan tâm đến việc được vào trường đạihọc và ngành học, chứ chưa quan tâm đến các nghề liên quan đến ngành học Trong tâm lý của phần lớn học sinh phổ thông hiện nay, học đại họcdường như là con đường duy nhất sau khi tốt nghiệp phổ thông Có con họcđại học trở thành niềm tự hào của gia đình Học sinh đi thi chỉ để có một suấthọc đại học Một vấn đề đặt ra là việc với lý do chọn trường như vậy, ngànhhọc đó liệu có thực sự phù hợp với các bạn và có thể sử dụng để có thể kiếmsống sau này

“Em chọn khoa này vì thấy điểm đầu vào phù hợp với khả năng, khả năng đậu sẽ cao hơn Trước đó cũng chỉ hiểu biết sơ sơ về công việc Em mới học năm 2, cũng chưa có định hướng gì về làm việc Học xong rồi tính tiếp thôi”

(Nữ, năm thứ 2, thành thị, Trường Đại học Khoa học Xã hội

đang được yêu

dự báo

về sự

ngành nào khác

các nghề liên quan đến ngành

23 4

8 2

3 9

Trang 30

Bên cạnh những sinh viên chọn ngành học do yêu thích thì một phầnkhông nhỏ sinh viên chọn ngành học do theo bạn bè hay không biết chọnngành nào khác Như vậy là họ đã “chọn đại” một ngành để thi vào đại học,

để học đại học mà chưa có những hiểu biết cần thiết về các chuyên ngành này Điều này một lần nữa thể hiện áp lực phải thi đậu đại học đối với học sinh tốtnghiệp phổ thông hiện nay Trong tình huống này, sinh viên đi thi chỉ để đạtđược mục đích là đi học mà họ quên mất rằng họ đi học để làm gì

“Em thi trượt nguyện vọng 1, nguyện vọng 2 đăng ký vào đây vì ngành này lấy điểm vừa bằng điểm thi Em thấy ngành này nghe tên hay hay thì đăng ký”

(Nữ, năm thứ 2, nông thôn, Trường Đại học Dân lập Phương Đông)

Bảng 2 1:

Thời điểm định hướng việc làm phân theo trường đại học (đơn vị: %)

Thời điểm định hướng nghề của sinh viên cũng có sự khác biệt giữa haitrường đại học Phần lớn sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn có định hướng ngành học khá rõ ràng trước khi vào trường Trong khi đó,phần lớn sinh viên Trường Đại học Dân lập Phương Đông chỉ có định hướngsau khi nhập học Trên thực tế, một số lượng lớn sinh viên Trường Đại họcDân lập Phương Đông vào trường theo diện nguyện vọng 2, nguyện vọng 3sau khi thi trượt ở các trường công lập khác Khi đó, họ sẽ đăng ký dựa trên

Thời điểm định hướng việc làm của sinh viên

Trường đại học

Trường Nhân văn Trường Phương Đông

Trang 31

cơ sở thực tế điểm thi của mình và chọn những khoa có điểm đầu vào tươngứng Chính vì vậy, những khoa này hoặc sẽ không thể hoàn toàn phù hợp với

sở thích, định hướng nghề cũng chưa có rõ ràng Định hướng lúc đó mới chỉ

là có được một chỗ ngồi trên giảng đường đại học

Chúng ta thấy rằng, một số lượng không nhỏ sinh viên của cả hai trườnghình thành những dự định cho tương lai công việc sau này khi đã vào học, khithực sự có những hiểu biết nhất định liên quan đến chuyên ngành được đàotạo Tức là sinh viên chọn ngành học trước rồi chọn công việc sau trong khiđáng lý ra họ nên chọn chuyên ngành học phù hợp với công việc mà mình yêuthích, có năng lực và có hướng phát triển hay xã hội cần đến Liệu có phảisinh viên hiện nay đang đi ngược lại quy trình hay không?

Sự khác biệt về khu vực sinh sống của gia đình cũng dẫn đến sự khácbiệt về thời điểm định hướng việc làm của sinh viên

Bảng 2 2: Thời điểm định hướng việc làm phân theo khu vực sinh sống của gia đình (đơn vị: %)

Nhìn vào bảng tương quan trên ta thấy, trong khi có một tỷ lệ lớn sinhviên ở khu vực thành thị đã có định hướng nghề từ trước khi vào trường thì

Thời điểm định

hướng việc làm

Khu vực sinh sống của gia đình

Trước khi vào

Trang 32

phần lớn sinh viên ở khu vực nông thôn và miền núi lại chỉ có sự định hướngnghề sau khi đã vào trường Đối với tỷ lệ sinh viên chưa có định hướng gì thì

tỷ lệ này ở khu vực miền núi chiếm số cao hơn đối với những sinh viên ở khuvực thành thị và nông thôn Tỷ lệ “không có định hướng nghề” chiếm rất thấpđối với sinh viên ở khu vực thành thị (17 6%) Chúng ta lại thấy có sự chênhlệch giữa sinh viên hai khu vực nông thôn và đô thị

“Hiện nay em chưa có định hướng làm việc gì cả, học xong ra trường thế nào chẳng có việc làm Trước đây thi đại học chỉ nghĩ là để được đi học thôi cũng không biết chọn ngành nào khác”

(Nữ, năm thứ 3, nông thôn, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn)

“Học xong cấp 3 thi đại học thì cứ chọn trường nào vừa điểm với mình thì nộp hồ sơ thôi, thấy bạn nộp trường này thì nộp luôn sau đi học cho vui, cũng không biết chọn trường nào khác Sau vào học thì mới hiểu mới bắt đầu nghĩ xem ra trường mình sẽ làm gì”

(Nam, năm thứ 2, nông thôn, Trường Đại học Dân lập Phương Đông)

Sinh viên ở khu vực thành thị chủ yếu thuộc gia đình viên chức (54 4%),sinh viên ở khu vực nông thôn, miền núi đa phần thuộc gia đình nông dân(55 6% và 32 3%) Đây cũng là một trong những nguyên nhân giúp cho sinhviên thành thị có định hướng nghề tốt hơn Các gia đình viên chức có điềukiện hơn trong việc tiếp cận với các thông tin liên quan đến ngành nghề, mức

độ hiểu biết cũng tốt hơn… Sinh viên tại khu vực thành thị có điều kiện tiếpxúc nhiều hơn với các phương tiện thông tin đại chúng, điều kiện học tốthơn… Môi trường xã hội hóa có sự tác động nhất định đến quá trình địnhhướng việc làm của sinh viên, sinh viên thành thị với những lợi thế sẵn có đãgiúp họ có sự định hướng nghề tốt hơn sinh viên xuất thân từ các khu vựckhác

Trang 33

Phần lớn sinh viên sau khi vào trường mới bắt đầu định hướng về việclàm Để tìm hiểu thêm về vấn đề này chúng tôi đã tìm hiểu về mức độ hiểubiết của sinh viên về việc làm ở các thời điểm khác nhau, cụ thể ở đây là thờiđiểm trước khi vào trường và sau khi vào trường

Rất không hiểu biết

Biểu đồ 2 3 : Mức độ hiểu biết về những việc làm liên quan đến ngành học

(đơn vị: %)

Sinh viên chọn trường trước khi chọn nghề nên mức độ hiểu biết vềnhững việc làm liên quan đến ngành nghề đã có sự thay đổi sau khi vào

trường Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, sinh viên chọn mức độ “rất hiểu biết”

và “hiểu biết” đã có sự tăng lên sau khi vào trường Trong khi đó, tỷ lệ sinhviên chọn mức độ “không hiểu biết” và “rất không hiểu biết” đã có sự giảm

đi Sau khi vào học, được bổ sung những kiến thức liên quan đến ngành học,sinh viên đã có những cái nhìn rõ nét hơn về tương lai của mình Điều nàycho chúng ta thấy vai trò quan trọng của mạng xã hội (như bạn bè, thầy cô…)cũng như môi trường xã hội hóa (nhà trường…) trong việc cung cấp nhữngthông tin liên quan đến ngành học qua đó tác động đến việc định hướng nghềcủa sinh viên Bên cạnh đó, chúng ta thấy rằng sự hiểu biết của sinh viên về

Trang 34

những việc làm liên quan đến ngành học còn yếu Ý thức hướng nghiệp củasinh viên còn hạn chế, điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sốngcủa họ trong tương lai mà còn ảnh hưởng đến thị trường lao động sau nàycũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước Một đất nước liệu có thể pháttriển khi mà nguồn lao động trí thức không có được sự hiểu biết và say mê vớicông việc, khi mà một số lượng không nhỏ trong số họ làm việc trái ngành Bên cạnh đó là sự tổn hại về mặt kinh tế liên quan đến chi phí đào tạo trongquá trình sinh viên học đại học

Có một câu hỏi đặt ra là, khi sinh viên đã hiểu biết hơn về ngành học củamình và những công việc liên quan liệu họ có cảm thấy thỏa mãn với lựa chọncủa mình? Liệu họ có còn nghĩ rằng lựa chọn đó là phù hợp với mình? Để trảlời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu xem sinh viên Trường Đại họcKhoa học Xã hội và Nhân văn và sinh viên Trường Đại học Dân lập PhươngĐông có những dự định gì sau khi tốt nghiệp đại học?

3 9

6 9 1 7 Tìm ngay một việc làm có

liên quan đến ngành học Làm bất cứ việc gì mang

22 9

37 7 lại thu nhập

Tiếp tục học nâng cao chuyên ngành Học ngay một ngành khác Nghỉ ngơi một thời gian Khác

26 8

Biểu đồ 2 4: Sinh viên và những dự định sau khi ra trường (đơn vị: %)

Mục đích cuối cùng của việc đi học đại học là có thể có tấm bằng cửnhân, có kiến thức để có thể tìm việc làm, tạo thu nhập nuôi sống bản thân,

Trang 35

gia đình và góp phần phát triển xã hội Chính vì vậy, 37 7% sinh viên đượchỏi đã trả lời rằng, ngay sau khi tốt nghiệp họ sẽ tìm ngay một việc làm cóliên quan đến ngành học

Bên cạnh đó một số lượng không nhỏ sinh viên cho rằng họ sẽ làm “bất

cứ việc gì” miễn là việc ấy mang lại thu nhập Bất cứ việc gì ở đây được hiểurằng đó có thể là công việc không phù hợp với chuyên môn của họ, khôngphải sở thích của họ… nhưng công việc đó mang lại cho họ thu nhập và sinhviên chấp nhận công việc đó Chúng ta biết rằng tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Namhiện nay không phải là nhỏ Theo thông tin của Tổng cục thống kê, tỷ lệ thấtnghiệp và thiếu việc làm của những người trong độ tuổi lao động năm 2009 là

2 9% và 5 61% [17] Trong đó có một phần không nhỏ là sinh viên mới ratrường Mục đích của việc học đại học là để làm việc vì thế không ngạc nhiênkhi sinh viên “quá mong muốn” có được việc làm Nhưng liệu việc mà có sốlượng không phải là lớn nhưng cũng không phải là nhỏ sinh viên tìm việc làm

mà không quan tâm cần quan tâm đến sự phù hợp của chuyên ngành có là mộtviệc làm đúng đắn? Điều này càng cho thấy sự mất định hướng nghề nghiệptrong sinh viên hiện nay

“Gia đình em cũng không được tốt về kinh tế, bố mẹ cũng vất vả nên em nghĩ là mình sẽ tìm việc luôn khi tốt nghiệp để đi làm có lương, công việc đó

có thể là không đúng ngành nhưng mình cứ làm đã rồi sau này tính tiếp”

(Nữ, năm thứ 2, nông thôn, Trường Đại học Dân lập Phương Đông)

“Em sẽ đi tìm việc luôn, bây giờ tìm việc cũng khó, ngành học của em cũng khó xin việc nên mình thấy việc gì mình làm được thì xin thôi Miễn có việc làm là được”

(Nữ, năm thứ 3, nông thôn, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn)

Trang 36

Bên cạnh đó 22 9% sinh viên tiếp tục theo đuổi chuyên ngành của mình

ở cấp cao hơn (cao học) Với tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên mới ra trườnghiện nay thì đây cũng được coi là một lựa chọn khôn ngoan Bởi với tấm bằngthạc sỹ, họ có thể tạo ra sự khác biệt đối với các đối thủ trong quá trình tuyểndụng

“Em định học xong xin đi dạy học nên có lẽ sẽ học lên cao tiếp, có bằng thạc sỹ rồi hy vọng sẽ dễ xin việc hơn”

(Nữ, năm thứ 4, nông thôn, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn)

Sau quá trình bốn năm học đại học, thời kỳ giao thoa giữa việc đi học và

đi làm cũng được không ít các bạn cựu sinh viên sử dụng để nghỉ ngơi mộtthời gian

Như chúng tôi đã nêu ra ở trên, có rất nhiều lý do để sinh viên chọnchuyên ngành học, trong đó có một tỷ lệ sinh viên chọn chuyên ngành vìkhông biết chọn ngành nào khác, chọn theo bạn bè… Chính vì vậy, khi vàotrường không phải sinh viên nào cũng yêu thích chuyên ngành mà mình đãlựa chọn từ đó dẫn đến có 3 9% sinh viên khi được hỏi đã trả lời là sẽ đi họcthêm một ngành khác như kế toán, an ninh…

Việc lựa chọn nghề sau khi ra trường phụ thuộc vào mức độ yêu thíchcủa sinh viên đối với ngành học

Trang 37

Bảng 2 3 : Dự định sau khi ra trường phân theo mức độ yêu thích đối với ngành học (đơn vị: %)

Bảng tương quan trên cho ta thấy rằng, những sinh viên có mức độ yêuthích ngành học cao thì họ thường sẽ dự định tìm việc làm liên quan đếnngành học hoặc học tiếp ở trình độ cao hơn Ngược lại, những sinh viên ít yêuthích ngành học thường có dự định là sẽ làm bất cứ việc gì miễn là mang lạithu nhập, không quan tâm đến mức độ phù hợp giữa công việc và ngành họccủa mình Ngoài ra, tỷ lệ sinh viên trong nhóm này cũng mong muốn học mộtngành khác cao hơn Đây là một lôgic xã hội dễ hiểu

Dự định sau khi ra

trường

Mức độ yêu thích đối với ngành học

Rất yêuthích

Yêuthích

Bìnhthường

Khôngyêu thích

Rấtkhôngyêu thíchTìm ngay một việc làm

Trang 38

Bảng 2 4: Dự định sau khi ra trường phân theo giới tính (đơn vị: %)

Sinh viên, cho dù là nam hay nữ đều định hướng về một công việc đúngvới chuyên ngành được đào tạo Tỷ lệ sinh viên nữ làm bất cứ việc gì manglại thu nhập hay muốn nghỉ ngơi một thời gian cao hơn sinh viên nam trongkhi tỷ lệ nam sinh viên định hướng học cao học hay học ngành khác cao hơn

nữ sinh viên Nữ thường có tâm lý muốn ổn định hơn nam giới, họ chú trọngvào việc tìm việc làm để ổn định cuộc sống Nam giới có tâm lý ít ổn địnhhơn, có mong muốn phấn đấu trong sự nghiệp cao hơn, để làm được điều nàyviệc học lên cao hơn hay học thêm ngành khác không phải là một việc làmkhó hiểu

Với những phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng, việc chọn ngành đầuvào là rất quan trọng đối với bất kỳ sinh viên nào Công việc này sẽ là mở đầucho tương lai sau này của họ, quyết định mức độ yêu thích của họ đối vớingành học và những dự định trong tương lai

2 2 Đối tượng định hướng việc làm cho sinh viên

Để có những định hướng như chúng tôi đã nêu ra ở trên, mỗi sinh viên đãtrải qua một quá trình thu thập thông tin và lựa chọn ra những điều phù hợp

Dự định sau khi ra trường Giới tính

Tìm ngay một việc làm có liên quan đến ngành học 40 8 36 4

Trang 39

với bản thân mình Vậy ai là người định hướng việc làm cho sinh viên và sinhviên đánh giá về mức độ tin cậy của những nguồn thông tin này như thế nào?

21 2

Gia đình Bạn bè Nhà trường

Biểu đồ 2 5: Đối tượng định hướng việc làm cho sinh viên (đơn vị: %)

Gia đình trong bất cứ một xã hội nào và trong bất kỳ một vấn đề nàocũng đóng một vai trò quan trọng Gia đình là môi trường xã hội hóa quantrọng bậc nhất và cũng là yếu tố có sự tác động nhiều nhất đến việc hìnhthành định hướng việc làm cho sinh viên Người con ở càng lâu với gia đìnhthì ảnh hưởng của thiết chế này đối với họ càng lớn Bên cạnh đó, sự pháttriển của các phương tiện truyền thông đại chúng và sự tiếp cận của sinh viênđối với các phương tiện này cũng ngày càng dễ dàng hơn, đặc biệt là đối vớiInternet Chính vì vậy, yếu tố này cũng được sinh viên đánh giá cao

Nhà trường là cơ sở đào tạo, là nơi cung cấp tri thức, cung cấp các kỹnăng liên quan đến công việc Tuy nhiên, nhà trường lại không phải là nơiđóng vai trò quan trọng giúp sinh viên định hướng việc làm Điều này cũng lígiải phần nào “sự gián đoạn” giữa nhà trường và thị trường lao động Khi

Trang 40

chúng tôi tìm hiểu về mức độ tin cậy của các nguồn thông tin này thì nhàtrường cũng không được đánh giá cao

Bảng 2 5: Đánh giá mức độ tin cậy của các nguồn thông tin

giúp sinh viên định hướng việc làm (đơn vị: %)

Nguồn thông tin từ gia đình được sinh viên đánh giá nhiều ở mức độ tincậy và rất tin cậy Nguồn thông tin từ bạn bè và các phương tiện truyền thôngđại chúng được đánh giá tin cậy ở mức trung bình Các thông tin từ nhàtrường và các tổ chức xã hội như đoàn thanh niên, hội sinh viên… khôngđược sinh viên đánh giá cao thậm chí là bị cho là “không đáng tin cậy” Điềunày cho thấy nhà trường đã không phát huy được hết vai trò của mình khihướng nghiệp cho sinh viên Bên cạnh gia đình, nhà trường cũng là một môitrường xã hội hóa quan trọng, là nơi sinh viên gắn bó phần lớn khoảng thờigian trong quãng đời đi học Nếu như gia đình là nơi giúp cá nhân hình thànhnên các giá trị, cách ứng xử… trong cuộc sống thì nhà trường là nơi cung cấp

Nguồn thông tin

Các mức độ

Tổng

Rất tincậy

Tincậy

Bìnhthường

Khôngtin cậy

Rấtkhôngtin cậy

Ngày đăng: 26/04/2022, 10:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Kết quả phân tích bảng 2 cho thấy, Bacillus  thuringien-sis sinh trưởng tốt trên cả dịch thủy phân bằng phương pháp axit nhiệt và phương pháp kiềm nhiệt - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
t quả phân tích bảng 2 cho thấy, Bacillus thuringien-sis sinh trưởng tốt trên cả dịch thủy phân bằng phương pháp axit nhiệt và phương pháp kiềm nhiệt (Trang 5)
3.4. Kết quả kiểm tra và hiệu chuẩn sản phẩm - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
3.4. Kết quả kiểm tra và hiệu chuẩn sản phẩm (Trang 5)
64 Phương pháp trưng cầ uý kiến bằng bảng hỏi tự ghi - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
64 Phương pháp trưng cầ uý kiến bằng bảng hỏi tự ghi (Trang 11)
Bảng 2 2: Thời điểm định hướng việc làm - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 2 2: Thời điểm định hướng việc làm (Trang 31)
Bảng 2 3: Dự định sau khi ra trường - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 2 3: Dự định sau khi ra trường (Trang 37)
Bảng tương quan trên cho ta thấy rằng, những sinh viên có mức độ yêu thích ngành học cao thì họ thường sẽ dự định tìm việc làm liên quan đến ngành học hoặc học tiếp ở trình độ cao hơn  Ngược lại, những sinh viên ít yêu thích ngành học thường có dự định là - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng t ương quan trên cho ta thấy rằng, những sinh viên có mức độ yêu thích ngành học cao thì họ thường sẽ dự định tìm việc làm liên quan đến ngành học hoặc học tiếp ở trình độ cao hơn Ngược lại, những sinh viên ít yêu thích ngành học thường có dự định là (Trang 37)
22 Đối tƣợng định hƣớng việc làm cho sinh viên - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
22 Đối tƣợng định hƣớng việc làm cho sinh viên (Trang 38)
Bảng 2 6: Dự định về nơi làm việc - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 2 6: Dự định về nơi làm việc (Trang 44)
Bảng 2 7: Dự định về nơi làm việc phân theo giới tính (đơn vị: %) - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 2 7: Dự định về nơi làm việc phân theo giới tính (đơn vị: %) (Trang 45)
Bảng 2 8: Khu vực kinh tế mong muốn làm việc phân theo thành phần gia đình (đơn vị: %) - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 2 8: Khu vực kinh tế mong muốn làm việc phân theo thành phần gia đình (đơn vị: %) (Trang 49)
Bảng 2 9: Khu vực kinh tế dự định làm việc phân theo dự định về nơi làm việc (đơn vị: %) - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 2 9: Khu vực kinh tế dự định làm việc phân theo dự định về nơi làm việc (đơn vị: %) (Trang 50)
Bảng 3 2: Cách thức tiếp cận việc làm - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 3 2: Cách thức tiếp cận việc làm (Trang 65)
Bảng 3 3: Cách thức tiếp cận việc làm thông qua gia đình phân theo khu vực kinh tế mong muốn làm việc (đơn vị: %) - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 3 3: Cách thức tiếp cận việc làm thông qua gia đình phân theo khu vực kinh tế mong muốn làm việc (đơn vị: %) (Trang 66)
Chỉ mang tính hình thức 56 - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
h ỉ mang tính hình thức 56 (Trang 73)
Bảng 3 6: - Nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp   định hướng và những con đường tiếp cận 50
Bảng 3 6: (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w