1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lý thuyết thông tin bất công xứng về thị trường lao động, quản lý tiền lương hiệu quả (kinh tế vi mô 2)

13 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 273,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG HỢP VI MÔ docx TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ  CHỦ ĐỀ LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÔNG XỨNG VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG HIỆU QUẢ Giảng viên hướng dẫn ThS Trần Thị Thùy Dung Môn Kinh tế vi mô 2 Lớp D01 NHÓM Hà Nội, Tháng 4 năm 2022 1 TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG 1 1 Định nghĩa Một sự khác biệt trong khả năng tiếp cận thông tin liên quan được gọi là Một sự bất cân xứng về thông tin Hay nói dễ hiểu hơn, có 2 chủ thể có lượng thông tin không giống.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

-

 -CHỦ ĐỀ: LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÔNG XỨNG VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG HIỆU QUẢ

Giảng viên hướng dẫn : ThS Trần Thị Thùy Dung Môn : Kinh tế vi mô 2

Lớp : D01

NHÓM:

Trang 2

Hà Nội, Tháng 4 năm 2022

Trang 3

1 TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG

1.1 Định nghĩa

Một sự khác biệt trong khả năng tiếp cận thông tin liên quan được gọi là Một sự bất cân xứng về thông tin Hay nói dễ hiểu hơn, có 2 chủ thể có lượng thông tin không giống nhau,

chủ thể có nhiều thông tin hơn có thể tận dụng điều đó để tạo nên ưu thế cho mình, gây nên bất lợi cho chủ thể kia => Điều này gọi là sự bất cân xứng về thông tin

→ Các lĩnh vực có thể gặp phải tình trạng thông tin bất cân xứng:

● Thị trường nhà đất: nhà môi giới - người bán nhà…

● Thị trường lao động (*)

● Thị trường hàng hóa: vd mua bán đồ cổ dễ bị lừa…

● Thị trường bảo hiểm

● Lĩnh vực thể thao

● Lĩnh vực đầu tư

1.2 Học thuyết về thông tin bất cân xứng của George Akerlof : The Market for Lemons - “Thị trường chanh” (1970)

George Akerlof : The Market for Lemons - “Thị trường chanh” (1970)

Bài báo của ông về “Thị trường chanh” nói về sự không chắc chắn về chất lượng và cơ chế thị trường' : Có sự bất cân xứng về thông tin giữa người mua và người bán ô tô đã qua

sử dụng (được gọi là chanh), dẫn đến sự sụp đổ của thị trường Trong khi người bán biết giá trị thực của chiếc xe thì người mua lại không Do đó, người mua sẵn sàng trả một mức giá trung bình, giữa giá của một chiếc xe hơi cao cấp và chanh Trong tình huống như vậy, người bán chỉ muốn cầm chanh mà bán, vì chỉ như vậy mới có lãi Điều này sẽ khiến tất cả những chiếc ô tô cao cấp rời bỏ thị trường và chỉ còn lại những quả chanh bị bỏ lại, hơn nữa khiến giá xe giảm khi có lời Do đó, việc người mua không hiểu rõ về giá sẽ tạo ra một vấn

đề bất lợi trong việc lựa chọn khiến những chiếc xe chất lượng cao bị loại khỏi thị trường

Trang 4

Lập luận này tương tự như định luật Gresham về lưu thông tiền, cho rằng tiền kém chất lượng chiến thắng tiền tốt hơn (Tiền xấu đuổi tiền tốt ra khỏi lưu thông)

2 BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

2.1 Khái niệm

● Thông tin bất cân xứng trong thị trường lao động giữa người lao động và chủ doanh nghiệp:

Do việc giám sát những người công nhân rất tốn kém và có thể không thực hiện được nên các xí nghiệp thường có thông tin không chính xác về năng suất lao động của công nhân

Những người lao động (công nhân) thường nắm rõ kĩ năng và khả năng của bản thân hơn là người chủ doanh nghiệp

(Ví dụ: Chỉ có người lao động hiểu được họ có thực sự có kĩ năng trong Excel hay không, có năng suất tạo ra bao nhiêu sản phẩm 1 ngày,…)

Thông tin bất cân xứng trong thị trường lao động giữa những người lao động với nhau:

Được coi là kết quả mong muốn của một nền kinh tế thị trường lành mạnh về lao động

có kỹ năng, nơi người lao động chuyên môn hóa ngành nghề, trở nên năng suất hơn và mang lại giá trị cao hơn cho người lao động trong các ngành nghề khác Khi người lao động

Trang 5

cố gắng ngày càng chuyên môn hóa trong các lĩnh vực họ đã chọn, họ trở nên năng suất hơn

và do đó có thể cung cấp giá trị lớn hơn cho người lao động trong các lĩnh vực khác

Ví dụ:

Kiến thức của một nhà môi giới chứng khoán có giá trị hơn đối với một người không chuyên về đầu tư, chẳng hạn như một nông dân Mặt khác, người môi giới chứng khoán không cần biết cách trồng trọt hay chăn nuôi để tự kiếm thức ăn mà có thể mua các mặt hàng từ cửa hàng tạp hóa do người nông dân cung cấp Trong mỗi ngành nghề tương ứng của họ, cả người nông dân và người môi giới chứng khoán đều nắm giữ kiếnthức cao hơn người kia, nhưng cả hai đều được hưởng lợi từ việc buôn bán và phân công lao động

2.2 Hậu quả của thông tin bất cân xứng trong thị trường lao động

Thông tin bất cân xứng trong thị trường lao động cũng như thông tin bất cân xứng là một thất bại của thị trường vì nó gây ra sự lựa chọn ngược (lựa chọn bất lợi), rủi ro đạo đức (tâm

lý ỷ lại), vấn đề người ủy quyền-người thừa hành

2.2.1 Lựa chọn ngược (hay lựa chọn đối nghịch, lựa chọn bất lợi)

Là vấn đề nảy sinh trong thị trường mà ở đó người bán biết nhiều về tính chất của hàng hóa hơn là người mua Trong trường hợp đó, người mua phải gánh chịu rủi ro mua phải hàng kém chất lượng Như vậy, “sự lựa chọn” những hàng hóa đem ra bán có thể sẽ “bất lợi” cho một người mua thiếu thông tin

Ví dụ về thị trường lao động: Theo lý thuyết lương hiệu quả (sẽ nói phần sau), năng lực của những người công nhân là khác nhau và có thể họ biết rõ năng lực của mình đến đâu hơn là công ty thuê mướn họ Khi một công ty giảm lương, những công nhân lành nghề hơn

có xu hướng nghỉ việc vì họ biết rằng họ có nhiều khả năng tìm được công việc khác Ngược lại, một công ty có thể quyết định trả lương cao hơn so với mức thị trường để thu hút một nhóm công nhân tốt hơn

=> Mức lương bị kẹt tại cân bằng cung cầu -> gia tăng sự thất nghiệp

2.2.2 Rủi ro đạo đức

Là vấn đề nảy sinh khi một cá nhân (tác nhân) đang làm một nhiệm vụ nào đó thay cho (nhân danh) một cá nhân khác (chủ thể) Nếu chủ thể không thể giám sát hành vi của tác

Trang 6

nhân một cách đầy đủ, tác nhân thường có xu hướng dành ít cố gắng hơn những gì chủ thể mong muốn

Ám chỉ nguy cơ về những hành vi không đúng, “phi đạo đức” của tác nhân

VD: Công nhân khi đi làm nếu không được công ty giám sát chặt chẽ thường có xu hướng lảng tránh nghĩa vụ đầy đủ của họ

2.2.3 Vấn đề người ủy quyền - người thừa hành

Đây là trường hợp đặc biệt vì nó bao gồm cả lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Khi người ủy nhiệm giao quyền cho người thừa hành, họ sẽ không trực tiếp điều hành công việc,

do đó, họ biết ít thông tin hơn người thừa hành Bên cạnh đó, người thừa hành và người ủy quyền có thể theo đuổi những mục tiêu không giống nhau, dẫn tới người thừa hành có những hành động không phục vụ lợi ích của người ủy quyền

Vì có ít thông tin hơn nên người ủy quyền khó cưỡng chế thi hành, đánh giá hay khuyến khích công việc của người thừa hành Điều này dẫn tới sự lựa chọn bất lợi của người ủy quyền

Ví dụ, các nhà đầu tư chứng khoán của công ty, với tư cách là chủ sở hữu một phần công ty,

là người ủy nhiệm dựa vào giám đốc điều hành (CEO) của công ty, có tư cách là người thừa hành của họ, để thực hiện các chiến lược phục vụ lợi ích tốt nhất của các nhà đầu tư

Đó là, họ muốn cổ phiếu tăng giá hoặc được trả cổ tức, hoặc cả hai Nếu CEO thay vì cố gắng đạt các mục đích trên mà giữ lại mọi lợi nhuận để mở rộng công ty hoặc để trả lương thưởng hậu hĩnh cho các quản lí, thì các cổ đông có thể thấy họ đã bị người thừa hành của công ty làm trái với lợi ích tốt nhất của họ

2.3 Giải pháp khắc phục tình trạng thông tin không cân xứng trong thị trường lao động

Phát tín hiệu: Quá trình người bán sử dụng tín hiệu để truyền đạt đến người mua thông

tin về chất lượng sản phẩm giúp cho người bán và người mua giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng

Trang 7

Ví dụ: Trên thị trường lao động, việc thuê lao động là một đầu tư không chắc chắn Vấn

đề không chắc chắn ở đây là việc thuê lao động mà người chủ doanh nghiệp không biết được khả năng đóng góp, khả năng tạo ra năng suất của người lao động là bao nhiêu Nên việc mà người lao động có thể đưa ra bằng cấp, kinh nghiệm, là một trong những phương pháp giúp chủ doanh nghiệp có thể tìm kiếm được người thực sự có năng lực

Sàng lọc: Đối với lao động cũng có lao động có khả năng, tay nghề cao và lao động có

khả năng, tay nghề thấp Vì thế mà không thể trả một mức lương cân bằng Để khuyến khích người có khả năng cao, tạo ra năng suất lao động cao thì cần phải trả lương cao để khuyến khích họ Đối với người có khả năng thấp, việc cố gắng đạt được một mức năng suất sản xuất để nhận được lương cao sẽ tốn chi phí rất lớn so với người có khả năng cao Vì vậy việc phân nhóm lao động để trả lương là việc làm cần thiết để khuyến khích những người có khả năng nâng cao trình độ và mang lại hiệu quả cao cho xã hội

3 LÝ THUYẾT TIỀN LƯƠNG HIỆU QUẢ

Lí thuyết tiền lương hiệu quả trong tiếng Anh được gọi là efficiency wage theory.

Lí thuyết này cho rằng, doanh nghiệp sẽ hoạt động có hiệu quả hơn nếu trả tiền lương cao hơn mức cân bằng thị trường vì doanh nghiệp có thể có lợi nếu giữ tiền lương ở mức cao ngay cả khi có tình trạng dư cung về lao động

(lý thuyết này cho rằng năng suất người lao động có tác động cùng chiều với tiền lương,

khi DN trả lương cao hơn mức cân bằng thì người lao động sẽ làm việc chăm chỉ hơn để bù đắp cho sự chênh lệch đó vì vậy đằng nào thì DN cũng không chịu thiệt)

Một người lao động được trả lương cao hơn mức cân bằng này sẽ ít khả năng lảng tránh nghĩa vụ của mình hơn vì một khi anh ta bị phát hiện và sa thải, anh ta có thể không còn khả năng tìm được một công việc trả lương cao khác

Lý thuyết tiền lương hiệu quả- còn cho rằng việc trả lương cao thu hút một nhóm lao động tài năng hơn, làm cho công ty dễ hơn trong việc thu hút và giữ công nhân năng suất cao hơn

Thông thường, chúng ta dự kiến rằng doanh nghiệp có động cơ tối đa hóa lợi nhuận sẽ muốn giữ cho chi phí và do đó tiền lương càng thấp càng tốt Triết lí của lí thuyết tiền lương

Trang 8

hiệu quả là doanh nghiệp có thể được lợi khi trả lương cao vì tiền lương cao có thể làm tăng hiệu quả làm việc của công nhân trong doanh nghiệp

Để hình dung rõ hơn vấn đề này, chúng ta xem xét qua mô hình công nhân trốn việc

MÔ HÌNH CÔNG NHÂN TRỐN VIỆC

− Giả định: thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tất cả những công nhân muốn làm việc điề tìm

kiếm được việc làm, những công nhân có năng suất lao động bằng nhau sẽ được trả lương bằng nhau

− Mô hình công nhân trốn việc: nếu một hãng trả cho công nhân của mình mức lương cân

bằng thị trường (W*) thì những người công nhân sẽ có động cơ trốn việc và tại mức lương cân bằng thị trường thì việc trốn việc không bị đe doạ bởi thất nghiệp vì những công nhân trốn việc có thể kiếm được công việc như thế tại các công ty khác

− Vì vậy để khích lệ công nhân làm việc với năng suất cao các hãng đề ra một mức lương cao hơn, khi đó những lao động bị sa thải có nguy cơ bị giảm sút tiền lương nếu được 1 hãng khác thuê mướn ở 𝑊* Điều này thôi thúc công nhân làm việc có năng suất và hãng

không có năng suất và hãng không có vấn đề tránh việc

Trang 9

Trong đó:

− 𝐷𝐿: là cầu về lao động

− 𝑆𝐿: là cung về lao động −

𝑊𝑊𝑒*: mức lương có hiệu

quả

− : mức lương cân bằng

− NSC: là đường cung khi có sự tránh việc

Đồ thị cho thấy:

Trang 10

- Với mọi mức thất nghiệp trên thị trường lao động các hãng cần trả một mức lương cao hơn W* để thúc đẩy mọi người làm việc có năng suất Những mức lương này được biểu diễn bằng đường NSC

- Mức lương cân bằng nằm ở giao điểm của đường cầu DL và đường NSC – We với Le lao động được thuê mướn, tạo ra (L* - Le) người thất nghiệp

- Đường NSC không bao giờ cắt đường cung lao động SL, nghĩa là luôn luôn có một mức thất nghiệp nào đó trong thế cân bằng đó

(Mở rộng) Câu hỏi đặt ra là: nếu tất cả các hãng đều phải đối phó với vấn đề tránh việc và

buộc phải đặt ra mức lương cao hơn W* thì có thay đổi được kết cục k? Vì nếu bị sa thải những công nhân này có thể được các hãng khác thuê với mức lương We?

=> KHÔNG! Vì ở mức lương cao hơn có tình trạng thất nghiệp và mọi người bị sa thải

sẽ phải chịu thất nghiệp một thời gian trước khi kiếm được một việc làm với mức lương We ở 1 hãng khác

4 VÍ DỤ THỰC TẾ VỀ LÝ THUYẾT TIỀN LƯƠNG HIỆU QUẢ

Ví dụ kinh điển về mức lương hiệu quả ở cửa hàng ô tô Ford:

Vào năm 1914, khi mức lương hiện tại cho 1 ngày làm việc trong ngành trung bình từ 2$-3$ Tập đoàn sản xuất ô tô Ford đưa ra một chính sách trả lương ở mức 5$/1 ngày làm việc cho công nhân, nên tiền lương cao hơn mức tiền lương cân bằng rất nhiều Nâng cao năng suất lao động (chứ không phải là một sự hào phóng) chính là ẩn số nằm trong chính sách này Mục đích là thu hút những công nhân tốt hơn, những người sẽ trung thành với nghề nghiệp của họ, và cuối cùng là tăng lợi nhuận

Sau này Henry Ford cho biết: “Việc trả 5 USD cho ngày làm việc 8 giờ là một trong những biện pháp cắt giảm chi phí tuyệt vời nhất mà chúng tôi thực hiện” Theo quan điểm của lý thuyết kinh tế truyền thống, cách lý giải của Ford có vẻ kỳ lạ , ông nói rằng tiền lương cao , hàm ý chi phí thấp Song có lẽ Ford đã khám phá ra lý thuyết về tiền lương hiệu quả Có lẽ ông đã biết sử dụng tiền lương cao để tăng hiệu quả lao động

Trang 11

Mặc dù Henry Ford bị chỉ trích vì điều này nhưng chính sách này đã thành công Lực lượng lao động trở nên ổn định hơn, mức lương cao của Ford đã quét sạch sự chây lười và chống đối và sự nổi tiếng đã hỗ trợ cho việc bán hàng của Ford Vì Henry Ford có quyền lực chọn công nhân nên ông có thể thuê một đội ngũ làm việc có năng suất cao hơn Ford nói rằng trên thực tế sự tăng lương đã làm tăng lòng trung thành và hiệu quả lao động cá nhân của những người công nhân và kết quả đã chứng minh điều đó Theo tính toán của phòng quản lý lao động của Ford thì năng suất đã tăng 51%, sự vắng mặt không có lí do của công nhân đã giảm đi 1 nửa cho thấy sự nỗ lực của công nhân tăng lên rất nhiều và tình trạng đuổi việc có nguyên nhân cũng giảm mạnh Vì vậy, năng suất tăng lên nhiều hơn so với mức tăng tiền lương Kết quả là lợi nhuận của Ford tăng từ 30 triệu đôla trong năm 1914 lên 60 triệu đôla trong năm 1916

TỔNG KẾT

1 Người bán sản phẩm thường có thông

tin tốt hơn về chất lượng của nó so với người

mua Thông tin bất cân xứng kiểu này tạo ra

một sự thất bại của thị trường, trong đó sản

phẩm xấu có xu hướng đẩy sản phẩm tốt ra

khỏi thị trường Sự thất bại của thị trường có

thể được loại bỏ nếu người bán cung cấp các

sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, cung cấp các

bảo đảm hoặc bảo hành, hoặc tìm các cách

khác để duy trì danh tiếng tốt cho các sản

phẩm của họ

2 Người bán có thể đối phó với vấn đề thông tin bất cân xứng bằng cách gửi cho người mua những tín hiệu về chất lượng sản phẩm của họ Ví dụ, công nhân có thể báo hiệu cao năng suất bằng cách đạt được trình độ học vấn cao

3 Tình trạng thông tin không tương xứng có thể giải thích tại sao các thị trường lao động lại có tỷ lệ thất nghiệp lớn, trong khi nhiều công nhân đang cố gắng đi tìm việc làm

Trang 12

Theo lý thuyết mức lương hiệu quả, một mức lương cao hơn mức lương cạnh tranh (mức lương hiệu quả) sẽ làm tăng năng suất của công nhân bằng việc không khuyến khích công nhân trốn việc khi đang có việc làm

Dự phòng(??? Tại sao Henrry Ford lại nói tăng lương lại giảm chi phí?

❖Góc độ “lý thuyết tiền lương hiệu quả”:

● Tiền lương ảnh hưởng tới dinh dưỡng và sức khỏe của người lao động: lương cao người lao động ăn uống dinh dưỡng hơn, sức khỏe tốt hơn, năng suất làm việc cao hơn

● Lương cao làm giảm tình trạng bỏ việc: doanh nghiệp trả lương cao cho công nhân viên của mình, họ càng có động cơ ở lại, giúp doanh nghiệp giảm bớt động cơ bỏ việc, giảm thời gian và chi phí tuyển mộ công nhân viên mới và đào tạo người lao động…

● Làm tăng nỗ lực, hy sinh và sự cống hiến của người lao động: doanh nghiệp có thể giảm “Rủi ro về đạo đức” này bằng cách trả lương cao, bởi khi lương cao, tiền lương

mà họ nhận được càng cao, tổn thất mà họ phải chịu khi bị phát hiện và đuổi việc là rất lớn Thông qua trả lương cao, doanh nghiệp giảm được số người trốn việc và qua

đó nâng cao được năng xuất của họ

❖Góc độ chủ doanh nghiệp/ nhà tuyển dụng/người quản lý

● Lương cao, doanh nghiệp thu hút nhiều người giỏi, người lao động có năng lực tốt sẽ cống hiến cho công ty, tạo ra hiệu suất làm việc tốt

● Lương cao thể hiện năng lực cạnh tranh thu hút nhân tài của doanh nghiệp với đối thủ

❖Góc độ nhà quản trị chất lượng

● Lương cao, là động lực lớn thúc đẩy người lao động làm việc, tập trung làm việc,… tránh tạo ra sai sót, phế phẩm, sản phẩm hư hỏng trong quá trình làm việc

● Lương cao giảm thiếu ngày nghỉ cũng như sự chây lười vô trách nhiệm, và là động lực mạnh nhất thúc đẩy người lao động chăm chỉ làm việc vì gắn liền với lợi ích sống còn và lợi ích họ muốn nhận được.)

Ngày đăng: 26/04/2022, 09:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w